1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên

120 245 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, nghiên cứu về vấn đề sử dụng nguồn lực của hộ nông dân và ảnh hưởng của chúng đến việc giảm nghèo của các hộ gia đình nông dân ở huyện Đồng Hỷ được đặt ra như một yêu cầu c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THỊ THU TRANG

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG NGUỒN LỰC ĐẾN VIỆC GIẢM NGHÈO CỦA HỘ NÔNG DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THỊ THU TRANG

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG NGUỒN LỰC ĐẾN VIỆC GIẢM NGHÈO CỦA HỘ NÔNG DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp

Mã số: 60.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS CÙ CHÍ LỢI

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những

số liệu, thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ bất cứ một luận văn nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều

đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013

Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Thu Trang

Trang 4

Qua đây, tôi cũng xin được cảm ơn tới Chủ tịch và cán bộ công nhân viên

Ủy ban nhân dân huyện Đồng Hỷ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho đề tài luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Trang

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Kết quả mong đợi 4

5 Bố cục của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN LỰC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TỚI GIẢM NGHÈO 5

1.1 Khái niệm về nguồn lực và phân loại nguồn lực 5

1.1.1 Nguồn lực đất đai 6

1.1.2 Nguồn lực rừng 11

1.1.3 Nguồn nước 13

1.1.4 Đặc điểm của hộ nông dân khi nghiên cứu 14

1.2 Khái niệm và nguyên nhân của nghèo đói 18

1.2.1 Khái niệm nghèo đói 18

1.2.2 Nguyên nhân nghèo đói 19

1.3 Bài học kinh nghiệm trên thế giới và Việt Nam về việc sử dụng nguồn lực nhằm giảm nghèo của các hộ nông dân 24

1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 24

1.3.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản 26

Trang 6

1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm áp dụng ở nước ta 26

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Câu hỏi đặt ra cho vấn đề nghiên cứu 29

2.2 Phương pháp nghiên cứu 29

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 29

2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 31

2.2.3 Phương pháp phân tích 31

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 32

2.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh thu nhập của hộ 32

2.3.2 Các chỉ tiêu bình quân 32

2.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất của hộ 32

Chương 3 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN LỰC VÀ TÁC ĐỘNG TỚI VIỆC GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ 33

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu - huyện Đồng Hỷ 33

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 42

3.2 Thực trạng nguồn lực nhóm hộ nghiên cứu 54

3.2.1 Tình hình nguồn lực tự nhiên của cùng nghiên cứu 54

3.2.2 Nguồn lực khác trong hộ ở các vùng nghiên cứu 62

3.3 Đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất của các hộ nghiên cứu 72

3.3.1 Kết quả sản xuất của các hộ 72

3.3.2 Hiệu quả sản xuất của các hộ 79

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất của các hộ điều tra 82

3.4.1 Yếu tố thủy lợi 82

3.4.2 Yếu tố thị trường đối với sản xuất và thu nhập của hộ 83

3.4.3 Yếu tố kinh nghiệm sản xuất 84

Trang 7

3.4.4 Mô tả mối quan hệ ảnh hưởng việc sử dụng nguồn lực với

vấn đề giảm nghèo 86

Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG NGUỒN LỰC NHẰM GIẢM NGHÈO CỦA HỘ NÔNG DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ 88

4.1 Quan điểm phát triển kinh tế xã hội của khu vực miền nui, vung cao 88

4.2 Các giải pháp đối với các nguồn lực để nâng cao thu nhập và xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân huyện Đồng Hỷ và các địa phương tương tự 88

4.3 Các giải pháp cụ thể cho hộ nông dân 92

4.3.1 Hỗ trợ vốn cho sản xuất 92

4.3.2 Xây dựng kết cấu hạ tầng 94

4.3.3 Phát triển ngành nghề phi nông nghiệp và nghề phụ 96

4.3.4 Kết hợp sử dụng hợp lý các nguồn lực của hộ đặc biệt là nguồn lực tự nhiên 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC 101

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

FAO : Tổ chức nông lương thế giới GDP : Thu nhập bình quân đầu người

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Chuẩn nghèo đói 19

Bảng 3.1 Các yếu tố khí hậu Huyện Đồng hỷ 34

Bảng 3.2: Một số loại đất chính của Huyện Đồng hỷ 36

Bảng 3.3: Hiện trạng rừng ở Huyện Đồng hỷ năm 2012 38

Bảng 3.4: Hiện trạngdân số và đất ở Huyện Đồng hỷ năm 2012 44

Bảng 3.5: Hiện trạng sử dụng đất Huyện Đồng hỷ năm 2012 45

Bảng 3.6: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Huyện Đồng hỷ năm 2011 53

Bảng 3.7: Hiện trạng đất đai bình quân của các hộ điều tra Huyện Đồng Hỷ năm 2012 55

Bảng 3.8: Hiện trạng chất lượng đất đai của các hộ điều tra huyện Đồng Hỷ năm 2012 58

Bảng 3.9: Tình hình nguồn lực rừng của các hộ điều tra năm 2012 59

Bảng 3.10: Tình hình sử dụng rừng các hộ điều tra năm 2012 60

Bảng 3.11: Bảng trung bình thu nhập từ rừng của các hộ năm 2012 61

Bảng 3.12: Tình hình nguồn nước của vùng nghiên cứu 62

Bảng 3.13: Tình hình nhân khẩu tính bình quân của nhóm hộ điều tra 64

Bảng 3.14: Tài sản trung bình của hộ điều tra huyện Đồng hỷ năm 2012 67

Bảng 3.15: Nhà cửa hộ điều tra Huyện Võ Nhai năm 2012 68

Bảng 3.16: Tình hình vốn tự có của hộ gia đình huyện Đồng hỷ 69

Bảng 3.17: Tình hình vốn vay của các hộ gia đình Huyện Đồng Hỷ 70

Bảng 3.18: Thu nhập bình quân của hộ điều tra huyện Đồng Hỷ năm 2012 72

Bảng 3.19: Thu nhập bình quân /người/tháng của nhóm hộ điều tra 75

Bảng 3.20: Hệ thống cây trồng hàng năm của hộ gia đình huyện Đồng hỷ năm 2012 76

Trang 10

Bảng 3.21: Hệ thống cây trồng lâu năm của hộ điều tra huyện Đồng

Hỷ năm 2012 77

Bảng 3.22: Thu nhập từ sản xuất một số cây trồng chính của các nhóm hộ 78

Bảng 3.23: Giá trị sản xuất và chi phí sản xuất các hộ điều tra huyện Đồng Hỷ năm 2012 80

Bảng 3.24: Hiệu quả sản xuất trồng trọt tính trên 1 ha đất nông nghiệp 80

Bảng 3.25: Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư các lĩnh vực của nhóm hộ điều tra 81

Bảng 3.26: Hiệu quả sử dụng lao động của các nhóm hộ điều tra 82

Bảng 3.27: Đánh giá yếu tố thủy lợi trong sản xuất trồng trọt của các nhóm hộ 83

Bảng 3.28: Giá trị sản phẩm bán ra thị trường của các nhóm hộ điều tra năm 2012 83

Bảng 3.29: Các yếu tố tác động tới kinh nghiệm sản xuất 85

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Cơ cấu các loại đất chính của Huyện Đồng hỷ năm 2012 35Biểu đồ 3.2: Cơ cấu diện tích đất của các hộ điều tra năm 2012 56Biểu đồ 3.3: Lao động bình quân trong gia đình hộ điều tra Huyện

Đồng hỷ năm 2012 65Biểu đồ 3.4: Trình độ văn hóa điều tra Huyện Đồng hỷ 66Biểu đồ 3.5: Tình hình vốn vay từ các hộ điều tra huyện Đồng Hỷ

năm 2012 71Biểu đồ 3.6: Cơ cấu nguồn thu của hộ 75

Sơ đồ 4.1: Nhân tố tác động đến việc nâng cao thái độ cho các hộ

gia đình 90

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo động Theo một nghiên cứu của WB, nguy cơ đối với người nghèo đang tiếp tục gia tăng trên quy mô toàn cầu, và tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm trong năm 2009 đã đẩy thêm 53 triệu người nữa rơi vào tình trạng nghèo đói, thêm vào con số 130-155 triệu người của năm 2008, khi giá nhiên liệu và thực phẩm tăng cao Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc, có khoảng 100 triệu trẻ em trên thế giới không có nhà cửa và đang sống trên các đường phố Trước thực trạng này, Liên Hiệp Quốc (LHQ) kêu gọi các nước cải thiện điều kiện y tế và vệ sinh, giảm tỉ lệ tử vong của trẻ em, cải thiện tình trạng đói nghèo và tạo điều kiện cho trẻ em phổ cập giáo dục tiểu học Đói nghèo đã trở thành thách thức lớn, đe dọa đến sự sống còn, ổn định và phát triển của thế giới và nhân loại

Mặt khác, đói nghèo còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nhân loại Thay vì con người có thể tập trung toàn bộ nguồn lực cho phát triển, thì một phần lớn nguồn lực đó phải dành ra để giải quyết vấn đề đói nghèo và các vấn đề toàn cầu khác do đói nghèo mang lại Nghèo đói, bất công là nguyên nhân của tội phạm quốc tế (khủng bố, nạn buôn bán ma túy và rửa tiền); nghèo đói cộng với thiếu hiểu biết kéo theo đó là gia tăng dân số, cạn kiệt nguồn nước, khan hiếm nguồn năng lượng (do sự gia tăng nhanh chóng những hoạt động kinh tế của con người); lương thực, thực phẩm ngày càng thiếu hụt; bệnh tật (nhất là đại dịch HIV/AIDS) ngày càng lan tràn, khó kiếm soát; môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng và vấn đề di dân tự do đang ngày càng trở nên phức tạp

Nước ta là một quốc gia nông nghiệp, sản xuất lương thực là chủ yếu

và dựa nguồn lực sẵn có trong đó phải kể đến các nguồn lực tự nhiên như đất

Trang 13

đai và vốn rừng phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta vẫn còn dựa nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên; năng suất lao động còn thấp; công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng còn sử dụng nhiều năng lượng, nguyên liệu và thải ra nhiều chất thải Dân số tăng nhanh, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; các dịch vụ

cơ bản về giáo dục và y tế hiện còn bất cập, các loại tệ nạn xã hội chưa được ngăn chăn triệt để đang là những vấn đề bức xúc Nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãng phí và kém hiệu quả Môi trường thiên nhiên ở nhiều nơi bị phá hoại nghiêm trọng, ô nhiễm và suy thoái đến mức báo động càng làm cho cuộc sống nghèo đói hơn Chính vì vậy việc

sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả tránh lãng phí là một giải pháp căn bản cho việc xóa đói giảm nghèo

Đồng Hỷ là một huyện miền núi phía đông bắc tỉnh Thái Nguyên Diện

tích 457,75 km2, Đồng Hỷ giáp huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn ở phía bắc, huyện Võ Nhai về phía đông bắc; giáp huyện Phú Lương về phía tây; giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình về phía nam và giáp huyện Yên Thế thuộc tỉnh Bắc Giang về phía đông Mặc dù thuận tiện giao thông và có nguồn tài nguyên phong phú nhưng trên thực tế Đồng Hỷ lại gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề phát triển kinh tế xã hội bởi một lẽ do địa hình phức tạp, thành phần chủ yếu là dân tộc ít người, trình độ học vấn, trình độ dân trí thấp Thời gian gần đây để ổn định đời sống nhân dân Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư mỗi năm lên đến hàng tỷ đồng cho các dự án xóa đói giảm nghèo, dự án 135, đầu tư vào cơ sở hạ tầng như điện - đường - trường - trạm, xây dựng quy hoạch đất đai cho các xã, nhưng đời sống của nhân dân nơi đây còn gặp khó khăn Đây là những bức xúc, trăn trở của không ít các nhà hoạch định chính sách Qua nghiên cứu thực tế nhiều câu hỏi đặt ra cho chúng ta: Nguồn lực có vai trò như thế nào đối với các hộ nông dân trong huyện? Thực trạng việc sử dụng các nguồn lực đó trong phát triển kinh tế nông dân hiện nay

ra sao? Giải pháp nào nhằm tháo gỡ những khó khăn mà các hộ nông dân

Trang 14

đang gặp phải? Đó là những câu hỏi không phải chỉ riêng ở một địa phương nào mà là đối với các hộ nông dân ở Việt Nam

Chính vì vậy, nghiên cứu về vấn đề sử dụng nguồn lực của hộ nông dân

và ảnh hưởng của chúng đến việc giảm nghèo của các hộ gia đình nông dân ở huyện Đồng Hỷ được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, phải giải quyết vấn đề này với nhiều phương pháp tiếp cận cả trên bình diện vĩ mô và vi mô từ đó đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao việc sử dụng các nguồn lực và qua đó thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng chuyên môn hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa Do vậy, tôi lựa chọn

nghiên cứu đề tài: "Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm

nghèo của hộ nông dân Huyện Đồng Hỷ Tỉnh Thái Nguyên"

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá việc sử dụng các nguồn lực của hộ trong sản xuất nông lâm nghiệp,tìm ra các giải pháp tạo điều kiện giúp hộ nông dân sử dụng, phát huy thế mạnh của nguồn lực để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhằm mục đích giảm nghèo

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình sử dụng nguồn lực (đất, rừng, lao động, vốn) của các hộ nông dân Huyện Đồng Hỷ

Trang 15

3.2 Về không gian nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu trong phạm vi huyện Đồng Hỷ trong đó tập trung nghiên cứu chủ yếu một số xã đại diện

3.3 Về nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các nguồn lực như: lao động, vốn, đất, rừng, nước và mối quan hệ của các nguồn lực đó trong phát triển kinh tế hộ tại địa bàn huyện Đồng Hỷ Các chính sách của nhà nước cũng như của địa phương liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực và tác động của nó tới sự phát triển kinh tế của các hộ nói chung và vấn đề xoá đói giảm nghèo nói riêng

Đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát huy hiệu quả sử dụng các nguồn lực của hộ trong thời gian tới

3.4 Về thời gian nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2012

4 Kết quả mong đợi

Sản phẩm cuối cùng là một công trình nghiên cứu đánh giá có cơ sở khách quan ảnh hưởng của việc sử dụng các nguồn lực đến việc giảm nghèo trên địa bàn huyện Đồng Hỷ và một số gợi ý chính sách liên quan đế việc phát huy nguồn lực cho việc xoá đói giảm nghèo trên địa bàn Huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên và các địa bàn vùng núi tương tự

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương chính:

Chương 1: Cơ sở lý luận về nguồn lực và tác động của việc sử dụng nguồn lực tới giảm nghèo

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng sử dụng nguồn lực và tác động tới việc giảm nghèo trên địa bàn huyện Đồng Hỷ

Trang 16

Chương 4: Một số giải pháp sử dụng nguồn lực nhằm giảm nghèo của

hộ nông dân huyện Đồng Hỷ

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN LỰC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TỚI GIẢM NGHÈO

1.1 Khái niệm về nguồn lực và phân loại nguồn lực

- Nguồn lực: là nhân tố cơ sở là khả năng, động lực của nước được huy động vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội Nguồn lực là tiền đề vật chất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Quy mô và tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của một nước, ở mức độ lớn phụ thuộc vào khai thác hợp lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên trong và bên ngoài, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như nước ta

Để phát triển kinh tế - xã hội của một nước cần tận dụng và phát huy nhiều nguồn lực Người ta chia ra làm hai nhóm nguồn lực chính:

- Nhóm nguồn lực xuất phát từ bản thân nó - Nội lực

- Nhóm nguồn lực xuất phát từ tình hình kinh tế - xã hội của khu vực và thế giới - Ngoại lực

Trong nhóm nguồn lực thứ nhất bao gồm hai nhóm nhỏ: Nhóm nguồn lực tự nhiên và nhóm nguồn lực kinh tế - xã hội nhân văn

Nguồn lực tự nhiên bao gồm: khoáng sản, dầu mỏ, thủy sản, rừng, thú rừng đất đai và nước Đối với một quốc gia nguồn lực tự nhiên được xem như là tài sản của quốc gia đó Lịch sử cũng đã chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh trên thế giới qua nhiều thời đại khác nhau để chiếm đoạt các tài sản thiên nhiên hay vì mục đích đó của quốc gia này đối với quốc gia khác

Các nguồn lực tự nhiên thường được chia ra làm 2 nhóm: Có thể tái tạo

Trang 17

và không thể tái tạo

- Các nguồn lực tự nhiên có thể tái tạo bao gồm các nguồn lực cho cuộc sống như nguồn thủy sản, rừng có thể tái tạo được nếu như con người không khai thác triệt để Nếu nguồn lực có thể tái tạo mà sử dụng quá thì có thể sẽ bị mất đi

- Các nguồn lực tự nhiên không thể tái tạo như đất, nước, khoáng sản như dầu mỏ, than đá do sự hạn chế của nó trong tự nhiên và do quá trình để hình thành phải mất hàng tỷ năm Như vậy, việc khai thác các nguồn lực này phải hết sức chú ý tránh làm tổn hại và khai thác bừa bãi dẫn đến việc thoái hóa của các nguồn lực này Ngoài ra các nguồn lực tự nhiên như gió, dòng chảy của nước và năng lượng mặt trời cũng được coi là tài nguyên thiên nhiên

có thể tái tạo vì nó ít bị hạn chế so với các nguồn lực khác

1.1.1 Nguồn lực đất đai

a Cơ sở lý luận về sử dụng đất trong hộ nông dân

- Khái niệm về đất và đất dùng trong sản xuất nông, lâm nghiệp:

Học giả người Nga Docutraiep năm 1897 cho rằng: “Đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động của năm yếu tố hình thành đất đó là: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian” Các Mác viết: đất là tư liệu sản xuất cơ bản và quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau

Theo luật đất đai sửa đổi và bổ sung một số điều năm 2001 thì khái niệm về đất trong sản xuất nông, lâm nghiệp như sau: Đất nông nghiệp là toàn

bộ diện tích đất được xác định chủ yếu để sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Đất lâm nghiệp là đất được xác định là đất chủ yếu để sản xuất lâm nghiệp bao gồm: đất có rừng tự nhiên, rừng trồng, đất khoanh nuôi bảo vệ rừng, nuôi dưỡng làm giàu rừng, đất phục vụ cho các mục đích lâm nghiệp, trồng rừng

Trang 18

và thí nghiệm về lâm nghiệp

Tóm lại có rất nhiều khái niệm về đất, có khái niệm nói lên sự hình thành của đất, có khái niệm nói lên mối quan hệ của đất với cuộc sống con người, có khái niệm nói về đất gắn với mục đích sử dụng… Như vậy tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu cụ thể mà ta hiểu về đất theo những cách khác nhau

b.Vai trò và ý nghĩa của đất trong sản xuất nông, lâm nghiệp:

Như ta đã biết đất đai có nguồn gốc từ tự nhiên, cùng với vòng quay của bánh xe thời gian thì con người xuất hiện và tác động vào đất đai, cải tạo đất đai và biến đất đai từ sản phẩm của tự nhiên lại mang trong mình sức lao động của con người, tức cũng là sản phẩm của của xã hội Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái

đất Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp” Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có sản

xuất nông, lâm nghiệp hay có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay Trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ đó là nơi con người thực hiện mọi hoạt động của mình tác động vào cây trồng và vật nuôi để tạo ra sản phẩm

Đất là yếu tố đầu vào của hoạt động sản xuất nông nghiệp, sử dụng nó

có ảnh hưởng tới kết quả đầu ra, nhất là đối với sản xuất theo hướng hàng hoá Chất lượng đất và lợi thế của đất cũng ảnh hưởng tới số lượng, chất lượng sản phẩm tạo ra và khả năng sinh lời từ đất Vì vậy ở mỗi vùng khác nhau cũng có sự khác nhau từ kết quả sản xuất ra trên cùng đơn vị sử dụng đất Mặt khác kết quả sản xuất cũng phụ thuộc vào phương án sử dụng đất của người chủ sở hữu quyền sử dụng đất đó

Trang 19

Tóm lại, đất đai là yếu tố hết sức quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, thực tế trong quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của các nền văn minh vật chất cũng như tinh thần đều dựa trên nền tảng cơ bản của việc sử dụng đất Các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau có nền kinh tế phát triển ở mức độ khác nhau thì việc tổ chức quản lý, sử dụng đất của họ cũng thể hiện ở những trình độ khác nhau rõ rệt

Do đó trong quá trình sử dụng đất ngoài việc sử dụng sao cho tiết kiệm và hiệu quả kinh tế cao thì đồng thời chúng ta cũng không ngừng cải tạo và làm tăng độ phì nhiêu của đất

c Quan điểm về sử dụng đất bền vững

Trong các nguồn lực tự nhiên thì đất đai là nguồn lực bị sử dụng nhiều nhất bởi con người cho mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp Vì vậy nó đang ảnh hưởng tới quá trình phát triển bền vững của các vùng khu vực khác nhau Chính những tác động tiêu cực của con người đến các nguồn lực tự nhiên (đất đai) đòi hỏi chúng ta phải quan tâm tới việc sử dụng đất bền vững Chính bởi vậy việc tìm ra giải pháp sử dụng đất thích hợp bền vững đã được các nhiều nhà khoa học và các tổ chức rất quan tâm, thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” đã trở nên thông dụng trên thế giới ngày nay Nội dung

sử dụng đất bền vững bao hàm ở một vùng trên bề mặt trái đất với tất cả các đặc trưng: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, chế độ thủy văn, động thực vật và

cả những hoạt động cải thiện việc sử dụng và quản lý đất đai như: hệ thống tiếu tiêu, xây dựng đồng ruộng Do đó thông qua hoạt động thực tiễn sử dụng đất chúng ta phải xác định được những vấn đề liên quan đến những yếu

tố tác động đến khả năng bền vững đất đai trên phạm vi cụ thể của từng vùng để tránh khỏi những sai lầm trong quá trình sử dụng đất, đồng thời hạn chế được những tác động gây tác hại tới môi trường sinh thái Theo Fetry sự phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp chính là sự bảo tồn nguồn

Trang 20

đất, nước, động thực vật không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội FAO đã đề ra các chỉ tiêu cho nông nghiệp bền vững là:

Thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại, tương lai

về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác Cung cấp lâu dài việc làm đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp Duy trì và tăng cường khả năng sản xuất của tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và cân bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hoá xã hội của các cộng đồng sống ở khu vực nông thôn và không gây ô nhiễm môi trường, giảm thiểu khả năng gâytổn thương lực lượng nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nông dân Hội thảo về khung đánh giá việc quản lý đất đai diễn ra ở Naibori năm 1991 đã đề ra định nghĩa quản lý bền vững đất đai bao gồm các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế xã hội với các quan tâm môi trường

để đồng thời duy trì 5 nguyên tắc:

+ Duy trì nâng cao sản lượng

+ Giảm tối thiểu rủi ro trong sản xuất

+ Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thái hoá của đất và nước + Có hiệu quả lâu dài

+ Được xã hội chấp nhận

Các nguyên tắc trên đây được coi là cơ sở của sử dụng đất đai bền vững

và là những mục tiêu cần phải đạt được Nếu thực tế diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được Nếu chỉ đạt được một hay vài mục tiêu thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận Vận dụng nguyên tắc trên, một loại hình sử dụng đất được xem là bền vững phải đạt ba yêu cầu sau:

Trang 21

- Bền vững về kinh tế: cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận Về chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ của địa phương, trong nước hoặc xuất khẩu, tuỳ vào mục têu của từng vùng Tổng giá trị sản phẩm trên một đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất, tổng giá trị trong thời đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy

cơ người sử dụng sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn mức lãi suất vay vốn ngân hàng

- Bền vững về mặt xã hội: loại hình sử dụng đất đó phải thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã hội phát triển Đáp ứng nhu cầu nông hộ là nhu cầu quan tâm đầu tiên, nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài thì sản phẩm thu được cần thoả mãn cái ăn, cái mặc và nhu cầu hàng ngày của người nông dân Việc sử dụng đất để sản xuất phải phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền sử dụng lâu dài, đất và rừng giao khoán phải gắn liền với lợi ích và trách nhiệm của các bên cụ thể Sử dung đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ

- Bền vững về môi trường: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độmàu mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất, bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất biểu hiện bằng việc giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép, tăng dần độ phì nhiêu, độ che phủ phải đật ngưỡng yêu cầu sinh thái Mặt khác đa canh cũng bền vững hơn độc canh, cây lâu năm bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm

Ba yêu cầu bền vững trên là để xem xét, đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá theo các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở từng vùng sinh thái

Tóm lại, khái niệm sử dụng đất bền vững do con người đưa ra được thể

Trang 22

hiện trong nhiều hoạt động sử dụng và quản lý đất đai theo mục đích mà con người đã lựa chọn cho từng vùng đất xác định Đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất phải đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng đất không suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu tới môi trường của con người và sinh vật

Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau với hoàn cảnh bên ngoài (M.E.Tcachenco 1952)

Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu (I.S.Mê lê Khôp 1974)

Rừng cũng có thể hiểu bằng một cách khác là đất đủ rộng có cây cối mọc lâu năm

Rừng có sự cân bằng đặc biệt về trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật; đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác Rừng là một tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong tổng hợp đó, rừng luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa

Trang 23

và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về

số lượng sinh vật Những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu dài và của chọn lọc tự nhiên ở tất cả các thành phần rừng

b Vai trò của rừng

Rừng là nguồn lực chủ yếu phát triển kinh tế trong tương lai (Primentel, 1989) Điều đó có nghĩa rằng nguồn lực Rừng rất quan trọng trong phát triển kinh tế và đặc biệt là mức sống của dân tộc miền núi bởi vì rừng là nguồn lực tự nhiên như nước, lương thực, thuốc, củi, gỗ và những nhu cầu vật chất khác Dân tộc miền núi có lịch sử lâu dài cùng với mối quan hệ mật thiết

từ rừng bởi đó là cuộc sống của họ

Rừng có vai trò tạo ra thu nhập cho hộ hiện nay từ các sản phẩm của rừng như gỗ, củi, chim, thu, cảnh quan du lịch và đây là một tiềm năng lớn cho tương lai mà các hộ cần phải quan tâm và nên đầu tư Tuy nhiên ngoài yếu tố thu nhập thì rừng còn có các vai trò khác như:

Rừng với môi trường: Rừng cung cấp nhiều hình thái dịch vụ trực tiếp

về môi trường cho những người sống gần rừng Các dịch vụ này bao gồm: việc khôi phục độ màu mỡ của đất trong hệ thống nông nghiệp luân canh, duy trì lượng nước và bảo vệ chất lượng nước cung cấp cỏ cho chăn nuôi gia súc, thu phấn cho thực vật, kiềm chế sâu cỏ và duy trì đa dạng sinh học bao gồm cả duy trì giống cây cho nông nghiệp Rừng cũng mang lại các dịch vụ môi trường gián tiếp cho người sống xa rừng Ví dụ dự án bảo vệ nước, và du lịch sinh thái rừng

Rừng tạo ra việc làm: Các hộ gia đình có ít đất nông nghiệp thu hút một lượng lớn nhân công lao động trong lĩnh vực lâm nghiệp tạo điều kiện công ăn việc làm tăng thu nhập cho hộ gia đình góp phần giảm nghèo cho hộ gia đình

c Quan điểm sử dụng rừng bền vững

Trang 24

Hướng tới sự bền vững trong sử dụng tài nguyên rừng ở Việt Nam các

hộ nông dân cần tuân thủ theo nguyên tắc sau:

- Sự bình đẳng giữa các thế hệ trong sử dụng tài nguyên rừng: Cuộc sống con người luôn gắn với sử dụng tài nguyên thiên nhiên và để sử dụng nó chúng ta cần phải bảo vệ nó vì tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận Chìa khóa của vấn đề này là sử dụng rừng đảm bảo năng suất và các điều kiện tái sinh của nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo này Một trong những nguyên tắc cần tuân thủ là tỷ lệ sử dụng lâm sản không được vượt quá khả năng tái sinh của rừng

- Tài nguyên rừng phải được sử dụng hợp lý và hiệu quả nhất về mặt kinh tế và sinh thái

1.1.3 Nguồn nước

Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể

sử dụng vào những mục đích khác nhau Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt 97% nước trên Trái Đất là nước muối, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở các cực Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí

Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước ngọt và sạch trên thế giới đang từng bước giảm đi Nhu cầu nước đã vượt cung ở một vài nơi trên thế giới, trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục tăng làm cho nhu cầu nước càng tăng Sự nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinh thái chỉ mới được lên tiếng gần đây Trong suốt thế kỷ 20, hơn một nửa các vùng đất ngập nước trên thế giới

Trang 25

đã bị biến mất cùng với các môi trường hỗ trợ có giá trị của chúng Các hệ sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh học hiện đang suy giảm nhanh hơn các hệ sinh thái biển và đất liền Chương trình khung trong việc định vị các nguồn tài nguyên nước cho các đối tượng sử dụng nước được gọi

là quyền về nước

Tóm lại, tài nguyên thiên nhiên là tài sản quý giá của mỗi quốc gia, là một trong những nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Tài nguyên thiên nhiên tuy không có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, song đó là điều kiện thường xuyên cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất, là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất Tài nguyên thiên nhiên còn là một yếu tố tạo vùng quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với việc hình thành các ngành sản xuất chuyên môn hoá, các ngành mũi nhọn

1.1.4 Đặc điểm của hộ nông dân khi nghiên cứu

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực tới việc giảm nghèo của hộ nông dân còn phải xét mối quan hệ xã hội, bởi hộ là đơn vị kinh

tế nhỏ của nền kinh tế Kinh tế hộ đóng vai trò qua trọng trong nền kinh tế

1.1.4.1 Khái niệm về hộ nông dân

Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp có quyền sản xuất trên những mảnh đất của họ, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và thường nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, đặc trưng chủ yếu bởi sự tham gia thị trường cục bộ vào các thị trường nên có xu hướng hoạt động kinh tế ở mức độ không hoàn hảo

1.1.4.2 Một số đặc điểm của kinh tế hộ

Hoạt động sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ gia đình ở nông thôn có thể bao gồm nhiều loại ngành nghề và các công việc khác nhau Tuy nhiên cho tới nay, đối với hầu hết các hộ thì hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn

Trang 26

được coi là hoạt động chính Hộ nông dân với tư cách là một đơn vị kinh tế,

hộ có mục đích tối đa hoá nguồn thu trên cơ sở sử dụng toàn bộ nguồn lực của mình Hộ là đơn vị tiêu dùng cơ bản Hộ có mục đích tái sản xuất nguồn nhân lực và nâng cao phúc lợi gia đình Xét từ góc độ này hộ là đơn vị thống nhất với các mục tiêu và lợi ích chung không mâu thuẫn Kinh tế hộ nông dân được phân biệt với các hình thức kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường bởi các đặc trưng sau chủ yếu sau:

- Sử dụng đất đai: ruộng đất là nguồn tư liệu sản xuất cơ bản của hộ nôngdân Từ chỗ canh tác tập thể trong khuôn khổ của các hợp tác xã nông nghiệp, vào cuối những năm 80 sau khi thực hiện nghị quyết 10 thì quyền hạn

và trách nhiệm của hộ nông dân được nâng cao Nhà nước giao đất cho hộ sử dụng ổn định lâu dài, thời gian giao đất để trồng cây hàng năm và nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm, để trồng cây lâu năm là 50 năm, khi hết thời hạn nếu người sử dụng có nhu cầu thì nhà nước giao đất đó để tiếp tục sử dụng Để phát huy tác dụng của nguồn đất như một nguồn sản xuất cơ bản, có hai vấn

đề người chính nông dân cần quan tâm đó là cách tiếp cận ruộng đất và cách thức sử dụng ruộng đất Đối với phương thức sử dụng ruộng đất của hộ thể hiện ở cơ cấu cây trồng, cơ cấu cây trồng của hộ cho ta thấy kết quả cuối cùng của việc lựa chọn phương án sử dụng đất của hộ đó Một đặc điểm cơ bản của

hộ khi lựa chọn cơ cấu cây trồng hàng năm thì cây lúa là cây trồng chính củahộ Việc hầu hết các hộ sử dụng một tỷ lệ lớn diện tích để trồng lúa cho thấy nhu cầu cân đối lương thực, trước hết là lúa gạo được hộ đặt lên hàng đầu trong các phương án sử dụng đất của mình Bởi vì việc tự bảo đảm lương thực được coi là phương án ít rủi ro hơn cả, đồng thời cho phép hộ sử dụng tối

đa nguồn đất đai đa dạng và nhỏ lẻ của mình Tự cấp, tự túc về lương thực vốn là phương án quen thuộc của hộ, nó không đòi hỏi có sự tính toán mới cũng như thay đổi cơ cấu đầu tư Vì những lý do này mà cây lúa vẫn đứng đầu

Trang 27

trong cơ cấu cây trồng của hộ Thực tế này cũng cho thấy các yếu tố thị trường như: thông tin thị trường, giá cả, bảo quản, vận chuyển, giao lưu hàng hoá… nhìn chung chưa đủ sức kích thích hộ nông dân chuyển sang các phương án sử dụng cơ cấu cây trồng đa dạng trên cơ sở phát huy tốt hơn tiềm năng đất đai của mình

- Sử dụng lao động: lao động ở nông thôn thường được huy động vào các hoạt động khác nhau Các hoạt động tự cấp, tự túc bao gồm các nhóm việc như: làm ruộng, làm vườn, chăn nuôi, làm nhà, chế biến thực phẩm gia đình, công việc nội trợ… Các hoạt động gắn liền với thị trường; buôn bán, sản xuất nông sản, dịch vị làm thuê… Một trong những đặc điểm phân bổ lao động của hộ là xu hướng kết hợp nhiều khối lượng công việc, mặc dù khối lượng kết hợp các công việc ở các gia đình có khác nhau, như ở vùng đòng bằng, ven thị, vùng có mật đọ dân cư cao, các hoạt động gắn liền với thị trường thì việc phân công lao động của hộ sẽ khác với các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có mật độ dân cư thưa thớt

- Nguồn vốn sản xuất của hộ: việc tích tụ vốn của đại bộ phận các hộ nông dân là rất thấp Bởi tích luỹ vốn của nông dân không phải dựa trên một nền tảng nông nghiệp tặng dư, nguồn tích tụ vốn của nông hộ chủ yếu từ ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi, đây là các ngành mà sản phẩm sinh lợi rất thấp, những nông sản được bán đi để mua vật tư đầu vào sản xuất đôi khi còn là khẩu phần lương thực của hộ Mặt khác chu kỳ sản xuất nông nghiệp kéo dài, độ rủi ro lớn nên vốn chu chuyển chậm, bởi thế sự căng thẳng về vốn càng trở nên gay gắt Tình trạng thiếu vốn đã hạn chế lớn tới việc mở mang ngành nghề, thay đổi cơ cấu sản xuất, hạn chế khả năng tạo thêm việc làm, thu nhập cho hộ và hạn chế khả năng nâng cao trình độ thâm canh nông nghiệp Vì vậy khi nghiên cứu kinh tế hộ nông dân ta phải nắm được những đặc điểm cơ bản của hộ và phải thấy được sự khác nhau giữa kinh tế hộ và

Trang 28

những khu vực kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân

Ở Việt Nam theo thống kê năm 2010 cả nước có 9.656.165 hộ nông nghiệp ngoài hợp tác xã Với một số lượng lớn trong một nước nông nghiệp, hộ nông dân Việt Nam ngoài những đặc điểm chung còn có một số nét đặc thù như:

- Trong kinh tế hộ sản xuất còn tự cung tự cấp là chủ yếu Tuy nhiên kinh tế hộ đang chuyển dần sang kinh tế hàng hoá, sản xuất ngày càng gắn với thị trường

- Quy mô sản xuất của hộ cả về đất đai và lao động còn nhỏ, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, chủ yếu sử dụng lao động thủ công Tuy nhiên những kỹ thuật mới đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong các hộ nông dân Sản xuất công nghiệp và các ngành nghề khác ở nông thôn chưa phát triển để hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình, tăng thu nhập cho nông hộ

Ở miền núi nước ta kinh tế hộ có các đặc trưng sau:

- Về điều kiện tự nhiên: địa hình bị chia cắt phức tạp, có rất ít đất bằng phẳng để làm ruộng lúa nước, do vậy buộc hộ nông dân phải làm vườn, làm nương rẫy trên những triền đồi, núi dốc Do phần lớn lượng mưa tập trung trong thời gian ngắn nên hay xảy ra nước chảy sói mòn, lũ quét gây thiệt hại tới các công trình hạ tầng cơ sở

- Về đất đai, đất dốc chiếm diện tích lớn, phần lớn là đất nghèo dinh dưỡng do bị phong hoá và sói mòn rửa trôi Cơ sở vật chất còn nghèo nàn, giao thông đi lại khó khăn, tiếp cận thị trường kém đã dẫn tới kinh tế chậm phát triển hơn so với vùng đồng bằng

- Về đời sống của hộ nông dân vùng cao: họ sống nhờ vào sản phẩm nông lâm nghiệp do tự sản xuất, nương rẫy và ruộng đất gắn bó chặt chẽ với nông dân vùng cao, trồng trọt chiếm đa số trong cơ cấu nông nghiệp và người dân vùng cao vẫn đặt vấn đề an ninh lương thực tại chỗ lên hàng đầu

Trang 29

- Do đặc điểm tự nhiên xã hội và nơi cư trú, hộ gia đình miền núi thường phát triển kinh tế tổng hợp, đa dạng nhiều ngành nghề, mức độ chuyên môn hoá chưa cao

- Lao động miền núi thường gắn liền với sản xuất nông, lâm nghiệp, nương rẫy, theo hệ thống Vườn - ao - chuồng (VAC), Vườn - ao - chuồng - rau ( VACR) Việc canh tác ở các vùng cao, vùng rừng đầu nguồn các sông suối gắn liền với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái

- Địa bàn miền núi là nơi cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào Kinh ở các vùng mới được quy hoạch Nguồn lao động được sử dụng chủ yếu là trong gia đình hoặc người thân Tuy vậy, trong điều kiện thời

vụ vẫn có thuê mướn nhân công nhưng không nhiều

Với quy mô nhỏ, lao động và vốn ít nên năng suất lao động cũng như khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật ở giai đoạn đầu còn hạn chế Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng vùng, từng nơi của sự phát triển kinh tế mà hộ mà những đặc trưng trên được thể hiện ở những mức độ khác nhau

1.2 Khái niệm và nguyên nhân của nghèo đói

1.2.1 Khái niệm nghèo đói

Không có một khái niệm duy nhất về nghèo đói, và do đó cũng không

có một phương pháp hoàn hảo để đo được nó Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện Thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trong những lúc đột biến bất lợi, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng đó là những khía cạnh của nghèo

Trong hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái bình Dương do

Trang 30

ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 Việt Nam có đưa ra định nghĩa chung về đói nghèo là: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương

Để tìm hiểu rõ hơn về “Nghèo đói”, ta tìm hiểu thêm về các chỉ tiêu về nghèo Một loạt các chỉ tiêu về nghèo đói và phát triển xã hội hiện đang được

sử dụng ở Việt Nam Bộ lao động thương binh xã hội dùng phương pháp dựa trên thu nhập của hộ Các hộ được xếp vào diện nghèo nếu thu nhập đầu người của họ ở dưới mức chuẩn được xác định, mức này khác nhau giữa thành thị và nông thôn và miền núi Tỷ lệ nghèo được xác định bằng tỷ lệ dân

số có thu nhập dưới ngưỡng nghèo Tổng cục thống kê thì dựa vào cả thu nhập và chi tiêu theo đầu người để tính tỷ lệ nghèo Tổng cục thống kê xác định ngưỡng nghèo dựa trên chi phí cho một giỏ tiêu dùng bao gồm lương thực và phi lương thực, trong đó chi tiêu lương thực phải đảm bảo 2.100 calo mỗi ngày cho một người Các hộ được coi là thuộc diện nghèo nếu mức thu nhập và chi tiêu không đủ để đảm bảo giỏ tiêu dùng này

Bảng 1.1: Chuẩn nghèo đói

Nguồn: Bộ lao động thương binh xã hội

1.2.2 Nguyên nhân nghèo đói

Trang 31

1.2.2.1 Nguyên nhân cơ bản

Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ hoang, bom mìn, nguồn nhân lực chính của các hộ gia đình bị sút giảm do mất mát trong chiến tranh, thương tật,hoặc phải xa gia đình để tham gia chiến tranh, học tập cải tạo trong một thời gian dài

Chính sách nhà nước thất bại : sau khi thống nhất đất nước việc áp dụng chính sách tập thể hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp và chính sách giá lương tiền đã đem lại kết quả xấu cho nền kinh tế vốn đã ốm yếu của Việt Nam làm suy kiệt toàn bộ nguồn lực của đất nước và hộ gia đình

ở nông thôn cũng như thành thị, lạm phát tăng cao có lúc lên đến 700% năm Hình thức sở hữu: việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước và tập thể của các tư liệu sản xuất chủ yếu trong một thời gian dài đã làm thui chột động lực sản xuất.Việc huy động nguồn lực nông dân quá mức, ngăn sông cấm chợ đã làm cắt rời sản xuất với thị trường, sản xuất nông nghiệp đơn điệu, công nghiệp thiếu hiệu quả,thương nghiệp tư nhân lụi tàn, thương nghiệp quốc doanh thiếu hàng hàng hóa làm thu nhập đa số bộ phận giảm sút trong khi dân số tăng cao

Lao động dư thừa ở nông thôn không được khuyến khích ra thành thị lao động, không được đào tạo để chuyển sang khu vực công nghiệp, chính sách quản lý bằng hộ khẩu đã dùng biện pháp hành chính để ngăn cản nông dân di cư, nhập cư vào thành phố

Thất nghiệp tăng cao trong một thời gian dài trước thời kỳ đổi mới do nguồn vốn đầu tư thấp và thiếu hiệu quả vào các công trình thâm dụng vốn của Nhà nước

1.2.2.2 Các nguyên nhân theo vùng địa lý

Trang 32

Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ cấu sản xuất đa phần dựa vào nghề nông Đa số người nghèo sống bằng nghề nông nên dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, điều kiện thời tiết không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, khả năng đối phó và khắc phục rủi ro này của người nghèo rất kém do nguồn thu nhập thấp, bấp bênh và khả năng tích lũy kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khỏe, ) Với năng lực kinh tế mong manh của các

hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn trong cuộc sống của họ và tất nhiên người nghèo thì càng nghèo hơn Ngoài ra, người nghèo chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, năng suất thấp

do không có trình độ để áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Khả năng nâng cao năng suất là rất khó khăn trong khi do áp lực của đô thị hóa ngày càng mạnh, diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp Những tác động của chính sách vĩ mô đến người nghèo chưa hợp lý, tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp Việc phân phối lợi ích tăng trưởng trong các nhóm dân cư gồm cả các nhóm thu nhập phụ thuộc vào đặc tính của tăng trưởng chưa hợp lý.Thông thường, người giàu hưởng lợi từ tăng trưởng kinh

tế nhiều hơn những người nghèo và như vậy đã làm tăng thêm khoảng cách

giàu nghèo giữa nội thành và ngoại thành là điều khó tránh khỏi

1.2.2.3 Các nguyên nhân từ cộng đồng

Sự cách biệt với xã hội còn lớn Công việc của phụ nữ thường là ở nhà

Họ có ít thời gian để tiếp xúc với xã hội Hộ nghèo có chủ hộ là nữ cảm thấy rất xa lạ với nhữngquyết định có liên quan tới chính bản thân họ Sự bất bình đẳng giữa các dân tộc vẫn còn tồn tại Những nhóm dân tộc thiểu số nghèo hơn rất nhiều so với đa số người Kinh

1.2.2.4 Các nguyên nhân về mặt nhân khẩu học

Trang 33

Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói Tỷ lệ sinh con trong các hộ gia đình nghèo và khu vực nông thôn thường là rất cao Mức

độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh, an toàn tình dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, sức khỏe sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế Dân số tăng nhanh, quy mô gia đình nhiều con ở khu vực ngoại thành là áp lực lớn đối với vấn đề giải quyếtviệc làm và xóa đói giảm nghèo đồng thời tỷ lệ người ăn theo cao trong các hộ là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của họ, tỉ lệ phụ thuộc còn cao (54%) Nguồn: Tổng cục thống kê : Điều tra biến động DS-KHHGĐ2009-2011

Thành kiến về vai trò của người phụ nữ còn tương đối khắt khe Những

hộ có chủ hộ là nữ có nhiều khả năng rơi vào cảnh nghèo hơn so với chủ hộ là nam giới Trẻ em gái ít được đi học hơn, nếu có cũng ít được đi học cao Phụ

nữ thường phải nhận mức lương thấp hơn nam giới ở cùng một công việc và ít được tham gia vào các côngviệc điều hành quan trọng Chẳng may trong trường hợp mất đi người chồng, người phụ nữ thường thiếu khả năng chống chọi nên dễ rơi vào đói nghèo

1.2.2.5 Các nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế hộ gia đình

Tính ổn định và liên tục của nguồn thu nhập còn hạn chế nhất là trong khu vực nông thôn do phải chịu nhiều rủi ro không lường trước được như thiên tai, dịch bệnh, sâu bọ hay giá nông sản thấp Những người nghèo là những người thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đủ để đảm bảo chonhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát nghèo Trình độ học vấn thấp làm hạn chế khả năng kiếm việc làm trong các khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc manglại thu nhập cao và ổn định Các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu đô thị mới ngày càng phát triển ở khu vực ngoại thành là cơ

Trang 34

hội cho người dân sống nơi đây nhưng đồng thời đây cũng là thách thức lớn đối với người nghèo, bởi lẽ do trình độ học vấn thấp họ khó có thể tìm được việc làm tốt hơn trong các khu công nghiệp, khu chế xuất Nếu tìm được chỗ làm cũng chỉ là lao động phổ thông Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và thiếu nguồn lực Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không đầu tư vào nguồn nhân lực của

họ, đồng thời nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói Thông thường họ lựa chọn phương án sản xuất tự cung, tự cấp, họ vẫn giữ các phương thức sản xuất truyền thống với giá trị kinh tế thấp, thiếu cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao, giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây trồng, vật nuôi còn thấp, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường Xu hướng này tất yếu dẫn tới một bộ phận không nhỏ nông dân sống

ở các huyện ngoại thành phải chuyển đổi nghề nghiệp, nhưng trên thực tế không phải nông dân nào cũng biết cách thay đổi “phương thức sản xuất” của mình, tức là phải tăng năng suất trên một đơn vị diện tích đất canh tác nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi cógiá trị kinh tế cao, Một số người khác sau khi nhận được số tiền đền bù từ mảnh ruộng của mình trong các dự án quy hoạch không biết sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả dẫn đến hệ quả là:

Thứ nhất , chỉ thoát được cảnh đói nghèo trong một thời gian ngắn Thứ hai, khi diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp không tìm được việc làm mới, thất nghiệp gia tăng

Thứ ba, khi giá đất tăng lên do tác động của đô thị hóa, người nông dân bán đất ồ ạt, nhiều ngôi nhà mới được xây dựng nhưng đó là những ngôi nhà của những người ở nơi khác đến, đất canh tác cũng thu hẹp lại, vì vậy người nông dân khó có cơ hội để duy trì hoạt động sản xuất nông nghiệp Bên cạnh

đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ sản xuất

Trang 35

nông nghiệp như khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ động, thực vật; các yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như: điện, nước, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón… đã làm tăng chi phí tính trên một đơn vị giá trị sản phẩm Một mặt, do không có tài sản thế chấp, người nghèo phải dựa vào tín chấp với các khoản vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng hoàn trả vốn Mặt khác, đa số người nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thể hoặc sử dụng vốn vay không đúng mục đích, do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước cũng như các tổ chức tín dụng

Ý chí vươn lên thoát nghèo của người dân còn thấp, vẫn tồn tại thái độ tiêu cực với cuộc sống Nhiều người không thật sự muốn làm ăn, quanh năm

họ chỉ trông chờ vào sự cứu trợ của chính quyền, thậm chí khi chưa đến mức bần cùng họ cũng khôngthể hiện chút nỗ lực nào, ngược lại là tìm mọi cách để

có tên trong sổ nghèo với hi vọng được thụ hưởng một số quyền lợi cho không Một số cá nhân khác do có vấn đề tâm lý (làm ăn thất bại, gia đình đỗ vỡ…) nên không thiết tha với cuộc sống và trở nên rất tiêu cực (nghiện rượu, bài bạc…) Đây là những trường hợp rất khó để thoát nghèo cho dù các biện pháp chính sách có tốt đến đâu đi chăng nữa

1.3 Bài học kinh nghiệm trên thế giới và Việt Nam về việc sử dụng nguồn lực nhằm giảm nghèo của các hộ nông dân

1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia lớn, có dân số nói chung và số lượng nông dân đông nhất thế giới Trong khi đó, đất nông nghiệp của Trung Quốc là có hạn, chỉ khoảng 100 triệu ha Điều đó đòi hỏi nông nghiệp Trung Quốc phải có sự phát triển mạnh mẽ mới đáp ứng được yêu cầu về lương thực, thực phẩm và đảm bảo đời sống cho một bộ phận lớn dân số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp Để đạt được điều đó, yếu tố quan trọng đầu tiên là Trung Quốc phải

có được một chính sách đất nông nghiệp hợp lý, tiên tiến, phù hợp với tình hình thực tế của quốc gia mình Nắm bắt được yêu cầu đó, Trung Quốc đã

Trang 36

chọn nông nghiệp làm khâu mở đầu thực hiện cải cách và chính sách đất nông nghiệp cũng được chọn là khâu đột phá trong đổi mới về chính sách Trong những năm qua, kể từ khi thực hiện cải cách đến nay, chính sách đất nông nghiệp của Trung Quốc đã không ngừng được bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện Nhìn chung, chính sách đất nông nghiệp của Trung Quốc từ khi thực hiện cải cách đến nay đều kiên định và dựa trên nguyên tắc cơ bản là: đất đai nói chung, đất nông nghiệp nói riêng là thuộc sở hữu công cộng; nhà nước thực hiện bảo vệ chặt chẽ và phát huy tối đa hiệu quả sử dụng đất canh tác; lấy việc xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy hoạch tổng thể đất đai làm cơ sở để chính quyền nhân dân các cấp từ trung ương đến địa phương tiến hành quản

lý nghiêm ngặt, bảo vệ và khai thác có hiệu quả tài nguyên đất đai, ngăn chặn

và chống mọi hành vi chiếm dụng đất đai phi pháp; hạn chế nghiêm ngặt việc chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp Thực hiện chính sách bảo hộ đặc biệt với đất canh tác cơ bản Với những nguyên tắc và quan điểm cơ bản đó, chính sách đất nông nghiệp của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong những năm qua đã thể hiện được nhiều ưu việt và phát huy tác dụng to lớn, góp phần quan trọng vào thành công của công cuộc cải cách ở Trung Quốc Chính sách đất đai nông nghiệp của Trung Quốc là rất coi trọng đất nông nghiệp, bảo vệ nghiêm ngặt đất nông nghiệp Theo đó, Luật Quản lý đất đai quy định rất chặt chẽ Nhà nước thực hiện chế độ chiếm dụng đất canh tác có bồi thường Trường hợp xây dựng phi nông nghiệp được phê chuẩn chiếm dụng đất canh tác thì theo nguyên tắc "Chiếm dụng bao nhiêu, khai khẩn bấy nhiêu", đơn vị chiếm dụng đất canh tác chịu trách nhiệm khai khẩn đất canh tác tương ứng với số lượng

và chất lượng đất canh tác chiếm dụng; trường hợp không có điều kiện khai khẩn đất canh tác hoặc khai khẩn không phù hợp với yêu cầu, thì phải nộp phí khai khẩn đất canh tác theo quy định của tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc, khoản phí đó chỉ dùng để khai khẩn vùng đất mới

Trang 37

1.3.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật là nền kinh tế đứng thứ ba thế giới, diện tích 378 ngàn km2, dân

số 127,8 triệu người (2011), chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2011 là 0,901, GDP bình quân đầu người năm 2011 là 34.739 USD Nhật là một trong những nước có sự thành công trong phát triển kinh tế với tốc độ nhanh dựa trên nguồn nhân lực được đào tạo tốt, có đủ khả năng, trình độ tiếp thu, lĩnh hội kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhập khẩu Có thể nói, Nhật là nước đầu tiên

ở châu Á đi đầu trong phát triển nguồn nhân lực Xuất phát từ việc Nhật nghèo về tài nguyên thiên nhiên, lại luôn gặp thiên tai, phần lớn nguyên nhiên vật liệu lại nhập khẩu, nền kinh tế Nhật lại bị phá hủy trong Chiến tranh thế thới thứ hai Sau đại chiến thế giới thứ hai, trong lĩnh vực nông nghiệp Chính phủ Nhật ưu tiên bồi dưỡng lao động nông thôn Nhật đã có nhiều chính sách đào tạo trình độ lao động trong nông nghiệp nhằm xóa khoảng cách giữa nông nghiệp và công nghiệp Chính phủ Nhật đã triển khai thực hiện triết lý phát triển: con người Nhật cộng với khoa học kỹ thuật phương Tây Để đảm bảo nguồn nhân lực thường xuyên cho phát triển kinh tế nông nghiệp, Chính phủ khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành hệ thống giáo dục

- đào tạo nghề trong lĩnh vực nông thôn Cùng với việc tăng cường giáo dục - đào tạo (nhất là đào tạo nghề), Chính phủ có chính sách ưu đãi đối với lực lượng lao động có tay nghề cao, chuyên môn giỏi, đồng thời khích lệ hoạt động sáng tạo của người lao động luôn thích ứng với mọi điều kiện Về sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, Nhật thực hiện chế độ lên lương và tăng thưởng theo thâm niên Như vậy, phương thức đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực của Nhật là nhằm phát huy cao độ tính chủ động sáng tạo của người lao động; tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có khả năng thích ứng nhanh với điều kiện làm việc luôn thay đổi và nhạy bén trong việc làm chủ công nghệ và các hình thức lao động mới

1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm áp dụng ở nước ta

Trang 38

1.3.3.1 Bài học kinh nghiệm về sử dụng tài nguyên đất đai

Ở Việt Nam đất canh tác cơ bản, đất nông nghiệp bị lấn chiếm, bị trưng thu, bị trưng dụng rất nhiều để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, phát triển khu đô thị, sân golf v.v… Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, nông dân một số địa phương không còn ruộng đất để sản xuất Theo

số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thon, bình quân mỗi năm có 73,3 nghìn ha đất nông nghiệp bị thu hồi Việc thu hồi một diện tích lớn đất đai sản xuất nông nghiệp làm ảnh hưởng đến khoảng 2,5 triệu người

Do vậy Việt Nam cần phải luật hóa các quy định về đất đai Trong đó phải xây dựng được chỉ tiêu diện tích một số loại đất có tầm quan trọng quốc gia cần phải bảo vệ nghiêm ngặt, đưa ra những quy định cụ thể về bảo vệ đất nông nghiệp, trong đó cần chỉ rõ diện tích đất nông nghiệp có chất lượng tốt nhất "bờ xôi ruộng mật" cần được duy trì vĩnh cửu và không được chuyển đổi mục đích sử dụng dưới bất cứ lý do gì

1.3.2.2 Bài học kinh nghiệm về sử dụng phát triển nguồn nhân lực

Các nước đều có sự quan tâm đặc biệt tới việc phát triển nguồn nhân lực và thấy rõ vai trò quan trọng của vấn đề này trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội Mỗi quốc gia trong quá trình phát triển đều xác định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược phát triển nguồn nhân mỗi quốc gia Vì vậy, quốc gia nào biết quan tâm, tạo điều kiện để lực lượng nhân lực trẻ phát huy tối đa khả năng thì

họ sẽ góp phần to lớn vào quá trình phát triển vững vàng của quốc gia trong tương lai Lao động chất lượng cao phải được trả giá cao, tương xứng để thúc đẩy khả năng sáng tạo của họ Cần áp dụng thước đo của thị trường để trả công xứng đáng cho những tài năng ở cả khu vực công và khu vực tư Đặc biệt, vấn đề thu nhập trong khu vực công cần được điều chỉnh một cách mềm dẻo, linh hoạt để thích ứng với những biến động của thị trường lao động Chỉ

có như thế mới giữ được những người tài năng làm việc lâu dài trong khu vực

Trang 39

công Tăng cường công tác đào tạo nghề cho người lao động, hoàn thiện hệ thống đào tạo từ bậc phổ thông, đào tạo nghề, đào tạo đại học Xây dựng chương trình hướng nghiệp cho học sinh phổ thông và bắt buộc thực hiện ở các trường; hoàn thiện hệ thống giáo trình ở các trường đào tạo theo hướng các trường tự xây dựng giáo trình và phải đáp ứng các tiêu chuẩn quốc gia theo quy định; chương trình đào tạo nghề cần tăng cường giờ thực hành nhiều hơn nữa Thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho người lao động

để đáp ứng nhu cầu của công việc Xây dựng mối quan hệ giữa trường đào tạo

và doanh nghiệp, thông qua chính sách, cơ chế hoạt động và khuyến khích các doanh nghiệp gắn với các trường đào tạo và ngược lại các trường đào tạo gắn với doanh nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng lao động một cách có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của lao động của doanh nghiệp

Phát triển nguồn nhân lực phải dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống kết hợp với việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Đây là bài học kinh nghiệm sâu sắc của nhiều nước, mà thành công nhất là Nhật, Singapore, Trung Quốc… VN có hệ giá trị văn hóa truyền thống hàng ngàn năm, trong đó nổi bật là “chủ nghĩa yêu nước VN” Những giá trị này cần được kế thừa và phát huy trong điều kiện hội nhập quốc tế Đồng thời, cần tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của nền văn minh nhân loại Phát triển nguồn nhân lực phải gắn liền với nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy không có một nước công nghiệp hóa nào đạt đến thành công mà không chú trọng phát triển nguồn nhân lực Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước dù hướng nội hay hướng ngoại, các quốc gia đều nhận thức rõ việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo là yếu tố quyết định, tạo nên công bằng xã hội, tăng thu nhập và tạo khả năng tăng trưởng, phát triển kinh tế bền vững

Chương 2

Trang 40

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Câu hỏi đặt ra cho vấn đề nghiên cứu

Khi nghiên cứu vấn đề sử dụng nguồn lực tự nhiên ảnh hưởng tới thu nhập của hộ và đề ra một số mô hình sử dụng nguồn lực có hiệu quả có một

số câu hỏi đề ra cần giải quyết như sau:

- Các hộ gia đình sở hữu quyền sử dụng các nguồn lực tự nhiên nhiều hơn thì có thu nhập cao hơn?

- Các hộ gia đình sử dụng các nguồn lực một cách khoa học, hiệu quả thì có thu nhập cao hơn?

- Đề xuất các giải pháp, phương án sử dụng nguồn lực của hộ gia đình đưa ra phải gắn với thực tế, hộ nông dân có thể áp dụng được?

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

2.2.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp (tài liệu đã được công bố sẵn)

Đây là các số liệu từ các công trình ngh

, minh họa rõ nét về nội dung nghiên cứu Nguồn gốc của các tài liệu này đã được chú thích rõ trong phần “Tài liệu tham khảo” Nguồn tài liệu này bao gồm:

- Các sách, báo, tạp chí, các văn kiện Nghị quyết, các chương trình nghiên cứu đã được xuất bản, các kết quả nghiên cứu đã công bố của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học trong và ngoài nước, các tài liệu trên internet

- Tài liệu, số liệu đã được công bố về tình hình kinh tế xã hội, kinh tế của các ngành sản xuất, báo cáo tài chính, báo cáo thường niên … Các số liệu này thu thập từ phòng Thống kê của UBND Huyện Đồng hỷ

Ngày đăng: 27/08/2015, 19:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ nông nghiệp, 7- 2011, Nông nghiệp- nông thôn 4. Các- Mác, 1962. Tư bản luận- tập 3, NXB Hà Nội 5. Các Mác, 1949, tái bản tập 3, Nhà xuất bản sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư bản luận- tập 3
Tác giả: Các- Mác
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1962
8. Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng,1999. Giáo trình đất.NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đất
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
9. FAO, 1995. Hội thảo sử dụng đất Châu á- Thái Bình Dương tại Roma, bản dịch- nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo sử dụng đất Châu á- Thái Bình Dương tại Roma
Nhà XB: nhà xuất bản Nông nghiệp
11. Cao Liêm, Trần Đức Viên (1993)- Sinh thái nông nghiệp và bảo vệ môi trường, nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái nông nghiệp và bảo vệ môi trường
Tác giả: Cao Liêm, Trần Đức Viên
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1993
12. Ngô Đình Quế (1999), Hội thảo khoa học về chuyển giao công nghệ cho phát triển bền vững trên đất dốc ở Việt Nam. Trung tâm nghiên cứu sinh thái về môi trường rừng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo khoa học về chuyển giao công nghệ cho phát triển bền vững trên đất dốc ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đình Quế
Năm: 1999
10. Hội khoa học đất Việt Nam, 2000. NXB Nông nghiệp Khác
13. Chu Hữu Quý (1999), Khái quát một số vấn đề về quản lý và sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.4: Hiện trạng dân số và đất ở huyện Đồng Hỷ năm 2012 - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.4 Hiện trạng dân số và đất ở huyện Đồng Hỷ năm 2012 (Trang 55)
Bảng 3.5: Hiện trạng sử dụng đất huyện Đồng Hỷ năm 2012 - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.5 Hiện trạng sử dụng đất huyện Đồng Hỷ năm 2012 (Trang 56)
Bảng 3.7: Hiện trạng đất đai bình quân của các hộ điều tra - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.7 Hiện trạng đất đai bình quân của các hộ điều tra (Trang 66)
Bảng 3.8: Hiện trạng chất lƣợng đất đai của các hộ điều tra - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.8 Hiện trạng chất lƣợng đất đai của các hộ điều tra (Trang 69)
Bảng 3.13: Tình hình nhân khẩu tính bình quân của nhóm hộ điều tra - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.13 Tình hình nhân khẩu tính bình quân của nhóm hộ điều tra (Trang 75)
Bảng 3.14: Tài sản trung bình của hộ điều tra huyện Đồng hỷ năm 2012 - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.14 Tài sản trung bình của hộ điều tra huyện Đồng hỷ năm 2012 (Trang 78)
Bảng 3.15: Nhà cửa hộ điều tra Huyện Võ Nhai năm 2012 - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.15 Nhà cửa hộ điều tra Huyện Võ Nhai năm 2012 (Trang 79)
Bảng 3.19: Thu nhập bình quân /người/tháng của nhóm hộ điều tra - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.19 Thu nhập bình quân /người/tháng của nhóm hộ điều tra (Trang 86)
Bảng 3.20: Hệ thống cây trồng hàng năm của hộ gia đình - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.20 Hệ thống cây trồng hàng năm của hộ gia đình (Trang 87)
Bảng 3.21: Hệ thống cây trồng lâu năm của hộ điều tra - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.21 Hệ thống cây trồng lâu năm của hộ điều tra (Trang 88)
Bảng 3.23: Giá trị sản xuất và chi phí sản xuất các hộ điều tra - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.23 Giá trị sản xuất và chi phí sản xuất các hộ điều tra (Trang 91)
Bảng 3.25: Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư các lĩnh vực của nhóm hộ điều tra - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.25 Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư các lĩnh vực của nhóm hộ điều tra (Trang 92)
Bảng 3.26: Hiệu quả sử dụng lao động của các nhóm hộ điều tra - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.26 Hiệu quả sử dụng lao động của các nhóm hộ điều tra (Trang 93)
Bảng 3.27: Đánh giá yếu tố thủy lợi trong sản xuất trồng trọt - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.27 Đánh giá yếu tố thủy lợi trong sản xuất trồng trọt (Trang 94)
Sơ đồ 4.1: Nhân tố tác động đến việc nâng cao thái độ cho các hộ gia đình - Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn lực đến việc giảm nghèo của hộ nông dân huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Sơ đồ 4.1 Nhân tố tác động đến việc nâng cao thái độ cho các hộ gia đình (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm