1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội

71 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội

Trang 1

BỘ Y TẾ

Lê Thu Huyền

( Khoá luận tốt nghiệp Dượo^sỹ khoá 2000 - 2005)

HÀ NỘI THÁNG 6 - 2 0 0 5

Trang 2

QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 3

ĐẶT VẤN Đ Ể 1

PHẦN 1 TỔNG QUAN 3

1 Tình hình sử dụng thuốc trên thế g iớ i 3

2.Tình hình sử dụng thuốc ở Việt Nam 8 3 Giới thiệu phương pháp nghiên cứu định tính 14

PHẨN 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u 21

1 Đối tượng nghiên cứu 21

1.1 Chiến lược chọn mẫu 21

1.2 Một số đặc điểm về mẫu nghiên cứu 21

2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.1.Thiết kế nghiên cứu 22

2.2 Kĩ thuật thu thập thông tin 22

2.3 Xử lí số liệu 22

2.4 Các vấn đề liên quan tới đạo đức nghiên cứu 23

PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN cứu VÀ BÀN LUẬN 24

1 Kết qủa nghiên cứu 24

1.1 Cách thức xử trí khi có vấn đề về sức khoẻ 24

1.1.1 Tự sử dụng thuốc 26

a.Sử dụng thuốc theo kinh nghiệm bản thân 26

b.Sử dụng thuốc theo sự mách bảo của mọi người 28

c.sử dụng thuốc qua quảng cáo, giới thiệu trên các phương tiện truyền thông đại chúng 31

1.1.2 Sử dụng thuốc theo sự hướng dẫn tư vấn của người bán thuốc 32

1.1.3 Đi khám bệnh 33

1.2 Những vấn đề quan tâm khi mua thuốc 35

Trang 4

1.2.1 Lựa chọn thuốc nội- thuốc ngoại 35

1.2.2 Tìm hiểu những thông tin liên quan đến việc sử dụng th u ố c 39

1.3 Cách thức sử dụng thuốc 42

1.3.1 Liều lượng sử dụng 42

1.3.2 Thời gian điều trị 44

1.3.3 Tác dụng phụ và cách xử lí 46

2 Bàn luận 48

2.1 Sử dụng thuốc trong trường hợp tự điều trị 48

2.2 Sử dụng thuốc theo sự hướng dẫn tư vấn của người bán thuốc 56

2.3 Sử dụng thuốc theo chỉ định của bác s ĩ 57

PHẦN 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUẤT 59

1 Kết luận 59

2 Đề xuất 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỂ

Trong cuộc sống, con người có nhiều nhu cầu đa dạng và phong phú Có những nhu cầu họ có thể chậm giải quyết hay gác lại vì lí do này hay lí do khác song nhu cầu về thuốc xuất hiện khi sức khoẻ có vấn đề thì không thể gác lại hay giải quyết chậm trễ Nhu cầu cấp thiết là như vậy song người có vai trò quyết định trong việc mua loại thuốc nào, số lượng bao nhiêu lại không phải là ngứời

sử dụng mà là thầy thuốc bởi thuốc là con dao hai lưỡi nếu dùng đúng sẽ có tác dụng chữa bệnh nhưng nếu dùng sai sẽ “tiền mất tật mang” Nói một cách khác thuốc là một hàng hoá đặc biệt, có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng của con người nên phải được sử dụng an toàn, hợp lí, có hiệu quả trong chữa bệnh

Những năm gần đây, với sự tiến bộ trong lĩnh vực sản xuất và cung ứng số lượng, chủng loại thuốc ngày càng phong phú, đáp ứng tương đối đầy đủ nhu cầu phòng và chữa bệnh của nhân dân Mạng lưới cung ứng thuốc phân bố rộng khắp các nơi đặc biệt là tại các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc sử dụng thuốc của người dân đặc biệt là trong những trường hợp tự điều trị

Bên cạnh những ưu điểm thuận tiện cho người sử dụng, việc sử dụng thuốc trong cộng đồng cũng nảy sinh nhiều vấn đề Nổi bật nhất là tình trạng tự điều trị, tự sử dụng những loại thuốc phải kê đơn và bán theo đơn như kháng sinh, corticoid dẫn đến tình trạng lạm dụng kháng sinh hay sử dụng không đúng liều lượng, thời gian làm cho tình trạng vi khuẩn kháng lại kháng sinh ngày càng gia tăng Bên cạnh đó việc sử dụng vitamin một cách bừa bãi, lạm dụng các loại thuốc ngoại, biệt dược đắt tiền cũng rất phổ biến, gây lãng phí về mặt kinh tế.Nguyên nhân của tinh trạng này rất phức tạp, xét riêng về phía người sử dụng, đó có thể là do những nhận thức không đầy đủ, chính xác trong quá trình dùng thuốc, sự thiếu thông tin, trình độ dân trí hạn chế hay những ảnh hưởng của tâm lí, thói quen tác động tới việc chăm sóc sức khoẻ nói chung và sử dụng thuốc nói riêng

Trang 6

Trước tình hình đó để tìm hiểu một cách cụ thể tác động của những yếu tố trên tới việc sử dụng thuốc trong cộng đồng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn Hà Nội”

nhằm hai mục tiêu :

1 Tìm hiểu hành vỉ của các bà mẹ trong việc sử dụng thuốc.

2 Phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố đến việc sử dụng thuốc.

từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hướng cộng đồng tới việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lí trên cơ sở nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người sử dụng

Trang 7

P H Ầ N l TỔNG QUAN

1 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC TRÊN THÊ GIỚ I

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, danh mục các loại thuốc cũng được thay đổi, bổ sung thường xuyên nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về thuốc trong tình hình bệnh tật phức tạp và đa dạng của thế giới ngày nay Đồng thời, giá trị sử dụng thuốc cũng tăng một cách mạnh mẽ với tỷ lệ hàng năm khoảng 8-10% Trong đó năm 2001 doanh số bán toàn cầu là 371,9 tỷ USD; năm 2002 DSB đạt 400,6 tỷ USD và đến năm 2003 DSB là 466,5 tỷ USD

Mặc dù doanh số bán ngày càng tăng cao nhưng mức tiêu thụ thuốc không chia đều cho các khu vực mà chỉ tập trung vào các quốc gia giàu có trong đó dẫn đầu là thị trường Bắc Mỹ (Mỹ, Canada) doanh số bán đạt 229,5 tỷ USD chiếm 49% DSB toàn cầu, tiếp đến là các nước thuộc khối EU với 115,4 tỷ USD chiếm 25% DSB của thế giới và Nhật Bản 52,48 tỷ USD chiếm 11% DSB toàn cầu

Bảng 1.2 Doanh sô bán thuốc theo khu vực

Trang 8

Tương tự như vậy, sự chênh lệch về mức tiêu thụ thuốc tính theo bình quân đầu người giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển cũng rất lớn Năm 1994 bình quân tiêu thụ thuốc trên đầu người của Bắc Mỹ là 312 USD, Tây Âu 177 USD trong khi đó ở Philippines là 14,04 USD, Indonesia là 4,90 USD 10 nướctiêu thụ thuốc nhiều nhất trên thế giới Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan, Bỉ, Canada chiếm tới 60% sản lượng thuốc toàn cầu [38].

Nguyên nhân của sự chênh lệch này là do ngành dược ở các nước phát triển dùng vốn phúc lợi công cộng là chủ yếu trong khi đó tại những nước đang phát triển do những khó khăn về ngân sách nhà nước và cơ sở hạ tầng thấp kém nên người dân không có điều kiện để có thuốc khi cần Vì thiếu ngoại tệ và ngân sách, một số nước phải tư nhân hoá từng bộ phận dịch vụ y tế trong đó có việc cung ứng dược phẩm và do đó đã ảnh hưỏỉng tới các mục tiêu của y tế là đảm bảo cho những tầng lớp nghèo khổ và khó khăn nhất có thể có thuốc và dịch vụ y tế

với giá cả có thể chấp nhận được Trong tình hình trên, người nghèo ở thành thị

và nông thôn sử dụng thuốc rất ít so với bình quân của cả nước Mô hình tiêu thụ này cũng được phản ánh qua sự tập trung của các hiệu thuốc, nhà thuốc ở thành phố

Một cố gắng để hướng phân bố tiêu thụ thuốc cho cộng đồng nhằm vào mục tiêu chăm sóc sức khoẻ ban đầu và những nhóm dân cư có nhiều thiệt thòi về kinh tế là chính sách và chương trình sử dụng thuốc thiết yếu (TTY) Theo WHO thì chỉ cần lUSD TTY có thể đảm bảo chữa khỏi tới 80% các chứng bệnh thông thường cho người dân tại cộng đồng để thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu và kết quả là ở những nước thực hiện chương trình TTY tuy mức tiêu thụ thuốc bình quân còn thấp nhưng nguồn lực đã được sử dụng có hiệu quả hơn [6]

Bên cạnh những bấl cập trong việc phân bổ thuốc không đồng đều giữa các nước phát triển và đang phát triển, tình hình sử dụng thuốc không an toàn, hợp lí đang diễn ra rất phức tạp tại tất cả những nước này

ở những nước phát triển việc sử dụng thuốc không hợp lí thể hiện chủ yếu ở các mặt sau đây Thứ nhấl đó là tình trạng lệ thuộc thuốc, lạm dụng thuốc đang

ngày càng phổ biến và trở thành một hội chứng ồ các nước phát triển [6].

Trang 9

ở Mỹ, theo ước tính 50% trong tổng số 100 triệu đơn thuốc kháng sinh được kê mỗi năm ở các phòng khám tư là không cần thiết Năm 2003, cơ quan Quản lí thuốc và thực phẩm Mỹ đã ra quyết định từ nay các loại kháng sinh lưu hành ở Mỹ phải in thêm dòng chữ cảnh báo người tiêu dùng và bác sĩ rằng việc lạm dụng thuốc có thể dẫn đến việc mất hiệu quả điều trị Theo một kết quả điều tra gần đây, các bác sĩ Mỹ thường kê quá nhiều loại thuốc kháng sinh phổ rộng cho các bệnh viêm nhiễm thông thường Báo cáo của bác sĩ Michael Steinman người phụ trách chương trình điều tra và cộng sự cho biết thuốc kháng sinh thường được kê đơn cho khoảng 63% các trường hợp viêm nhiễm hô hấp cấp tính trong đó kháng sinh phổ rộng có mặt tói 54% [34].

Sự lạm dụng kháng sinh ở đây không chỉ xuất phát từ phía bác sĩ mà còn có

lí do từ bệnh nhân Một báo cáo mới đây cho thấy một nửa số người lớn và 1/3 cha mẹ các em có triệu chứng cảm lạnh muốn được kê đơn kháng sinh Hơn 18% đơn có kháng sinh được kê cho những bệnh do virus gây ra như cảm lạnh, cúm Bệnh nhân mong muốn, bác sĩ sẵn lòng kê đơn, kết quả là số lượng đơn thuốc kháng sinh quá nhiều Một số bác sĩ còn cho biết việc kê kháng sinh mất ít thời gian hơn việc giải thích cho người bệnh tại sao không nên dùng Những lĩnh vực đáng lo ngại khác là việc tìm kiếm một ngôi nhà không mầm bệnh đang xuất hiện ở Mỹ Nhiều người thường sử dụng dung dịch và xà phòng diệt khuẩn để rửa tay và cọ nhà Theo các thầy thuốc của Tung tâm kiểm soát và phòng bệnh (CDI) thì xà phòng và nước cũng có tác dụng bảo vệ, các thành viên của hội y học Mỹ đang thảo luận về vấn đề này và có thể đưa ra khuyên nghị nhằm chấm dứt việc sử dụng những dung dịch trẽn ở nhà [30]

Một lí do khác góp phần làm tăng tính kháng thuốc ở các nước giàu là việc quá lạm dụng thuốc kháng khuẩn trong sản xuất thực phẩm Hiện nay, 50% toàn

bộ nền sản xuất thuốc men là dành chữa bệnh súc vật, kích thích tăng trưởng gia súc và gia cầm hoặc diệt vật hại cho thực vật trồng trọt [4]

Không chỉ các thuốc kháng sinh bị lạm dụng mà các chế phẩm vitamin và

chất bổ dưỡng cũng đang được sử dụng bừa bãi ở các nước phát triển.

Mỗi năm hàng trăm triệu người trên thế giới sử dụng thuốc bổ với hy vọng

nâng cao sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ, chỉ riêng ở Mỹ con số này là 25% Theo

Trang 10

số liệu của Cơ quan quản lí thuốc và thực phẩm Mỹ dựa trên những kết quả điều tra chi tiết của Viện y tế (ÍOM) về thị trường thuốc bổ thì mỗi năm trên khắp nước Mỹ có khoảng 29.000 loại sản phẩm thuốc bổ được bán ra mang lại tổng doanh thu 18 tỷ USD Tuy nhiên không có bất cứ con số nào cho thấy mức độ hiệu quả cũng như độc tính của chúng Công thức và cách dùng của nhiều loại thuốc kể cả các phương thuốc truyền thống thường xuyên được thay đổi khiến cho không một ai biết chắc chúng có còn được an toàn như trước nữa không [32].Vấn đề thứ hai là tình trạng sử dụng tràn lan các loại thuốc mới trong khi các loại thuốc đang sử dụng vẫn còn hiệu lực điều trị bệnh Vòng đời của nhiều loại thuốc ngày càng bị rút ngắn do bị thay thế bởi các thuốc mới đôi khi chưa rõ tác dụng và tác hại [6] Điển hình là mới đây sản phẩm Vioxx, một biệt dược của roíecoxib thuộc nhóm thuốc kháng viêm phi steroid ức chế chọn lọc trên COXII được chỉ định trong điều trị viêm khớp và các ccfn đau cấp tính của hãng dược phẩm Merck sau một thời gian đưa vào điều trị đã được công ty ra thông báo thu hồi trên toàn cầu Nguyên nhân là các nhà nghiên cứu đã ghi nhận được những nguy cơ của biến cố tim mạch và tai biến mạch máu não khi sử dụng loại thuốc này mặc dù tác dụng phụ lên đường tiêu hoá của nó ít hơn các thuốc chống viêm truyền thống [20].

Vấn đề thứ ba là tình trạng tiêu thụ quá mức và lãng phí thuốc Mức tiêu thụ thuốc trên đầu người của người dân lên tới trên 400 USD (Nhật Bản) gấp 10 lần mức bình quân của thế giới và gấp 40 lần so với các nước đang phát triển [6].Như vậy ở các nước phát triển với trình độ dân trí cao có nhiều điều kiện để

áp dụng các biện pháp quản lí phù hợp mà việc sử dụng thuốc hợp lí, an toàn mới chỉ chặt chẽ trong lĩnh vực giám sát việc mua bán thuốc theo đcfn hay kiểm tra chất lượng thuốc còn ở các lĩnh vực khác vẫn tồn tại rất nhiều vấn đề nan giải Vì

vậy, tình trạng sử dụng thuốc thiếu hợp lí ở các nuớc đang phát triển xảy ra

nghiêm trọng là điều không thể tránh khỏi

Tại những nước này, tình trạng tự mua thuốc, tự điều trị dẫn đến việc lạm dụng thuốc đang dần trở nên phổ biến và nghiêm trọng hơn ở Trung Quốc hầu hết các loại thuốc đều có thể mua được mà không cần đơn, hậu quả là mỗi năm

Trang 11

Trung Quốc có gần 200.000 người chết do dùng thuốc không đúng tại nhà Hơn 2,5 triệu nguòi trong số 50 triệu nhập viện mỗi năm là do tác dụng xấu của thuốc

mà họ tự dùng, 60- 80% trong số 10 triệu ca tử vong thầm lặng ở nước này có liên quan đến sử dụng thuốc không đúng [33]

Theo một nghiên cứu trên 25.951 trường hcfp ờ Andhra Pradesh cho thấy có 47% thuốc ở các hiệu thuốc trong thành thị được bán không có chỉ định của thầy thuốc [46] Một điều tra ở Philippin, trong số 149 trường hợp bị ốm ở 126 hộ gia

đình tại hai cộng đồng vùng đô thị có tới 92% trường hợp tự điều trị không qua thầy thuốc khám chữa bệnh, trong đó 1/2 tự sử dụng thuốc tây [48]

Cùng với vấn đề tự điều trị, tình trạng tự sử dụng kháng sinh một cách không hợp lí cũng đang là một hiện tượng phổ biến Tại Mehico trong tổng số

1659 bà mẹ được phỏng vấn có tói 37% dùng kháng sinh cho trẻ em khi bị tiêu chảy, 27% số người được hỏi trả lời dùng kháng sinh khi mắc bệnh hô hấp và 66% trả lời dùng kháng sinh dưới 5 ngày và tỷ lệ tự điều trị gắn liền với việc dùng thuốc không phù hợp hoặc không đúng liều là 72% [39]

Hiện tượng sử dụng bừa bãi và lạm dụng kháng sinh không chỉ diễn ra tại cộng đồng mà còn xuất hiện trong cả các nhân viên y tế Hơn 90% số kháng sinh

mà chủ yếu là kháng sinh phổ rộng được các nhân viên bán thuốc bán ra để điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp thể nhẹ không cần thiết phải dùng đến kháng sinh[50]

Việc sử dụng kháng sinh không hợp lí ờ cả cộng đồng và các nhân viên y tế

như trên chính là một trong những yếu tố làm tăng tính kháng thuốc đang lan tràn trên toàn cầu Nhiều nước Đông Nam Á cho biết 98% các chủng lậu đã

kháng penicillin Một thập kỷ trước ở Newdelhi, Ấn Độ bệnh thưoỉng hàn có thể

chữa khỏi bằng ba thuốc rẻ tiền, nay các thuốc đó đã vô dụng Cũng như vậy 10 năm trước bệnh lị do Shigella có thể kiểm soát dễ dàng bằng Cotrimoxazol một dạng thuốc thông thường rất rẻ, dễ mua, nay thì hầu hết chúng đều không đáp ứng với thuốc này Tại Hoa Kì, mỗi năm khoảng 14.000 người nhiễm khuẩn và chết do các vi trùng kháng thuốc mắc phải ở bệnh viện Toàn thế giới 60% các nhiễm khuẩn bệnh viện là do các vi khuẩn kháng thuốc [4]

Trang 12

Tại Hội nghị quốc tế họp tại Luân Đôn, Anh ngày 16/7/1996, các nhà khoa học đã cảng báo””thế giới đang đứng trên bờ vực của cuộc khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng do tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn gia tăng, nhiều bệnh nhân không còn đáp ứng với kháng sinh và chết do thuốc không có hiệu lực”[18] Thế giới hiện nay chỉ còn 1 hay 2 thập kỷ nữa để sử dụng tối đa những thuốc đang có nhằm chặn đứng những bệnh nhiễm khuẩn bởi có quá ít những thuốc mới được triển khai và thay thế các thuốc đã mất hiệu lực Do đó không nên chỉ dựa hoàn toàn vào việc phát minh các thuốc mới mà bỏ qua cơ hội sử dụng một cách rộng rãi các thuốc mà ta đang có [4].

2 TÌNH HÌNH s ử DỤNG THUỐC ở VIỆT NAM

Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, cơ chế bao cấp trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cung ứng dần được xoá bỏ Pháp lệnh Hành nghề y dược tư nhân ra đời năm 1993 và hàng loạt các thông tư văn bản pháp quy hướng dẫn việc thực hiện pháp lệnh này đã thúc đẩy việc tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ, tạo tiền đề cho hàng loạt cơ sở hành nghề HNDTN ra đời và phát triển rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, tạo điều kiện đưa thuốc tới tay người bệnh một cách nhanh chóng với giá cả ổn định Thị trưòfng thuốc phong phú, đầy đủ cả về thuốc nội thuốc ngoại, thuốc thiết yếu, thuốc chuyên khoa, thuốc thông thường với chất lượng ổn định, giải quyết về cơ bản nhu cầu thuốc cho người dân [14]

Tính đến năm 2004 đã có 680 công ty cổ phần (năm 2003 là 590) công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân; hơn 8650 nhà thuốc tư nhân (2003 là7500) chưa kể nhà thuốc bệnh viện và hơn 11500 đại lí bán lẻ thuốc (2003 là 10500) Mặc dù hệ thống hành nghề dược tư nhân vẫn tập trung vào các thành phố lớn, các khu vực đông dân cư nhưng việc cung ứng thuốc cho miền núi, vùng sâu vùng xa đã được quan tâm Tại các tỉnh miền núi và vùng sâu như

Hà Giang, Lạng Sơn, Sóc Trăng đã có những doanh nghiệp tư nhân được thành lập [8]

Số lượng các mặt hàng được cấp SDK cho phép lưu hành trên thị trường tăng dần qua các năm Theo số liệu thống kê đến năm 2000 tổng SDK là 9051 mặt hàng, đến cuối năm 2004 thị trưòmg thuốc Việt Nam có tới 1350 chủng loại

Trang 13

Chất lượng thuốc ngày càng được nâng cao, đến nay trên toàn quốc đã có

48 cơ sở đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP), 34 cơ sở đạt tiêu chuẩn thực hành tốt kiểm nghiệm thuốc (GLP), 28 cơ sở đạt tiêu chuẩn thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP) [17\

Tỷ lệ thuốc giả giảm dần năm 1993 - 1996 là 0,59%, 1998 là 0,18%, 2000

là 0,07%, năm 2004 là 0,06% Tiền thuốc bình quân đầu ngưòi qua các năm cũng tăng lên đáng kể [7, 8]

Bảng 1.2 Tiền thuốc bình quân đầu người qua các năm

Tiền thuốc bình quân đầu người

N guồn: Cục quản ]í dược Việt Nam

Bên cạnh những thành quả không thể phủ nhận, trong quá trình đổi mới những bất cập của cơ chế thị trường cũng có tác động đến HNDTN tạo nên sự

phức tạp, mất trật tự rất khó quản lý đặc biệt ò các vùng nông thôn Tình trạng

các cơ sở HNDTN chạy theo lợi nhuận vi phạm các quy chế chuyên môn như quy chế thuốc độc, quy chế thuốc hướng thần, quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn không phải là ít [5]

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do thiếu các văn bản pháp lí cần thiết, việc Xíìy dựng quy chế còn chậm, một số quy chế chưa

được sửa đổi, bổ sung ban hành kịp thời đồng bộ đã tạo ra tình trạng ở đó các

khái niệm về công bằng trong khám chữa bệnh, sử dụng thuốc an toàn hợp lí bị đảo lộn [52] Công tác quản lí trong các dịch vụ khám chữa bệnh và kinh doanh thuốc trên thị trường tuy đã thoát khỏi cơ chế bao cấp nhưng gần như được thả nổi [41]

Về mặt sử dụng thuốc hiện nay đang có rất nhiều vấn đề đáng lo ngại mà

điển hình là tình trạng lạm dụng thuốc đặc biệt là kháng sinh cả ở bác sĩ và cộng

đồng

Trang 14

Theo kết quả khảo sát tình hình mua thuốc của nhân dân ở một số tỉnh phía Bắc, số đơn có trên 3 thuốc chiếm tới 93,88%, 64,80 % số đcfn có trên 4 thuốc, đơn có từ 5 thuốc trở lên chiếm 20,41% [27] Tại các phòng khám chữa bệnh tư

nhân nơi người dân đến khám chữa bệnh ngày càng đông đặc biệt là ờ các thành

phố lớn, qua điều tra cho thấy số thuốc trung bình trong một đofn là 4,38 trong đó

cao nhất là ở quận Hoàn Kiếm (5,11), thấp nhất ở huyện Từ Liêm (3,5), số lượng

thuốc dao động từ 2-9 thuốc [2] Kết quả thanh tra, kiểm tra việc cung ứng sử dụng thuốc trong bệnh viện vìra qua của Bộ Y tế cho biết tình trạng lạm dụng kháng sinh, vitamin chiếm tới' 75-85% Số lượng các thuốc kê trong đơn vẫn ở

mức cao thậm chí có đơn có tới tận 15 loại thuốc như ở thành phố Hồ Chí Minh

[28],

Trong cộng đồng, tình trạng tự điều trị, tự sử dụng thuốc đang diễn ra rất phổ biến Theo một nghiên cứu về các hình thức lựa chọn dịch vụ dược của

ngưòi dân ở Hà nội, thì việc mua thuốc chủ yếu qua kinh nghiệm bản thân, sự

mách bảo của bạn bè và quảng cáo chiếm tới 56,3 % trong khi đó số lần bán

thuốc không có hướng dẫn chiếm tỉ lệ cao 51,3% [26] Một nghiên cứu gần đây

cũng cho biết 95% người bệnh tự mua thuốc tại các nhà thuốc tư không cần đơn [3] Tuy rằng việc tự dùng thuốc làm giảm bớt sức ép cho các dịch vụ y tế nhất là khi các dịch này hạn chế đặc biệt là ở nơi xa xôi hẻo lánh nhưng thuốc tự dùng

có thể tương tác với các thuốc kê đơn, rượu, thực phẩm thì người dân lại không biết hoặc ít để ý đến điều này từ đó gây ra mối nguy hại đến sức khoẻ Ngoài ra việc quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng đem lại cảm giác tin tưởng rằng việc tự dùng thuốc chỉ là việc của người bệnh [25]

Việc lạm dụng kháng sinh, sử dụng không đúng mục đích điều trị trong cộng đồng đang là vấn đề đáng lo ngại Theo tài liệu của Bộ Y tế Việt Nam trong tổng số người được mời phỏng vấn ở Hà Nội thì có 79% tự mua kháng sinh không cần đơn trong đó 55-65% dùng không đủ liều 84% số trẻ em nghi viêm phổi, gia đình tự mua kháng sinh về điều trị [35] Theo ước tính, hàng năm ở Việt Nam có tổng số 128 iriệo lượt người bị tiêu chảy cấp trong đó 71 % dùng kháng sinh không có chỉ dẫn của bác sĩ [31]

Trang 15

phổi, gia đình tự mua kháng sinh về điều trị [35] Theo ước tính, hàng năm ở Việt Nam có tổng số 128 triệu lượt người bị tiêu chảy cấp trong đó 71 % dùng kháng sinh không có chỉ dẫn của bác sĩ [31].

Không chỉ tự do mua kháng sinh, tình trạng sử dụng kháng sinh không đủ liều diễn ra rất phổ biến Khảo sát trên 1345 trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp cấp

cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi cho thấy 75 trường hợp dùng kháng sinh trong 3 ngày

hoặc ít hơn, chỉ có 2,7 % dùng đủ liều Đặc biệt là đa số người nhận không nhận thức được hậu quả của việc dùng kháng sinh không đủ liều chính là nguyên nhân gây ra sự kháng thuốc của vi khuẩn [49]

Với mô hình bệnh tật của một nước nhiệt đới, bệnh nhiễm khuẩn luôn chiếm vị trí hàng đầu, tỷ lệ kháng sinh nhập khẩu hàng năm chiếm khoảng 40% giá trị nhập khẩu thì việc sử dụng kháng sinh một cách không hợp lý dẫn tới tình trạng vi khuẩn kháng thuốc, nhờn thuốc (kể cả kháng sinh có hoạt phổ rộng) đang là vấn đề cấp bách cần được giải quyết [14] Một trong nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là sự thiếu hụt về kiến thức sử dụng thuốc hợp lý của cả người

kê đơn lẫn người bán thuốc người sử dụng [54] Một tỷ lệ lớn các bệnh nhân tự điều trị là một nguy cơ không thể tránh khỏi hiện tượng sử dụng thuốc không hợp lí, lạm dụng thuốc 80% người bệnh bỏ qua việc khám và đi thẳng đến nhà thuốc trong khi đó việc các nhà thuốc tư chỉ chạy theo lợi nhuận sẩn sàng bán thuốc không cần đơn đang diẽn ra rất phổ biến [55, 56]

Bên cạnh tình trạng lạm dụng, sử dụng bừa bãi kháng sinh, việc sử dụng corticoid ở nước ta cũng đang là một vấn đề cần được quan tâm Các nghiên cứu

về sử dụng coĩticoid đang được tiến hành ngày một nhiều hcfn đã góp phần quan trọng trong việc xác định thực trạng sử dụng corticoid của cả bác sĩ và cộng đồng Khi tìm hiểu việc bán các thuốc steroid tại các nhà thuốc tư tại Hà Nội thấy rằng 98% đều bán hoặc là prednisolon hoặc dexamethason và chỉ có duy nhất một lần khách hàng được hỏi về đơn thuốc [10] Tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn một số nghiên cứu trên thế giới, tại Braxin 65% số nhà thuốc đã bán steroid

mà không cần đơn [45]._Bên cạnh đó, còn có khoảng cách lớn giữa kiến thức và thực tế bán loại thuốc này, 60% số người bán thuốc trả lời là không bán nhưng thực tế 98% khách hàng đã mua được loại thuốc này [10]

Trang 16

Cùng với hiện tượng lạm dụng kháng sinh và corticoid, gần đây việc sử dụng vitamin cũng đang có xu hướng gia tăng Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực này đã cảnh báo về việc lạm dụng vitamin trong điều trị của các thầy thuốc vàlạm dụng vitamin do quan niệm sai trong cộng đồng, ở Việt Nam cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu về tình hình sử dụng vitamin.

Theo tài liệu của nghiên cứu “Đánh giá nhu cầu sử dụng vitamin trong cộng đồng” tại 10 tỉnh thành phố, tỉ lệ người sử dụng vitamin trong tổng số người sử dụng thuốc dao động từ 45,9% đến 74,9%, tỉ lệ đơn thuốc có vitamin là từ 55,4 đến 77,5, trung bình là 66,1% cho thấy việc kê đơn của thầy thuốc có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu sử dụng vitamin Các vitamin được kê nhiều nhất là vitamin c (46,6%), Bl(18,7%), vitamin phối hợp (17,3%)- Khảo sát tại các điểm bán lẻ cho thấy trung bình có 50,9% khách hàng mua thuốc là mua vitamin, cao nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh (61,8%) Ba loại Vitamin có tỉ lệ sử dụng cao nhất là vitamin c (38,2%), Bl(16,9%), vitamin kết hợp (15,3%) [11]

Một nghiên cứu khác ở Hà Nội cho thấy có tới 61,7% số người tự mua vitamin Mặc dù vitamin là một loại thuốc được bán không cần đcín nhưng trong

đó lại có đến 80,5% nguời mua vitamin do tự chẩn đoán mình bị thiếu hoặc cho rằng nó vô hại, chỉ có 19,5% hỏi ý kiến dược sĩ bán thuốc khi mua [12]

Song song với việc lạm dụng thuốc ở cả người dân, các nhân viên y tế nói chung, một vấn đề khác đang gây nhiều bức xúc trong dư luận xã hội là tình trạng bác sĩ thường kê đơn các loại thuốc ngoại, biệt dược đắt tiền

Theo nghiên cứu tại các bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, Hữu Nghị, bệnh viện quân y 108 tỷ lệ thuốc ngoại chiếm 60,4% các loại thuốc thường dùng trong bệnh viện [21] Tỉ lệ thuốc Việt Nam dùng trong bệnh viện chỉ đạt từ 20 đến 25% về số lượng còn lại là thuốc ngoại Gần đây sau khi thực hiện chỉ thị 05 của

Bộ Y Tế về chấn chỉnh công tác sử dụng và cung ứng thuốc trong bệnh viện thì tỉ

lệ dùng thuốc nội đã tăng lên chiếm 44,64% thuốc ngoại chiếm 55,36% về số lượng tuy nhiên nếu xét về giá trị thuốc nội chỉ chiếm 20% tổng giá trị tiền thuốc của bệnh viện, 80% còn lại là thuốc ngoại [28^

Nguyên nhân của tình trạng này là do thuốc Việt Nam dùng trong bệnh viện đại đa số là các thuốc thông thường rẻ tiền với các dạng bào chế đơn giản (chiếm trên 90%), không đáp ứng được mô hình bệnh tật hiện nay Hơn nữa, thuốc sản xuất trong nước còn đang phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu

Trang 17

nhập khẩu chiếm hơn 90%, chỉ một số ít nguyên liệu kháng sinh như Ampicillin, Amoxcillin và một số thảo dược là sản xuất được Thuốc nước ngoài vẫn đang đóng vai trò quan trọng với số hoạt chất chiếm gần 70% tổng số lượng hoạt chất

đang hm hành tại Việt Nam [6, 28].

Tóm lại việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lí, hiệu quả đang là vấn đề được

xã hội hết sức quan tâm Những công trình nghiên cứu về vấn đề này đã được tiến hành ở nhiều nơi trên thế giới, cụ thể từ năm 1986 đến năm 1995 đã có hơn

8000 công trình được công bố tại Anh đề cập đến vấn đề sử dụng thuốc, phần lớn

những công trình này được thực hiện ở các nước đang phát triển và đã đưa ra kết

luận 40%-60% người bệnh được sử dụng thuốc hoặc kê đơn không đúng [53]

ở Việt Nam những công trình nghiên cứu tương tự như vậy cũng đã được tiến hành và đưa ra được những số liệu về thực trạng sử dụng thuốc của người dân trong cộng đồng và cả trong các nhân viên y tế giúp cho các cơ quan quản lí nhận biết được tình hình, kịp thời đưa ra những biện pháp thích hợp

Tuy nhiên hầu hết những công trình nghiên cứu đã công bố này đều được thực hiện dưófi dạng một nghiên cứu mang tính chất định lượng đưa ra kết quả là những thông tin mang tính thống kê về mặt số học ví dụ như tỷ lệ phần trăm người tự điều trị, % người mua thuốc kháng sinh không có đơn trong khi đó những nghiên cứu đi sâu vào việc phân tích các lí do nguyên nhân về mặt nhận thức, thói quen, tâm lí đã đến tình trạng này thì chưa nhiều

Thực ra về mặt này, các công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng cũng đã đưa ra được một số lời giải thích bên cạnh các số liệu chứng minh nhưng chưa thật cụ thể bởi đặc thù của phưcíng pháp nghiên cứu này

là nhằm đo lường kích thước, độ lón, sự phân bố của biến số nghiên cứu với các câu hỏi bao nhiêu, bằng cách nào có tính cứng nhắc Trong khi đó phương pháp nghiên cứu định tính thường sử dụng các câu hỏi cái gì, tại sao, như thế nào mang tính mềm dẻo, linh hoạt hơn giúp chúng ta hiểu sâu hơn về bản chất, nguyên nhân cũng như các yếu tố ảnh hưởng của vấn đề

Vì lí do đó trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm tìm hiểu về những hành vi trong việc sử dụng thuốc trong cộng đồng cũng như một số yếu tố ảnh hưởng, cấu thành nên hành vi đó

Trang 18

3 Giới thiệu phương pháp nghiên cứu định tính (qualitative studies)

3.1 Định nghĩa - một vài khái niệm cơ bản

- Nghiên cứu định tính là một nghiên cứu mô tả, phân tích bản chất của vấn

đề Thông thường nó hay trả lòi các câu hỏi cái gì tại sao (nguyên nhân) gây nên vấn dề đó? Bản chất của vấn đề đó là gì? Quá trình hình thành vấn đề đó ra sao? Làm thế nào để giải quyết vấn đề đó?

- Nghiên cứu định tính còn có một tên khác nữa là nghiên cứu về chất

- Nghiên cứu định tính thường được sử dụng để mô tả kĩ lưỡng những quá trình diễn biến của hiện tượng, sự vật, mô tả lòng tin và kiến thức liên quan đến sức khoẻ cộng đồng cũng như của các cán bộ y tế Nghiên cứu này cũng rất phù hợp cho việc thăm dò các lí do của tập quán ứng xử và ý kiến của những người được nghiên cứu về một vấn đề nhất định

- Nghiên cứu về chất thường được chia làm 4 loại chính dựa theo mục đích nghiên cứu:

+ Nghiên cứu thăm dò (Exploratory)

Nhằm mục đích tìm hiểu sơ bộ về hiện tượng sự việc cần nghiên cứu hay xác định biến số (hay lí do chính) để đưa ra giả thiết trong nghiên cứu chính sau này

+ Nghiên cứu giải thích (Explanatory)

Chủ yếu là để giải thích các nguyên nhân gây ra hiện tượng sự vật cần nghiên cứu, quá trình tác động của các nguyên nhân, mối quan hệ qua lại giữa các nguyên nhân và kết quả

+ Nghiên cứu mô tả (Deseriptive)

Nhằm mô tả hiện tượng sự vật, quá trình hình thành, tiến triển, mô tả lòng tin thái độ thực hành của con người đối với một sự vật hiện tượng nào đó

+ Nghiên cứu dự báo

Nhằm dự đoán các kết quả sẽ xảy ra hay dự báo những hiện tượng hay các cách ứng xử sẽ xảy ra trong tương lai do tác động nào, thay đổi một vấn đề Ai sẽ

bị tác động nhiều nhất, theo cách nào? [15]

Trang 19

3.2 Một số dặc trưng của phương pháp nghiên cứu định tính

- Nghiên cứu định tính được đặc trưng bằng một phương thức tiếp cận nhằm tìm cách mô tả và phân tích đặc điểm văn hoá, hành vi của con người và của nhóm người từ quan điểm của đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu định tính chú trọng tới việc cung cấp một hiểu biết có tính toàn diện về các đặc điểm của môi trường xã hội nơi nghiên cứu được tiến hành Đời sống xã hội không chỉ được nhìn nhận như một chuỗi các sự kiện liên kết chặt chẽ với nhau mà còn được mô tả một cách đầy đủ để phản ánh đựơc thực tại của cuộc sống hàng ngày

- Nghiên cứu định tính dựa trên một chiến lược nghiên cứu linh động và có tính biện chứng Cách tiếp cận này cho phép phát hiện những chủ đề quan trọng không mong đợi trước mà các nhà nghiên cứu có thể chưa nhìn nhận được do bản thân họ bị hạn chế (phạm vi một số câu hỏi hoặc phương pháp thu thập số liệu được thiết kế sẵn từ truức) Trong nghiên cứu định tính có thể có một số lựa chọn ban đầu về vấn đề câu hỏi nghiên cứu và phương pháp thu thập thông tin nhưng chúng có thể được điều chỉnh cho phù hợp khi những thông tin mới xuất hiện trong quá trình thu thập

- Tuy nhiên nghiên cứu định tính rất dễ bị ảnh hưởng bởi chủ quan của người nghiên cứu đặc biệt trong giai đoạn thu thập và xử lí số liệu Nó đòi hỏi những kĩ thuật thu thập số liệu riêng và việc xử lí số liệu cũng khác nghiên cứu định lượng Trong nghiên cứu định tính nhiều khi người ta thưòng trích một câu nói của một người hay một vài chữ nói lên bản chất của vấn đề tại cộng đồng Lời nói đó nếu đúng sự thật còn mạnh mẽ hơn nhiều so với các con, số tỷ lệ trong nghiên cứu định lượng

Nói chung các phương pháp thu thập thông tin khác nhau đem lại những loại thông tin khác nhau Do đó trước khi chọn dùng phương pháp nào phải quyết định xem thông tin nào cần thiết nhất và hữu ích trong hoàn cảnh đã xác định và từ đó sử dụng nhCrng phương pháp phù hợp nhất để thu thập thông tin đó.Các phương pháp nghiên cứu định tính hay nghiên cứu định lượng sử dụng trong khi tiến hành có thể bổ sung và khi phù hợp thì nên kết hợp hai cách này sao cho có thể tăng cường được điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu của mối phương pháp Ví dụ nghiên cứu định tính có hể hỗ trợ cho nghiên cứu định lượng bằng cách xác định chủ đề phù hợp với phương pháp điều tra Nghiên cứu định

Trang 20

lượng hỗ trợ cho nghiên cứu định tính bằng cách kết quả hoá các phát hiện ra một mẫu lớn hơn hay bằng cách nhận biết các nhóm cần nghiên cứu sâu, định tính.

Tóm lại không có qui định chặt chẽ cho việc quyết định sử dụng loại hình phương pháp nghiên cứu nào.Tuy nhiên riêng với phương pháp nghiên cứu đinh tính thì nó thường được sử dụng trong việc:

- Thăm dò tính khả thi, chấp nhận và sự phù hợp của những chuơng trình y tế mới tiềm tàng

- Phát triển những hoạt động về thông tin giáo dục và truyền thông và tài liệu phù hợp

- Nhận biết những tồn tại trong những can thiệp đang triển khai và đưa ra những giải pháp thích hợp với những tồn tại đó

- Hoàn chỉnh những thông tin thu được trong các giám sát thường xuyên và các nghiên cứu đánh giá bằng cách giải thích những kết quả thu được từ nghiên cứu định lượng

- Thiết kế các công cụ điều trạ chính xác hơn bằng cách nhận biết những chủ đề thích hợp nhất cho nghiên cứu điều tra và bằng cách xác định những câu hỏi thích hợp và cách diễn đạt chúng cho phù hợp [16]

3.3 Một sô vấn đề trong thiết kế, chọn mẫu, thu thập và xử lí số liệu

3.3.1 Thiết kê nghiên cứu

Hình 1 Quá trình biện chứng trong nghiên cứu định tính

Trang 21

Theo sơ đồ trên, cách thức thiết kế trong phương pháp nghiên cứu định tính mang tính biện chứng và khá linh hoạt Điều này đối lập với một thiết kế thử nghiệm có tính cứng nhắc trong đó toàn bộ tiến trình nghiên cứu phải được nêu

rõ trước khi bắt đầu thu thập thông tin và tuân thủ theo đúng qui trình không được phép thay đổi này (Hình 2)

Hình 2 Cấu trúc logic của quá trình nghiên cứu định tính

3.2.2 Vấn đề chọn mẫu trong nghiên cứu định tính

Tương tự như các phương pháp nghiên cứu khác, có hai loại chọn mẫu trong nghiên cứu định tính là chọn mẫu xác suất và chọn mẫu không xác suất

• Phương pháp chọn mẫu xác suất

Phương pháp này làm tăng thêm tính giá trị của kết quả tìm được và nên dùng khi điều kiện cho phép Tuy nhiên cách chọn này khá tốn kém và đôi lúc không thể thực hiện được một cách chặt chẽ trêm,tìl5^Mẫ'1SQ môt SỂ

Trang 22

chọn mẫu không xác suất khác được sử dụng với mục đích nghiên cứu làm cho kết quả nghiên cứu có tính đại diện về mặt lí thuyết cho quần thể nghiên cứu Các nhà nghiên cứu chọn địa điểm nghiên cứu hay đối tượng cung cấp thông tin

mà có tính đại diện cho một số đặc điểm mà có thể có ý nghĩa đối với chủ đề nghiên cứu (ví dụ: đặc điểm địa lí, nhóm dân tộc, trình độ giáo dục, tuổi )- Trong tình huống đó một số lượng nhỏ địa điểm nghiên cứu hoặc đối tượng nghiên cứu mà được chọn một cách đặc biệt có thể đem lại một lượng thông tin xác thực và có tính đại diện

• Một số đặc điểm chung chủ yếu của cách chọn mẫu không xác suất

- Thiết kế mẫu linh hoạt và thường phát triển và luôn biến dổi trong quá trình nghiên cứu Nhà nghiên cứu sẽ có một vài ý tưởng chung khi bắt đầu nghiên cứu như nhóm ngirời nào sẽ được chọn phỏng vấn và bắt đầu từ đâu nhưng điều đó không có nghĩa là bị giới hạn vào một chiến lược chọn mẫu cứng nhắc và được định sẩn

- Các đơn vị mẫu (tức cá nhân hay hộ gia đình) thường được chọn hàng loạt Thông thường những gì mà ta thu được nhóm người cung cấp thông tin sẽ giúp xác định các nhóm đối tượng cung cấp thông tin hữu ích khác

- Việc chọn mẫu còn bao gồm cả việc tìm kiếm các trường hợp đối lập với mục đích làm tăng ý nghĩa cho kết quả nghiên cứu

Mặc dù có một số đặc điểm chung cần phải chú ý khi tiến hành chọn mẫu khồng xác suất nhưng thực tế không có bất kì một luật định chặt chẽ nào qui định về cỡ mẫu không xác suất trong nghiên cứu định tính Cỡ mẫu nghiên cứu phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu cụ thể cần phải trả lời những thông tin nào là cần thiết, những thông tin nào có độ tin cậy và những gì

có thể làm được với thời gian và nguồn lực sẩn có Ví dụ với một thời gian nhất định và nguồn lực hạn chế, nghiên cứu viên có thể chọn tìm hiểu một số chủ đề nhất định trong một số lớn các trường hợp (nhằm thu độ rộng) hay tìm hiểu nhiều chủ đề nghiên cứu khác nhau trên một số nhỏ các trường hợp (nhằm thu được độ sâu)

Trong chọn mẫu không xác suất thì việc chọn các đối tượng cung cấp thông tin thường tiếp tục cho đến khi đạt mức độ bão hoà Có nghĩa là đến một lúc nào

Trang 23

đó khi mà có vẻ thông tin thu được không còn gì mới nữa (và tất cả sự khác biệt tiềm tàng đều đã đươc tìm hiểu kĩ càng) lúc đó có thể dừng việc chọn thêm đối tượng vào mẫu nghiên cứu Nhà nghiên cứu quyết định một cách chung nhất về loại đối tượng nào nên phỏng vấn (dựa theo các tiêu chuẩn đã được định trước hoặc mới nảy sinh) và sau đó tiếp tục phỏng vấn những đối tượng thuộc loại này cho đến khi không còn thông tin gì mới được thu thập thêm.

Mặc dù không có một công thức nào định trước cho việc chọn mẫu nhưng không có nghĩa là việc chọn mẫu không có hệ thống Tất cả các quyết định liên quan đến chiến lược chọn mẫu và cỡ mẫu cần được lí giải rõ ràng [16]

3.2.3 Các kĩ thuật thu thập sô liệu thường dùng trong nghiên cứu định tính

Có khá nhiều kĩ thuật thu thập số liệu hay được dùng trong nghiên cứu định tính như:

Trang 24

3.2.4 Phân tích và xử lí số liệu

Mặc dù các thủ tục và kết quả của nghiên cứu về chất có khác với nghiên cứu định lượng nhưng việc phân tích số liệu không quá khác biệt.Trong cả hai loại nghiên cứu, nghiên cứu viên cần :

- Mô tả quần thể nghiên cứu: ai, bao nhiêu người, ở đâu Nếu số lượng cho phép có thể dùng bảng tần số để mô tả các cá thể nghiên cứu theo thời gian, nghề nghiệp, học vấn, tình trạng hôn nhân Việc mô tả này sẽ giúp ích cho người đọc báo cáo biết về các yếu tố của cá thể thông tin

- Mã hoá số liệu: bởi các thông tin thu được đều ở dưới dạng ghi chép ban đầu

hoặc nằm trong các băng ghi âm Thông tin tản mát và vẫn ở dạng thô nên việc

mã hoá lại là rất cần thiết

- Phân tích số liệu đưa ra các bảng biểu kết quả nghiên cứu ở dưới dạng dễ phân giải (giải thích) giúp cho nhà nghiên cứu có thể phân tích số liệu, thấy rõ được mối liên quan giữa các thông tin, các biến số nghiên cứu một cách thuận lợi

- Nhận định kết quả: quá trình này là một chuỗi bao gồm [15]

Tập hợp các sự k iệ n _► phân tíc h ► tổng h ợ p ► Khái quát lại thành

bản chất các vấn đề

Trang 25

PHẦN 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN cứu

Các bà mẹ trong hộ gia đình (đây là ngưòi đóng vai trò chính trong việc chăm sóc sức khoẻ cho các thành viên trong gia đình)

1.1 Chiến lược chọn mẫu

Sử dụng phương pháp chọn mẫu không xác suất (chọn mẫu có mục đích) Trong đó kĩ thuật trái bóng tuyết cũng được sử dụng khi nghiên cứu viên yêu cầu người được phỏng vấn giới thiệu bạn bè hay người quen của họ Kết quả, địa điểm nghiên cứu bao gồm

- Quận Đống Đa : phường Láng Hạ, phường Thịnh Quang

- QuậnThanh Xuân: phường Nhân Chính

1.2 Một sô đặc điểm về mẫu nghiên cứu

• Tổng số có 30 người với độ tuổi từ 25 - 55 tham gia vào cuộc nghiên cứu

• Phân loại tuổi của đối tượng nghiên cứu

Độ tuổi Sô lượng (n = 30) Tỷ lệ(% )

Trang 26

Phân loại trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu

Trình độ học vấn Số lượng (n=30) Tỷ lệ(% )

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Thiết kê nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả sử dụng phương pháp định tính được lựa chọn để thu thập

và phân tích số liệu

2.2 Kĩ thuật thu thập thông tin

Sử dụng bộ câu hỏi bán cấu trúc cùng các hỏi mở được thiết kế sơ bộ để thu thập thông tin

Các cuộc phỏng vấn được tiến hành tại nhà của đối tượng nghiên cứu và không có sự tham gia của gia đình để đảm bảo tính trung thực của các thông tin nhận được Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài trong vòng một đến hai giờ

Xem xét lại từng cuộc phỏng vấn theo các vấn đề/chủ đề đã xác định

Tim mối tương quan giữa các vấn đề/chủ đề

Giải thích mối tương quan giữa các vấn đề/chủ đề

Trang 27

2.4 Các vấn đê liên quan tới đạo đức nghiên cứu

Tất cả các đối tượng đều được hỏi ý kiến về việc họ có đồng ý tham gia cuộc nghiên cứu không Không có đối tượng nào từ chối Tất cả các cuộc phỏng vấn sâu đều được ghi âm với sự đồng ý của đối tuợng nghiên cứu Các thông tin liên quan tới cá nhân được hoàn toàn giữ kín

Trang 28

về sức khoẻ, họ thường căn cứ vào các triệu chứng, xem xét mức độ nặng nhẹ để

từ đó sử dụng các biện pháp thích hợp

Những bệnh nhẹ, đơn giản mình xử lý được thì tự chữa ỏ nhà

không phải đến bác sỹ khám bệnh (Ý kiến của hầu hết các bà mẹ).

Vậy những bệnh đơn giản, xử lý được là những bệnh như thế nào để có thể tự điều trị ? Hầu hết các bà mẹ khi trả lời câu hỏi này đều quan niệm

Mình cảm thây những bệnh nhẹ như nhức đầu, cảm cúm, hắt hơi sổ mũi thì

tự dùng thuốc được (Một bà mẹ 41 tuổi, bán hàng tiêu dùng).

Với những bệnh đó, tất cả các bà mẹ đều quyết định tự điều trị tại nhà Mỗi người tuỳ theo tình trạng bệnh và kinh nghiệm của bản thân mình đã đưa ra các biện pháp xử lý khác nhau Đa số các bà mẹ sử dụng các bài thuốc dân gian trước sau đó mới dùng đến lân dược khi bệnh không thuyên giảm

Bác thường không dũng thìiốc tây ngay mà hay dùng các biện pháp, kinh nghiệm dân gian như khi bị viêm họng thì ngậm chanh muối hay ăn cháo hành tía tô đ ể giải cảm Hoặc cầu kỳ hơn, bác lấy lá ngải và một viên gạch nóng rồi cho nằm lên sau một hai ngày không đỡ, bác mới dùng các thuốc hạ sốt còn nếu đỡ thì không phải dùng thuốc nữa (Một bà mẹ 55 tìiổi, nhân viên văn phòng).

Nguyên nhân đầu tiên thúc đẩy họ sử dụng dạng thuốc này là sự tin tưởng vào mức độ an toàn của chúng cộng với một vài lo ngại khi sử dụng tân dược

Sở d ĩ bác không dùng thuốc tây ngay vì bác thấy mình cũng không biết nhiều

về thuốc nên dùng các biện pháp dân gian trước, nó lành tính và cũng có tác dụng (Một bà mẹ 55 tuổi, nhăn viên vắn phòng).

Các bệnh như đaii đầu cố thể là do căng thẳng nên không cần dùng thuốc ngay Thuốc bao gìờ cũng có hai mặt tốt và xấii nên nếu uống nhiều quá mà mình lại không hiểu biết s ẽ gây ra tác dụng phụ không tốt (Một bà mẹ 31 tuổi, nội trợ).

Trang 29

Tuy nhiên, có một vài hgười sử dụng tân dược ngay vì cảm thấy “thuận tiện hơn”.

Bác thưcmg miia thuốc luôn còn các biện pháp như uống nước gừng nóng khi

bị lạnh bụng hay ngậm chanh muối thì ít dùng vì nhiều lúc nhà không có sẵn Lúc đấy mình đang Cần dừng thuốc mcì đi mua thì lúc có, lúc không nên thường đi mua thuốc về điều trị luôn cho tiện {Một bà mẹ 44 tuổi, bán hàng tiêu dùng).

Khi các con bác còn bé, bác cũng hay dùng lá nhọ nồi, bây giờ lớn rồi thì toàn dùng thuốc tây ìiiôn Bác hay ra hiệu thuốc ở ngay gần nhà mua các thuốc hạ sốt hay cảm cúm về dùng, còn nếu bệnh nặng quá mình phải đi bệnh viện khám (Một bà mẹ

51 tuổi, bán hàng- thực phẩm).

Như vậy, với các bệnh ,đơn giản, thông thường phương hướng xử lý chủ yếu của các bà mẹ là tự điều trị tại nhà Cách xử lý như vậy, theo họ có rất nhiều điểm thuận lợi, dễ dàng cho việc sử dụng thuốc

Khí hậu của mình hay thay đổi, mưa nắng thất thường nên hầu hết mọi người

kể cả người lớn, trẻ con đều bị các bệnh như hắt hơi, sổ mũi, đau đầu Mối lần như vậy mình lại đi khám thì có khi một tháng phải đi khám đến mấy lần tốn thời gian lắm (Một bà mẹ 36 tuổi, bán hàng tiêu dùng).

Cô chỉ tự điền trị đối với các bệnh thông thường như cảm cúm Bây giờ cố nhiều nơi đ ể mua tìiìiốc nên mình tự đi mua cảm thấy tiện hơn, còn ra bác sỹ khám nhiều lúc mất thời gian lắrn chỉ bệnh nặng mới phải đến khám (Một bà mẹ 43 tuổi, bán hàng ăn).

Ngược lại với bệnh thông thường, những trường hợp bệnh nặng hay tự chữa không khỏi sẽ phải đi khám

Trường lìỌp sốt cao dãi ngày, ho lâu ngày không khỏi hoặc là những triệu chứng của các bệnh nặng trong cư thể mình không biết được thì phải đi khám Ngoài

ra khi con cái ốm mình cũng muốn ra bác s ĩ đ ể họ tư vấn cho mình các biện pháp dùng thuốc đ ể mình dùng đii'Ợc hợp lí hơn (Một bà mẹ 31 tuổi, nội trợ).

Những bệnh tưởng như đơn giản nhưng thực ra lại là bệnh nặng ví dụ như mình bị sốt điều trị à nhà không khỏi thì có thể là dịch sốt siêu vi trùng hoặc một bệnh dịch nào đấy Lúc đó mình phải đi khám ngay đ ể điều trị chứ ở nhà không biết xử trí ra sao (Một bei mẹ 55 tuổi, nhân viên văn phòng).

Trang 30

1.1.1 Tự sử dụng thuốc

Với hình thức này, họ có thể sử dụng thuốc căn cứ vào kinh nghiệm của chính mình hoặc dựa trên những lời mách bảo của những nguời xung quanh hay nhũTng thông tin họ thu được từ các đoạn quảng cáo, giới thiệu thuốc trên các phương tiện thông tin đại chúng

a Sử dụng thuốc theo kinh nghiệm bản thân

Kinh nghiệm sử dụng thuốc của các bà mẹ xuất phát từ những lần điều trị trước có sự hướng dãn của người bán thuốc hay dùng lại đơn cũ

Lúc mới nuôi con bác chưa có nhiều kinh nghiệm, chủ yếu phải đến bác s ĩ khám Sau một hai lần như vậy bác s ẽ biết được bác s ĩ hay kê cho con mình uống loại thuốc nào, do đó nhữiìg lần bệnh tái plìát với triệu chứng như lần trước bác lấy đơn cũ

ra mua thuốc cho em Iiốriíị không phải đi khám lại cho mất công (Một bà mẹ 47 tuổi, bán hàng- thực phẩm).

Lần đầu tiên bị bệnh, bác kể triệu chứng cho người bán thuốc nghe sau đó họ bán cho bác thuốc điều trị Nhiều lẩn dùng loại thuốc đó thấy bệnh đều khỏi nên khi

ra mua bcic s ẽ bào ngKiYi hem thuốc cho tôi đúng thuốc đấy {Một bà mẹ 51 tuổi, bân hàng- thực phẩm).

Các loại thuốc chữa đau đầu, cảm cúm, hay vitamin thường được sử dụng theo kiểu kinh nghiệm như vậy

Những bệnh bcic hay mắc như cảm cúm nhức đầu thì bác thường ra hiệu thuốc bảo người bán cho tôi loại thuốc tôi đang dùng quen vì những thuốc đấy tôi đã có sử dụng nhiều lần (Một bà mẹ 49 tuổi, bán hàng tiêu dùng).

Các Vitamin như c , BI mọi người đã quá quen thuộc rồi nên khi nào người mình bị nhiệt hay mấn ngứa cô thường ra hiệu thuốc mua c về uống còn BI dùng trong trường hợp kém ăn hay ăn không ngon (Một bà mẹ 36 tuổi, công nhân may)

Tuy nhiên, những hiểu biết của các bà mẹ về tác dụng của vitamin đôi khi không chính xác dẫn đến việc áp dụng

Cô dùng vitamin c nếu bị ho nhiều hay đ ể giải chất độc.

Trang 31

kháng sinh Trong khi đó, theo qui định của Bộ y tế, tất cả các loại kháng sinh đều phải kê đơn và bán theo đơn và hầu hết các bà mẹ trong cuộc phỏng vấn dù

đã biết về vấn đề này nhưng do tâm lí ngại đi khám bệnh và cho rằng “đã có kinh nghiệm sử dụng kháng sinh” nên “tự mua được”

Kháng sinh là loại thuốc phải bán theo đơn do đó chỉ những loại cô đã có kinh nghiệm dùng tỉicíy hiệu quả cô mới cìcim mua như vậy Một lí do khác ỉà cô không muốn đi khám lại cho đỡ tốn thời gian, công sức bởi bây giờ đến bệnh viện cố nhiều điều phức tạp khó khăn (Một bù mẹ 46 tuổi, nhân viên ngân hàng).

Bác biết là như vậy nhưng thấy tiện có thuốc là tự mua, thứ hai là ngại đi khám nên bác thường sử dụníị theo đơn cũ, chỉ sau khi dùng hết một liều kháng sinh nhưng không thẫy đỡ bác mới đến bác s ĩ khám Thực tế bây giờ ở Việt Nam có rất nhiều người làm như vậy không phải chỉ riêng mình bởi việc này đã gần như trở thành thói quen (Một bà mẹ 50 tuổi, nhân viên thư viện).

Một lí do khác là qua thực tế sử dụng “từ trước đến giờ đều làm như vậy nhưng không sao cả”, thấy “bệnh vẫn khỏi”

Cô dùng theo kiểu kinh nghiệm như th ế thì cô thấy không ảnh hưởng gì cả là bởi vì mình biết lượng thuốc của con mình một ngày phải dùng là bao nhiêu nếu dùng thấp quá thì khôìĩiị thể khỏi được còn nếu dùng liều cao qúa ìại sợ con mình sau này bị ảnh hưởng Nói chung cô thấy chẳng cố cái tác hại gì, về sau như th ế nào cô không rõ chứ trước mất là con mình khỏi bệnh (Một bà mẹ 39 tuổi, bán hàng ăn).

Vì lí do trên, nhiều bà mẹ đã quyết định tự dùng kháng sinh dù biết việc này là “không đúng, không họp lí”

Qua thực tế dũng kháng sình bác thấy không xảy ra hiện tượng gì đặc biệt nhưng nếu xét về góc độ khoa học làm như vậy là không được vì có thể mình s ẽ bị các phản ứng phụ có hại của thuốc do mình không theo bác sĩ (Một bà mẹ 50 tuổi, nhân viên thư viện).

Cô đọc báo thấy họ viết dùng kháng sinh không có hướng dẫn của bác s ĩ là có hại ví dụ như mìnhuống không đúng ìiềii s ẽ nhờn thuốc, sau này dùng lại s ẽ không có tác dụng Hơn nữa mình tự dùng chưa chắc đã hiệu quả nhưng vì lười với lại tự mua như vậy tiện hơn nên những bệnh nhẹ thì uống tạm cho khỏi chứ cô cũng biết uống như vậy về sau dùng lại có khi lại không có tác dụng nữa,(Một bà mẹ 41 tuổi, bán hàng tiêu dùng).

Ngược lại với những trường hợp trên, có hai bà mẹ lại tự mua kháng sinh vì cho rằng chỉ có một số loại kháng sinh mới cần phải mua theo đơn

Trang 32

Các loại klìání' sinh dùni’ tronẹ mổ mới cần bác s ĩ kê đơn còn nếu sâu răng mình có thể tự ra hiệii thuốc hảo hụ bá lĩ cho tôi một vỉ kháng sinh đặc trị sâu răng, thế

là được (Một bà mẹ 51 tuổi, bán hàng-thực phẩm).

Mình ra bệnh viện khám, bác s ĩ cho thuốc dùng nên mới phải kê đơn chứ ở nhà

tự mua thuốc như kháng sinh thì không cần đơn (Một bà mẹ 43 tuổi, bán tạp hoá).

Nhận thức của người dùng là vậy, còn về phía người bán thuốc chính họ cũng không yêu cầu đơn

Bác bảo bán cho tôi vỉ kháng sinh, ngiiời ta không hỏi cố đơn hay không, mà chỉ hỏi bị làm sao, bác bảo là bác đang bị ho không sốt hoặc bị sưng tay sợ nhiễm trùng nên cần dùng kháng sinh Người ta nghe xong thì bán kháng sinh cho mình.

{Một bà mẹ 49 tuổi, bán hàng4hực phẩm).

Người bán thuốc hụ không hao giờ hỏi về đơn chỉ hỏi đau như th ế nào hay hỏi mình đã dùng loại khcíng sinh này chưa {Một bà mẹ 41 tuổi, bán hàng tiêu dùng).

Nhiều khi người bán thuốc bán kháng sinh cho những khách hàng đem vỏ

cũ ra mua hay nói rằng “đã từng dùng loại kháng sinh đó”

ở một s ố nơi khi cô đến mua kháng sinh họ cố hỏi đơn, mình bảo tôi đ ã uống loại đấy rồi thì họ cũng bán cho (một bà mẹ 34 tuổi, nội trợ).

Việc người bán thuốc từ chối bán kháng sinh trong trường hợp không có đơn là rất hãn hũ Li

Có lần bác ra hiệu thuốc ở ph ố Thái Thịnh mua kháng sinh nhưng nguời bán hàng bảo vì bác không có đơn nên người ta không dám bán (Một bà mẹ 55 tuổi, nhân viên văn phòng).

b Sử dụng thuốc theo sụ mách bảo của mọi nguời

Bên cạnh việc sử dụng thuốc theo kinh nghiệm bản thân trong nhiều trường hợp các bà mẹ cũng sử dụng thuốc theo sự mách bảo của mọi nguời Điều đáng quan tâm trong việc sử dụng thuốc theo hình thức này là trong số những nguời mách bảo có nhiều người không có chuyên môn về điều trị bệnh và sử dụng thuốc Khi được hỏi tại sao lại dùng thuốc theo lời mách bảo của những người như thế này, một số bà mẹ giải thích “chỉ những bệnh đcfn giản mình mới làm như vậy còn những bệnh nặng hay thuốc lạ thì mình không theo”

Nhiều khi con mình đang uống thuốc nhưng bệnh không tiến triển, hàng xóm họ bảo nên dùng loại tìniốc ìda hiệii nghiệm hơn thì mình sẽ đổi thuốc theo người ta vì các cụ nói có bệnh íhì phải vái tứ pỉiKơng Tuy nhiên không phải bệnh nào mình cũng

Trang 33

theo họ chỉ các hênh thông thường thôi còn những bệnh nặng như đau xương phải đến

bác s ĩ khám vì mình đciỉi Xìiơng-kíểii ncìy nguời ta ìạỉ đau xương kiểu khác có giống

nhau đâu mà cỉìing thuốc như nhaiI được.(Một bà mẹ 36 tuổi, bán hàng tiêu dùng).

Bạn bè đi làm cùng nhau nên cũng hay nói chuyện về thuốc Có lần người bác

mua về dùng xem có đỡ ìdiôngX Một bà rnẹ 47 tuổi, nhân viên vệ sinh môi trường).

Với một số bà mẹ, do trong gia đình có người thân hoặc chính bản thân họ mắc bệnh mạn tính nên khi được mọi người mách cho cách chữa, họ cũng thử dùng theo

Trường hợp bệnh tay của em cô đi chữa bao nhiêu nơi ra chữa Bạch Mai dùng thuốc hàng năm trời ấy rồi đến các chỗ khác cũng không khỏi, sau chữa cả Chùa

cũng thử cho em bôi, lúc đẩu không đỡ đâu xong bây giờ thì khỏi hẳn Đấy, cố mỗi lần

không đỡ {Một bà mẹ 39 tuổi, bán hàng ăn).

Cô bị bệnh khớp chữa nhiều thuốc rồi mà bệnh cũng không đỡ nên cô thuờng hỏi mọi người xitng quanh, nhiều người cũng bảo cho cô một s ố phương thuốc Nối chung là mỗi người một cách khác nhciìi, thuốc nam có thuốc tây có cũng có nên vài lần cô nghe theo họ {Một bà mẹ 34 tuổi, nội trợ).

Một lí do khác dẫn đến việc dùng thuốc theo sự mách bảo từ những người không có chuyên môn vì người được hỏi có nhiều kinh nghiệm trong việc điều trị bệnh

Con chị có lần bị kiết lị, đưa đi khám ở bệnh viện rồi đi mua thuốc nhưng vẩn không khỏi hẳn Lúc cíy chị có sang hài bà hàng xóm thì bà ấy mách mình lấy quả ỉựii

về sao Chị cũng thử làm theo cách đó cho em nó uống thấy cố hiệu quả.ịMột bà mẹ

Trang 34

Tuy nhiên với mộl số bà mẹ, hình thức này chỉ được áp dụng cho thuốcnam.

Bạn bè hay hàng xóm tĩgưòi ta có thể trải qua những bệnh đấy nên họ cũng có kinh nghiệm về tìiuốc điều trị Lần trước con bác bị mẩn ngứa các cụ thì gọi là lên kê người ta cũng mách mình rang hạt mùi lên rồi xoa vào lưng ỉà hết Bác cũng thử làm thế, vì đấy là phương thuốc dân gian dùng theo được chứ các thuốc tây thì không bao giờ bác sử dụniị vì mỗi người một bệnh khác nhau, triệu chứng nó có thể giống nhau nhưng đ ể chắc chắc mình pluỉỉ đi khám (Một bà mẹ 49 tuổi, bán hàng tiêu dùng).

Chị cũng cố khi nói chuyện hay hỏi xung quanh bạn bè về các triệu chứng bệnh của mình hay các con mình nhưng nếu có làm theo các phương thuốc người ta mách thì chỉ áp dụng ccíc phương thuốc nam thôi (Một bà mẹ 34 tuổi, nội trợ).

Việc này xuất phát từ một số quan điểm về thuốc nam của người phỏngvấn

Vì nó có tác dụng từ từ chứ không nhanh như thuốc tây^cố hại như thuốc tây (Một bei mẹ 34 tuổi, nội trợ).

Dùng thuốc nam vì dù sào nó cũng có ít tác dụng phụ hơn thuốc tây Cô được biết những phương ihuốc này sử dụng cúc lá hay quả của cây cối nên bao giờ cũng an toàn hơn ít độc hơn (Một bà mẹ 31 tuổi, nội trợ).

Trên đây là một số cách thức sử dụng thuốc theo sự mách bảo của những nguời không có chuyên môn Trong trường hợp ngược lại, việc này cũng chưa đảm bảo sự tin cậy bởi

Những người cô hỏi chỉ là y íá hay nhân viên trong bệnh viện thôi chứ không

ai là bác s ĩ cả nhưng họ có hiểu biết về thuốc hơn nên khi mình hỏi họ cũng chỉ cho thuốc điều trị Mình xem thuốc đấy có hiện quả không theo kiến thức của mình và căn

cứ vào tình trmiq bệnh nếu thấy họp lí thì cô dùng theo hỌs(Một bà mẹ 34 tuổi, nội trợ).

Ngay cá khi người được hỏi là bác sĩ, việc này cũng chỉ được tiến hành qua lời kể, chưa trực tiếp thăm khám

Lần trưé/c hác bị viêm họììAị sũc miệng ìiước muối nhưng không khỏi nên phải dùng thuốc Vì bác có người nhà là bác s ĩ nên bác có gọi điện hỏi, cô ấy bảo phải dùng kháng sinh như amoxiciiin hay cepha dấy Lẩn đẩu bác dùng theo thấy khỏi bệnh nên những lần sau bác dừng lại như tìiế.{Một bà mẹ 50 tuổi, nhăn viên thư viện).

Trang 35

c sử dụng thuốc qua quảng cáo giới thiệu thuốc trên các phương tiện truyền thông đại chúng

Song song với các phương thuốc sử dụng thuốc nói trên việc sử dụng thuốc thông qua hình thức quảng cáo giới thiệu thuốc trên sách, báo, tạp chí, đài phát thanh truyền hình, tờ rơi, áp phích cũng là một vấn đề đáng quan tâm Hiện nay do tình hình đời sống đưỢc cải thiện đáng kể nên mối quan tâm đến vấn đề chăm sóc sức khoẻ của người dân cũng ngày một nhiều Đồng thời do sự đa dạng

và phát triển của các phương tiện truyền thông nên mọi người cũng có nhiều điều kiện để tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin trong đó có các thông tin về thuốc phòng chữa bệnh Trong tình hình đó nảy sinh một vấn đề, một số người sau khi xem, nghe xong các đoạn quảng cáo, giới thiệu như vậy đã tự ra mua thuốc về sử dụng

Bác hay đọc các sách báo về thuốc như tạp chí Thuốc và sức khoẻ trong đó người ta giới thiệu một s ố loại thuốc nên nhiều lúc bị bệnh bác cũng đến hiệu thuốc mua thủ Bác nghĩ là nó cũng không hochi toàn chính xác nhưng cũng có thuốc tự mua được như các loại đơn giản hoặc loại không mang tính chất đặc trị thì mình có thể theo các quảng cáo như thế đ ể sử dụng, còn những thuốc khác làm theo như vậy s ẽ không

an toàn (Một bà mẹ 50 tuổi, nhân viên thư viện).

Trên vô tuyến hay quảng cáo các loại thuốc cảm cúm như Decolgen hay thuốc chữa ho í>ió, ho khan nếu mình bị bệnh thì ra hiệu thuốc mua loại đấy, khỏi thì tốt còn không khỏi thì dùng tìiiiốc khác (Một bà rnẹ 47 tuổi, nội trợ).

Có một số bà mẹ mặc dù muốn dùng thuốc theo cách này nhưng do gặp phải một số khó khăn Irong việc thực hiện hay có suy nghĩ “các thuốc quảng cáo

có thể hợp với người này nhimg không hợp với người kia” nên không áp dụng chúng

Tên thuốc hđu như toàn tổn nước ngoài đọc khó lắm, hơn nữa mình cũng không được học nên không nhé/ {Một bà mẹ 44 tuổi, bán hàng tiêu dùng).

Cô cũriíị xem một sô' loại có nói về thuốc như chương trình sức khỏe cho mọi người phát trên vô tiívến Họ hay có mục về thuốc nhưng cũng không mấy khỉ cô áp dụng vì nó phức tạp lắm Mấy kin trước, cô chép bài thuốc trên đó nhưng nhiều thứ đi tìm không có Còn thuốc tây thì ngợi vì cỏ thể hợp với người này nhưng biết đâu lại không hợp với ngưcri klícíc (Một bá mẹ 43 tuổi, bán hàng tiêu dũng).

Ngày đăng: 27/08/2015, 14:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Doanh sô bán thuốc theo khu vực - Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội
Bảng 1.2. Doanh sô bán thuốc theo khu vực (Trang 7)
Bảng  1.2. Tiền thuốc  bình quân đầu người qua các năm - Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội
ng 1.2. Tiền thuốc bình quân đầu người qua các năm (Trang 13)
Hình  1.  Quá trình  biện chứng trong nghiên cứu định tính - Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội
nh 1. Quá trình biện chứng trong nghiên cứu định tính (Trang 20)
Hình 2.  Cấu trúc logic của quá trình nghiên cứu định tính - Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn hà nội
Hình 2. Cấu trúc logic của quá trình nghiên cứu định tính (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w