1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá

133 901 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước sự gia tăng nhanh chóng củakhối lượng tri thức kết hợp với đổi mới và phát triển của khoa học công nghệ, tấtyếu đòi hỏi sự đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học trong các nhà

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay khoa học kĩ thuật có tốc độ phát triển cực kì nhanh chóng và trở thành một trong những tiền đề thúc đẩy nền giáo dục phát triển Cứ khoảng bốn đến nămnăm, khối lượng tri thức lại tăng lên gấp đôi Trước sự gia tăng nhanh chóng củakhối lượng tri thức kết hợp với đổi mới và phát triển của khoa học công nghệ, tấtyếu đòi hỏi sự đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học trong các nhà trường.Trong đó đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học làmột trong những khâu quan trọng trong quá trình dạy học

Kiểm tra là hình thức thiết lập luồng thông tin ngược từ học sinh đến giáo viên

và cả từ bản thân học sinh với học sinh Mỗi học sinh qua bài làm của mình sẽ rút rakinh nghiệm làm bài để điều chỉnh phương pháp học, tự học, tự bổ sung khắc sâukiến thức đồng thời giáo viên biết được năng lực trình độ, khả năng lĩnh hội kiếnthức của học sinh từ đó có được những cải tiến để nâng cao hiệu quả dạy học củamình Vì vậy, nếu nguồn thông tin ngược giữa cả người dạy và người học ngàycàng phong phú, liên tục kịp thời bao nhiêu thì càng làm cho quá trình dạy và họctrở thành một hệ khép kín, có khả năng điều khiển linh hoạt Từ đó làm cho chấtlượng dạy và học ngày càng cao Muốn thu được nguồn thông tin ngược thườngxuyên liên tục, tất yếu đũi hòi người dạy phải xác định rõ nội dung, hình thức, sốlượng, chất lượng và tần suất bài kiểm tra cho phù hợp Lí luận và thực tiễn dạy họcđều đã chỉ ra có nhiều hình thức kiểm tra cho phép xác định được mức độ hiệu quảcủa quá trình dạy học và khả năng lĩnh hội kiến thức của người học

Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu nhận và xử lí thông tin về trình độ, khảnăng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, để thấy được tác động và nguyênnhân của tỡnh hỡnh đú nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên

và nhà trường, giúp bản thân học sinh học tập ngày một tiến bộ hơn Đánh giá cũng

là khâu cuối cùng (đầu ra) của một giai đoạn dạy học, đồng thời lại là khâu đầu (đầuvào) của một giai đoạn dạy học tiếp theo với một chất lượng cao hơn của quá trìnhdạy học

Trang 2

Kiểm tra đánh giá có mối liên hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau và là nền tảng củaquá trình dạy học Chính vì vậy, để đạt được mục đích của đổi mới phương phápdạy học không thể không đổi mới phương pháp dạy và kiểm tra đánh giá Nhưnglàm thế nào để kiểm tra đánh giá được tốt ? Đây là một trong những nội dung thuhút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và có thể nói rằng đây là một vấn đềmang tính thời sự.

Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập rất đa dạng mỗi phươngpháp có những ưu điểm và nhược điểm nhất định, không có một phương pháp nào

là hoàn mĩ đối với mọi mục tiêu giáo dục Thực tiễn giáo dục cho thấy, dạy họckhông nên chỉ áp dụng một hình thức thi, kiểm tra cho một môn học mà cần thiếtphải tiến hành kết hợp tối ưu các hình thức thi kiểm tra khác nhau mới có thể đạtđược những yêu cầu của việc đánh giá kết quả dạy học Các bài thi và kiểm tra đượcchia làm hai loại: Loại luận đề và loại trắc nghiệm khách quan

Đối với loại luận đề đây là loại mang tính truyền thống, được sử dụng một cáchphổ biến trong thời gian dài từ trước tới nay Ưu điểm của loại này là cho học sinh

cơ hội phân tích và tổng hợp dự kiến theo lời lẽ riêng của mỡnh, nó có thể dùng đểkiểm tra trình độ tư duy ở trình độ cao Song loại luận đề cũng thường mắc phảinhững hạn chế rất dễ nhận ra: Nó chỉ cho phép khảo sát một số kiến thức trong thờigian nhất định Hơn nữa việc chấm điểm loại này đòi hỏi nhiều thời gian chấm bài,kết quả thì không có ngay, thiếu khách quan, khó ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực

do đó trong một số trường hợp không xác định được thực chất trình độ nắm bài củahọc sinh

Đối với loại trắc nghiệm khách quan có thể dùng kiểm tra đánh giá kiến thứctrên một vùng rộng, một cách nhanh chóng, khách quan chính xác nó cho phép xử líkết quả theo nhiều chiều với từng học sinh cũng như tổng thể cả lớp hoặc mộttrường học, giúp cho giáo viên kịp thời điều chỉnh hoàn thiện phương pháp dạy đểnâng cao hiệu quả dạy học Nhưng việc biên soạn một hệ thống câu hỏi trắc nghiệmkhách quan là không đơn giản, đòi hỏi sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt là cácnhà giáo phải qua nhiều thử nghiệm và mất nhiều thời gian

Trang 3

Trong thời gian qua đã có nhiều người nghiên cứu tìm đến phương pháp trắcnghiệm khách quan như: Đàm Tố Giang (2005), Nguyễn Thu Hường, Nguyễn ThịThủy (2006), Lê Thị Thúy Bắc (2007), Nguyễn Quang Hiệu (2008),…nhưng mớichỉ dừng lại ở việc “xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn sử dụng đểkiểm tra đánh giá chất lượng một số kiến thức…” một phần cụ thể ở trường phổthông trung học Mặt khác cũng đú cỳ một số ít người cũng đã nghiên cứu tìm cáchphối hợp hai phương pháp trắc nghiệm khách quan và tự luận trong một bài kiểm tranhư: Nguyễn Văn Sang (Tìm hiểu phương thức kết hợp giữa phương pháp trắcnghiệm khách quan và phương pháp trắc nghiệm tự luận trong việc kiểm tra đánhgiá kết quả học tập môn Vật lí ở trường phổ thông trung học), Trần Thị Tuyết Oanh(Xây dựng, sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và câu tự luận ngắn trong đánhgiá kết quả học tập môn giáo dục học), Nguyễn Bảo Hoàng Thanh (Nghiên cứu xâydựng và sử dụng phối hợp câu hỏi trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luậnnhằm cải tiến hoạt động đánh giá kết quả học tập vật lí ở bậc đại học)… để có thểtận dụng những ưu điểm cũng như hạn chế những nhược điểm của hai hình thứckiểm tra đánh giá trên nên chăng có sự kết hợp giữa hai hình thức trắc nghiệmkhách quan và trắc nghiệm tự luận trong khâu kiểm tra đánh giá

Xuất phát từ nhận thức và suy nghĩ trên và qua thực tiễn giảng dạy môn Vật lí ở

trường THPT chúng tôi lựa chọn đề tài “Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương “Các định luật bảo toàn” vật lý 10 THPT ban cơ bản” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu xây dựng và sử dụng phối hợp hệ thống câu hỏi tự luận và trắc

nghiệm khách quan nhiều lựa chọn đáp ứng yêu cầu kiểm tra đánh giá mức độ nắmvững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương

“Các định luật bảo toàn” của học sinh lớp 10 THPT.

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 4

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học

sinh ở trường THPT về điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên sau khi học xongkiến thức một chương

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và nguyên tắc xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm

tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

- Nghiên cứu nội dung chương trình vật lí 10 THPT nói chung và chương

“Các đinh luật bảo toàn” nói riêng Trên cơ sở đó xác định trình độ của mục tiêu

kiến thức mà học sinh cần đạt được

- Nghiên cứu điều tra khó khăn sai lầm của học sinh hay mắc phải khi học phầnnày từ đó giúp cho giáo viên điều chỉnh được hoạt động dạy

- Vận dụng cơ sở lí luận xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận vàTNKQ nhiều lựa chọn, thiết kế các loại đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của

học sinh cho một số kiến thức chương “Các định luật bảo toàn” vật lý 10 THPT.

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hệ thống câu hỏi đã soạn và đánh giá việchọc tập của học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và phối hợp được hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc

nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trên cơ sở các mục tiêu đặt ra và có phương ánkết hợp phù hợp hai loại câu hỏi này thì sẽ cho phép đánh giá chính xác khách quanmức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giỏo viên

trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” vật lý 10 THPT, góp phần nâng

cao hiểu quả dạy học

5 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh và điều chỉnh hoạt

động dạy học của giáo viên chương “Các định luật bảo toàn ” vật lý 10 THPT.

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu lí luận dạy học, lí luận về công việc đánh giá lớp học.

6.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 5

- Phương pháp điều tra.

- Phương pháp thực nghiệm khoa học giáo dục

- Phương pháp thống kê toán học

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu thực nghiệm sư phạm

về mặt định lượng trên cơ sở đó đánh giá kết quả thực nghiệm của học sinh

7 Phạm vi nghiên cứu

Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi TNKQ và tự luận theo mục tiêu dạy học

và nội dung chương trình nhằm kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức của học sinh

và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương “ Các định luật bảo toàn” môn

Vật lý 10 tại 2 trường THPT của tỉnh Thái Bình: THPT Bình Thanh và THPT tưthục Nguyễn Thái Bình trong năm học 2010 – 2011

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3

chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của

học sinh ở trường phổ thông

Chương 2: Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc

nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiếnthức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương “Cỏc định luậtbảo toàn” Vật lý 10 THPT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1.1 Cơ sở lí luận về việc KTĐG kết quả học tập của HS ở trường phổ thông

1.1.1 Khái niệm về kiểm tra đánh giá kết quả học tập

a Kiểm tra

- Kiểm tra là thuật ngữ chỉ cách thức hoạt động giáo viên sử dụng để thu thậpthông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh trong học tập nhằmcung cấp dữ kiện làm cơ sở cho việc đánh giá

- Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên thì: “Kiểm tra là xem xét tìnhhình thực tế để đánh giá, nhận xột”.[18],[25]

- Theo Từ điển giáo dục học “Kiểm tra là bộ phân hợp thành của quá trình hoạtđộng dạy học nhằm nắm được những thông tin về trạng thái và KQHT của HS vềnhững nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm những biện pháp khắc phục lỗhổng đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học”.[8]

- Theo Trần Bá Hoành “Việc kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tinlàm cơ sở cho đánh giá”.[18], [25]

- Theo Black & Wiliam (1998b) “Kiểm tra là các hoạt động bao gồm quá trìnhquan sát của giáo viên, trao đổi, thảo luận trong và ngoài giờ lên lớp giữa thầy vàtrò, phân tích bài tập, bài kiểm tra… nhằm đánh giá mức độ tiếp thu bài học và dựbáo KQHT của HS Nếu có được thông tin và những vấn đề mà học sinh còn vướngmắc trong quá trình học tập, giáo viên có thể hiệu chỉnh việc dạy học như dạy lại,thử các phương pháp dạy học khác hay cho học sinh thêm cơ hội để thực hành…vànhư vậy, thành tích học tập của học sinh sẽ được dần cải thiện”.[16],[23]

Như vậy, trong quá trình KT nhằm thu thập thông tin để đánh giá KQHT, hoạt

động KT được thực hiện theo hai hướng: định tính và định lượng Dựa trên kết quả

được ghi nhận theo hướng định tính và định lượng, giáo viên đưa ra những phánđoán, những kết luận, những quyết định về người học hoặc về việc dạy học

Kiểm tra theo hướng định tính là phương thức thu thập thông tin về kết quả học

Trang 7

tập và rèn luyện của học sinh bằng cách quan sát và ghi nhận dựa theo các tiêu chígiáo dục đã định.[6]

Kiểm tra theo hướng định hướng là phương thức thu thập thông tin về KQHT

của HS bằng số như điểm số hoặc số lần thực hiện của những hoạt động nào đó.Các phương tiện ghi nhận KQHT của HS bằng điểm hay số lần thực hiện theonhững quy tắc đó tớnh trong KT là mang tính chất định lượng Còn chính điểm sốvẫn chỉ là những kí hiệu gián tiếp phản ánh trình độ học lực của mỗi HS mang ý

nghĩa định tính Như vậy, bản thân điểm số không có ý nghĩa về mặt định lượng.[6]

b Đỏnh giá

Trong giáo dục đánh giá là một bộ phận hợp thành rất quan trọng, một khâukhông thể tách rời của quá trình giáo dục đào tạo Nếu giáo dục là một hệ thống thìđánh giá đóng vai trò phản hồi của hệ thống, là cơ sở cho việc đổi mới giáo dục vàđào tạo Vì vậy, đỏnh giá kết quả học tập là vấn đề luôn được quan tâm

Có nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá trong giáo dục Sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu:

- Định nghĩa của Jean Marie De Ketele Đánh giá có nghĩa là:

+ Thu thập thông tin đủ thích hợp, có giá và đáng tin cậy

+ Xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này với một tập hợp cáctiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu, hay đã điều chỉnh trong quá trìnhthu thập thông tin

+ Nhằm ra một quyết định

- Định nghĩa của Ralph Tyler: “Quỏ trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định

mức độ thực hiện các mục tiêu trong các chương trình giáo dục”

- Định nghĩa của E.Beeby: “Đỏnh giá giáo dục là sự thu thập và lí giải một cách

hệ thống những bằng chứng, như một phần của quá trình, dẫn tới sự phừn xột về giátrị theo quan điểm hoạt động”

- Định nghĩa của Robert F.Mager: “Đỏnh giá là việc miêu tả tình hình của họcsinh và giáo viên để dự đoán công việc phải tiếp tục làm để giúp học sinh tiến bộ” Dựa trên những định nghĩa trờn, cỏc tác giả cuốn: “Cơ sở lí luận của việc đánh

Trang 8

giá chất lượng học tập của HS phổ thụng” đó đưa ra định nghĩa sau đây: “Đỏnh giỏtrong giáo dục là quá trình thu thập và lí giải kịp thời, có hệ thống thông tin về hiệntrạng, nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạyhọc, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động tiếp theo”.

Từ định nghĩa khái quát trên về đánh giá trong giáo dục, người ta đưa ra địnhnghĩa về đánh giá KQHT của HS như sau: “Đỏnh giá KQHT là quá trình thu thập

và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS, về tácđộng và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sưphạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để họ học tập ngày một tiến bộ hơn”.[3]

Từ các định nghĩa vừa nêu trên, chúng ta có thể khẳng định các thành tố tạo nênkhái niệm “đỏnh giỏ” bao gồm: Mục đích – xác định – giải thích – sử dụng

1.1.2.Mục đích của việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

Mục đích của kiểm tra đánh giá kết quả học tập là để có được những quyết địnhđúng đắn về quá trình dạy học Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong giáodục nhằm vào những mục đích chính như sau:

a Đối với học sinh

- Chuẩn đoán năng lực và trình độ của học sinh để phân loại, tuyển chọn và địnhhướng cho học sinh (kiểm tra đánh giá đầu vào)

- Xác định mục tiêu học tập của học sinh theo mục tiêu của chương trình cácmôn học

- Thúc đẩy, động viên học sinh cố gắng khắc phục thiếu sót, phát huy năng lực của mình để học tập kết quả hơn

Đánh giá

Tôi sẽ giải thích những kết quả như thế nào?

Tôi sẽ sử dụng những tiêu chuẩn và tiêu chí nào để đánh giá ?

Sử dụng

Tôi sẽ sử dụng những kết quả đánh giá như thế nào ?

Trang 9

- Đánh giá sự phát triển nhân cách nói chung của học sinh theo mục tiêu giáo dục (kiểm tra đánh giá đầu ra) [18], [25].

b Đối với giáo viên

- Cung cấp thông tin về các đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh và trình độ họctập của học sinh

- Cung cấp thông tin cụ thể về tình hình học tập của học sinh, làm cơ sở choviệc cải tiến nội dung và phương pháp dạy học, nhằm nâng cao chất lượng và hiệuquả giáo dục [18],[25]

c.Đối với cán bộ quản lí và nghiên cứu giáo dục

- Cung cấp thông tin, làm cơ sở cho việc cải tiến mọi hoạt động của giáo dục từphát triển chương trình, biên soạn sách giáo khoa đến đào tạo, bồi dưỡng giáo viên,xây dựng cơ sở vật chất, quản lí nhà trường…

- Cung cấp thông tin cần thiết cho việc đánh giá các cơ sở giáo dục [18],[25]

1.1.3.Chức năng của kiểm tra đánh giá trong giáo dục

Chức năng của kiểm tra đánh giá được phân biệt dựa vào mục đích kiểm trađánh giá Các tác giả nghiên cứu kiểm tra đánh giá nêu ra các chức năng khác nhau GS.Trần Bá Hoành đề cập ba chức năng của đánh giá trong dạy học: Chức năng

sư phạm, chức năng xã hội, chức năng khoa học

Theo GS – TS Phạm Hữu Tòng, trong thực tiễn dạy học ở phổ thông thì chủ yếuquan tâm đến chức năng sư phạm, được chia nhỏ thành ba chức năng: Chức năngchuẩn đoán; chức năng chỉ đạo định hướng hoạt động học; chức năng xác nhậnthành tích học tập, hiệu quả học tập

+ Chức năng chuẩn đoán

Các bài kiểm tra trắc nghiệm có thể sử dụng như phương tiện thu lượm thông tincần thiết cho việc xác định hoặc việc cải tiến nội dung, mục tiêu và phương tiện dạyhọc

Nhờ việc xem xét kết quả KTĐG kiến thức, người dạy biết rõ trình độ xuất phát(đầu vào) của người học, từ đó xem xét xác định nội dung và phương pháp dạy học

Trang 10

tiếp theo một cách phù hợp Đồng thời việc xam xét kết quả KTĐG cũng cho phép

đề xuất định hướng bổ khuyết những sai sót, phát huy những kết quả trong cải tiếnhoạt động dạy học đối với các phần kiến thức đã giảng dạy.[29]

Dựng các bài kiểm tra đánh giá khi bắt đầu dạy học một môn học để thực hiệnchức năng chuẩn đoán

+ Chức năng chỉ đạo định hướng hoạt động học

Các bài kiểm tra, trắc nghiệm trong quá trình dạy học có thể được sử dụng nhưphương tiện, phương pháp dạy học: thông qua việc KTĐG để dạy (dạy bằng cáchKTĐG) Đú là các câu hỏi kiểm tra từng phần, kiểm tra thường xuyên được sử dụngnhư một biện pháp tích cực, hữu hiệu để chỉ đạo hoạt động học (chỉ đạo bản thânquá trình học)

Các bài trắc nghiệm giao cho học sinh nếu được soạn thảo một cách công phu

có thể được xem như một cách diễn đạt mục tiêu dạy học cụ thể đối với các kiếnthức, kĩ năng nhất định Nó có tác dụng định hướng hoạt động học tập tích cực, tựchủ của học sinh

Việc xem xét thảo luận về các câu hỏi trắc nghiệm, nếu được tổ chức một cáchkhoa học, đúng lúc có thể xem như một phương pháp dạy học tích cực giúp chongười học chiếm lĩnh được kiến thức một cách tích cực, sâu sắc và vững chắc, đồngthời có thể giúp cho người dạy kịp thời bổ sung, điều chỉnh hoạt động dạy cho cóhiệu quả.[29]

Dựng các bài kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học một môn học để thựchiện chức năng chỉ đạo định hướng hoạt động học

+ Chức năng xác nhận thành tích học tập, hiệu quả học tập

Các bài kiểm tra, trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá thành thích học tập, xácnhận trình độ kiến thức, kĩ năng của người học

Việc KTĐG trình độ kiến thức, kĩ năng đòi hỏi phải soạn thảo nội dung các bàikiểm tra trắc nghiệm và các tiêu chí đánh giá, căn cứ theo các mục tiêu dạy học cụthể đã xác định cho từng kiến thức kĩ năng Các bài kiểm tra trắc nghiệm như vậy

Trang 11

có thể được sử dụng để nghiên cứu đánh giá mục tiêu dạy học và hiệu quả củaphương pháp dạy học.[29]

Dựng các bài kiểm tra đánh giá sau khi kết thúc dạy học một môn học để thựchiện chức năng xác nhận thành tích học tập, hiệu quả học tập

1.1.4 Ý nghĩa của việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập

Trong quá trình giáo dục đào tạo kiểm tra đánh giá kết quả học tập là một hoạtđộng thường xuyên có một tầm quan trọng đặc biệt và quyết định đối với chất lượnggiáo dục, có ý nghĩa như sau:

a Đối với học sinh

Việc kiểm tra đánh giá được tiến hành thường xuyên có hệ thống giúp cho họcsinh có cơ hội để củng cố tri thức, phát triển trí tuệ

Thông qua KTĐG, học sinh có điều kiện tái hiện và chính xác hóa tri thức, hoànthiện, khắc sâu, hệ thống hóa những tri thức đã thu nhập được, giúp cho học sinhrèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng tri thức, phát triển năng lực tư duy sáng tạo Thông qua kiểm tra đánh giá, học sinh thu được những thông tin cần thiết vềquá trình học tập của mình để từ đó tự phân tích, tự đánh giá khả năng của mình sovới yêu cầu chung, thấy được chỗ mạnh chỗ yếu trong kiến thức của mình để điềuchỉnh cách học cho có hiệu quả

Nếu việc KTĐG được tổ chức nghiêm túc, công bằng sẽ giúp học sinh nâng caotinh thần trách nhiệm trong học tập, có ý chí vươn lên đạt kết quả cao hơn, củng cốlòng tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan tựmãn Như vậy, KTĐG không những cho biết học sinh làm được những gì mà còn

có tác dụng thúc đẩy việc học tập của học sinh [18], [25]

b Đối với giáo viên

Thông qua KTĐG, giáo viên thu được những thông tin ngược từ phía học sinh,phát hiện thực trạng KQHT của học sinh cũng như những nguyên nhân cơ bản dẫntới kết quả đó Đây là cơ sở thực tế để giáo viên điều chỉnh hoạt động của học sinh

và hướng dẫn học sinh tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động học của bản thân

Trang 12

Thông qua đó giáo viên cũng kịp thời điều chỉnh hoạt động giảng dạy của mình chophù hợp với mục đích yêu cầu dạy học và trình độ nhận thức của người học

KTĐG kết hợp với việc theo dõi thường xuyên giúp cho GV nắm được một cách

cụ thể và khá chính xác năng lực và trình độ mỗi HS trong lớp, từ đó có biện pháp

cụ thể, thích hợp bồi dưỡng riêng cho từng nhóm học sinh, nâng cao chất lượng họctập chung cho cả lớp [18], [25]

c Đối với cán bộ quản lí giáo dục

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh giúp cho các nhà quản lí đi đếnnhững quyết định để cải tiến và hoàn thiện nội dung hay chỉ đạo đổi mới phươngpháp dạy học Trong quá trình dạy học, vấn đề sử dụng tài liệu nào, phương pháphay phương tiện nào thích hợp, phải được thực thi và có những kết quả Những kếtquả này thông qua kiểm tra đánh giá để đi đến quyết định là nên tiếp tục hoạt độnggiáo dục hay cần thay đổi gì trong hoạt động giáo dục [18], [25]

1.1.5 Các yêu cầu sư phạm đối với việc KTĐG kết quả học tập của học sinh

Vấn đề kiểm tra đánh giá tri thức kĩ năng, kĩ xảo chỉ có tác dụng khi thực hiệncác yêu cầu sau:

1.1.5.1 Đảm bảo tính khách quan trong quá trình đánh giá

- Phản ánh trung thực kết quả lĩnh hội nội dung tài liệu học tập của học sinh sovới yêu cầu chương trình quy định

- Nội dung kiểm tra phải phù hợp với các yêu cầu chương trình quy định

- Tổ chức thi phải nghiêm túc

Để đảm bảo tính khách quan trong kiểm tra đánh giá từ khâu ra đề, tổ chức thicho tới khâu cho điểm, xu hướng chung là tùy theo đặc trưng môn học mà lựa chọnhình thức thi thích hợp

1.1.5.2 Đảm bảo tính toàn diện

- Nội dung KTĐG cần bao quát được toàn bộ các nội dung trọng tâm và mụctiêu đánh giá cần bao quát nhiều loại kiến thức, kĩ năng và các mức độ nhận thức

- Công cụ đánh giá cần đa dạng

Trang 13

- Quá trình kiểm tra đánh giá không chỉ đo lường khả năng nhớ lại mà còn đánhgiá khả năng vận dụng, phân tích tổng hợp và đánh giá.

- Quá trình kiểm tra đánh giá không chỉ đánh giá kiến thức, kĩ năng môn học màcòn đánh giá các phẩm chất và kĩ năng xã hội.[6]

1.1.5.3 Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống

Sau mỗi tiết học, hay kết thúc một chương, một phần thì cần phải có hình thức kiểm tra đánh giá

Các câu hỏi kiểm tra cần có tính hệ thống

1.1.5.4 Đảm bảo tính công khai

Học sinh cần được biết các tiêu chuẩn và yêu cầu KTĐG của các nhiệm vụ haybài tập, bài kiểm tra mà học sinh sẽ thực hiện, cần được biết cách tiến hành cácnhiệm vụ ấy để có thể đạt được tối đa cỏc tiờu chuẩn và yêu cầu đã định.[6]

1.1.5.5 Đảm bảo tính giáo dục

Đánh giá nhất thiết phải góp phần nâng cao việc học tập của học sinh

Qua đánh giá học sinh nhận thấy được sự tiến bộ của bản thân, những gì cần cốgắng hơn trong môn học, cũng như nhận thấy sự khẳng định của giáo viên về khảnăng của họ.[6]

1.1.5.6 Đảm bảo tính phát triển

Hệ thống câu hỏi và bài tập phải từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

Động viên kịp thời và khuyến khích những cố gắng của HS trong học tập

Trong quá trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập, tất cả các yêu cầu trên đều cómối liên hệ với nhau, chúng cần phải được thực hiện đồng thời nhằm thực hiện tốtcác chức năng của kiểm tra đỏnh giá.[6]

1.1.6 Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra đánh giá

Để đảm bảo tính khoa học của việc KTĐG kiến thức, kĩ năng, cần quán triệtmột nguyên tắc chung quan trọng nhất là: việc KTĐG kiến thức kĩ năng cần đạtđược tiến hành theo một quy trình hoạt động chặt chẽ Qui trình hoạt động này baogồm năm yếu tố sau:

- Xỏc định rõ mục đích kiểm tra đánh giá

Trang 14

Việc KTĐG có thể có các mục đích khác nhau tùy trường hợp Chẳng hạn: + KT kiến thức kĩ năng để đánh giá trình độ xuất phát của người học có liênquan với việc xác định nội dung, phương pháp dạy học một môn học sắp bắt đầu + KTĐG nhằm mục đích dạy học: bản thân việc KTĐG nhằm định hướnghoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần dạy.

+ Kiểm tra nhằm mục đích đánh giá thành tích kết quả học tập hoặc nhằm nghiên cứu đánh giá mục tiêu, phương pháp dạy học

- Xỏc định rõ nội dung cụ thể của các kiến thức kĩ năng cần KTĐG; các tiêu chí

cụ thể của mục tiêu dạy học với từng kiến thức đó (phù hợp với mục đích KTĐG đónờu) để làm căn cứ đối chiếu các thông tin cần thu và sẽ thu được trong kiểm tra + Việc xác định nội dung kiến thức cần xác định, cụ thể, cô đọng

+ Việc xác định các mục tiêu, tiêu chí đánh giá cần dựa trên quan niệm rõràng và sâu sắc về các mục tiêu dạy học

- Xỏc định rõ biện pháp thu lượm thông tin (hình thức kiểm tra) phù hợp với đặcđiểm của nội dung kiến thức, kĩ năng cần kiểm tra, phù hợp với mục đích kiểm trađánh giá và điều kiện cho phép Cần nhận rõ ưu, nhược điểm của mỗi hình thứckiểm tra để có thể sử dụng phối hợp và tìm biện pháp phát huy ưu điểm và khắcphục tối đa các nhược điểm của mỗi hình thức đó

- Xõy dựng các câu hỏi, các đề KT, các bài KT cho phép thu lượm các thông tintương ứng với các mục tiêu đã xác định và phù hợp với hình thức KT lựa chọn

- Tiến hành kiểm tra, thu lượm thông tin, chấm, xem xét kết quả và kết luậnđánh giá Chấm điểm các bài kiểm tra, căn cứ theo một thang điểm được xây dựngphù hợp với mục tiêu đánh giá đã xác định Xem xét kết quả chấm thu được, rút rakết luận đánh giá tương ứng với mục đích kiểm tra đó xỏc định.[23]

1.1.7 Các hình thức kiểm tra đánh giá

Kiểm tra cung cấp những dữ kiện và thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá.Theo Trần Bá Hoành (1995), kiểm tra có nhiều hình thức Quá trình dạy học trongnhà trường thường sử dụng ba dạng kiểm tra đánh giá cơ bản đó là: Kiểm tra đánhgiá thường xuyên, kiểm tra đánh giá định kì, kiểm tra đánh giá tổng kết

Trang 15

1.1.7.1 Kiểm tra đánh giá thường xuyên

Kiểm tra đánh giá thường xuyên được thực hiện thông qua quan sát một cách có

hệ thống hoạt động của lớp học nói chung, của mỗi HS nói riêng, qua cỏc khừu ôntập củng cố bài cũ, tiếp thu bài mới, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn

1.1.7.2 Kiểm tra đánh giá định kì

Kiểm tra đánh giá định kỳ là hình thức KTĐG được thực hiện sau khi học xongmột chương lớn, một phần của chương trình hoặc sau một học kỳ Nó giỳp cho giáoviên và học sinh nhìn lại kết quả dạy và học sau những kỳ hạn nhất định, đánh giátrình độ học sinh nắm một khối lượng kiến thức kỹ năng, kỹ xảo tương đối lớn,củng cố mở rộng những điều đã học, đặt cơ sở tiếp tục học sang những phần mới KTĐG định kì sử dụng các phương pháp như: kiểm tra vấn đáp, quan sát HShọc tập hoặc hoạt động, bài tập thực hành, kiểm tra viết tự luận hay TNKQ.[18]

1.1.7.3 Kiểm tra đánh giá tổng kết

Kiểm tra đánh giá tổng kết là hình thức kiểm tra đánh giá được thực hiện vàocuối mỗi năm học, cuối khóa học nhằm đánh giá kết quả chung, củng cố mở rộngchương trình toàn năm của môn học, chuẩn bị điều kiện để tiếp tục học chươngtrình của năm học mới hay môn học mới

Kiểm tra đánh giá tổng kết xác định mức độ mà HS đạt được các mục tiêu họctập đã đặt ra hay xếp loại theo mục đích nào đó Đây là KTĐG mang tính chất tổnghợp, có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thông tin công bằng về KQHT của

HS Nếu KTĐG chính xác sẽ là cơ sở cho những quyết định phù hợp đối với ngườihọc, người dạy, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy [18]

1.2 Cơ sở lí thuyết của kĩ thuật xây dựng câu hỏi trắc nghiệm và tự luận

1.2.1 Xác định mục tiêu dạy học

1.2.1.1 Tầm quan trọng của các mục tiêu dạy học

- Cung cấp bằng chứng và tiêu chí để đánh giá

- Có được phương hướng, tiêu chí để quyết định về nội dung, phương pháp,phương tiện dạy học

Trang 16

- Có được ý tưởng rõ ràng về cái cần kiểm tra đánh giá khi kết thúc mỗi mônhọc, học phần hay trong quá trình giảng dạy từng kiến thức cụ thể.

- Thông báo cho người học biết những cái mong đợi ở đầu ra của sự học là gì? Điều này giúp họ tự tổ chức công việc học tập của mình

- Có được ý tưởng rõ ràng về các kiến thức, kĩ năng,thỏi độ cần có của GV.[28]

1.2.1.2 Cần phát biểu mục tiêu như thế nào ?

Cỏc câu phát biểu mục tiêu cần:

- Phải rõ ràng, cụ thể

- Phải đạt tới được trong khúa học hay đơn vị học tập

- Phải bao gồm nội dung học tập thiết yếu của môn học

- Phải quy định rõ kết quả của việc học tập, nghĩa là các khả năng mà ngườihọc có được khi họ đã đạt đến mục tiêu

- Phải đo lường được

- Phải chỉ rõ những gì người học có thể làm được vào cuối giai đoạn họctập.[28]

b Kĩ năng

Đòi hỏi cần khả năng sử dụng các tri thức đã học vào việc giải quyết một vấn đềnhất định dựa trên những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể Chúng được thể hiện ởnhững thao tác thực hiện để giải quyết vấn đề, bao gồm các mục tiêu liên quan đến

Trang 17

kiến thức hiểu biết và lập luận được vận dụng – tức là sử dụng kiến thức để thựchiện một công việc nào đó.[18]

- Nhớ (Knowledge): Được định nghĩa là sự nhớ lại các dữ liệu đã học được

trước đây Điều đó có nghĩa là một người có thể nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sựkiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cầnthiết Đây là cấp độ thấp nhất của kết quả học tập trong lĩnh vực nhận thức

- Thông hiểu (Comprehension): Được định nghĩa là khả năng nắm được ý nghĩa

của tài liệu Điều đó có thể được thể hiện bằng việc chuyển tài liệu từ dạng này sangdạng khác (từ các từ sang số liệu), bằng cách giải thích tài liệu (giải thích hoặc tómtắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnhhưởng) Kết quả học tập ở cấp độ này cao hơn so với nhớ, và là mức thấp nhất củaviệc thấu hiểu sự vật

- Vận dụng (Application): Được định nghĩa là khả năng sử dụng các tài liệu đã

học vào một hoàn cảnh cụ thể mới Điều đó có thể bao gồm việc áp dụng các quytắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định luật và lý thuyết Kết quả học tậptrong lĩnh vực này đòi hỏi cấp độ thấu hiểu cao hơn so với cấp độ hiểu trên đây

- Phõn tích (Analysis): Được định nghĩa là khả năng phân chia một tài liệu ra

thành các phần của nó sao cho có thể hiểu được các cấu trúc tổ chức của nó Điều

đó có thể bao gồm việc chỉ ra đỳng cỏc bộ phận, phân tích mối quan hệ giữa các bộphận, và nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm Kết quả học tập ở

Trang 18

đây thể hiện một mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và áp dụng vỡ nó đòi hỏimột sự thấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc của tài liệu

- Tổng hợp (Synthesis): Được định nghĩa là khả năng sắp xếp các bộ phận lại

với nhau để hình thành một tổng thể mới Điều đó có thể bao gồm việc tạo ra mộtcuộc giao tiếp đơn nhất (chủ đề hoặc bài phát biểu), một kế hoạch hành động (dự ánnghiên cứu), hoặc một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ để phân lớp thôngtin) KQHT trong lĩnh vực này nhấn mạnh các hành vi sáng tạo, đặc biệt tập trungchủ yếu vào việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới

- Đánh giá (Evaluation): Được định nghĩa là khả năng xác định giá trị của tài

liệu (tuyên bố, tiểu thuyết, thơ, báo cáo nghiên cứu) Việc đánh giá dựa trên các tiêuchí nhất định Đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chíbên ngoài (phù hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xác định hoặc đượccung cấp các tiêu chí Kết quả học tập trong lĩnh vực này là cao nhất trong các cấpbậc nhận thức vỡ nó chứa các yếu tố của mọi cấp bậc khác [18],[25],[30]

1.2.2 Phương pháp xây dựng các loại câu hỏi dùng trong kiểm tra đánh giá 1.2.2.1 Trắc nghiệm khách quan

a Khái niệm

Trắc nghiệm (test) theo tiếng Anh là “thử”, “phộp thử”, “sỏt hạch”; theo tiếngHỏn thỡ “trắc” có nghĩa là đo lường, “nghiệm” là suy xét, chứng thực, xác nhận Theo Gronlund “Trắc nghiệm là một công cụ hay một qui trình có hệ thốngnhằm đo lường mức độ mà một cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể”.[18],[25],[30]

Theo GS.TS.Dương Thiệu Tống “Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thức

hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi: thành tích củacác cỏ nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnhvực các nhiệm vụ dự kiến”.[18],[25]

Theo GS.Trần Bá Hoành “Test có thể tạm dịch là phương pháp trắc nghiệm, làhình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ của học sinh

Trang 19

(thông minh, trí nhớ, tưởng tượng, chú ý) hoặc để kiểm tra một số kiến thức, kỹnăng, kỹ xảo của học sinh thuộc một chương trình nhất định.[18],[25]

Phương pháp trắc nghiệm trong giáo dục là phương pháp dùng bài trắc nghiệmnhư một công cụ để đo lường mức độ mà cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụthể Tới nay, người ta hiểu trắc nghiệm là một bài tập nhỏ hoặc câu hỏi có kèm theocâu trả lời có sẵn yêu cầu học sinh suy nghĩ rồi dùng một kí hiệu đơn giản đã quiước để trả lời

Trắc nghiệm khách quan là phương pháp KTĐG KQHT của HS bằng hệ thốngcâu TNKQ Trắc nghiệm (Objective test) được gọi là khách quan vỡ cỏch cho điểm

là khách quan chứ không chủ quan như bài trắc nghiệm tự luận (Esay test) Có thểcoi kết quả chấm điểm là như nhau không phụ thuộc vào người chấm bài trắcnghiệm đó Tuy nhiên, nội dung của bài TNKQ cũng phần nào có tính chủ quan,nếu nó đại diện cho sự phán xét của ai đó về bài trắc nghiệm.[18],[30]

b Các hình thức trắc nghiệm khách quan

* Trắc nghiệm đúng – sai (yes/no questions)

Loại này được trình bày dưới dạng một phát biểu và học sinh phải trả lời bằngcách chọn đúng (Đ) hay sai (S)

Ưu điểm

Đây là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm về những sự kiện Nó giỳpcho việc trắc nghiệm một lĩnh vực rộng lớn trong khoảng thời gian ngắn

Nhược điểm

+ Học sinh có thể đoán mò vì vậy có độ tin cậy thấp, dễ tạo điều kiện cho

học sinh thuộc lòng hơn là hiểu

+ Học sinh giỏi có thể không thỏa mãn khi buộc phải chọn “đỳng” hay “sai”

khi câu hỏi viết chưa kĩ càng

* Trắc nghiệm ghép đôi (matching items)

Trong loại này có hai cột danh sách: dãy bên trái là phần dẫn trình bày nhữngnội dung muốn kiểm tra (khái niệm, định nghĩa, định luật, hiện tượng,…) dóy bờn

Trang 20

phải là phần trả lời trình bày các nội dung (câu, mệnh đề, công thức,…) phù hợp vớinội dung của phần dẫn

Nhiệm vụ của học sinh khi làm bài là ghộp chỳng lại một cách thích hợp Đểtránh sự đoán mò của học sinh, khi soạn đề phải để số câu lựa chọn ở hai bên khôngbằng nhau – số câu ở bên phải lớn hơn số câu ở bên trái

+ Muốn soạn câu hỏi đo các mức kiến thức cao đòi đỏi nhiều công phu

+ Học sinh mất nhiều thời gian làm bài vì mỗi câu hỏi phải đọc lại toàn bộnhững câu lựa chọn, trong đó có cả những câu rõ ràng là không thích hợp

* Trắc nghiệm điền khuyết (supply items)

Có thể có hai dạng, chúng có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn hay cũng

có thể gồm những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ trống mà học sinh phải điềnvào một từ hay một nhóm từ ngắn

* Câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn (multiple choice questions)

Trang 21

Đây là loại hay sử dụng nhất, cũng chính là loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan

mà chúng tôi sử dụng trong chương sau

Một câu hỏi dạng nhiều lựa chọn gồm 2 phần: phần “gốc” và phần “lựa chọn”

+ Phần gốc: Là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn tất) Yêu cầu

phải tạo căn bản cho sự lựa chọn, bằng cách đặt vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõràng giúp cho người làm hiểu bài rõ câu hỏi ấy muốn đũi hòi câu hỏi gì để lựa chọncâu trả lời thích hợp

+ Phần lựa chọn: Gồm có nhiều giải pháp có thể lựa chọn, trong đó có một

lựa chọn được dự định là đúng hay đúng nhất, còn những phần còn lại là những

“mồi nhử” Điều quan trọng là làm sao cho những “mồi nhử” ấy đều hấp dẫn ngangnhau với những học sinh chưa học kĩ hay chưa hiểu kĩ bài học

Trong đề tài này chúng tôi chọn trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn vì theochúng tôi nếu ít lựa chọn hơn không bao quát được các khả năng sai lầm của họcsinh và nhiều lựa chọn hơn sẽ có những “ mồi ” thiếu căn cứ.[30]

Ưu điểm:

+ Độ tin cậy cao hơn

+ Học sinh phải xét đoán và phân biệt kĩ càng khi trả lời câu hỏi.

+ Tính chất giá trị tốt hơn

+ Có thể phân tích được tính chất “mồi” câu hỏi.

+ Tính khách quan khi chấm.

Nhược điểm:

+ Khó soạn câu hỏi.

+ Thí sinh nào có óc sáng tạo có thể tìm ra câu trả lời hay hơn phương án đã

cho, nên họ có thể sẽ không thỏa mãn

+ Cỏc câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn có thể đo được khả năng

phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo một cách hiệu nghiệmbằng loại câu hỏi tự luận soạn kĩ

+ Tốn nhiều giấy để in loại câu hỏi này hơn loại câu hỏi khác.

c Ưu điểm, nhược điểm của phương pháp trắc nghiệm khách quan

Trang 22

* Ưu điểm của TNKQ

- Do số lượng câu hỏi nhiều nên phương pháp trắc nghiệm khách quan có thểkiểm tra nhiều nội dung kiến thức bao trùm gần cả chương, nhờ vậy buộc học sinhphải học kỹ tất cả các nội dung kiến thức trong chương

- Phương pháp TNKQ buộc học sinh phải tự giác, chủ động, tích cực học tập.Điều này tránh được tình trạng học tủ, học lệch trong học sinh

- Thời gian làm bài từ 1 đến 3 phút một câu hỏi, hạn chế được tình trạng quaycóp và sử dụng tài liệu

- Làm bài trắc nghiệm khách quan học sinh chủ yếu sử dụng thời gian để đọc đề,suy nghĩ, không tốn thời gian viết ra bài làm như trắc nghiệm tự luận do vậy có tácdụng rèn luyện kỹ năng nhanh nhẹn phát triển tư duy cho học sinh

- Do số câu hỏi nhiều nên bài trắc nghiệm khách quan thường gồm nhiều câuhỏi có tính chuyên biệt và có độ tin cậy cao

- Có thể phân tích tính chất câu hỏi bằng phương pháp thủ công hoặc nhờ vàocác phần mềm tin học do vậy có thể sửa chữa, bổ sung hoặc loại bỏ các câu hỏi đểbài TNKQ ngày càng có giá trị hơn Ngoài ra việc phân tích câu hỏi cũn giỳp giáoviên lựa chọn phương pháp dạy phù hợp, hướng dẫn học sinh có phương pháp họctập đúng đắn, ít tốn công sức, thời gian chấm bài là hoàn toàn khách quan, không có

sự chênh lệch giữa các giáo viên chấm khác nhau Một bài trắc nghiệm khách quan

có thể dùng để kiểm tra ở nhiều lớp nhưng phải đảm bảo không bị lộ đề

- Kiểm tra bằng phương pháp TNKQ có độ may rủi ít hơn TNTL vì không cónhững trường hợp trúng tủ, từ đó loại bỏ dần thói quen đoán mò, học lệch, học tủ,chủ quan, sử dụng tài tiệu… của HS, nó đang là mối lo ngại của nhiều GV hiện nay

- Điểm của bài kiểm tra TNKQ hầu như thật sự là điểm do học sinh tự làm bài,

vì học sinh phải làm được 2,3…cừu trở lên thì mới được một điểm trong thang điểm

10 Do vậy xác suất quay cóp, đoán mò để được điểm rất thấp.[18],[26],[30]

* Nhược điểm của trắc nghiệm khách quan

- Trắc nghiệm khách quan dùng để đánh giá các mức trí năng ở mức nhận biết,hiểu thì thật sự có ưu điểm còn ở mức phân tích, tổng hợp, đánh giá và thực nghiệm

Trang 23

thì bị hạn chế, ít hiệu quả vỡ nó không cho phép kiểm tra khả năng sáng tạo, chủđộng, khả năng tổng hợp kiến thức cũng như phương pháp tư duy suy luận, giảithích, chứng minh của học sinh Vì vậy đối với cấp học càng cao thì khả năng ápdụng của hình thức trắc nghiệm khách quan càng bị hạn chế.

- Phương pháp trắc nghiệm khách quan chỉ cho biết “kết quả” suy nghĩ của họcsinh mà không cho biết quá trình tư duy, thái độ của học sinh đối với nội dung đượckiểm tra do đó không đảm bảo được chức năng phát hiện lệch lạc của kiểm tra để từ

đó có sự điều chỉnh việc dạy và việc học

- Do sẵn có phương án trả lời câu hỏi, nên trắc nghiệm khách quan khó đánh giáđược khả năng quan sát, phán đoán tinh vi, khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, khảnăng tổ chức, sắp xếp, diễn đạt ý tưởng, khả năng suy luận, óc tư duy độc lập, sángtạo và sự phát triển ngôn ngữ chuyên môn của học sinh

- Việc soạn được câu hỏi đúng chuẩn là công việc thực sự khó khăn, nó yêu cầungười soạn phải có chuyên môn khá tốt, có nhiều kinh nghiệm và phải có thời gian.Điều khó nhất là ngoài một câu trả lời đỳng thỡ cỏc phương án trả lời khác để chọncũng phải có vẻ hợp lý

- Do số lượng câu hỏi nhiều bao trùm nội dung của cả chương trình học nên câuhỏi chỉ đề cập một vấn đề, kiến thức cần khụng khú do đó hạn chế việc phát triển tưduy cao ở học sinh khá giỏi Có thể có một số câu hỏi mà những học sinh thôngminh có thể có những câu trả lời hay hơn đáp án đúng đã cho sẵn, nên những họcsinh đó không cảm thấy thoả mãn

- Khó soạn được một bài TNKQ hoàn hảo và tốn kém trong việc soạn thảo, in

ấn đề kiểm tra và học sinh cũng mất nhiều thời gian để đọc câu hỏi .[18],[26],[30]

d Tiến trình soạn thảo một bài trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

Cách tốt nhất để lên kế hoạch cho một bài trắc nghiệm là liệt kê các mục tiêu

giảng dạy cụ thể hay năng lực cần đo lường (trả lời câu hỏi: Cần khảo sát những gì

ở học sinh ?) hay nói cách khác là xác định rõ mục đích của bài trắc nghiệm

Một sự phân tích về nội dung sẽ cho ta một bản tóm tắt ý đồ chương trình giảngdạy được diễn đạt theo nội dung: Đặt tầm quan trọng vào những phần nào của môn

Trang 24

học và mục tiêu nào ? Những lĩnh vực nào trong các nội dung đú nờn đưa vào trongbài trắc nghiệm đại diện này.

Cần phải suy nghĩ cách trình bày các câu hỏi dưới hình thức nào cho hiệu quảnhất và mức độ dễ của bài trắc nghiệm đến đâu

* Xác định mục đích của bài trắc nghiệm

Một bài trắc nghiệm có thể phục vụ nhiều mục đích nhưng bài trắc nghiệm íchlợi và có hiệu quả nhất khi nó được soạn thảo để phục vụ cho một mục đích chuyênbiệt nào đó

- Nếu bài trắc nghiệm là một bài thi cuối học kì nhằm xếp hạng HS thỡ các câusoạn phải đảm bảo điểm số được phân tán rộng, như vậy mới pháp hiện ra được họcsinh giỏi và học sinh kém

- Nếu là bài trắc nghiệm nhằm KT những điều hiểu biết tối thiểu về một phầnnào đú thì soạn thảo những câu hỏi sao cho hầu hết HS đều đạt được điểm tối đa

- Nếu bài trắc nghiệm nhằm mục đích chuẩn đoán, tìm ra những chỗ mạnh, yếucủa học sinh, giúp cho giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy phù hợp, thỡ cỏc cừutrắc nghiệm được soạn thảo sao cho tạo cơ hội cho học sinh phạm tất cả mọi sai lầm

về môn học nếu chưa học kĩ

- Bờn cạnh các mục đích nói trên ta có thể dùng trắc nghiệm với mục đích lậpluận giúp cho HS hiểu thêm bài học và có thể làm quen với lối thi trắc nghiệm Tóm lại, trắc nghiệm có thể phục vụ nhiều mục đích, người soạn trắc nghiệmphải biết rõ mục đích của mỡnh thỡ mới soạn thảo được bài trắc nghiệm giá trị vìmục đích chi phối nội dung, hình thức bài trắc nghiệm.[30]

* Phân tích nội dung môn học

- Tìm ra những khái niệm quan trọng trong nội dung môn học để đem ra khảosát trong cỏc cừu trắc nghiệm

- Phân loại hai dạng thông tin được trình bày trong môn học (hay chương): + Một là những thông tin nhằm mục đích giải nghĩa hay minh họa

+ Hai là những khái niệm quan trọng của môn học, lựa chọn những gì họcsinh cần nhớ

Trang 25

- Lựa chọn một số thông tin và ý tưởng đòi hỏi học sinh phải có khả năng ứngdụng những điều đã biết để giải quyết vấn đề trong tình huống mới.

* Thiết lập dàn bài trắc nghiệm

Sau khi nắm vững mục đích của bài trắc nghiệm và phân tích nội dung môn học

ta lập được một dàn bài trắc nghiệm Lập một bảng ma trận hai chiều: một chiềubiểu thị nội dung (chương, bài, kiến thức), một chiều ghi các mức độ nhận thức cầnđạt được (hiểu, biết, vận dụng) Số câu hỏi cần được đưa vào trong mỗi loại phảiđược xác định rõ và ma trận này phải được chuẩn bị xong trước khi các câu hỏi trắc nghiệm được viết ra

Một bảng đặc trưng như sau:

Trình độ nhận thức

Nội dung kiến thức

Các mức độ nhận biết

Tổngsố

Trọng số(%)

NhậnBiết Hiểu

VậndụngA

B

Tổng số

e Số câu hỏi trong bài trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

- Số câu hỏi được bao gồm trong bài trắc nghiệm phải tiêu biểu cho toàn thểkiến thức mà ta đòi hỏi ở học sinh phải có

- Số câu hỏi phụ thuộc vào thời gian dành cho bài trắc nghiệm, nhiều bài trắcnghiệm được giới hạn trong một khoảng thời gian một tiết hoặc kém hơn, thời gianlàm bài không quỏ ba giờ

- Số câu hỏi phụ thuộc vào loại câu hỏi được sử dụng (liên quan đến mức độphức tạp của tư duy và thói quen làm việc của học sinh).[30]

f Một số nguyên tắc nên theo khi soạn thảo những câu TNKQ NLC

- Đối với phần gốc: Dù là một câu hỏi hay bổ sung tạo cơ sở cho việc lựa chọncủa học sinh đưa ra những ý tưởng rõ ràng giúp cho sự lựa chọn được dễ dàng + Nếu phần gốc là một câu phủ định thì phải in đậm hoặc gạch dưới chữ diễn

tả sự phủ định để học sinh khỏi nhầm

Trang 26

+ Phần gốc khi kết hợp với phần lựa chọn phải mang lại ý nghĩa trọn vẹn, tuynhiên nên sắp xếp các ý vào phần gốc sao cho: phần lựa chọn được ngắn gọn vàngười đọc thấy rõ nội dung cần kiểm tra.

- Đối với phần lựa chọn:

+ Nờn có 4 đến 5 phương án lựa chọn

+ Chỉ có một phương án đúng

+ Nên tránh hai lần phủ định liên tiếp

+ Câu lựa chọn không nên quá ngây ngô

+ Độ dài các câu trả lời nên gần bằng nhau

+ Các câu trả lời nờn cú dạng đồng nhất.[30]

g Cách trình bày và cách chấm điểm một bài TNKQ nhiều lựa chọn

* Cách trình bày bài trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

Có 2 cách thông dụng:

- Cách 1: Dùng máy chiếu, ta có thể viết bài trắc nghiệm trên phim ảnh rồi

chiếu lên màn ảnh từng phần hay từng câu Mỗi câu, mỗi phần được chiếu lên mànảnh trong khoảng thời gian nhất định đủ cho học sinh bình thường có thể trả lờiđược Cách này có ưu điểm:

+ Kiểm soát được thời gian

+ Tránh được sự thất thoát đề thi

+ Tránh được phần nào gian lận

- Cách 2: Thông dụng hơn là in bài trắc nghiệm ra nhiều bản tương ứng với số

người nhất định Trong phương pháp này có 2 cách trả lời khác nhau:

+ Bài có dành phần trả lời của học sinh ngay trên đề thi, thẳng ở phía bênphải hay ở phía bên trái

+ Bài học sinh phải trả lời bằng biểu riêng theo mẫu:

Trang 27

- Lưu ý khi in bài trắc nghiệm:

+ Tránh in sai, in không rõ ràng, thiếu sót

* Chuẩn bị của học sinh

- Báo trước cho học sinh ngày giờ thi, cách thức, nội dung thi Huấn luyện chohọc sinh về cách thi trắc nghiệm, nhất là trong trường hợp dự thi lần đầu

- Phải nhắc nhở học sinh trước khi làm bài

+ HS phải lắng nghe và đọc kĩ càng những lời chỉ dẫn cách làm bài trắcnghiệm

+ Học sinh phải được biết về cỏch tớnh điểm

+ Học sinh phải được nhắc nhở rằng họ phải đánh dấu cỏc cừu lựa chọn mộtcách rõ ràng, sạch sẽ; nếu có tẩy xóa thì cũng phải tẩy xóa thật sạch

+ Học sinh cần được khuyến khích trả lời tất cả các câu hỏi dù không hoàntoàn chính xác

+ Học sinh nên bình tĩnh làm bài trắc nghiệm, không nên lo ngại quá

* Công việc của giám thị

- Đảm bảo nghiêm túc thời gian làm bài

- Xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho tránh được nạn quay cóp

Trang 28

- Dùng máy vi tính chấm bài.

* Các loại điểm của bài trắc nghiệm

Có nhiều loại thang điểm áp dụng cho bài trắc nghiệm nhưng khi phân tích đánhgiá bài trắc nghiệm chúng ta thường chỉ quan tâm tới hai loại điểm sau

- Điểm thô: Tính bằng điểm số đo trên bài trắc nghiệm Trong bài trắc nghiệm,

mỗi cừu đỳng được tính 1 điểm và mỗi câu sai là 0 điểm Như vậy, điểm thô là tổngđiểm tất cả cỏc cừu đỳng trong bài trắc nghiệm

- Điêm chuẩn: Nhờ điểm chuẩn có thể so sánh điểm số của học sinh trong nhiều

nhóm hoặc giữa nhiều bài trắc nghiệm của nhiều môn khác nhau

Công thức tính điểm chuẩn: Z x - x

s

[30]

trong đó: x: điểm thô

x: Điểm thô trung bình của nhóm làm bài trắc nghiệm

s: Độ lệch chuẩn của nhóm ấyBất lợi khi dùng điểm chuẩn Z là:

+ Có nhiều trị số Z ừm, gừy nhiều phiền hà khi tính toán

+ Tất cả các điểm Z đều là số lẻ

Để tránh khó khăn này người ta dùng điểm chuẩn biến đổi T:

T = 10Z + 50 ( trung bình là 50, độ lệch chuẩn là 10 ) (02) [30] hoặc V = 4Z + 10 ( trung bình là 10, độ lệch chuẩn là 4) (03) [30] + Điểm 11 bậc (từ 0 đến 10) dùng ở nước ta hiện nay, đó là cách biến đổiđiểm 20 trước đây; ở đây chọn điểm trung bình là 5, độ lệch chuẩn là 2 nên:

V = 2Z + 5 (04) [30][30]

Ví dụ: Học sinh có điểm thô là 45, điểm trung bình của nhóm học sinh làm bài

trắc nghiệm là 34,4; độ lệch chuẩn là 11,81 Ta có:

+ Điểm chuẩn Z: Z  45 - 34, 411,81 0,89

Trang 29

+ Điểm chuẩn T: T = 10.Z + 50 = 10.0,89 + 50 = 58,9 T = 10.Z + 50

= 10.0,89 + 50 = 58,9

+ Điểm V (theo thang điểm 11 bậc):V = 2.Z + 5 = 2.0,89 + 5 = 6,78 V = 2.Z+ 5 = 2.0,89 + 5 = 6,78

- Cỏch tính trung bình thực tế và trung bình lí thuyết:

+ Trung bình thực tế: Tổng số điểm thô toàn bài trắc nghiệm của tất cả mọi

người làm bài trong nhóm chia cho tổng số người Điểm này tùy thuộc vào bài trắcnghiệm làm của từng nhóm:

N i i

+ Trung bỡnh lí tưởng: Là trung bình cộng của điểm tối đa có thể có với

điểm may rủi có thể làm đúng ( số câu chia cho số lựa chọn) Điểm này không thayđổi với một bài trắc nghiệm cố định

Ví dụ: Một bài có 40 câu hỏi, mỗi cừu cỳ 4 lựa chọn ta có:

Điểm may rủi: 40 10

4  Trung bình lí tưởng: 10 40 25

2

h Phân tích câu hỏi

* Mục đích của phân tích câu hỏi

- Kết quả bài thi giúp giáo viên đánh giá mức độ thành công của công việc giảngdạy và học tập để thay đổi phương pháp, lề lối làm việc

- Mục đích thứ 2 là để xem học sinh trả lời mỗi câu như thế nào, và từ đó sửa lạicác câu hỏi để bài trắc nghiệm có thể đo lường thành quả khả năng học tập một cáchhữu hiệu hơn.[11]

* Phương pháp phân tích câu hỏi

Trong phương pháp phân tích câu hỏi của một bài trắc nghiệm, thành quả họctập của chúng ta thường so sánh câu trả lời của học sinh ở mỗi câu hỏi với điểm sốchung toàn bài Chúng ta mong có nhiều học sinh ở nhóm điểm cao và ít học sinh ở

Trang 30

nhóm điểm thấp trả lời đúng mỗi câu hỏi Nếu kết quả không như vậy, có thể câuhỏi viết chưa chuẩn hoặc vấn đề chưa được dạy đúng mức.

Để xét mối tương quan giữa cách trả lời mỗi câu hỏi với điểm tổng quát chúng

ta có thể lấy 25% đến 30% học sinh cỳ nhỳm điểm cao nhất và 25% - 33% học sinh

cỳ nhỳm điểm thấp nhất

Chúng ta đếm số câu trả lời cho mỗi câu hỏi trong bài trắc nghiệm Ở mỗi câuhỏi cần biết có bao nhiêu học sinh trả lời đúng, bao nhiêu học sinh chọn mỗi câu sai,bao nhiêu học sinh không trả lời Khi đếm sự phân bố các câu trả lời như thế ở cỏcnhúm có điểm cao, điểm thấp và điểm trung bình ta sẽ suy ra:

+ Mức độ khó của câu hỏi

+ Mức độ phân biệt nhóm giỏi và nhúm kộm của mỗi câu hỏi

+ Mức độ lôi cuốn của cỏc cừu mồi

Sau khi chấm một bài trắc nghiệm chúng ta thực hiện các giai đoạn sau đây: + Sắp xếp các bài làm theo tổng số điểm từ cao xuống thấp

+ Chia tập bài thành 3 chồng

 Chồng 1: 25% hoặc 27% những bài điểm cao

 Chồng 2: 50% hoặc 46% bài trung bình

 Chồng 3: 25% hoặc 27% bài điểm thấp

Số giỏitrừ sốkém

Nhómgiỏi

Nhóm trungbình

Nhómkém

1

ABCD

Bỏ Trống

Tổng cộng

+ Ghi các số đã thống kê trên bài chấm vào bảng với từng nhóm và từng câu + Hoàn thiện bảng đã lập

Trang 31

+ Cột số giỏi trừ số kém có thể có giá trị âm, tổng đại số ở cột này bằngkhông.

Giải thích kết quả: phân tích xem câu mồi có hiệu nghiệm không Nếu cột cuốicùng có giá trị âm và trị tuyệt đối càng lớn thì mồi càng hay Nếu cột cuối bằngkhông cần xem xét lại câu mồi đú vỡ nó không phân biệt được nhóm giỏi và nhúmkộm Câu trả lời đúng bao giờ cũng có giá trị dương cao

Khi phân tích ta cần tìm hiểu xem có khuyết điểm nào trong chính câu hỏi hoặctrong phương pháp giảng dạy Từ kết quả thu được, tớnh cỏc chỉ số

Đo lường độ khó của câu trắc nghiệm

+ Độ khó của câu trắc nghiệm được xác định căn cứ vào tỉ lệ phần trăm thísinh làm đúng câu trắc nghiệm đó

đ

n

P 100% ( 0 P 1)N

Câu hỏi dùng trong dạy học: 0, 2 P 0,8  là đạt yêu cầu sử dụng

+ Độ khó vừa phải của một câu trắc nghiệm có n phương án lựa chọn là:

VP

)2

1( 1 n

P   100% (07) [30] Khi lựa chọn những câu trắc nghiệm căn cứ vào độ khó của cừu đỳ thỡ trướctiên phải gạt bỏ những cừu quỏ khú hoặc quá dễ Những cừu đỳ vô dụng, vỡ khụng

Trang 32

giỳp phân biệt được học sinh giỏi và học sinh kém Một câu có giá trị và đáng tincậy là những cừu cỳ độ khó xấp xỉ vừa bằng độ khó vừa phải.

Độ phân biệt của một câu trắc nghiệm

Độ phân biệt của một câu trắc nghiệm thể hiện khả năng phân biệt của nhóm

(số) trả lời đúng (điểm cao) với nhóm (số) trả lời sai (điểm thấp)

D H - L

n

[30]

Trong đó: D: Độ phân biệt

H: Số người trả lời đỳng nhúm điểm cao L: Số người trả lời đúng của nhóm điểm thấp n: Số người trong mỗi nhúm ( nhóm cao bằng nhóm thấp ) Nhóm điểm cao gồm những người đạt điểm cao ở toàn bài trắc nghiệm chiếm25% hoặc 27% tổng số người tham gia làm bài trắc nghiệm Nhóm điểm thấp gồm những người đạt điểm thấp ở bài trắc nghiệm chiếm 25% đến 27% tổng số ngườitham gia làm bài trắc nghiệm

Khi xét yêu cầu về chỉ số độ phân biệt cần căn cứ vào mục đích trắc nghiệm.Nếubài trắc nghiệm theo tiêu chuẩn thì cần những câu trắc nghiệm có chỉ số độ phânbiệt cao, còn bài trắc nghiệm theo tiêu chí thì chỉ số này không quan trọng

Một số qui tắc để đánh giá sơ bộ độ phân biệt là:

+ Nếu H = L thì độ phân biệt câu hỏi bằng 0

+ Nếu H > L thì độ phân biệt câu hỏi dương

+ Nếu H < L thì độ phân biệt câu hỏi âm

GS Dương Thiệu Tống đã đưa ra một thang đánh giá độ phân biệt dưới đây đểgiúp cho việc lựa chọn cỏc cừu trắc nghiệm tốt dùng ở lớp học

Từ 0,4 trở lên Rất tốt

Từ 0,3 đến 0,39 Khá tốt, có thể làm cho tốt hơn

Từ 0,2 đến 0,29 Tạm được, cần hoàn chỉnh

Trang 33

Dười 0,19 Kém, cần loại bỏ hay sửa lại.

Độ phân biệt tốt trong khoảng D > 0,3 Nếu D < 0,1 thỡ cừu trắc nghiệm có độphân biệt quá thấp không nên dùng

Trong câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn, ngoài phân tích độ khó, độ phân biệt cầnphân tích cỏc cừu nhiễu của câu trắc nghiệm Khi phân tích phương án nhiễu cầncăn cứ vào các dấu hiệu sau:

+ Tần số lựa chọn câu nhiễu Nếu có nhiều lựa chọn hoặc không ai lựa chọncâu nhiễu thì cần xem xét lại

+ Số học sinh khá lựa chọn câu nhiễu nhiều hơn số thí sinh kém

* Tiêu chuẩn để lựa chọn câu hỏi hay

Sau khi phân tích, chúng ta có thể tìm ra được các câu hỏi hay là những cừu cỳtính chất sau:

- Hệ số khó vào khoảng 40% - 62,5%

- Hệ số phân tích dương khá cao

- Các câu trả lời mồi có tính chất hiệu nghiệm (lôi cuốn được học sinh ở nhúmkộm), tức có độ phân biệt âm

i Phân tích đánh giá bài trắc nghiệm thông qua các chỉ số thống kê

* Độ khó của bài trắc nghiệm

- Phương pháp đơn giản để xét độ khó của bài trắc nghiệm là đối chiếu điểm sốtrung bình của bài trắc nghiệm đó với độ khó vừa phải của bài trắc nghiệm

Trang 34

- Điểm trung bỡnh lí tưởng là trung điểm giữa điểm tối đa có thể có được vàđiểm may rủi của nó Điểm may rủi này bằng số câu hỏi trắc nghiệm chia cho số lựachọn cho mỗi câu.

- Độ khó của bài trắc nghiệm đối với một lớp học là tỉ số giữa điểm trung bìnhcủa bài trắc nghiệm với tổng số câu trắc nghiệm

Độ khó x

K

 ( 0  độ khó  1 ) (09) [30] Với: x là điểm trung bình thực tế của bài trắc nghiệm

K là điểm tối đa ( bằng số câu của bài )

- Độ khó vừa phải của bài trắc nghiệm (về lí thuyết)

C M2 .100%

* Độ lệch chuẩn

Một trong số các số đo lường quan trọng nhất là độ lệch tiêu chuẩn, là số đo

lường độ phân tán của các điểm số trong một phân bố Trong phần nghiên cứu, chỉcần tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn phân bố đơn và đẳng loại Độ lệchchuẩn tớnh trờn mỗi nhóm học sinh làm thực tế nên có thể thay đổi được Để tớnh

trong đó: n là số người làm bài

d = xi - x với xi là điểm thô của mẫu thứ i

x là điểm tring bình cộng điểm thô của mẫu

Trang 35

Tính d: Lập điểm thô của từng bài, cộng lại chia cho tổng số người là được điểm

trung bình cộng của bài trắc nghiệm, lấy điểm thô của từng bài trừ cho điểm trungbình ta có từng độ lệch d; bình phương từng độ lệch ta có d2

Độ tin cậy của bài trắc nghiệm được đo bằng hệ số tin cậy Hệ số tin cậy củamột tập hợp điểm số lấy từ một nhóm thí sinh là hệ số tương quan giữa các tập hợpđiểm số đo với một tập hợp điểm số khác về một bài trắc nghiệm tương đương đượclấy ra một cách độc lập cùng một nhóm thí sinh đó

Về mặt lí thuyết, độ tin cậy được xem như là một số đo sự sai khác giữa điểm sốthực và điểm số quan sát được Điểm số thực là điểm số lí thuyết mà học sinh phải

có được nếu không mắc những sai sót trong đo lường Điểm số quan sát được làđiểm số trên thực tế học sinh có được

Có nhiều phương pháp để xác định độ tin cậy của bài trắc nghiệm như: phươngpháp kiểm tra, kiểm tra lại (test–retest method); các dạng trắc nghiệm tương đươngequivalent forms); phương pháp chia đôi bài trắc nghiệm (Split Halves method);phương pháp phỏng đoán hệ số tin cậy Phương pháp phỏng đoán hệ số tin cậythông dụng nhất hiện nay là công thức Kuder Richardson được đưa ra từ năm 1937.Thường để cho dễ tính toán, người ta áp dụng công thức số 20 của K-R:

2

pqk

Trang 36

p là tỷ lệ số câu trả lời đúng cho một câu hỏi (tức là độ khó F)

q là tỷ lệ số câu trả lời sai cho một câu hỏi (q = 1 - p) 2 là phương sai ( độ lệch tiêu chuẩn bình phương)

Trong trường hợp cỏc cừu trắc nghiệm không quá khác biệt nhau về độ khó (F,

ở đây là p), ta có thể ước lượng gần đúng pq bằng cách tính điểm trung bình (M)

và biến lượng 2 của bài trắc nghiệm có K câu Khi đó ta áp dụng công thức số 21

của K-R, như sau:

MM(1 - )

Kết luận về độ tin cậy của một bài trắc nghiệm:

+ Nếu 0,8 r 1  thì bài trắc nghiệm đáng tin cậy

+ Nếu 0,7 r 0,8  thì bài trắc nghiệm có độ tin cậy tạm chấp nhận được+ Nếu 0,5 r 0,7  thì bài trắc nghiệm đỳ cỳ độ tin cừy khụng cao, chắcchắn có nhiều câu hỏi cần phải chỉnh sửa

* Sai số tiêu chuẩn đo lường

Sai số tiêu chuẩn đo lường là một phong cách biểu thị độ tin cậy của bài trắcnghiệm, theo ý nghĩa tuyệt đối, nghĩa là không theo ý nghĩa tương đối như hệ số tincậy đó nờu:

Công thức: SE S 1 - rm  x tc ( 15) [30]

Trong đó: SEm là sai số tiêu chuẩn đo lường

Sx là độ lệch tiêu chuẩn của bài

Rtc là hệ số tin cậy của bài

* Đánh giá một bài trắc nghiệm

Đánh giá một bài trắc nghiệm là xác định độ giá trị và độ tin cậy của nó Một

bài trắc nghiệm hay phải có độ tin cây cao, độ khó vừa phải Khi đánh giá độ giá trị,

sự phân tích nội dung thường quan trọng hơn là các số liệu thống kê Khi đánh giá

độ tin cậy thì phải xem xét sai số chuẩn của phép đo Việc phù hợp về độ tin cậy và

độ giá trị trong việc đánh giá và tuyển chọn các bài phù hợp với mục tiêu dạy học

Trang 37

1.2.2.2 Trắc nghiệm tự luận

a.Khỏi niệm

Trắc nghiệm tự luận (TNTL) là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc

sử dụng công cụ đo lường là các câu hỏi, học sinh trả lời dưới dạng bài viết bằngchính ngôn ngữ của học sinh trong một khoảng thời gian đã định trước

Trắc nghiệm tự luận cho phép học sinh một sự tự do tương đối nào đó để trả lờimỗi câu hỏi trong bài kiểm tra Để trả lời câu hỏi đòi hỏi học sinh phải nhớ lại kiếnthức, phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của mình một cách chính xác và rõ ràng.Bài trắc nghiệm tự luận trong một chừng mực nào đó được chấm điểm một cách chủquan và điểm cho bởi những người chấm khác nhau có thể không thống nhất Mộtbài tự luận thường cú ớt câu hỏi vì phải mất nhiều thời gian để viết câu trả lời Các bài tự luận thường yêu cầu học sinh thu thập, phân tích, giải thích các thôngtin phức tạp, đưa ra sự đánh giá, tiến hành lập luận, kết hợp các sự kiện riêng lẻ,thành một chỉnh thể Bài kiểm tra viết thể hiện ở hai dạng:

Dạng thứ nhất: Là bài kiểm tra bao gồm các loại câu hỏi có sự trả lời mở rộng –

là loại câu hỏi có phạm vi rộng và khái quát Học sinh tự do biểu đạt tư tưởng vàkiến thức Các câu hỏi thường là: phân tích, giải thích hay chứng minh một luậnđiểm, trình bày một vấn đề… Loại câu này có thể đo lường được khả năng sáng tạo

và suy luận, tuy nhiên khó chấm điểm và độ tin cậy của điểm số không cao Câu trảlời mở rộng thường phù hợp trong việc sử dụng để đánh giá hiểu sâu và lập luận

Dạng thứ hai: Là bài kiểm tra với câu tự luận có giới hạn Bài kiểm tra loại này

thường có nhiều câu hỏi hơn bài kiểm tra với loại câu trả lời mở rộng Các câu hỏiđược diễn đạt chi tiết, phạm vi câu hỏi được nêu rõ ràng để người trả lời biết được

Trang 38

độ dài ước chừng của câu trả lời Ví dụ cỏc cừu như: Nêu ưu điểm và nhược điểmcủa,…; so sánh sự khác nhau giữa,…Bài kiểm tra với câu hỏi loại này thường được

đề cập đến những vấn đề cụ thể, nội dung hẹp hơn nên đỡ mơ hồ hơn đối với ngườitrả lời và người chấm Nên việc chấm điểm dễ hơn và thường có độ tin cậy cao hơn.[20],[27], [32]

b.Ưu điểm và nhược điểm của trắc nghiệm tự luận

* Ưu điểm của trắc nghiệm tự luận

+ Câu hỏi TNTL đòi hỏi học sinh phải tự soạn câu trả lời và diễn tả bằngngôn ngữ của chính mình vì vậy nó có thể đo được nhiều trình độ kiến thức, đặcbiệt là ở trình độ phân tích, tổng hợp, so sỏnh…Nỳ không những KT được kiến thứccủa HS mà còn kiểm tra được kĩ năng, giải bài tập định tính cũng như định lượng + Có thể kiểm tra đánh giá các mục tiêu liên quan đến thái độ, sự hiểu biếtnhững ý niệm, sở thích và tài diễn đạt tư tưởng

+ Hình thành cho học sinh kĩ năng sắp đặt ý tưởng, suy diễn, khái quát hóa,phân tích, tổng hợp… phát huy tính độc lập tư duy sáng tạo

+ Việc chuẩn bị câu hỏi dễ hơn, ít tốn công hơn so với câu hỏi TNKQ [18],[25],[30]

* Nhược điểm của trắc nghiệm tự luận

+ Bài kiểm tra theo kiểu tự luận thì số lượng câu hỏi ít, việc chấm điểm lạiphụ thuộc vào tính chất chủ quan, trình độ người chấm do đó nú cỳ độ tin cậythấp.Cũng do phụ thuộc vào tính chủ quan của người chấm nên nhiều khi cùng mộtbài kiểm tra, cùng một người chấm nhưng ở hai thời điểm khác nhau hoặc cùng mộtbài kiểm tra nhưng do hai người chấm khác nhau, kết quả sẽ khác nhau, do đó

Cũng do phụ thuộc vào tính chủ quan của người chấm nên nhiều khi cùng một bàikiểm tra, cùng một người chấm nhưng ở hai thời điểm khác nhau hoặc cùng một bàikiểm tra nhưng do hai người chấm khác nhau, kết quả sẽ khác nhau, do đó phươngpháp này có độ giá trị thấp

Trang 39

Vì số lượng câu hỏi ớt nờn không thể kiểm tra hết các nội dung trong chươngtrình, làm cho học sinh có chiều hướng học lệch, học tủ [18],[25],[30].

c Cách biên soạn đề bài tự luận

- Người ta đánh giá xem xét lại những yêu cầu cơ bản của kiến thức và kĩ năng

cần đánh giá trước khi viết đề

- Đề bài tự luận đòi hỏi học sinh dùng kiến thức đã lĩnh hội được để giải quyếtmột tình huống cụ thể Vì vậy, đề bài phải trình bày một tình huống cụ thể hoặc mộtvấn đề nằm trong vòng kinh nghiệm, hiểu biết của người học Từ tình huống hayvấn đề ấy, người học có thể nhận ra những mối liên hệ giữa kiến thức, kĩ năng đãhọc với nội dung của tình huống

- Nội dung câu hỏi nhất thiết phải có yếu tố mới và không quen thuộc với HS

- Đề bài tự luận được trình bày đầy đủ với hai phần chính: phần phát biểu vềtình huống và phần phát biểu về vấn đề hay sự chọn lựa sao cho mỗi học sinh có thểlàm việc trong một ngữ cảnh bình thường và dễ hiểu

- Bên cạnh phần tình huống và phần vấn đề hay chọn lựa có một phần khácđược gọi là hướng dẫn trả lời Phần này trình bày những mức độ cụ thể của câu trảlời: độ dài của bài, những điểm chuyên biệt hay những hành vi cần thể hiện như giảithích, miêu tả, chứng minh…

- Hình thức đề bài KT tự luận có thể là câu hỏi hay một lời đề nghị, yêu cầu.[6]

d Yêu cầu đối với phương pháp kiểm tra viết tự luận

Câu hỏi kiểm tra tự luận cần được diễn đạt một cách rõ ràng, chú ý đến cấu trúc

về ngữ pháp, từ ngữ lựa chọn cách đặt câu hỏi đơn giản nhất, tránh tăng mức độ khócủa câu hỏi bằng cách diễn đạt câu phức tạp, trỏnh cú những từ thừa hay những câuthừa

Cần xác định được thời gian cho việc trả lời câu hỏi Đối với những câu trả lờigiới hạn, có thể dễ ước lượng thời gian trả lời cho mỗi cừu, cũn đối với những câutrả lời mở rộng thỡ khú hơn trong việc ước lượng thời gian cần thiết Do đó, câu hỏicần đảm bảo cho học sinh viết chậm cũng có thể hoàn thành được bài viết

Trang 40

Một trong những cách có thể cải tiến câu trả lời để nâng cao độ tin cậy là tăng

số câu hỏi trong bài KT, giảm độ dài ở phần trả lời của mỗi câu Những câu quá dài

và tổng quát có thể phân ra làm nhiều câu hỏi ngắn, có giới hạn độ dài cho mỗi câu Khi tổ chức cho học sinh làm bài cần phải có những biện pháp để tránh đượccác yếu tố gây nhiễu ở bên ngoài như: tiếng ồn, ánh sáng, các tác động gây nhiễukhỏc, trỏnh gian lận trong khi làm bài Thái độ của giáo viên với vai trò của giámthị thể hiện nghiêm túc và tạo được sự bình tĩnh cho học sinh trong quá trình làmbài

Chấm bài cú cỏc cừu tự luận thường khó khăn do mỗi học sinh có cách diễn đạt,cấu trúc và sắp xếp riêng Vì vậy, khi chấm bài kiểm tra, cần xác định thang điểmmột cách chuẩn xác và chi tiết trong đó đưa ra những câu trả lời có thể chấp nhậnđược Cần phải có một bảng hướng dẫn nêu rõ những khái niệm, những lập luận,khối lượng dài ngắn và một số vấn đề khác tạo nên một bài trả lời chấp nhận được.Mặt khác cần dự kiến đưa ra một số vấn đề có thể xuất hiện trong bài làm để cúcỏch xử lí và cho điểm [18],[25],[30]

e Cách chấm điểm bài tự luận

Căn cứ vào yêu cầu kiến thức và kĩ năng cần đánh giá qua bài tự luận người

đánh giá xây dựng thang điểm chấm Thang điểm bao gồm các mức điểm và nhữngyêu cầu cần đạt ở từng mức điểm Tùy theo đặc điểm của thang điểm chấm, việcchấm bài tự luận được chia thành hai hướng:

* Hướng chấm cảm tính, ấn tượng

Khi thang điểm được nêu một cách vắn tắt với những yêu cầu tổng quát nhiều

khi đến sơ sài thì việc chấm điểm bài tự luận thường có xu hướng chấm điểm theocảm tính có tính ấn tượng: dựa trên ấn tượng chung về bài viết rồi cho một điểmđơn nhất vào bài viết ấy Ưu điểm của hướng chấm cảm tính là việc chấm điểm cóthể được thực hiện nhanh chóng Tuy nhiên, trong cách chấm này, người chấm bàirất dễ bỏ qua những thành quả mà HS thể hiện trong bài viết Và điểm số mà người chấm gán cho mỗi bài có thể không phản ánh đúng trình độ thực chất của HS.[6]

* Hướng chấm phân tích

Ngày đăng: 27/08/2015, 13:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.2. Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “Các định luật bảo toàn” - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
2.1.2. Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “Các định luật bảo toàn” (Trang 50)
2.3.2. Bảng phân phối số câu hỏi theo mục tiêu giảng day - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
2.3.2. Bảng phân phối số câu hỏi theo mục tiêu giảng day (Trang 60)
Bảng 3.1. Bảng thống kê các điểm số (X i ) của bài kiểm tra - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
Bảng 3.1. Bảng thống kê các điểm số (X i ) của bài kiểm tra (Trang 75)
Hình 3.1.  Đồ thị phân bố điểm kiểm tra của học sinh - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
Hình 3.1. Đồ thị phân bố điểm kiểm tra của học sinh (Trang 76)
Bảng 3.2. Bảng phân bố tần suất điểm kiểm tra của học sinh - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
Bảng 3.2. Bảng phân bố tần suất điểm kiểm tra của học sinh (Trang 76)
Hình  3.2. Đồ thị phân bố tần suất điểm kiểm tra của học sinh - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
nh 3.2. Đồ thị phân bố tần suất điểm kiểm tra của học sinh (Trang 77)
8. Khi đó ta thấy số học sinh đạt yêu cầu của bài là 57.6% đồ thị phân bố có dạng  hình chuông chuẩn Gauxơ - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
8. Khi đó ta thấy số học sinh đạt yêu cầu của bài là 57.6% đồ thị phân bố có dạng hình chuông chuẩn Gauxơ (Trang 77)
Hình 3.3. Đồ thị phân bố đường lũy tích điểm kiểm tra của học sinh - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
Hình 3.3. Đồ thị phân bố đường lũy tích điểm kiểm tra của học sinh (Trang 78)
Bảng 3.4. Bảng kết quả xử lý các tham số - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
Bảng 3.4. Bảng kết quả xử lý các tham số (Trang 78)
Bảng 3.5. Tổng hợp các tham số - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
Bảng 3.5. Tổng hợp các tham số (Trang 79)
Bảng 3.6. Bảng thống kê các điểm số (X i ) của bài kiểm tra - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
Bảng 3.6. Bảng thống kê các điểm số (X i ) của bài kiểm tra (Trang 81)
Hình 3.5. Đồ thị phân bố tần suất điểm kiểm tra của học sinh - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
Hình 3.5. Đồ thị phân bố tần suất điểm kiểm tra của học sinh (Trang 83)
Hình 3.6. Đồ thị phân bố đường lũy tích điểm kiểm tra của học sinh - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
Hình 3.6. Đồ thị phân bố đường lũy tích điểm kiểm tra của học sinh (Trang 84)
Bảng 3.9. Bảng kết quả xử lý các tham số - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
Bảng 3.9. Bảng kết quả xử lý các tham số (Trang 84)
Bảng 3.10. Tổng hợp các tham số - Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên chương cá
Bảng 3.10. Tổng hợp các tham số (Trang 85)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w