Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+) Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+)
Trang 1BỘYTẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI• • • •
u ĩ o
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIA KẾT QUẢ ĐlỂU TRỊ
TRONG GIAI ĐOẠN TÂN CÔNG
VÀ NỔNG ĐỘ RIFAMPICIN HUYẾT TƯƠNG
BỆNH NHÂN LAO PHỔl AFB (+)
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DUỢC s ĩ KHOÁ 2000 - 2005)
Người hướng dẫn : ThS Lê Thị Luyến
Nơi thực hiện : Bệnh viện Lao và bệnh phổi Hà Nội
Trường Đại học Dược Hà Nội
Thời gian thực hiện : 07/2004 - 03/2005
HÀ NỘI, THÁNG 5 - 2005
Trang 2Mời eảm ổn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.s Lê Thị Luyến -Trường Đại học Dược Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đơn vị:
• Bộ môn Dược lâm sàng - Trường Đại học Dược Hà Nội
• Ban giám đốc Bệnh viện lao và bệnh phổi Hà Nội
• Phòng kế hoạch tổng hợp - Bệnh viện lao và bệnh phổi Hà Nội
• Phòng khám lao các quận huyện trên địa bàn Hà Nội
• Khoa nội 1- Bệnh viện lao và bệnh phổi Hà Nội
đã cho phép và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VÂN ĐỂ 1
PHẨN 1: TỔNG QUAN 3
1.1.TÌNH HÌNH BỆNH LAO TRÊN THẾ GIỚI VÀ ở VỆT NAM 3
1.1.1 Trên thế giới 3
1.1.2 ở Việt Nam 4
1.2 CỞ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐlỀU TRỊ LAO 5
1.2.1 Cơ sở vi khuẩn 5
1.2.2 Cơ sở dược lý học 7
1.2.3 Các nguyên tắc cơ bản trong điều trị bệnh lao 16
1.3 MỘT SỐ NGHIÊN c ứ u VÊ KÊT QUẢ ĐlÊU TRỊ SAU 2 THÁNG TẤN CÔNG VÀ NỒNG ĐỘ RIFAMPICIN HƯYÊT TƯƠNG BỆNH NHÂN LA O 18
PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 21
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN c ú u 21
2.1.1 Số lượng bệnh nhân 21
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ bệnh nhân 21
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ ư 21
2.2.1 Loại hình nghiên cứu và nội dung nghiên cứu 21
2.2.2 Phương pháp tiến hành 22
2.2.3 Phương pháp thống kê xử lý số liệu 24
Trang 4PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u VÀ BÀN LUẬN 25
3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐỂM CỦA BỆNH NHÂN NGHIÊN c ứ u 25
3.1.1 Phân bố theo nhóm tuổi của bệnh nhân nghiên cứu 25
3.1.2 Phân bố theo giới tính 26
3.1.3 Thể lao 27
3.1.4 Phác đồ điều trị lao 27
3.2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG SAU 2 THÁNG ĐlỀU TRỊ TẤN CÔNG 28
3.2.1 Sự cải thiện về các triệu chứng lâm sàng 28
3.2.2 Sự cải thiện về vi sinh 29
3.2.3 Những tác dụng không mong muốn biểu hiện trên lâm sàng 30
3.3 NỒNG ĐỘ RIFAMPICIN TRONG HUYÊT TƯƠNG BỆNH NHÂN 30
3.3.1 Nồng độ rifampicin trên bệnh nhân ở thời điểm 2 giờ 31
3.3.2 Nồng độ rifampicin ở thời điểm 3 giờ 32
3.3.3 So sánh nồng độ rifampicin ở thòi điểm 2 giờ và 3 giờ 34
3.3.4 Sơ bộ khảo sát sự liên quan giữa nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân với một số yếu t ố 36
PHẦN 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUẤT 40
4.1 KẾT LUẬN 40
4.2 ĐÊ XUẤT 41
TÀI LỆU THAM KHẢO
PHU LUC
Trang 5n h ủNg c h ữ v iế t t ắ t
AFB : Acid-fast bacilli (vi khuẩn kháng acid)
CTCLQG : Qiưcttig trình chống lao quốc qia
DOTS : Directly observed treatment short-course
Trang 6ĐẬT VẤN ĐỂ
Cuối thế kỷ thứ XX, đầu thế kỷ thứ XXI, bệnh lao vẫn là bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong hàng đầu trong các bệnh nhiễm trùng trên thế giới Vói sự ra đời của hàng loạt các thuốc chống lao, y học hoàn toàn có khả năng chống lại, khống chế và thanh toán bệnh lao Tuy nhiên hiện nay bệnh lao vẫn không
giảm mà còn có chiều hướng gia tăng mạnh mẽ không chỉ ở các nước đang
phát triển mà còn quay trở lại cả ở những nước tưởng chừng đã thanh toán được bệnh lao Trong cuộc chiến chống lại bệnh lao, hoá trị liệu đóng vai trò hết sức quan trọng Năm 1995, phác đồ hoá trị liệu ngắn ngày được phổ biến trong phạm vi toàn cầu cho phép rút ngắn thời gian điều trị, âm hoá nhanh vi khuẩn trong tổn thương, tăng tỷ lệ khỏi bệnh, tỷ lệ tái phát giảm, hạn chế phát sinh các chủng vi khuẩn kháng thuốc, làm tăng thuận lợi cho người bệnh và những cơ hội hợp tác giữa thầy thuốc và người bệnh sẽ tốt hofn
Theo báo cáo “Kiểm soát lao toàn cầu năm 2003” của WHO, có
155/210 nước trên thế giới thực hiện DOTS, 61% dân số thế giới được cung
cấp dịch vụ của DOTS, ở Việt Nam, đến năm 2000, 100% dân cư đã được bao phủ bởi DOTS Thực tế hiện nay vấn đề giám sát sử dụng thuốc của bệnh nhân chưa tưoỉng xứng với tầm quan trọng của nó Việc đánh giá kết quả điều trị trong hai tháng tấn công có vai trò trong việc dự đoán sófm nguy cơ thất bại điều trị [13]
Rifampicin là một trong các thuốc chống lao thiết yếu, nhiều ưu thế nhất trong hoá trị liệu bệnh lao [9] TCYTTG và Hiệp hội bài lao và bệnh phổi quốc tế (lUATLD) khuyến cáo nên dùng rifampicin dưới dạng thuốc chống lao kết hợp do các ưu điểm đơn giản hóa được công tác kê đơn và điều trị lao, làm bệnh nhân dễ tuân thủ yêu cầu điều trị và giảm phát triển chọn lọc chủng
Mycobacterium tuberculosis kháng rifampicin Tuy nhiên, rifampicin có đặc
Trang 7điểm là khác biệt rất lớn về nồng độ hấp thu được giữa các cá thể và nguy cơ giảm sinh khả dụng trong những chế phẩm thuốc viên hỗn hợp cố định liều Nguy cơ nồng độ rifampicin thấp sẽ dẫn tới tỷ lệ tái phát và đcfn kháng cao [15].
Một số nghiên cứu trên thế giới [15], [16], [18], [19], [20] đã tiến hành
định lượng rifampicin huyết tương bệnh nhân Cho đến nay ờ Việt Nam, có
một số nghiên cứu [7], [11] về nồng độ rifampicin huyết tương trên bệnh nhân lao đã được công bố, nhưng những nghiên cứu này chỉ đo nồng độ rifampicin huyết tưofng ở thời điểm 2 giờ Từ đó chúng tôi chọn đề tài:
“Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị trong giai đoạn tấn công và nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân lao phổi AFB (+)” với các mục
tiêu:
L Đánh giá kết quả điều trị sau 2 tháng tấn công trên bệnh nhân lao phổi AFB(-\-).
2 Khảo sát nồng độ rifampicin huyết tương trên bệnh nhân lao phổi
AFB ị +) ở thời điểm 2 và 3 giờ sau khi uống thuốc và tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới nồng độ rifampicin trên bệnh nhân lao.
Trang 8PHẦN 1: TỔNG QUAN
1.1 TÌNH HÌNH BỆNH LAO TRÊN THÊ' GIỚI VÀ ở VIỆT NAM
1.1.1 Trên thế giới
Bệnh lao được loài người biết đến từ trước thòd công nguyên và ở nước ta
được xếp vào “tứ chứng nan y” là lao, phong, cổ, lại Cuối thế kỷ XX, đầu thế
kỷ XXI, bệnh lao vẫn là một trong số các bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao trong các bệnh nhiễm trùng trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển [2], [13]
Theo ước tính của tổ chức y tế thế giới, 1/3 dân số thế giód hiện đã phát hiện nhiễm lao (khoảng 2,2 tỷ người), trong đó có khoảng 16 triệu người bị bệnh lao, theo số liệu công bố của WHO, thì hàng năm có khoảng 3 triệu người chết vì lao và có khoảng 9 triệu người mắc lao mới và khoảng 2 triệu người chết do lao [1], [2] Nếu không kìm chế được thì cho tới 2020 sẽ có 70 triệu sẽ chết vì lao Khoảng 80% số người mắc lao trên toàn cầu thuộc 22 quốc gia có bệnh lao cao, 75% số người mắc lao đang ở độ tuổi lao động [2] Tỷ lệ điều trị thành công bệnh lao trên toàn thế giới đã đạt 82%, nhưng tỷ lệ phát hiện mới chỉ đạt khoảng 37%, cho nên còn nhiều người bệnh chưa được phát hiện đang tiếp tục lây cho cộng đồng Theo ước tính của WHO cho thấy mỗi năm có thêm khoảng 65 triệu người trên thế giói nhiễm lao (1% dân số thế giới) Bệnh lao là bệnh của người nghèo, lây lan nhanh chóng trong cộng đồng
có điều kiện sống chật chội, thiếu vệ sinh, thông khí và dinh dưỡng kém [2]
Do đó khoảng 95% số bệnh nhân mới và 98% số người chết do bệnh lao thuộc các nước nghèo, các nước đang phát triển Mức độ nặng nề của bệnh lao đã ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân và chỉ số phát triển con người của các quốc gia [2]
Hơn 33% số bệnh nhân lao trên thế giới thuộc các nước Đông Nam Á Dự
báo tình hình dịch tễ lao toàn cầu sẽ tăng nhanh nếu công tác chống lao chỉ ở
mức độ hiện thời Đặc biệt, bệnh lao có xu hướng tăng nhanh do ảnh hưởng của đại dịch HIV/AIDS và tình trạng lao kháng thuốc như hiện nay [2]
Trang 9TCYTTG đã đưa ra bốn nguyên nhân cho tình trạng bệnh lao quay trở lại trên toàn cầu:
• Do đại dịch HIV: Một người bình thường nếu bị nhiễm lao sẽ có nguy
cơ 5 - 10% mắc bệnh lao trong cuộc đời Nhưng một người nhiễm lao đồng thời nhiễm HIV thì nguy cơ đó là 20 - 30%
• Đối với các nước công nghiệp phát triển, có nguyên nhân do từ những nơi có lưu hành lao cao tới
• Do tình hình bùng nổ dân số thế giới khiến cho số lượng bệnh nhân tuyệt đối không ngừng gia tăng, mặc dù tỷ lệ mắc lao tỷ đối có thể giảm
• Sự lơ là của xã hội và chính phủ nhiều quốc gia, kèm vód việc tổ chức CTCLQG kém cỏi ít hiệu quả [1]
Đại dịch HIV và bệnh lao là hai người bạn đồng hành và có tác động hỗ
trợ rất đắc lực cho nhau Vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng ở các nước
đang phát triển, do khả năng khống chế hai căn bệnh này là vô cùng khó khăn.[l], [2]
1.1.2 ở Việt Nam
Theo thống kê của WHO, Việt Nam là nước đứng thứ 13 trong 22 nước
có số người mắc bệnh lao cao trên ũiế giới Trong khu vực Tây Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ 3 về số lượng bệnh nhân lao sau Trung Quốc (hofn450.000 bệnh nhân) và Philippin (hcfn150,000 bệnh nhân) [2], [13]
Qua nhiều đợt điều tra nguy cơ nhiễm lao ở một số địa phương trên toàn quốc, CTCLQG phối hçfp với TCYTTG phân tích và ước tính nguy cơ nhiễm lao hàng năm ở nước ta là 1,7% Hàng năm trong cả nước có thêm154.000 bệnh nhân lao các thể (189/100.000 dân), Tổng số bệnh nhân lao xuất hiện mắc tại một thời điểm là 232.000 người và cũng tại một thời điểm trong
cả nước có 81.900 người ho khạc ra vi khuẩn lao Mỗi ngày ở nước ta bệnh lao cướp đi sinh mạng của 57 người và làm cho 470 người mắc lao phổi trong đó
có 189 người mắc lao ho khạc ra vi khuẩn làm lây lan ra cộng đồng Tình hình lao kháng thuốc và bệnh lao phối họfp với HIV có xu hướng gia tăng [2]
Trang 101.2 CỞ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐlÊU TRỊ LAO
1.2.1 Cơ sở vi khuẩn
1.2.1.1 Nguyên nhân gây bệnh lao
Vi khuẩn lao {Mycobacterium tuberculosis), thuộc họ Mycobateriaceae
là nguyên nhân chính gây bệnh lao ở người Ngoài ra còn có những vi khuẩn
không lao như M kansasii, M aỷricanum, M ỷortuitum và M avium complex
cũng gây bệnh lao ở người bị suy giảm miễn dịch, đặc biệt là những người HIV (+)
Mycobacteria là những vi khuẩn phát triển và sinh sản chậm và ái khí,
đa số các chủng Mycobacteria phát triển chậm (thời gian phân chia khoảng 24 giờ, trong khi các vi khuẩn khác là 20 - 40 phút)
Phát hiện vi khuẩn gây bệnh lao trong mẫu bệnh phẩm bằng phương pháp nhuộm soi trực tiếp là phương pháp đơn giản rẻ tiền có thể cho kết quả dương tính khi có > 10.000 vi khuẩn/ml mẫu bệnh phẩm nhưng không phân biệt chủng vi khuẩn nào cũng như không xác định được vi khuẩn trong mẫu bệnh phẩm đã chết hay còn sống [21]
L2.1.2 Số lượng vi khuẩn
Số lượng vi khuẩn lao thay đổi tuỳ thuộc vào từng loại tổn thương
Trong một hang lao có kích thước trung bình 2 cm có thông với phế quản có khoảng 10* vi khuẩn lao, trong khi một nốt lao có vỏ bọc cùng kích thước chỉ
có 10^ vi khuẩn lao Trong quá trình phát triển, khi số lượng vi khuẩn lao tăng đến một mức nhất định thì có một số vi khuẩn lao phát triển khác thưòỉng đột biến và trở nên kháng thuốc Những vi khuẩn này gọi là vi khuẩn lao đột biến kháng thuốc Quần thể vi khuẩn lao càng lớn thì khả năng đột biến kháng thuốc tự nhiên càng lófn Tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc lao tự nhiên khác nhau tuỳ theo từng loại thuốc chống lao: RMP (1.10'*), INH (1.10'^), SM (1.10'®), EMB (I.IO '^) Sự hiện diện của vi khuẩn lao kháng thuốc tự nhiên có ý nghĩa
Trang 11quan trọng trong điều trị lao, đây là nguyên nhân của thất bại điều tri và lý do cần phải phối hợp thuốc trong điều trị lao [3], [12].
1,2,13, Các quần thể vi khuẩn lao
Vi khuẩn lao là những vi khuẩn ái khí, chúng phát triển mạnh và tích cực chuyển hoá trong môi trưòỉng có áp lực oxy và pH thích hợp Điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của vi khuẩn lao là pH = 7,4 và áp lực oxy 110 - 140 mmHg [8] Đặc điểm trong môi trường mà vi khuẩn lao tồn tại là cơ sở để thiết lập phác đồ điều trị phối hợp các thuốc chống lao và thời gian điều trị
Các quần thể lao gồm:
• Quần thể A: các vi khuẩn chuyển hoá tích cực và phát triển nhanh
Quần thể này có số lượng nổi bật nhất là 10^- 10® vi khuẩn Các vi khuẩn này
dễ được phát hiện do được bài tiết ra ngoài (bằng ho khạc đờm) Những vi khuẩn này nằm ngoài tế bào và cư trú ở vách hang lao, có pH và áp lực oxy lý tưởng, thuận lợi cho phát triển của vi khuẩn Quần thể này bị tiêu diệt nhanh bởi thuốc chống lao RMP, INH, SM Độ mạnh của phác đồ điều trị để loại trừ quần thể vi khuẩn này liên quan đến tác dụng diệt khuẩn của thuốc, được đánh giá bằng kết quả nuôi cấy âm tính sau 2 tháng tấn công
• Quần thể B: các vi khuẩn trong môi trường acid
Gồm những vi khuẩn lao bị đại thực bào thôn tính, vi khuẩn nằm trong tế bào
có pH toan do đó vi khuẩn phát triển chậm Chỉ có pyrazinamid có tác dụng trong môi trường toan mới có tác dụng diệt vi khuẩn, RMP cũng có tác dụng, INH rất ít tác dụng, SM không có tác dụng vói loại vi khuẩn này
• Quần thể C: các vi khuẩn phân chia không thường xuyên
Gồm những vi khuẩn lao nằm trong ổ bã đậu, môi trường yếm khí nên vi khuẩn sinh sản rất chậm, chỉ chuyển hoá trong đợt ngắn Qiỉ có RMP mới có tác dụng diệt vi khuẩn này
• Quần thể D: các vi khuẩn ngủ kéo dài hoặc hoàn toàn
Trang 12Gồm những vi khuẩn nằm trong tổn thưcỉng xơ, vôi, những vi khuẩn này không chuyển hoá, không phát triển gọi là trực khuẩn ‘ngủ’ Không có một thuốc lao nào có tác dụng [3], [8]
Qua cách phân chia trên cho thấy cần phải áp dụng các công thức điều trị phối hợp nhiều thuốc và điều trị trong thời gian dài để tiêu diệt chủ yếu quần thể B và c, đảm bảo khỏi bệnh cao và hạn chế tái phái [3]
Cao
Phát triển liên tuc
1.2.2.1 Phân loại thuốc chống lao
Hiện nay, thuốc chống lao được chia thành hai nhóm chính:
• Nhóm 1: là những thuốc chống lao thường dùng (thuốc chống lao thiết yếu), có chỉ số điều trị cao, ít tác dụng không mong muốn hơn : isoniazid, rifampicin, pyrazinamid, ethambutol và streptomycin
• Nhóm 2: là những thuốc ít dùng hơn, chỉ dùng để thay thế khi vi khuẩn lao kháng thuốc, phạm vi điều trị hẹp và có nhiều tác dụng không mong muốn: ethinamid, para-amino salicylic (PAS), cycloserin, amikacin, kanamycin, capreomycin, thioacetazone, quinolon, rifabutin
Trang 13I.2.2.2 Các đặc điểm của thuốc kháng lao tốt
Một thuốc kháng lao tốt khi có các đặc điểm sau đây:
• Khả năng diệt khuẩn mạnh
• Thuốc có nồng độ ức chế tối thiểu thấp
• Có tỷ lệ đột biến kháng tíiuốc thấp
• Nồng độ đạt được trong huyết thanh cao (đặc biệt là trong tổ chức)
• ít có tác dụng không mong muốn khi dùng riêng và khi phối hợp với các thuốc khác
• Rẻ tiền dễ sử dụng
1.2.23 Các thuốc chống lao chủ yếu
Hiệu lực của thuốc chống lao
Hiệu lực của thuốc chống lao được tính theo mức độ sinh sản của vi khuẩn Theo Grosset (1995) hiệu lực của thuốc chống lao được thể hiện ở bảng
Sinh sản chậm
Vi khuẩn ngủ
0 : Không có tác dụng
Trang 14Đây là cơ sở để phối hợp nhiều loại thuốc chống lao trong một phác đồ điều trị trong đó cần có các thuốc diệt khuẩn mạnh.
Bảng 1.2 ; Tác dụng của các loại thuốc chống lao chủ yếu [1]
Thuốc chống
Hiêụ quả
Isoniazid Diệt khuẩn
Vi khuẩn trong tế bào
Vi khuẩn ngoai tế bào
Vi khuẩn trong các chất cặn bã
Mạnh
Rifampicin Diệt khuẩn
Tiệt khuẩn
Vi khuẩn trong tế bào
Vi khuẩn ngoai tế bào
Vi khuẩn trong các chất cặn bã
Mạnh
Pyrazinamid Diệt khuẩn
Ethambutol Kìm khuẩn Vi khuẩn trong tế bào Vi khuẩn ngoai tế bào Yếu
Sơ đồ hoá tác dụng của các thuốc trên ta có:
Khả năng diệt khuẩn [13]
ManhRifampicin
Isoniazd Pyrazinamid Streptomycin Ethambutol
Yếu
Liều lượng của các thuốc chống lao thiết yếu:
Theo hướng dẫn thực hiện chương trình chống lao quốc gia của TCYTTG (2003), liều lượng của các thuốc chống lao thiết yếu được quy định như trong bảng 1.3
Trang 15Bảng 1.3 ; Liều lượng của các thuốc chống lao thiết yếu [1].
Tên thuốc
Liều lượng hàngngày (mg/kg)
Liều ngắt quãng 31ần/tuần
(mg/kg)
21ần/tuần (mg/kg)
Năm 1957, hãng lepetit đã phân lập được 1 chủng Streptomyces ký hiệu
ME/83, sau đó đặt tên là Streptomyces medỉterranei từ mẫu đất lấy từ một
vưòỉn cây thân gỗ gần vùng Saint Raphael (Pháp) Từ loại nấm này, Oppolzer
và cộng sự đã chiết xuất ra một vài loại rifamycin, trong đó có rifamycin s và rifamycin SV Rifamycin SV chỉ được sử dụng theo đường tiêm truyền vì hấp thu kém khi dùng theo đường uống Rifampicin là kháng sinh bán tổng hợp, dẫn chất của rifamycin B Rifampicin dạng bột tinh thể có màu nâu đỏ, ít tan trong nước [4, 14], ổn định trong dimethyl sulfoxid, tương đối ổn định trong nước Dễ tan trong cloroform, dimethylsulfoxid, tan trong ethyl acetat, methanol, tetrahydrofuran, tan it trong nước (pH < 6), aceton,carbontetraclorid, dễ bị phân huỷ bởi nhiệt độ và ánh sáng Các chế phẩm thường dùng dạng viên đơn hoặc viên hỗn họfp với isoniazid và pyrazinamid ngoài ra trên thị trường còn có thể có dạng bột pha tiêm có chứa natri formaldehyd sulfoxylat
Trang 16b)Tác dụng, cơ chế tác dụng và cơ chế đề kháng
i) Tác dụng
Rifampicin có hoạt tính với các Mycobacteria, đặc biệt là M
tuberculosis, M leprae và các Mycobacterium khác như M avium, M bovis
Nồng độ ức chế tối thiểu invitro đối với vi khuẩn lao là 0,1 - 2 |Lig/ml [4] Rifampicin có tác dụng với những vi khuẩn lao nội bào và ngoại bào đặc biệt
có tác dụng với những vi khuẩn lao phát triển chậm
Rifampicin còn là một kháng sinh phổ rộng, có tác dụng tốt với vi
khuẩn gram dương như s aureus Bacillus anthracis và gram âm như N
megingitidis, H influenzae, Brucella melỉtensỉs, Legionella pneumophyla,
riêng với các cầu khuẩn ruột chưa khẳng định chắc chắn hiệu quả lâm sàng
Rifampicin có tác dụng rất tốt đối với tụ cầu (cả s aureus, và s epidermỉdỉs),
kể cả các chủng đã kháng penicillin Nồng độ ức chế tối thiểu của tụ cầu là
l|Lig/ml ở nồng độ rất cao, rifampicin còn có tác dụng invitro với Chamydỉa
trachomatis, poxvirus vầL Adenovirus.Ị4J
ii) Cơ chế tác dụng
Không giống các kháng sinh khác, rifampicin ức chế hoạt tính enzym tổng hợp mRNA phụ thuộc vào DNA (DNA - dependent RNA polymerase)
của vi khuẩn Mycobacteria và các vi khuẩn khác bằng cách tạo phức hợp bền
vững thuốc - enzym Vị trí tác động chính là tiểu đơn vị p của RNA - polymerase Tác dụng của rifampicin đối với các vi khuẩn đang phân chia chủ yếu nhưng thuốc còn có tác dụng với các vi khuẩn ở trạng thái không chuyển hoá.[4]
iii) Cơ chế đề kháng
Mycobacteria đề kháng rifampicin bằng cách đột biến vùng gen chịu
trách nhiệm tổng hợp tiểu đơn vị p của RNA - polymerase Đột biến gen rpoB
của vi khuẩn là chủ yếu, chiếm 97% các chủng kháng thuốc
Rifampicin không kháng chéo vói các kháng sinh và các thuốc lao khác, tuy nhiên những chủng kháng thuốc phát triển nhanh đặc biệt khi dùng
Trang 17rifampicin đơn độc và lạm dụng Do đó cần sử dụng rifampicin rất nghiêm ngặt để đảm bảo thành công [14] ở Việt Nam, khoảng 3,6% bệnh nhân lao có trực khuẩn kháng rifampicin.
c) Dược động học
Rifampicin được hấp thu qua đưòfng tiêu hoá, khi uống lúc dạ dày rỗng,
nó được hấp thu gần như hoàn toàn Nồng độ thuốc trong huyết tương dao động lớn giữa các cá thể và khác nhau giữa các tài liệu đã công bố, khi uống
liều 600 mg sau 2 - 4 giờ đạt nồng độ đỉnh trong huyết tưcỉng 4 - 3 2 ịig/m\
Dược động học của rifampicin bị ảnh hưởng bởi thức ăn nhưng phụ thuộc nhiều hơn vào thành phần thức ăn Nếu thức ăn có thành phần chủ yếu là carbonhydrat và protein thì ít bị ảnh hưởng hơn, nếu uống thuốc cùng bữa ăn
có nhiều mỡ thì nồng độ Cmax rifampicin huyết tương bị giảm và Tmax (thời gian đạt Cmax) chậm lại [4]
Rifampicin liên kết với protein huyết tương 84 - 91 %[14] Thuốc phân
bố rộng rãi vào các mô và dịch cơ thể, khuếch tán vào dịch não tuỷ khi màng não bị viêm Thuốc vào cả nhau thai và sữa mẹ Nồng độ trong thành hang lao, nhu mô phổi và thận cao hơn so với trong huyết tương, nồng độ trong màng phổi, xưoỉng thấp hơn trong huyết tương Khả năng thấm vào dịch não tuỷ và chất bã đậu rất kém chỉ đạt 20% so với trong huyết tương [4, 14] Nồng độ rifampicin huyết tương phụ thuộc nhiều vào quá trình sản xuất chế phẩm Nếu thay đổi kích thước phân tử hay tá dược, mặc dù cùng hàm lượng như nhau nhưng nồng độ thuốc hấp thu vào máu khác nhau Sự giảm sinh khả dụng hay xảy ra với dạng chế phẩm hỗn hợp cố định liều
Rifampicin chuyển hoá ở gan, thuốc bị khử acetyl nhanh thành chất
chuyển hoá có hoạt tính 25-0-desacetyl-rifampicin Các chất chuyển hoá khác không còn hoạt tính là: rifampin quinon, desacetyl rifampin quinon và 3- formyl-rifampin Rifampicin thải trừ qua mật, nước tiểu dưới dạng không chuyển hoá, chất chuyển hóa và trải qua chu trình ruột - gan 6 0 -6 5 % liều
Trang 18dùng thải trừ qua mật và được bài tiết qua phân, 10% thuốc thải trừ ở dạng
không biến đổi trong nước tiểu, 15% chất chuyển hoá còn hoạt tính
25-0-desacetyl-rifampicin và 7% dẫn chất 3-formyl-rifampin không hoạt tính Thời gian bán thải của rifampicin là 3 - 5 giờ sau khi uống liều đầu, khi uống lặp lại là 2 - 3 giờ Thời gian bán thải kéo dài ở người suy gan.[4]
d) Tác dụng không mong muốn
Bảng 1.4: Các tác dụng không mong muốn của rifampicinl4]
bilirubin huyết thanh.
* Tiêu hoá: buồn
nôn, chắn ăn, đau
* Ngủ gà khó tập trang ý nghĩ.
* Viêm kết mạc mắt
* Sốt, rét run
* Máu: giảm tiều cầu, giảm bạch cầu, tăng bặch cầu ưa eosin, thiếu máu tan máu
* Viêm đại tràng giả mạc
* Ban xuất huyết trên da
* Khó thở
* Suy thận nặng
* Yếu cơ
Viêm gan ít xảy ra với liều điều trị, thường xảy ra với bệnh nhân có tiền
sử bệnh gan hoặc nghiện rượu, nhiễm HIV, mang kháng nguyên viêm gan, đặc
biệt là viêm gan c Rifampicin kích ứng men thuỷ phân isoniazid, do đó làm
tăng hình thành hydrazin, đó là cơ chế tăng độc tính với gan của isoniazid khi dùng phối hợp với rifampicin Viêm gan là tác dụng không mong muốn trầm
trọng nhất khi dùng phối hợp rifampicin và isoniazid, hay xảy ra hơn ở người
lớn so với trẻ em
Tăng bilirubin huyết thanh cao hơn giới hạn bình thưcmg ngay trong những ngày đầu điều trị nhưng sẽ trở về bình thường trong vòng 2 tuần
Trang 19Phản ứng miễn dịch toàn thân như sốt, rét run hiếm gặp trong thời gian điều trị liên tục Nếu có ban hoặc xuất huyết hoặc đột ngột giảm chức năng thận thì cần dùng rifampicin ngay (hay gặp trong điều trị cách nhật).
Giảm chức năng thận trước khi dùng rifampicin không cản trở việc điều trị (tuy nhiên cần giảm liều hoặc tăng khoảng cách đưa thuốc)
Với bệnh nhân cao tuổi hoặc nghiện rượu hoặc bị các bệnh gan sẽ tăng nguy cơ độc với gan nhất là khi rifampicin phối họfp với isoniazid
e) Chỉ định
Rifampicin tác dụng với rất nhiều loại vi khuẩn, nhưng hiện nay
sử dụng ưu tiên trong điều trị lao phong Qiỉ sử dụng rifampicin để điều trị các nhiễm khuẩn khác khi thật cần thiết
- Điều trị tất cả các thể lao bao gồm cả lao màng não và nhiễm
M avium thường phải phối hợp với các thuốc chống lao khác như isoniazid,
pyrazyamid, ethambutol, Streptomycin để phòng trực khuẩn đột biến kháng
thuốc
- Điều trị phong: đối vód thể phong ít vi khuẩn theo phác đồ kết
hợp 2 thuốc, phối hợp rifampicin với dapson Đối với thể phong nhiều vi khuẩn, theo phác đồ 3 thuốc phối họfp rifampicin vói dapson và clofazimin
- Một số chỉ định khác: Phòng viêm não do H influenzae, N
meningitidis cho những người tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân chắc chắn
mắc bệnh đó
- Điều trị các nhiễm khuẩn nặng do các chủng Staphyloccocus, kể
cả các chủng đã kháng methicillin và đa kháng (phối hợp với các thuốc chống
tụ cầu) như viêm nội tâm mạc, viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết và viêm tuỷ xương [4]
Trang 20hệ thống enzym ở trẻ đẻ non và trẻ sơ sinh chưa hoàn thiện nên chỉ dùng rifampicin cho những người này khi cần thiết.
* Khi tiêm tĩnh mạch cần phải cẩn thận, tránh thoát mạch
* Phải báo trước cho bệnh nhân biết, phân, nước tiểu, nước bọt, nước mắt, mồ hôi và các dịch khác của cơ thể sẽ có màu đỏ trong khi đang dùng thuốc để tránh lo lắng không cần thiết Kính áp tròng có thể bắt màu vĩnh viễn
- Thời kỳ mang thai:
* Nếu dùng cho phụ nữ mang thai ở 3 tháng cuối có thể gây xuất huyết
do giảm prothrombin máu ở cả mẹ và trẻ sơ sinh Vì vậy để tránh xuất huyết cần dùng thêm vitamin K dự phòng cho người mẹ mang thai sau khi sinh và trẻ sơ sinh
* Các thí nghiệm trên súc vật cho rifampicin có khả năng gây dị tật ở xương Vì vậy rifampicin dùng cho phụ nữ có thai khi cân nhắc cẩn thận hiệu quả và nguy cơ
- Thời kỳ cho con bú: rifampicin đào thải qua sữa mẹ nhưng hầu như không xảy ra nguy cơ với trẻ.[4]
Trang 21g) Tương tác thuốc:
Rifampicin gây cảm ứng enzym cytochrom P450 làm tăng chuyển hoá
và bài tiết vì vậy tưoíng tác vód nhiều thuốc
* Các thuốc nên tránh dùng đồng thời với rifampicin: nifedipin,
nimodipin
* Các thuốc bị giảm tác dụng điều trị khi phối hợp với rifampicin, vì vậyphải điều chỉnh liều: estrogen, diazepam, phenytoin, ketoconazol,erythromycin, cloramphenicol, haloperidol
* Các thuốc bị giảm hấp thu gồm: co — trimoxazol
* Một số thuốc dùng cùng với rifampicin sẽ làm giảm hấp thu của rifampicin: Các kháng acid, clofazimin Khắc phục bằng cách uống cách nhau
8 - 1 2 giờ
* Ngoài ra isoniazid và các thuốc độc với gan dùng phối họfp với rifampicin sẽ làm tăng nguy cơ gây độc tính với gan, nhất là người đã bị suy gan.[4]
1.2.3 Các nguyên tắc cơ bản trong điều trị bệnh lao
Dựa trên cơ sở vi khuẩn học và dược lý học để đưa ra các nguyên tắc điều trị lao:
1) Phối hợp các thuốc chống lao: ít nhất là 3 loại thuốc trở lên trong giai đoạn tấn công Những nơi có bệnh nhân kháng thuốc ban đầu cao cần phối hợp 4 loại thuốc trong giai đoạn tấn công sau đó dùng 2 hoặc 3 loại thuốc trong giai đoạn duy trì
2) Thuốc phải dùng đúng liều trong ngày và cả trong quá trình điều trị: các thuốc chống lao có tác dụng hiệp đồng, mỗi thuốc có một nồng độ tác dụng nhất định, nếu dùng liều thấp sẽ không hiệu quả và dễ tạo ra chủng vi
Trang 22khuẩn kháng thuốc, dùng liều cao dễ gây tai biến đặc biệt là đối với gan và thận.
3) Thuốc phải dùng đều đặn: các thuốc phải được tiêm và uống cùng một lúc, cố định giờ trong ngày để có thể đạt được nồng độ đỉnh trong huyết thanh, thuốc phải được uống xa bữa ăn (trước hoặc sau) để đạt được hấp thu tối đa
4) Dùng thuốc đủ thời gian để tránh tái phát
5) Điều trị theo 2 giai đoạn duy trì và tấn công
* Giai đoạn tấn công kéo dài 2 - 3 tháng: mục đích giảm nhanh số lượng vi khuẩn lao trong các vùng tổn thương để ngăn chặn đột biến kháng thuốc
* Giai đoạn duy trì kéo dài 4 - 6 tháng: mục đích tiêu diệt các vi khuẩn lao trong tổn thương để tránh tái phát Giai đoạn này không cần dùng nhiều loại thuốc nhưng ít nhất phải có một loại thuốc có tính diệt khuẩn và đòi hỏi phải đủ thời gian quy định
6) Điều trị có kiểm soát nhằm mục đích theo dõi việc dùng thuốc của bệnh nhân, xử lý kịp thời các biến chứng của bệnh và tác dụng không mong muốn của thuốc [1]
Phác đồ điều trị thường bao gồm 2 giai đoạn: giai đoạn tấn công và giaiđoạn duy trì Giai đoạn tấn công, thường kéo dài 2 tháng, trực khuẩn lao bịtiêu diệt nhanh chóng Bệnh nhân mắc lao chuyển sang trạng thái không lây bệnh (thường sau khoảng 2 tuần điều trị) Hầu hết các bệnh nhân soi đờm dưoĩng tính chuyển thành âm tính sau khoảng 2 tháng điều tri Trong giai đoạn duy trì, số thuốc dùng ít hofn, thời gian điều trị dài hơn Giai đoạn này vi khuẩn còn lại sẽ bị tiêu diệt, tránh bệnh tái phát
Phác đồ điều trị lao do WHO khuyến cáo được thể hiện ở bảng 1.5
Trang 23Bảng 1.5 : Phác đồ điều trị lao theo khuyến cáo của WHO [8]
Loại Bệnh nhân lao
Phác đồ điều trị Giai đoạn
tấn công *
Giai đoạn duy trì *
I
Bệnh nhân soi đờiĩi dương túih mới;
Bệnh nhân có tổn thương nhu mô rộng
mới; Bệnh nhân mắc đồng thời HIV
hoặc các thể bệnh lao ngoài phổi khác
Bệnh nhân lao phổi có kết quả soi đờm
dương tính đã từng được điều trị:
Bệnh nhân lao phổi, kết quả soi đờm
âm túih (trừ bệnh nhân nhóm 1)
Bệnh nhân lao ngoài phổi mức độ nhẹ
2HRZE
4 HR hoặc 6 HE
dùng hàng ngày
IV
Bệnh nhân lao đa kháng thuốc (kết quả
soi đờm dương túứi sau khi điểu trị lại
có kiểm soát)
Phác đồ được thiết kế phù hợp cho từng bệnh nhân
Dùng hàng ngày hoặc 3 lần/tuần
1.3 MỘT SỐ NGHIÊN c ú u VÊ KẾT q u ả ĐIỀU t r ị s a u 2 THÁNG TẤN CÔNG VÀ NồNG ĐỘ RIFAMPICIN HUYẾT TƯƠNG
Trang 24Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về nồng độ thuốc rifampicin huyết tương trên bệnh nhân.
Nồng độ rifampicin tối ưu trong điều trị là từ 8 - 24 |xg/ml Bệnh nhân có nồng độ rifampicin huyết tương dưói 6 |Lig/ml đã phải hiệu chỉnh liều [23].Tác giả J Ray và cộng sự [18] tại bệnh viện St Vincent và bệnh viện Westmead, Sydney, Australia đã nghiên cứu giám sát trên 90 bệnh nhân thấy nồng độ rifampicin huyết tương bệnh nhân dao động lớn giữa các cá thể, trong
đó 46% bệnh nhân có nồng độ rifampicin huyết tưcỉng ờ thời điểm 2 giờ nằm
dưới nồng độ điều trị (8 - 24íxg/ml) và 2 bệnh nhân có nồng độ cao hcín nồng
độ điều trị
Jayant B Mehta và cộng sự [16] ở Mỹ nghiên cứu nồng độ rifampicin
trong điều trị trên bệnh nhân lao chậm đáp ứng với phác đồ cơ bản của DOTS Nghiên cứu được thực hiện trên 124 bệnh nhân lao, trong số đó 6 bệnh nhân biểu hiện đáp ứng chậm với điều trị, Sáu bệnh nhân này đều có nồng độ rifampicin huyết tương tại thòỉi điểm 2 giờ sau khi uống thuốc thấp hơn nồng
độ điều trị, 3 trong số 6 bệnh nhân có nồng độ rifampicin huyết tương dưới 1 fig/ml Rifampicin huyết tương đạt nồng độ điều trị ở 5/6 bệnh nhân khi tăng liều rifampicin lên 900 mg/ngày ở 1 bệnh nhân, phải tăng liều lên 1500mg rifampicin /ngày mới đạt nồng độ điều trị Tình trạng lâm sàng được cải thiện
rõ rệt khi nồng độ rifampicin huyết tương đạt nồng độ điều trị Không có bệnh nhân nào thể hiện có tác dụng phụ khi tăng liều rifampicin
R van Crevel và cộng sự [19] tại Khoa Y Trường Đại Học Tổng Hợp Indonesia nghiên cứu nồng độ rifampicin trên 62 bệnh nhân lao tại Jakarta,
Indonesia thấy có tới 70 % bệnh nhân có nồng độ rifampicin ở thời điểm 2 giờ uống thuốc có nồng độ dưói 4 ịig/mì Không có bệnh nhân nào tói nồng độ
độc
Một số kết quả nghiên cứu của các tác giả [15], [16], [18], [19], [20] ừên thế giói cho thấy kết quả nồng độ rifampicin dao động lớn giữa các cá thể và một số nghiên cứu lại cho thấy nồng độ của thuốc thấp trên đa số bệnh nhân nghiên cứu
Tại Việt Nam, những nghiên cứu đầu tiên về nồng độ rifampicin huyết tương đã được công bố
Trang 25Lê Thị Luyến và cộng sự [10] nghiên cứu đánh giá sinh khả dụng của rifampicin trong viên hỗn hợp 2 và 3 thành phần đang sử dụng tại Việt Nam, được tiến hành trên 12 người tình nguyện lấy máu tại 13 điểm cho kết quả như sau:
Bảng 1.6; Sinh khả dụng tương đối của rỉýampỉcin trong viên RH, RHZ
so với viên đơn lẻ và các thông số dược động học [10]
(ng/ml )
Tmax(giờ)
Trang 26PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1 ĐỐI TUỢNG NGHIÊN c ú u
2.1.1 Số lượng bệnh nhân
Số lượng bệnh nhân đã chọn là 72 bệnh nhân lao phổi AFB (+) điều trị tại Bệnh viện lao và bệnh phổi Hà Nội từ 07/04 đến 03/05 được lựa chọn theo
các tiêu chuẩn ở mục 2.1.2.
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ bệnh nhân lao
a) Tiêu chuẩn lựa chọn
Bệnh nhân có các tiêu chuẩn sau được tham gia vào nghiên cứu:
-Tuổi: trên 18 tuổi
-Qiức năng gan, thận trước điều trị bình thường
-Bệnh nhân được chẩn đoán là lao phổi AFB (+), được điều trị theo phác đồ chuẩn của CTCLQG tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hà Nội, có sử dụng riíampicin
b) Tiêu chuẩn loại trừ
Các bệnh nhân có một trong các tiêu chuẩn sau sẽ loại khỏi nghiên cứu:
-Phụ nữ cổ thai
-Bệnh nhân nhiễm HIV (+)
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ú u
2.2.1 Loại hình nghiên cứu và nội dung nghiên cứu
2.2.1.1 Loại hình nghiên cứu : Nghiên cứu tiến cứu
2.2.L2 Nội dung nghiên cứu
Theo dõi những diễn biến về lâm sàng, vi sinh trong 2 tháng điều trị tấn
công Các dữ liệu của mỗi bệnh nhân được ghi vào phiếu theo dõi bệnh nhân
nghiên cứu (phụ lục) Nội dung nghiên cứu gồm:
Trang 27a) Đánh giá kết quả sau 2 tháng điều trị tấn công bằng thuốc chống lao
• Sự biến đổi triệu chứng lâm sàng sau 2 tháng điều trị tấn công: so sánh
sự thay đổi các triệu chứng cơ năng, thực thể như: ho khan, ho ra đờm, ho ra máu, sốt, có hay không có ran ở phổi, khó thở đau ngực so với trước điều trị
• Sự biến đổi về vi sinh sau 2 tháng điều trị tấn công: Kết quả xét nghiệm đờm bằng phưofng pháp soi trực tiếp tại Khoa vi sinh của Bệnh viện lao và bệnh phổi Hà Nội, tại các Phòng khám lao các quận huyện trên địa bàn Hà Nội
Đánh giá tình hình âm hoá AFB trong đờm theo tiêu chuẩn của CTCLQG
Bảng 2.1 : Đánh giá khả năng âm hoá đờm theo
tiêu chuẩn của CTCLQG [1]
Số lượng vi khuẩn Kết quả Phân loại kết quả
Không có AFB/100 vi trường Am tính
4-9 AFB/100 vi trường Dưoỉng tính Ghi vi khuẩn cụ thể
>10/ 1 vi trường Dương tính 3+
b) Khảo sát nồng độ riíampicin huyết tương bệnh nhân lao AFB(+)
- Định lượng rifampicin huyết tương ừên những bệnh nhân ờ 2 ứiời điểm
2 và 3 giờ sau khi uống thuốc đã được lựa chọn tìieo tiêu chuẩn ở mục 2.1.2
- Khảo sát mối liên quan giữa nồng độ riíampicin huyết tưoĩng với liều điều trị, tuổi bệnh nhân, giới, thể lao, và kết quả vi sinh sau 2 tháng điều tiị
2.2.2 Phương pháp tiến hành
2.2.2.I Thu thập bệnh nhân vào nghiên cứu
Bệnh nhân vào điều trị tại Khoa nội 1 - Bệnh viện lao và bệnh phổi Hà Nội được chọn lọc theo tiêu chuẩn đã định ở mục 2.1.2 Những thông tin của bệnh nhân được ghi vào phiếu theo dõi bệnh nhân trong phụ lục