Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của việt nam trong những năm gần đây
Trang 1ĐÁNH GIÁ MỘT SÔ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CUNG ÚNG TRANG THIẾT BỊ Y TẾ CỦA
Người hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Song Hà
Nơi thực hiện : Bộ môn Quản lý và Kinh T ế Dược
Vụ TTB và CTY tế-Bộ Y tế
Thời gian thực hiện: 12/2006-5/2007
\ị ụ 5£ậ: [ ,7
HÀ NỘI- 05/2007
Trang 2người đã hướng dẫn giúp tôi tận tình trong suốt quá trình làm khoá luận tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Th.KS Nguyễn Minh Tuấn-Phó Vụ trưởng Vụ TTB-CTYT-Bộ Y tế, người đã giúp tôi rất nhiệt tình trong quá trình thu thập tài liệu và số liệu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, cùng toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã giúp đỡ tồi trong suốt quá trình học tập và làm khoá luận tốt nghiệp.
Tôi cũng xin cảm ơn DS.Nguyễn Trọng Quý-TGĐ Vimedimex ỉ, KS.Dương Hoài Giang-TGĐ Medinsco, đã cung cấp thông tin để tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới cha mẹ, cảm ơn tới người thân
và bạn bè, những người luôn động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2007
Sinh viên Đào Việt Hưng
Trang 3ĐẶT VÂN ĐỂ
PHẦN 1: TỔNG QUAN
1.1 Một vài nét đại cương về trang thiết bị y tế 3
1.1.1 Khái niệm về trang thiết bị y tế: 3 1.1.2 Phân loại trang thiết bị ỵ tế 6
1.2 Một vài nét về hoạt động cung ứng trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây 7
1.2.1 Tình hình cung ứng trang thiết bị y tế của các nước trong khu vực và trên thế giới 7 1.2.2 Hoạt động cung ứng trang thiết bị y tế tại Việt Nam 9
1.3 Một số văn bản pháp quy trong lĩnh vực quản lý cung ứng trang
thiết bị y tế ồ Việt Nam 19
PHẦN 2:ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 222.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22 PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u VÀ BÀN LUẬN
3.1 Nghiên cứu hoạt động cung ứng trang thiết bị y tế của nước ta theo
một số chỉ tiêu 253.1.1 Nghiên cứu về tổ chức và cơ cấu nhân lực trong ngành trang thiết bị ytế 25
3.1.2 Nghiên cứu về màng lưới phân phối trang thiết bị y tế của nước ta
hiện nay 28
Trang 43.1.4 Nghiên ám về kim ngạch nhập khẩu trang thiết bị y tế vào Việt
Nam T7^ 433.1.5 Nghiên cứu về tình hình đầu tư trang thiết bị y tế tại các cơ sở 45
3.1.6 Nghiên cứu việc quản lý chất lượng trang thiết bị y tế hiện nay 51
3.2 Sơ bộ phân tích thích ứng của một số văn bản pháp quy trong lĩnh vực quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của nước ta: 59
3.2.1 Phân tích tính thích ứng của một số văn bản này 59 3.2.2 Phân tích một số nội dung chưa phù hợp của một số vấn bản này 61
5.1.1 Về hoạt động cung ứng trang thiết bị y tế của nước ta hiện nay 72 5.1.2 Về tính thích ứng của một số văn bản pháp quy trong quản lý cung ứng trang thiết bị y tế hiện nay 74
5.2 Đề xuất 75
5.2.1 Vê hệ thống cung ứng trang thiết bị ỵ tế của nước ta hiện nay 75 5.2.2 Về hệ thống văn bản pháp quy trong quản lý cung ứng trang thiết bị ỵ
tế hiện nay 76
Trang 5Bảng 1.1 Bảng phân loại trang thiết bị y tế bệnh viện 6
Bảng 1.2 Bảng phân loại trang thiết bị y theo nội dung
chuyên môn
7
Bảng 1.3 Tổng hợp trang thiết bị y tế sản xuất trong nước
đang được sử dụng tại các cơ sở y tế trong toàn
Bảng 1.5 Công suất sử dụng trang thiết bị y tế ở một số nước 16
Bảng 1.6 rỷ lệ % bệnh viện đa khoa có máy CT, X-quang và
náy xét nghiệm sinh hoá
16
Bảng 1.7 Số lượng một số trang thiết bị cơ bản của bệnh viện 18
Bảng 3.8 Cơ cấu nguồn nhân lực chuyên ngành kỹ thuật
Bảng 3.10 Số lượng công ty nhập khẩu trang thiết bị y tế 31
Bảng 3.11 Số lượng cơ sở sản xuất TTBYT được cấp giấy 33
Trang 6Bảng 3.13 Các loại hình cơ sản xuất trang thiết bị y tế năm
2006
34
Bảng 3.14 Số cơ sở khám, chữa bệnh qua các năm 35
Bảng 3.15 TTB máy móc hiện đại được đầu tư tại bệnh viện
Bảng 3.17 Cơ cấu TTBY tế nhập khẩu theo nguồn gốc xuất xứ 39
Bảng 3.18 Tổng kết số liệu TTBYT hiện đại phân bố tại các
Bảng 3.20 Trị giá nhập khẩu trực tiếp TTBYT năm 2003-2006 44
Bảng 3.21 Tổng hợp về tình hình, cơ cấu đầu tư cho 3 TTYT
chuyên sâu
49
Bảng 3.22 Cơ cấu đầu tư cho toàn bộ chương trình TTYTCS 50
Bảng 3.23 Kết quả kiểm chuẩn trang thiết bị y tế năm 2005 55
Trang 7SO HINH TÊN HÌNH TRANG
Hình 1.1 Sơ đồ biểu diễn mối quan hệ giữa thầy thuốc, thuốc
và TTBYT
5
Hình 2.2 Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu 24
Hình 3.3 Sơ đồ tổ chức ngành TTBYT 26
Hình 3.4 Sơ đồ màng lưới phân phối TTBYT 29
Hình 3.5 Tỷ lệ các loại hình DN kinh doanh TTBYT 31
Hình 3.6 SỐ lượng công ty nhập khẩu TTBYT 32
Hình 3.7 Sô lượng cơ sở sản xuất 1TBYT được cấp SDK 33
Hình 3.8 Tỷ lệ các nước xuất khẩu TTBYT vào Việt Nam
năm 2006
40
Hình 3.9 Tỷ lệ TTBYT hiện đại có đến ngày 31/12/2005 42
Hình 3.10 Kim ngạch NK TTBYT(triệu USD) 44
Hình 3.11 Giá trị nhập khẩu của 2 công ty Vimedimex I và
Medinsco
44
Hình 3.12 Quy trình đăng ký lưu hành sản phẩm trang thiết bị
y tế sản xuất trong nước
52
Hình 3.13 Quy trình thẩm định, cấp giấy phép nhập khẩu
TTBY tế
53
Trang 9toàn xã hội Trong đó sức khoẻ của mỗi cá nhân là nguồn vốn quý nhất, là tài sản của mỗi quốc gia Để thực hiện tốt chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong giai đoạn hiện nay không thể thiếu vai trò của thuốc và trang thiết bị y tế Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, trang thiết bị y tế càng thể hiện rõ vai trò quan trọng trong công tác y tế không chỉ vì nó giúp thầy thuốc nghiên cứu phát hiện bệnh sớm và chính xác mà còn quyết định hiệu quả và chất lượng của công tác khám chữa bệnh.
Trong điều kiện đất nước mới ở những bước đi đầu trên con đường hội nhập, hệ thống quản lý trang thiết bị y tế còn chưa đồng bộ và đang ở giai đoạn hoàn thiện Một yêu cầu bức thiết đặt ra là cần phải có những điều chỉnh hợp lý đối với hệ thống này, nhằm theo sát sự phát triển của đất nước
và không gây lãng phí cho ngân sách nhà nước, đồng thời vẫn giúp cho người dân Việt Nam được hưỏng những tiến bộ mới nhất, kịp thời nhất của khoa học kỹ thuật trên thế giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ
Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, với mức thu nhập bình quân đầu người còn thấp, khả năng chi trả cho dịch vụ y tế hạn hẹp, cần đầu tư và sử dụng trang thiết bị y tế hợp lý để bảo đảm người dân tiếp cận được khi cần thiết, nhưng lại không sử dụng lãng phí tạo gánh nặng cho xã hội
Nghiên cứu, đánh giá các hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y
tế là một lĩnh vực không thể thiếu, nhằm tìm ra những mặt tích cực và hạn chế của hệ thống tổ chức, quản lý cung ứng trang thiết bị y tế Làm cho hệ thống tổ chức này ngày càng hoạt động hiệu quả hơn trong lĩnh vực trang thiết bị y tế, phục vụ tốt công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Trang 10“Đánh giá một số hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế tại Việt Nam trong những năm gần đây”
Với các mục tiêu sau:
1 Đánh giá hoạt động cung ứng trang thiết bị y tế của nước ta dựa trên một số chỉ tiêu.
2 Sơ bộ phân tích tính thích ứng của một số văn bản pháp quy trong ữnh vực quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Để từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém, khai thác những điểm mạnh góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình quản
lý cung ứng trang thiết bị y tế của nước ta
Trang 11PHẦN 1: TỔNG QUAN
1.1 Một vài nét đại cương về trang thiết bị y tế.
1.1.1 Khái niệm về trang thiết bị y tế:
* Theo uỷ ban tư vấn về tiêu chuẩn chất lượng ASEAN/nhóm công tác
về các sản phẩm trang thiết bị y tế ACCSQ-MDPWG.
Trang thiết bị y tế là những dụng cụ, bộ dụng cụ, thiết bị máy móc, vật dụng, mô cấy, thuốc thử trong phòng thí nghiệm, phần mềm, nguyên vật liệu hay các vật phẩm tương tự hoặc có liên quan khác được dùng trong ngành y tế
Thiết bị y tế được các nhà sản xuất thiết kế để sử dụng độc lập hay kết hợp với nhau ở người, phục vụ một hay nhiều mục đích khoa học cụ thể như:
+ Chẩn đoán, phòng ngừa, theo dõi, điều trị hay làm nhẹ bệnh.
+ Chẩn đoán, theo dổi, điều trị, làm dịu hay phục hồi thương tổn.
+ Kiểm tra, thay thế, điều chỉnh, hoặc hỗ trợ công tác giải phẫu hay các quy trình sinh lý khác.
+ Hỗ trợ hoặc duy trì sự sôhg.
+ Kiểm soát sự thụ thai.
Trang 12* Theo Bộ Y tế:
Trang thiết bị y tế bao gồm các loại máy, thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho công tác khám chữa bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, cụ thể là:
Thiết bị y tế: Các loại máy, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị đồng bộ
phục vụ cho công tác chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng, nghiên cứu khoa học và đào tạo trong lĩnh vực y tế
Phương tiện vận chuyển chuyên dụng bao gồm: Phương tiện chuyển
thương (xe cứu thương, xuồng máy, ghe máy chuyển thương, xe ô tô cứu thương), xe chuyên dùng lưu động cho y tế (X-quang, xét nghiệm lưu động, chuyên chở vắc xin, )•
Dụng cụ vật tư y tế gồm: Các loại dụng cụ, vật tư hoá chất xét nghiệm
được sử dụng cho công tác chuyên môn trong khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ
Các loại dụng cụ, vật tư cấy, ghép trong cơ thể: Xương nhân tạo, nẹp
vít cố định xương, van tim, ống nong mạch, ốc tai điện tử, thuỷ tinh thể (hàng năm tuỳ theo sự phát triển của khoa học vật liệu y học, Bộ Y tế sẽ có danh mục bổ sung)
Trang thiết bị y tế nói chung được dùng trong công tác chẩn đoán và điều trị bệnh có cấu tạo phức tạp và chủng loại đa dạng Trang thiết bị y tế
là tổng hợp của nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật như: ngành tin học, điện
tử, cơ khí, quang học, tự động hoá, Trong khuyên cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO), trang thiết bị y tế là một lĩnh vực kỹ thuật chuyên môn của ngành y tế, trang thiết bị y tế là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác y tế, hỗ trợ tích cực cho ngưòi thầy thuốc trong công tác phòng bệnh và chữa bệnh Trang thiết bị y tế là một trong 3 nội dung cấu thành ngành y tế: thầy thuốc, thuốc và trang thiết bị, 3
Trang 13lĩnh vực này gắn kết vói nhau, nếu thiếu một trong 3 lĩnh vực này thì ngành
y tế không thể hoạt động được [5] [6] (xin xem hình 1.1)
Vài thập kỷ trở lại đây cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học
kỹ thuật, nhiều thành tựu khoa học tiên tiến được áp dụng đã tác động tói mọi mặt của nền kinh tế, trong đó có ngành trang thiết bị y tế Các trang thiết bị y tế ngày càng hiện đại, và ngày càng trở nên quan trọng quyết định đến hiệu quả, chất lượng của công tác khám chữa bệnh, chẩn đoán bệnh và phục hồi chức năng
Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân đòi hỏi chất lượng ngày càng cao Trang thiết bị y tế hỗ trợ tích cực cho người thầy thuốc trong công tác khám và chữa bệnh Do vậy, lĩnh vực trang thiết bị y tế cần được tăng cường đầu tư cả về số lượng và chất lượng, đảm bảo tính khoa học và hiệu quả
Nhiều loại trang thiết bị y tế hiện đại được đưa vào sử dụng trong các
cơ sở y tế như: máy CT-scaner, cộng hưởng từ (MRI), thiết bị siêu âm mầu Dopler, thiết bị laser phẫu thuật nội soi, máy gia tốc tuyến tính trong điều trị u biếu, máy xét nghiệm sinh hoá nhiều chỉ số, Những trang thiết bị y tế hiện đại này góp phần đắc lực giúp cho các Bác sỹ chẩn đoán và điều trị bệnh tói 80% [8]
Trang 141.1.2 Phân loại trang thiết bị y tế
Dựa vào các công dụng của trang thiết bị, ngày nay người ta có thể phân loại trang thiết bị y tế bệnh viện ra 10 nhóm thiết bị chính như sau [8][10]:
Bảng 1.1: Bảng phân loại trang thiết bị y tế bệnh viện
Trang 15Dựa vào các nội dung chuyên môn của y học, ngày nay người ta có thể phân loại trang thiết bị y tế thành 4 loại [8] [10]:
Bảng 1.2: Bảng phân loại trang thiết bị y theo nội dung chuyên môn
1 Thiết bị y tế: Các loại máy, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị đồng bộ phục vụ cho công tác chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng, nghiên cứu khoa học và đào tạo trong lĩnh vực y t ế
2 Phương tiện vận chuyển chuyên dụng bao gồm: Phương tiện chuyển thương (xe cứu thương, xuồng máy, ), xe chuyến dụng lưu động cho y tế
3 Dụng cụ vật tư y tế bao gồm: Các loại dụng cụ, vật tư, hoá chất xét nghiệm được sử dụng cho công tác chuyên môn trong khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ
4 Các loại vật tư, dụng cụ cấy ghép trong cơ thể gồm: Xương nhân tạo, vít cố định xương, van tim, tai ốc điện tử, thuỷ tinh thể nhân tạo, Ngoài sự phân loại có tính chất tương đối trên, để đảm bảo sự thốngnhất trong toàn ngành, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành danh mục bao gồm
123 họ trang thiết bị y tế được sử dụng trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
1.2 Một vài nét về hoạt động cung ứng trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giói và ở Việt Nam trong những năm gần đây.
1.2.1 Tình hình cung ứng trang thiết bị y tế của các nước trong khu vực
và trên thế giới.
Trong vài thập kỷ trở lại đây, nhờ vào tiến bộ của khoa học kỹ thuật nhiều loại trang thiết bị y tế hiện đại ra đời, giúp cho việc chẩn đoán bệnh một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn và hiệu quả, do đó ít gây ra các biến chứng cho người bệnh
Trang 16Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong các trang thiết bị y tế giúp cho người thầy thuốc vững tin và yên tâm trong việc khám và điều trị bệnh, đồng thời còn giúp cho người bệnh thêm yên tâm, tin tưởng và hi vọng hơn vói việc đẩy lùi những căn bệnh nguy hiểm.
Cho đến hiện nay chưa một nước nào trên thế giới sản xuất đủ trang thiết bị y tế để phục vụ cho hoạt động y tế của quốc gia đó, vì trang thiết bị
y tế rất đa dạng về chủng loại và có rất nhiều mẫu mã, kiểu dáng trong cùng chủng loại Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới, hiện có hơn 20.000 loại trang thiết bị y tế đang được sử dụng, từ những thiết bị hiện đại như máy cộng hưởng từ (MRI), máy chụp mạch máu (Angiography), CT- Scanner đa dãy đầu dò, đến các loại đơn giản như: Vít, nẹp dùng trong phẫu thuật chỉnh hình, kim khâu phẫu thuật, bông băng gạc và cồn tiệt trùng.Các hãng sản xuất trang thiết bị y tế nổi tiếng trên thế giới như GE (Mỹ), Siemens ( Đức ), Philips ( Hà Lan ), Toshiba ( Nhật Bản ) thì doanh thu của bộ phận trang thiết bị y tế cũng chỉ đạt từ 14 đến dưới 20% tổng doanh thu của toàn hãng, những mặt hàng của họ có mặt tại hầu hết các quốc gia trên thế giới Các nước trong khu vực cũng chỉ tập trung vào sản xuất những trang thiết bị y tế thông dụng và có tiềm năng, nhung mục tiêu vươn tới xuất khẩu rất rõ
Thái Lan sản xuất máy, ghế răng theo thiết kế của Nhật và Mỹ hiện đã cung cấp cho 24 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Nồi hấp dung tích vừa và lớĩi đã xuất khẩu tới hơn 30 nước
Indonesia sản xuất các loại giường cấp cứu đa năng (Paramount Bed) theo thiết kế của Nhật đã cung cấp tới 15 quốc gia trên thế giới
Xét về giá trị kinh tế, trang thiết bị y tế cũng chiếm một phần hết sức
to lớn: Tổ chức y tế thế giới (WHO), đã báo động cho cộng đồng thế giới rằng khối lượng tài sản trang thiết bị y tế trên toàn thế giới là khổng lồ, chi phí hàng năm để duy trì hoạt động và bổ sung trang thiết bị y tế gấp 1,5 lần
Trang 17chi phí cho thuốc chữa bệnh của toàn nhân loại Hiện tượng lãng phí tiền của trong lĩnh vực này là khá lớn Để minh hoạ cho điều này thông qua đợt khảo sát điều tra năm 1994, WHO đã công bố ở một số nước đang phát
triển ở Nam Mỹ như sau:
+ Tổng giá trị trang thiết bị y tế khoảng: 5 tỷ USD.
+ Sô' lượng trang thiết bị y tế bị hỏng, không sử dụng được khoảng: 2 tỷ
USD ( chiếm 40% tổng giá trị trang thiết bị y tế).
+ Chi phí hàng năm cho việc bảo dưỡng, sửa chữa, kiểm định trang thiết
bị y tế là 650 triệu USD ( chiếm 13% tổng số kinh phí của trang thiết bị y tế).
+ Chí phí hàng năm cho thuốc chữa bệnh khoảng: 400 triệu USD.
Như vậy ta có thể thấy trang thiết bị y tế có vai trò rất to lớn trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân loại Việc áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất trang thiết bị y tế hiện đại đã đem lại cho con người rất nhiều lợi ích Tuy nhiên việc sử dụng và cung ứng trang thiết bị y
tế trên thế giới đang còn chưa hợp lý, chưa phát huy được hết hiệu quả nên chưa đạt được kết quả như mong muốn
1.2.2 Hoạt động cung ứng trang thiết bị y tế tại Việt Nam.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về trang thiết bị y tế có chất lượng, chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế khuyến khích tăng cường sản xuất trong nước Tuy nhiên, vì các doanh nghiệp trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu, nước ta vẫn phải nhập khẩu nhiều trang thiết bị y tế
Trong quá trình phát triển khoa học kỹ thuật, chất lượng trang thiết bị
y tế ngày một nâng cao Số lượng và loại doanh nghiệp kinh doanh trang thiết bị y tế ngày càng đa dạng, yêu cầu quản lý chất lượng và tiêu chuẩn trang thiết bị y tế đòi hỏi phải xây dựng thêm nhiều quy định và tiêu chuẩn mới
Trang 18Lĩnh vực trang thiết bị y tế đã đạt được những kết quả nhất định sau 4 năm triển khai Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế giai đoạn 2002-
2010 và sau 2 năm thực hiện Đề án nghiên cứu chế tạo và sản xuất trang thiết bị y tế đến năm 2010 Nhưng nhìn nhận lại chúng ta còn đứng trước những tồn tại và thách thức lớn trong quá trình hội nhập:
+ Trang thiết bị y tế của nước ta hiện nay nhìn chung còn thiếu, chưa được
hiện đại hoá, đầu tư đồng bộ so với các nước trong khu vực Phần lớn trang thiết bị ỵ tế là hàng nhập khẩu, nhiều thiết bị đang được sử dụng tại các cơ sởy tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng sửa chữa kịp thời.
+ Các cơ sở sản xuất trang thiết bị y tế còn ít, nhỏ lẻ và chưa được đầu tư
đúng mức để đổi mới công nghệ sản xuất, do vậy chất lượng sản phẩm trang thiết bị y tế chưa được cao và chủng loại chưa đáp ứng được yêu cầu
+ Hệ thống kinh doanh, xuất nhập khẩu trang thiết bị y tế chưa hoàn
chỉnh, thiếu vốn, thiếu thông tin và chưa đủ cán bộ có năng lực quản lý, chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ thương mại.
Trang thiết bị y tế là một loại hàng hoá đặc biệt, vì vậy nhu cầu và sử dụng trang thiết bị y tế có quan hệ mật thiết với trình độ khoa học công nghệ Trang thiết bị y tế càng hiện đại, càng đòi hỏi khoa học công nghệ cao, giá thành lớn Với trình độ khoa học công nghệ và kinh tế nước ta hiện nay, để đáp ứng nhu cầu về trang thiết bị y tế, thì hoạt động cung ứng phát triển mạnh mẽ hơn hoạt động sản xuất trang thiết bị y tế
1.2.2.1 Thực trạng về công tác sản xuất trang thiết bị y tế tại Việt Nam.
Ngày 21/01/2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án nghiên
cứu chế tạo và sản xuất trang thiết bị y tế (QĐ số 18/2005/QĐ-TTg) Mục tiêu của đề án là phát triển một cách toàn diện lĩnh vực trang thiết bị y tế Lĩnh vực công nghiệp trang thiết bị y tế được coi là một nội dung quan trọng cần được tập trung đầu tư về nhân lực, tài lực, và phải có chính sách
ưu tiên Để phát triển sản xuất trang thiết bị y tế cần có sự tham gia của
Trang 19nhiều Bộ, Ngành liên quan với chủ trương xã hội hoá và đa dạng hoá, tiến tói có thể tham gia xuất khẩu trang thiết bị y tế.
Theo đề án nghiên cứu này phải tập trung tiềm lực khoa học công nghệ trong cả nước nhằm hình thành và phát triển ngành cồng nghiệp sản xuất trang thiết bị y tế của Việt Nam Với mục tiêu đến năm 2010 có thể sản xuất, cung ứng các trang thiết bị y tế thiết yếu, thông dụng và một số trang thiết bị y tế công nghệ cao cho các tuyến y tế, bảo đảm thực hiện được mục
tiêu của chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế giai đoạn 2002 - 2010 Đề
án cũng nêu rõ các nguyên tắc lựa chọn trong việc nghiên cứu, chế tạo và sản xuất trang thiết bị y tế như: tiếp tục nâng cao chất lượng, hoàn thiện và cải tiến mẫu mã các sản phẩm trang thiết bị y tế trong nước sản xuất được,
có chất lượng tốt để hướng dần ra xuất khẩu
Với chủ trương nội địa hóa sản phẩm trang thiết bị y tế, giảm dần nhập khẩu trang thiết bị y tế mà trong nước có thể sản xuất được Bộ Y tế đã tăng cường chỉ đạo và định hướng hệ thống sản xuất kinh doanh trang thiết bị y
tế Từ chỗ chủ yếu là nhập khẩu, đến nay nền công nghiệp trang thiết bị y tế Việt Nam đã đảm bảo được khoảng 30% đến 40% nhu cầu về trang thiết bị
y tế trong nước, hàng năm đã có một số mặt hàng xuất khẩu cho một số nước Châu Âu, Đài loan, Hồng Kông, Liên Bang Nga, Đến năm 2010, chỉ tiêu đặt ra phải sản xuất 60% trang thiết bị y tế thông dụng
Đến nay chúng ta đã sản xuất được:
+ Trang thiết bị nội thất y tế như: giường, tủ bệnh nhân, xe đẩy v.v
+ Một số thiết bị cơ, điện như: máy hút dịch, máy lắc máu, tủ sấy và nồi
sấy dung tích nhỏ.
+ Dụng cụ cao su y tế ị găng tay, condoms), dụng cụ nhựa y tế (bơm tiêm
một lần, dây truyền dịch ).
+ Một số thiết bị điện tử y tê'như: thiết bị vật lý trị liệu, dao mổ điện, dao
mổ Plasma, dao mổ Laser, máy phá sỏi ngoài cơ thể, điện châm, v.v
Trang 20+ Một số vật liệu cấy ghép trong cơ thể bằng Composite và thép không gỉ
và nhiều loại vật tư khác.
Bảng 1.3: Tổng hợp trang thiết bị y tế sản xuất trong nước đang được
sử dụng tại các cơ sở y tế trong toàn ngành.
TT Tên chủng loại vật
tư, thiết bị
TL% tính theo tổng kinh phí chỉ cho cùng chủng loại
Đặc biệt:
- Máy tán sỏi ngoài cơ thể đạt gần 40% thị phần trên toàn quốc.
- Bơm tiêm loại 1,2, 5 ,50ml đạt gần 100% thị phần trên toàn quốc.
ị Nguồn: Báo các của các cơ sở y tế ngày 261412006)
Tuy nhiên, các thiết bị điều trị như Vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, laser ngoại khoa, dao mổ điện chỉ chiếm khoảng 5%, đồng thời tính năng
kỹ thuật còn thấp hơn so với hàng nhập ngoại và hay bị hỏng vặt Bên cạnh
đó các thiết bị bệnh viện khác như nồi hấp, lò đốt rác, máy giặt chỉ chiếm
Trang 21số lượng khiêm tốn ( khoảng 2,5%), kiểu dáng công nghiệp cũng hạn chế
[10]
Theo thống kê tại hội nghị ngành trang thiết bị y tế Việt Nam, hiện nay trên cả nước có 56 cơ sở sản xuất trang thiết bị được thẩm định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất trang thiết bị y tế và mới sản xuất được khoảng 5% (về số lượng) thiết bị y tế hiện đại, tổng cộng có 621 sản phẩm trang thiết bị y tế sản xuất trong nước được Bộ Y tế cấp giấy chứng nhận đăng ký lưu hành
Vấn đề lớn nhất quyết định tói năng lực sản xuất, chất lượng và giá thành sản phẩm của các cơ sở sản xuất là “đầu ra” Mặc dù đã có một số sản phẩm được bán ra với số lượng lớn, song sản phẩm trang thiết bị y tế sản xuất trong nước chưa được nhiều cơ sở y tế đón nhận Ở đây còn có cả
lý do chủ quan và khách quan (chủ quan: chất lượng hàng sản xuất trong nước chưa cao, đôi khi còn hỏng vặt; Khách quan: thói quen sử dụng hàng
“nhập ngoại” còn khá nặng trong các cán bộ chuyên môn y tế) Tuy nhiên vói hệ thống cung ứng trang thiết bị y tế đa dạng và phong phú như hiện nay các cơ sở y tế có nhiều điều kiện tham khảo, lựa chọn nhiều mặt hàng trang thiết bị y tế có chất lượng và giá cả phù hợp với yêu cầu khám chữa bệnh tại cơ sở
1.2.2.2 Một vài nét về tình hình cung ứng trang thiết bị y tế tại Việt Nam
Hệ thống cung ứng và lưu thông phân phối trang thiết bị y tế được hình thành một mạng lưới từ TW đến địa phương và được mở rộng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế như doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp
tư nhân, các công ty liên doanh, Phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp cung ứng trang thiết bị y tế rất rộng, được quyền chủ động kinh doanh các mặt hàng do Bộ Y tế quy định, liên doanh với các công ty trong nước và nước ngoài Dưới tác động của cơ chế thị trường hiện nay, các công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh trang thiết bị y tế phải cạnh tranh để tồn tại
Trang 22Ở TW có 3 công ty thiết bị y tế TW nằm ở 3 miền đó là:
+ Công ty thiết bị y tế TW1 Hà Nội ( công ty cổ phần thiết bị y tế
* MEDINSCO ) cung cấp theo nhu cầu các đơn vị và bệnh viện tỉnh từ Huế
trở ra
+ Công ty thiết bị y tế TW III Đà Nẵng (công ty cổ phần thiết bị y tế
Danameco) cung cấp trang thiết bị y tế cho các cơ sở y tế của các tỉnh từ
bị y tế do các công ty trang thiết bị y tế TW cấp
Tại các huyện có các cửa hàng kinh doanh vật tư dụng cụ y tế và các cửa hàng dược- vật tư y tế
Ngoài các công ty Nhà nước còn có các công ty TNHH hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh và dịch vụ kỹ thuật y tế Đến năm 2004, trên địa bàn Hà Nội có khoảng 8 công ty TNHH kinh doanh trong lĩnh vực này.Còn các hãng và văn phòng đại diện của các tập đoàn lớn về trang thiết
bị y tế của thế giói đặt tại Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh làm nhiệm vụ cung cấp và giới thiệu những sản phẩm hiện đại nhất của trang thiết bị y tế đang được sử dụng tại các nước tiên tiến
1.2.2.3 Tình hình sử dụng trang thiết bị y tế tại Việt Nam
Trang thiết bị y tế là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác chăm sóc, bảo vệ nhân dân Trong hơn 10 năm thực hiện đổi mới, ngành y tế đã đầu tư nâng cấp các trang thiết bị y tế tại các cơ sở phòng bệnh, khám chữa bệnh, sản xuất, nghiên cứu khoa học
và đào tạo Đặc biệt tại các trung tâm y tế chuyên sâu ở Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh và khu vực miền Trung, đã áp dụng nhiều tiến bộ khoa học,
Trang 23kỹ thuật mới, sử dụng nhiều phương tiện hiện đại trong khám chữa bệnh, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Với sự đầu tư rất lớn vào trang thiết bị y tế trong thời gian gần đây, vấn đề đặt ra là hệ thống y tế nước ta có sử dụng trang thiết bị y tế hiệu quả không? Có hai khía cạnh khác nhau nên xem xét:
+ Thứ nhất, cố thể xem xét là số lần sử dụng so với dân số.
+ Thứ hai là công suất sử dụng máy.
So sánh tình hình sử dụng trang thiết bị y tế ở nước ta với các nước có thể thấy, số lần chụp cắt lớp của nước ta còn rất thấp, X-quang và siêu âm lại rất cao (xin xem Bảng 1.4) Tình trạng sức mua của bệnh nhân còn thấp trong khi công nghệ X-quang và siêu âm lại rẻ Chỉ nhìn vào những số liệu này sẽ thấy cần phải đầu tư nhiều hơn vào công nghệ chẩn đoán hình ảnh
Bảng 1.4: Tỉ lệ sử dụng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh tại một số nước
Đơn vị: Sô'lần bình quân 1000 dân
Nước MRI CT X-quang Siêu âmCa-na-đa 25,5 87,3
Anh (công lập) 19,9 43,0
Úc (nội trú năm 2004-2005) 2,0 21,0 0,7 2,8Việt Nam (công lập năm 2005) 2,6 122,2 80,7
(Nguồn: Mỹ [19], [20], Ca-na-da [21], Anh [22], úc [23], Việt Nam [11])
Tuy nhiên, khi xét về khía cạnh khác, tức là công suất sử dụng của trang thiết bị y tế, sẽ thấy ở nước ta, công suất sử dụng máy rất thấp (xin xem Bảng 1.5) So sánh giữa Việt Nam và nước khác đối với máy cắt lớp, cồng suất sử dụng trung bình tại bệnh viện công lập chỉ khoảng một nửa so với Ca-na-đa và chỉ 70% so với ở Mỹ Đối với siêu âm, không có mức so sánh, nhưng tính bình quân một ngày, nếu ngày nào cũng thực hiện thì chỉ
có 13 lần siêu âm bình quân một ngày
Trang 24Bảng 1.5: Công suất sử dụng trang thiết bị y tế ở một số nước
_ Đơn vị: lần sử dụng/năm với mỗi máy _
Nước MRI CT X-quang Siêu âmCa-na-da 4666 7745
Việt Nam (công lập) 3779 7721 4832
ịNguồn: Mỹ [19], Ca-na-da [18], Việt Nam [11])
Kể cả trong nước cũng có sự khác nhau rất lớn trong công suất sử dụngtrang thiết bị y tế Số lần thực hiện bình quân một ngày đối với máy CT, X-quang và xét nghiệm vi sinh đều tăng từ năm 2000 đến 2005 Nhưng côngsuất thực hiện bình quân một ngày của bệnh viện huyện thấp hơn hẳn so vớibệnh viện tỉnh và nhiều khi chỉ trong trường hợp 2 đến 3 bệnh viện phối hợpvới nhau mới sử dụng được hết công suất của trang thiết bị (xin xem bảng
1.6).
Bảng 1.6: Tỷ lệ % bệnh viện đa khoa có máy CT, X-quang và máy xét
nghiệm sinh hoá
Trang 25(Nguồn: Kiểm tra bệnh viện 2000 và 2005 [15])
Để làm giảm giá thành bình quân một lần sử dụng trang thiết bị y tế,
các cơ sở y tế cần tăng công suất sử dụng trang thiết bị Hệ thống y tế đang
tìm cơ chế phù hợp để hạn chế lạm dụng trang thiết bị y tế và phối hợp khai
thác những trang thiết bị đang có
Những năm qua với sự phát triển không ngừng của nền khoa học kỹ
thuật nói chung và nền y học trên toàn thế giới nói riêng, Y tế Việt Nam
cũng không ngừng phát triển, tăng cường đầu tư áp dụng những tiến bộ mới,
triển khai thành công nhiều kỹ thuật chuyên sâu như: Nong động mạch
vành, mổ tim hở, ghép thận, thụ tinh trong ống nghiệm, sử dụng nhiều các
trang thiết bị hiện đại như: CT-Scanner đa lớp cắt, nội soi, siêu âm
Doppler, Bên cạnh đó các bệnh viện cũng tập trung ưu tiên đầu tư các
thiết bị y tế cơ bản phù hợp với khả năng chuyên môn kỹ thuật của mỗi
tuyến từ TW đến cơ sở, phấn đấu hoàn thiện theo danh mục tranglKiẹr
I ự ‘ỵỹ v.\
\ j - t y
Trang 26cho bệnh viên đa khoa tỉnh-huyện của Bộ Y tế (Vụ TTB-Công trình y tế) ban hành.
Năm 2001, theo số liệu điều tra của 822 bệnh viện do Vụ điều trị và
dự án Hỗ trợ y tế Quốc gia phối hợp, số lượng một số trang thiết bị cơ bản của các bệnh viện như sau (xin xem bảng 1.7) [2]
Bảng 1.7: Số lượng một số trang thiết bị cơ bản của bệnh viện
LOẠI THIẾT BỊ TONG
SỐ
ĐANGDÙNGThiết bị
Máy chụp mạch máu (DSA) 1&2 bình điện 4 4
Trang 27Tại 64 tỉnh, thành phố trực thuộc TW đều được trang bị đầy đủ trang thiết bị để sàng lọc phát hiện bệnh nhân bị nhiễm HIV, viêm gan, một yêu cầu đặt biệt quan trọng trong công tác truyền máu an toàn.
Các Trung tâm y tế huyện đã được trang bị những thiết bị chẩn đoán thiết yếu, hầu hết đã có máy X-quang với công suất phù hợp, máy siêu âm chẩn đoán và xe ô tô cứu thương Các trạm y tế xã đã được cung cấp các thiết bị, dung cụ cần thiết để chăm sóc sức khoẻ ban đầu và thực hiện các dịch vụ về dân số và kế hoạch hoá gia đình
Tuy nhiên trong thực tế hoạt động của ngành y tế, từ các bệnh viện lớn hiện đại trực thuộc TW tới các cơ sở địa phương, không phải nơi nào cũng xác định được vai trò, chức năng của trang thiết bị y tế Hoặc do thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết về trang thiết bị y tế nên đã không có sự quản lý thích đáng, không phân công cán bộ thường xuyên chăm sóc, bảo trì, kiểm tra, để cho trang thiết bị đã thiếu lại hay bị hư hỏng, hoặc để cho trang thiết bị hoạt động triền miên quá tải mới lo sửa chữa xin mua mới Do thiếu sự quan tâm nên ở khá nhiều cơ sở bệnh viện hiện nay chưa chú ý củng cố, xây dựng phòng quản lý vật tư trang thiết bị y tế Không có cán bộ thường xuyên tham mưu cho lãnh đạo bệnh viện trong việc xây dựng kế hoạch nâng cấp, mua sắm trang thiết bị hàng năm nên dẫn tới hiện tượng mua lầm trang thiết
bị, phải mua trang thiết bị cũ, lạc hậu, không phù hợp với yêu cầu chuyên môn, gây lãng phí cho cơ sở, giảm hiệu quả đầu tư của nhà nước Vì vậy vấn đề mua sắm và sử dụng trang thiết bị cần phải quản lý chặt chẽ hơn
1.3 Một số văn bản pháp quy trong lĩnh vực quản lý cung ứng trang thiết bị y tế ở Việt Nam.
Thiết bị y tế là một nguồn lực quan trọng không thể thiếu được trong việc quyết định chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh Vì vậy các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu trong lĩnh vực trang thiết bị y
Trang 28tế ngoài việc chịu sự điều chỉnh theo luật doanh nghiệp còn chịu sự quản lý của Bộ Y tế-Vụ TTB và Công trình y tế.
Để tăng cường công tác quản lý cung ứng trang thiết bị y tế trong giai đoạn hiện nay đã có nhiều văn bản pháp quy ra đời Trong khuân khổ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xin trình bày một số văn bản chính trong công tác quản lý trang thiết bị y tế của nước ta (danh mục cụ thể xin được trình bày ở phụ lục 1).[2][6][8][9]
* Chiến lược phát triển lĩnh vực trang thiết bị y tế-chính sách QG về trang thiết bị y tế của nước ta từ năm 2002 - 2010.
Nhận thức rõ tầm quan trọng và thực trạng trang thiết bị y tế của nước
ta hiện nay, ngày 4/10/2002 Thủ Tướng chính phủ đã phê duyệt QĐ số 130/2002/QĐ-TT về chính sách QG về trang thiết bị y tế giai đoạn 2002-
2010.
Mục tiêu chung của chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế:
“Đảm bảo đủ trang thiết bị y tế cho các tuyến theo quy định của Bộ Y tế Từng bước hiện đại hoá trang thiết bị cho các cơ sở ỵ tế nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân Phấn đấu đến năm 2010 đạt trình độ kỹ thuật về trang thiết bị y tế ngang tầm các nước trung bình tiên tiến trong khu vực Đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên ngành để khai thác sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa và kiểm chuẩn trang thiết bị y tế Phát triển công nghiệp trang thiết bị y tế nhằm nâng cao dần tỷ trọng hàng hoá sản xuất trong nước và tiến tới tham gia xuất khẩu
Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế đến năm 2010 bao gồm các mục tiêu chủ yếu, những giải pháp tổng thể thuộc các lĩnh vực: quản lý, sản xuất, kinh doanh, khai thác sử dụng, nghiên cứu khoa học-công nghệ đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành kỹ thuật trang thiết bị y tế
Sau 2 năm 2003-2004 triển khai thực hiện Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế, chúng ta đã thu được một số thành tựu như: các cơ sở
Trang 29sản xuất đã nghiên cứu chế tạo và sản xuất được nhiều trang thiết bị y tế
trong đó có những trang thiết bị y tế công nghệ cao, nhiều cơ sở sản xuất đã
phấn đấu xây dựng và đạt tiêu chuẩn quản lý IS02001 và GMP khu vực, bước đầu đã có xuất khẩu sang các nước lân cận
Trang thiết bị y tế của Việt Nam đã có từ lâu, nó gắn liền vói sự phát triển của ngành y tế, nhưng nghiên cứu về lĩnh vực trang thiết bị y tế của nước ta chỉ có một số báo cáo tốt nghiệp Dược sỹ và một số luận văn Thạc
sỹ đề cập đến Tuy nhiên những báo cáo tốt nghiệp và những luận văn này
mới chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá và phân tích hoạt động sản xuất, kinh
doanh trang thiết bị y tế của một số doanh nghiệp mà chưa đánh giá được toàn bộ hệ thống quản lý cung ứng của ngành trang thiết bị y tế Với đề tài:
“ Đánh giá hệ thống quản lý cung ứng trang thiết bị y tê của Việt Nam
trong những năm gần đây ”chúng tôi hy vọng sẽ đưa ra những ý kiến, đề
xuất góp phần cho công tác quản lý cung ứng trang thiết bị y tế của nước ta ngày càng hoàn thiện và hoạt động hiệu quả hơn
Trang 30PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ
NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Các số liệu, dữ liệu, các văn bản pháp quy có liên quan đến hoạt động quản lý cung ứng trang thiết bị y tế giai đoạn 2002 - 2006:
- Các báo cáo của Vụ TTB và Công trình y tế, các báo cáo của Bộ Thương Mại theo quý (tháng, năm), một số báo cáo, số liệu của các cơ sở về cung ứng trang thiết bị y tế giai đoạn 2002 - 2006
- Các văn bản pháp quy trong lĩnh vực quản lý cung ứng trang thiết bị y tế
- Con người: Phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia quản lý cung ứng trang
thiết bị y tế: Phó Vụ trưởng Vụ TTB và CTYT, TGĐ Công ty Vimedimex I,
TGĐ Công ty Medinsco và một số nhà quản lý khác 7
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2006 đến tháng 5/2007
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược - Trường Đại học Dược Hà Nội
+ Vụ TTB và CTY tế-Bộ Y tế, Công ty Vimedimex I, Công ty Medinsco.2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp mô tả hồi cứu: *
Hồi cứu các số liệu liên quan đến hoạt động cung ứng trang thiết bị y
tế từ sổ sách, báo cáo giai đoạn từ năm 2002-2006 cụ thể về các nội dung sau:
- Tổ chức bộ máy, cơ cấu nhân lực quản lý cung ứng trang thiết bị y tế
- Màng lưới phân phối trang thiết bị y tế
- Cơ cấu và sự phân bố trang thiết bị y tế trên thị trường
- Kim ngạch nhập khẩu trang thiết bị y tế vào Việt Nam
Trang 31- Tình hình đầu tư trang thiết bị y tế tại các cơ sở.
- Quản lý chất lượng trang thiết bị y tế hiện nay
- Các văn bản của nhà nước và các thông tư hướng dẫn của Bộ Y tế về quản
lý cung ứng trang thiết bị y tế
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn:
Điều tra, phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia để đánh giá tính thíchứng của các văn bản pháp quy trong lĩnh vực quản lý cung ứng trang thiết bị
y tế
2.3.3 Phương pháp phân tích quản trị học, phương pháp phân tích các
dữ kiện và các yếu tố trong quản trị trang thiết bị y tế Dược:
* Phương pháp phân tích S.W.O.T: Phân tích điểm mạnh, điểm yếu và những cơ hội, nguy cơ do các yếu tố bên ngoài tác động vào quá trình quản
lý cung ứng trang thiết bị y tế
* Phương pháp phân tích S.M.A.T: Phân tích và đánh giá mục tiêu, chiến lược trong quá trình quản lý cung ứng trang thiết bị y tế
* Phương pháp 3C: Dùng để xác định chiến lược, mục tiêu, chính sách quản lý cung ứng trang thiết bị y tế
* Phương pháp PEST: Nghiên cứu sự tác động của 4 yếu tố luật pháp, kinh tế, khoa học, kỹ thuật ảnh hưởng đến quản lý cung ứng trang thiết bị y
tế của nước ta
2.3.4 Phương pháp phân tích và trình bày số liệu:
- Phương pháp lập bảng
- Tính tỷ lệ % và tỷ lệ gia tăng theo nhịp mắt xích, liên hoàn
- Các số liệu được trình bày bằng: Bảng biểu, đồ thị, biểu đồ và sơ đồ
- Xử lý số liệu và kết quả thu được bằng phần mềm Exel for Windows, Microsoft Word for Windows
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu: Nội dung và các chỉ tiêu nghiên cứu xin
được trình bày tóm tắt ở sơ đồ 2.2.
Trang 32* NC vê tổ chức bộ máy, cơ
cấu nhân lực trong quản lý
* NC về màng lưới phân phối
TTBYT.
* NC về cơ cấu và sự phân bố
TTBYT trên thị trường.
* Kim ngạch nhập khẩu trang
thiết bị y tế vào Việt Nam.
* NC về tình hình đầu tư
TTBYT tại các cơ sở.
* NC việc quản lý chất lượng
TTBYT hiện nay.
Sơ bộ phân tích tính thích ứng của một số văn bản pháp quy trong quản lý cung ứng TTBYT.
* Phân tích tính thích ứng
của một số văn bản này.
* Phân tích một số nội dung
chưa phù hợp của một số văn bản này.
Trang 33PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u VÀ BÀN LUẬN
3.1 Nghiên cứu hoạt động cung ứng trang thiết bị y tế của nước ta theo
3.1.1 Nghiên cứu về tổ chức và cơ cấu nhân lực trong ngành trang thiết
3.1.1.1 Nghiên cứu sơ đồ tổ chức ngành trang thiết bị y tế.
Hệ thống ngành trang thiết bị y tế được tổ chức từ TW đến địa phương:
* Bộ Y tế: VụTTB và Công Trình Y tế:
-V ụ TTB và Công trình y tế là Vụ chuyên ngành, có chức năng tham mưu cho bộ trưởng Bộ Y tế quản lý nhà nước về lĩnh vực TTBY tế và CTY tế
- Quản lý toàn bộ hệ thống TTBY tế trong cả nước trên các lĩnh vực: sản
xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ
- Quản lý TTBY tế thuộc các bệnh viện TW, các Viện, Trường Tại các
bệnh viện TW, có phòng Vật tư kỹ thuật chịu trách nhiệm quản lý các TTBY tế thuộc bệnh viện mình Ở khối Viện, Trường thì việc quản lý trang thiết bị thường là ở phòng giáo tài, hoặc có bộ phận chuyên môn theo dõi
- Hướng dẫn và chỉ đạo trực tiếp sở Y tế trong lĩnh vực TTBY tế tại 64 tỉnh thành trong cả nước
- Chịu trách nhiệm quản lý các bệnh viện, công ty vật tư TTBY tế nằm trên địa bàn quản lý Các bệnh viện ở tuyến tỉnh có phòng vật tư TTBY tế và có cán bộ chuyến môn theo dõi, quản lý các TTBY tế thuộc bệnh viện mình
- Chỉ đạo trực tiếp các huyện nằm trên địa bàn quản lý Các bệnh viện tuyến huyện có cán bộ chuyên môn theo dõi, quản lý các trang thiết bị y tế thuộc bệnh viện mình
* Trung tâm y tế Huyện: Quản lý các cửa hàng kinh doanh vật tư dụng cụ y
tế và các cửa hàng Dược-Vật tư y tế thuộc địa bàn quản lý
bị y tẽ.
Trang 34* Sơ đồ tổ chức ngành trang thiết bị y tế được trình bày như sau:
Hệ
thống
BV
KhốiViệnTrường
Công ty cổ phần TTBYT VN
- Các Qy liên doanh
Tuyến tỉnh-SỞY tế (bộ phận hoặc phòng ban)
Cty cổ phần 1TBYT
Trang 353.1.1.2 Nghiên cứu về cơ cấu nhân lực ngành trang thiết bị y tế.
Trong những năm trở lại đây, nhiều bệnh viện, cơ sở y tế được đầu tư
nâng cấp cả về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế Nhiều thiết bị y tế có
công nghệ cao, giá trị lớn và hiện đại đòi hỏi trình độ đội ngũ cán bộ y tế nói chung và đội ngũ cán bộ trang thiết bị y tế nói riêng phải được phát triển và đào tạo
Theo số liệu điều tra tại 37 tỉnh thành phố trực thuộc TW và 41 đơn vị trực thuộc Bộ Y tế (gồm 24 bệnh viện, 9 viện nghiên cứu và 8 trường) được tiến hành trong năm 2004 thì nhân lực chuyên ngành kỹ thuật thiết bị y tế như sau (xin xem bảng 3.8) 9
Bảng 3.8: Cơ cấu nguồn nhân lực chuỵèn ngành kỹ thuật TTBYT.
Trang 36Nhận xét:
- Nếu chỉ tính riêng cán bộ chuyên môn về kỹ thuật trang thiết bị y tế thì
một đơn vị trực thuộc Bộ Y tế (Bệnh viện, Viện nghiên cứu, trường đại học
và cao đẳng):
Chỉ có 4,7 kỹ sư và 3 KTV (số liệu tính bình quân).
- Một bệnh viện đa khoa hoặc chuyên khoa cấp tỉnh:
Chỉ có 0,7 kỹ sư và 1,6 KTV (sô liệu tính bình quân).
- Một trung tâm ỵ tế huyện:
Chỉ có 0,71 kỹ sư (số liệu tính bình quân).
Các trường kỹ thuật trong nước đã đưa những nội dung cơ bản về quản
lý, kỹ thuật công nghệ, kỹ năng sử dụng trang thiết bị y tế vào chương trình
đào tạo Kết quả từ năm 2003 đến cuối năm 2006 đã có 121 kỹ sư chuyên ngành Điện tử y sinh của Trường đại học Bách Khoa đã tốt nghiệp Trường
Kỹ thuật trang thiết bị y tế trong giai đoạn 2002-2006 đã đào tạo tốt nghiệp được 1.194 học sinh cho cả 4 chuyên ngành trang thiết bị y tế Triển khai nhiều lớp đào tạo lại, đào tạo nâng cao về quản lý, sử dụng và sửa chữa các trang thiết bị y tế (139 học viên) và đào tạo theo yêu cầu của các chương trình dự án lớn của Bộ Y tế như dự án Dân số Sức khoẻ Gia Đình, dự án hỗ trợ y tế quốc gia vay vốn Ngân Hàng Thế Giới, dự án EC, dự án hỗ trợ y tế Tây Nguyên vay vốn ADB (1017 học viên) [10]
3.1.2 Nghiên cứu về màng lưới phân phối trang thiết bị y tế của nước
ta hiện nay
3.1.2.1 Sơ đồ màng lưới phân phối trang thiết bị y tê được trình bày như sau (xin xem hình 3.4).
Trang 37TTBYT sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu
Các cơ sở sử dụng
Người sử dụng
'N
Hỉnh 3.4: Sơ đồ màng lưới phân phối TTBYT
\
Trang 38Nhận xét:
Ở TW có các công ty cổ phần trang thiết bị y tế Việt Nam cung cấp trang thiết bị y tế cho các bệnh viện TW hoặc các cơ sởy tế có nhu cầu Các công ty Dược-TTBY tế ở tuyến tỉnh cổ nhiệm vụ cung cấp dụng cụ, vật tư cho các cơ sở y tế trong tỉnh nằm ngoài danh mục máy và trang thiết
bị y tế do các công ty cổ phần trang thiết bị y tê'TW cấp.
Tại tuyến huyện cố các cửa hàng kinh doanh vật tư dụng cụ ỵ tế và các cửa hàng Dược-Vật tư y tế.
Ngoài các công ty cổ phần nhà nước còn cổ các công tỵ thuộc khối tư nhân hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh và dịch vụ kỹ thuật y tế Còn các hãng và văn phòng đại diện của các tập đoàn lớn về trang thiết bị y tế của thế giới đặt tại Hà Nội và TP.HỒ Chí Minh làm nhiệm vụ cung cấp và giới thiệu những sản phẩm hiện đại nhất của trang thiết bị y tế đang được sử dụng tại các nước tiên tiến.
3.1.2.2 Nghiên cứu vê số lượng và các loại hình cơ sở kinh doanh, nhập khẩu trang thiết bị y tế.
Theo số liệu của Vụ TTB và CTY tế số lượng các loại hình doanh nghiệp kinh doanh trang thiết bị y tế tính đến nămị 20(Ờ như sau (xin xem
Bảng 3.9: Số lượng các loại hình doanh nghiệp kinh doanh TTBY tế
TT Loại hình doanh nghiệp Số lượng Tỷ lệ %
1 Công ty TNHH 489 65,1
2 Công ty cổ phần 82 10,9
3 Doanh nghiệp Nhà nước 35 4,7
4 Cửa hàng buôn bán 1'Í'BYT 145 19,3
(Nguồn: Vụ TTB và CTY tế-BYT)
Trang 39là 35 doanh nghiệp (chiếm 4,7% trên tổng số).
Theo số liệu của Vụ TTB và Công trình y tế số lượng các công ty nhập khẩu trong lĩnh vực trang thiết bị y tế như sau (xin xem bảng 3.10)
Bảng 3.10: Số lượng công ty nhập khẩu trang thiết bị y tế.
Trang 402005 là 57 công ty vì năm 2006 phần lớn các công ty nhà nước đều tiến hành cổ phần hoá ỹ
I
3.1.2.3 Nghiên cứu về số lượng và các loại hình cơ sở sản xuất trang thiết
Khi thông tư số 01/2004/TT-BYT ngày 01/01/2004 trong đó có lĩnh vực hành nghề trang thiết bị y tế tư nhân ra đcd, các cở sở sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực trang thiết bị y tế đã được sự quản lý và giám sát của
bị y tế.