Tuy nhiên, do ban hành từnăm 1999, mặc dù có được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2009, song BLHS vẫn chưa thểchế hóa được những quan điểm, chủ trương củaĐảng về cải cách tư pháp đư
Trang 1Một số vấn đề về sửa đổi, bổ sung phần chung Bộ luật hình sự năm 1999
25/6/2014 10:26
Do ban hành từ năm 1999, mặc dù có được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2009, chúng tôi cho rằng đã đến lúc cần phải
nghiên cứu sửa đổi nhằm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.
I Đặt vấn đề:
Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 được Quốc hộinước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa Xthông qua tại kỳ họp thứ 6 ngày 21/12/1999 và
có hiệu lực từ ngày 01/7/2000 Sau hơn 10 nămđược áp dụng, BLHS năm 1999 đã góp phần quantrọng vào việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội; bảo vệ lợi ích của Nhà nước;quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, côngdân; đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm;tạo môi trường ổn định để phát triển kinh tế – xãhội Tuy nhiên, cho đến nay BLHS hiệnhành cũng bộc lộ rõ nhiều điểm bất cập cần phảisửa đổi, bổ sung; nhiều quy định của Bộ luật
Trang 2chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng,chống tội phạm trong điều kiện xây dựng vàhoàn thiện Nhà nước pháp quyền và trong bốicảnh hội nhập quốc tế… Bên cạnh đó, trong quátrình thực hiện, BLHS 1999 đã bộc lộ những hạnchế như có những điều khoản không còn phù hợpvới thực tế khách quan; một số hành vi có tínhchất mức độ nguy hiểm cao cho xã hội nhưngkhông được quy định là tội phạm trong BLHS(như tội phạm về môi trường, chứng khoán, tàichính – ngân hàng, sở hữu trí tuệ…), chưa có sựphù hợp với các Điều ước quốc tế mà nước ta đã
ký kết hoặc tham gia Để khắc phục những hạnchế này, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổsung một số điều của BLHS 1999 (Luật số37/2009/QH12 ngày 19/6/2009) Các quy địnhcủa BLHS sửa đổi đã đi vào cuộc sống, địnhlượng về số tiền trong các tội phạm đã được sửađổi phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội; các tộiphạm liên quan đến sở hữu trí tuệ, môi trường,chứng khoán… đã được quy định, tạo cơ sở pháp
lý cho việc xử lý các hành vi nguy hiểm cho xãhội
Trang 3Trong những năm qua, với tư cách là một công
cụ sắc bén để bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước,các quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể và của
cá nhân, pháp luật hình sự là một nội dung quantrọng trong chiến lược cải cách tư pháp củaĐảng và Nhà nước ta Tuy nhiên, do ban hành từnăm 1999, mặc dù có được sửa đổi, bổ sung một
số điều vào năm 2009, song BLHS vẫn chưa thểchế hóa được những quan điểm, chủ trương củaĐảng về cải cách tư pháp được thể hiện trongNghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02-01-2002 của
Bộ Chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm củacông tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghịquyết số 49/NQ-TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chínhtrị về “chiến lược cải cách tư pháp đến năm2020” mà trong đó, một trong những nội dungquan trọng theo yêu cầu cải cách tư pháp
là: "Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự
và thủ tục tố tụng hình sự, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm Hạn chế
áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp
Trang 4dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm Khắc phục tình trạng hình sự hoá quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự và bỏ lọt tội phạm Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế".
Trên tinh thần cải cách tư pháp nêu trên, có thểnói rằng quan điểm của Đảng về sự cần thiếtphải sửa đổi BLHS là xuất phát từ yêu cầu pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước, các mối quan
hệ đối nội và đối ngoại, xu thế quốc tế hóa khuvực và toàn cầu, qua đó nhằm bảo vệ ngày càngtốt hơn các quyền con người, quyền cơ bản củacông dân Theo quan điểm này của Đảng, chúngtôi cho rằng đã đến lúc cần phải nghiên cứu sửađổi một cách toàn diện các quy định của BLHSnăm 1999 nhằm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu củacải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay Vớinhững lý do trên, thông qua thực tiễn công tácxét xử chúng tôi mạnh dạn nêu nên những vướngmắc, bất cập hiện nay của BLHS năm 1999 và
Trang 5hướng sửa đổi một số điều tại phần chung củaBLHS năm 1999.
II Những vướng mắc, bất cập hiện nay của
Thứ nhất : Tại phần chung của BLHS năm 1999
có một số điều luật quy định nêu khái niệm về
các chế định như Điều 9 “Cố ý phạm tội”; Điều
10 “Vô ý phạm tội” ; các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự như: Điều 11 “Sự kiện bất ngờ”; Điều 12 “Tuổi chịu trách nhiệm hình sự”;Điều 13 “Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự” ; Điều 15 “Phòng vệ chính đáng”; Điều 16 “Tình thế cấp thiết” …
Tuy nhiên, trong phần chung của BLHS lại không
có điều luật nêu khái niệm về “Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân” Trong khi đó, tại phần các tội phạm cụ
Trang 6thể lại có một số điều luật quy định về tội phạm
liên quan đến thuật ngữ này như: Điều 95 “Tội giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh”; Điều 105 “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”.
Mặc dù trong cấu thành cơ bản của hai điều luật
trên đều có cụm từ “… tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân…” song thế nào là “Tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân” thì
hiện có nhiều cách hiểu và đánh giá khác nhau,dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong trườnghợp này không thống nhất Hiện cũng có nhiềuquan điểm khác nhau về vấn đề này như:
Quan điểm thứ nhất cho rằng : Tình trạng tinh
thần bị kích động mạnh là tình trạng (tâm lý)không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành
vi của mình
Quan điểm thứ hai là : Trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh là tình trạng ý thức bị hạn chế ởmức độ cao do không chế ngự được tình cảm,dẫn
Trang 7đến sự hạn chế đáng kể khả năng kiểm soát vàđiều khiển hành vi.
Quan điểm thứ ba là : Trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh là trạng thái của một ngườikhông còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mìnhnhư lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khảnăng nhận thức
Còn theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/HĐTP
ngày 29/11/1986 thì: “Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình Nói chung,
sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn đến hành vi giết người Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp
đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỉ kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kìm chế được, nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình
Trang 8phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh.
Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó tuy làm cho người phạm tội bị kích động mạnh, nhưng nói chung chưa đến mức là tội phạm Nếu hành vi trái pháp luật đó trực tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc lợi ích hợp pháp của người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội hoặc của xã hội,
đã cấu thành tội phạm, thì hành vi chống trả lại gây chết người có thể được xem xét
là trường hợp phòng vệ chính đáng (theo Điều 13) hoặc do vượt quá giới hạn phòng
vệ chính đáng (theo Điều 102)…”
Như đã nêu, vấn đề này có nhiều quanđiểm khác nhau và Nghị quyết của Hội đồngThẩm phán cũng đã có hướng dẫn và giải thíchtương đối đầy đủ Song trong thực tiễn áp dụngvẫn có những quan điểm khác nhau như khái
niệm “người thân thích” được hiểu thế nào? Có
phải chỉ là vợ, chồng, cha mẹ, anh chị em ruột
và những người họ hàng cùng huyết thống hay là
Trang 9cả những người bạn thân? Thế nào là “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” ? Thế nào
là “hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân” ? Hiện vẫn chưa có cách hiểu thống
nhất Do vậy, rất cần một điều luật quy định nêu
rõ về khái niệm như thế nào là “Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội” để việc áp dụng tình tiết
này trong việc định tội danh được thống nhất
Thứ hai: Về Điều 43 “Bắt buộc chữa bệnh” và Điều 44 “Thời gian bắt buộc chữa bệnh”.
Theo quy định tại Điều 43 “Bắt buộc chữa bệnh” thì nội dung của điều luật được
hiểu như sau:
1 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộikhi ở trong tình trạng không có năng lực tráchnhiệm hình sự Trường hợp này, căn cứ vào kếtluận của Hội đồng giám định pháp y, tùy theogiai đoạn tố tụng mà Viện kiểm sát hoặc Tòa án
có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trịchuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh; nếu thấykhông cần thiết phải đưa vào một cơ sở điều trị
Trang 10chuyên khoa, thì có thể giao cho gia đình hoặcngười giám hộ trông nom dưới sự giám sát của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
2 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộikhi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng đãlâm vào tình trạng không có năng lực tráchnhiệm hình sự trước khi bị kết án Trong trườnghợp này, căn cứ vào kết luận của Hội đồng giámđịnh pháp y, Tòa án có thể quyết định đưa họvào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộcchữa bệnh Sau khi khỏi bệnh, người đó có thểphải chịu trách nhiệm hình sự;
3 Người đang chấp hành hình phạt mà lâm vàotình trạng không có năng lực trách nhiệm hình
sự Trường hợp này, căn cứ vào kết luận của Hộiđồng giám định pháp y, Tòa án có thể quyết địnhđưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa đểbắt buộc chữa bệnh Sau khi khỏi bệnh, người đóphải tiếp tục chấp hành hình phạt, nếu không có
lý do khác để miễn chấp hành hình phạt
Nếu có kết luận của cơ sở điều trị về việc người
bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh thì tùy vàotừng giai đoạn tố tụng Viện kiểm sát hoặc Tòa
Trang 11án có thể ra quyết định đình chỉ thi hành biệnpháp bắt buộc chữa bệnh.
Theo chúng tôi tại khoản 1 Điều 43 có quy
định “nếu thấy không cần thiết phải đưa vào một cơ sở điều trị chuyên khoa, thì có thể giao cho gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền” là không phù hợp và dẫn đến
rất nhiều trường hợp giả bệnh để được ở nhà,hoặc trường hợp nào là không cần thiết để cóthể được điều trị tại nhà? Việc giám sát của “Cơquan Nhà nước có thẩm quyền” là Cơ quan nào
và cơ chế giám sát ra sao? Đây chính là sựvướng mắc và bất cập cần phải có quy định rõ.Tại Điều 44 quy định về thời gian bắt buộc chữa
bệnh có ghi “thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù” Về vấn đề này hiện có nhiều quan điểm
khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trong bất cứ giaiđoạn nào, người phạm tội bị áp dụng biện phápbắt buộc chữa bệnh thì thời hạn bắt buộc chữabệnh phải được trừ vào thời hạn chấp hành hìnhphạt tù
Trang 12Quan điểm thứ hai lại cho rằng: Chỉ trong trườnghợp người phạm tội đang chấp hành hình phạt tù
mà bị bệnh phải áp dụng biện pháp bắt buộcchữa bệnh thì mới được trừ vào thời hạn chấphành hình phạt tù còn trong giai đoạn điều tra,truy tố, xét xử thì không được tính trừ vào thờihạn chấp hành hình phạt tù
Theo chúng tôi, vấn đề này cần được ghi rõtrong phần chung của BLHS vì ghi như Điều 44hiện hành là không rõ nghĩa và có những cáchhiểu khác nhau Chúng tôi đồng tình với quanđiểm thứ hai Bởi lẽ, trong giai đoạn điều tra,truy tố, xét xử nếu họ có mắc bệnh mất khảnăng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành
vi của mình thì việc chữa bệnh là đương nhiên,việc Cơ quan pháp luật áp dụng biện pháp nàycũng nhằm mục đích phòng, tránh họ gây ranhững hành vi nguy hiểm khác cho xã hội, hơnnữa khi đó họ chưa bị kết án nên chưa phải làngười phải chấp hành hình phạt tù Do vậy, chỉkhi nào họ đang bị áp dụng biện pháp ngănchặn, bị tạm giam hoặc đang chấp hành hìnhphạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhậnthức hoặc điều khiển hành vi của mình và phải
Trang 13bắt buộc chữa bệnh, thì thời gian bắt buộc chữabệnh mới được trừ vào thời hạn chấp hành hìnhphạt tù Nếu áp dụng quy định như hiện nay sẽ
dễ dẫn đến những trường hợp người phạm tộichữa bệnh tại nhà cũng vẫn được trừ vào thờihạn chấp hành hình phạt tù Điều này khôngcông bằng và không đảm bảo tính nghiêm minhcủa pháp luật
Thứ ba: Những vướng mắc khi áp dụng các quy
định tại Điều 47 BLHS
Theo quy định tại Điều 47 BLHS thì “Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Lý do của
Trang 14việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”.
Để áp dụng một cách thống nhất và tránh việc
áp dụng một cách tràn lan Điều 47 BLHS, NQ số01/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn “… Cần hạn chế và phải hết sức chặt chẽ khi áp dụng các quy định tại Điều 47 BLHS năm
1999, trong trường hợp nếu không có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 47 BLHS năm 1999, thì bị cáo phải bị
xử phạt ở mức cao của khung hình phạt…” và cũng theo hướng dẫn tại Nghị quyết
số 01 nêu trên thì những quy định tại Điều 47chỉ áp dụng đối với hình phạt chính mà không ápdụng đối với hình phạt bổ sung
Tại Công văn số 148/2002/KHXX ngày 30/9/2002của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
Điều 46 và 47 BLHS có ghi “theo tinh thần quy định tại Điều 47 BLHS, thì Tòa án chỉ có thể quyết định một hình phạt nhẹ hơn dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật
đã quy định khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định từ khoản 1 Điều 46 BLHS Như