Nội dung của luận văn Với mục tiêu đặt ra, nội dung luận văn bao gồm các chương sau: Chương 1: Tổng quan về ổ đỡ từ Chương 2: Mô tả toán học của ổ đỡ từ chủ động 4 bậc tự do Chương 3: K
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
NGUYỄN THỊ HIỀN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐIỀU KHIỂN Ổ ĐỠ TỪ
4 BẬC TỰ DO BẰNG BỘ ĐIỀU KHIỂN MỜ CHỈNH ĐỊNH
THAM SỐ BỘ ĐIỀU KHIỂN PID
Chuyên ngành: Kỹ thuật điều khiển và tự động hóa
Mã số: 60520216
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
THÁI NGUYÊN, 2014
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP – ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Danh Hoằng
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Như Hiển
Phản biện 2: PGS.TS.Bùi Quốc Khánh
Luận văn này được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn
Họp tại: TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN
Vào hồi 13 giờ 15, ngày 19 tháng 4 năm 2014
Có thể tìm hiểu luận văn tại
- Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên
- Thư viện trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghiệp
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Mục tiêu của luận văn
Hiện nay ổ đỡ từ được sử dụng trong những hệ truyền động tốc độ cao, đây là một trong những sản phẩm công nghệ chứa đựng nhiều hàm lượng chất xám và đồng thời cũng là sản phẩm công nghệ thân thiện với môi trường Nhưng trong tương lai không xa, khi các nghiên cứu thành công trong việc thu gọn kích thước và giảm giá thành của ổ đỡ từ thì sự thay thế vòng bi cơ khí để làm việc ở các lĩnh vực công nghiệp sẽ là điều tất yếu
Việc điều khiển ổ đỡ từ đảm bảo chất lượng trong những điều kiện làm việc nhất định là hết sức cần thiết Vì vậy mục tiêu của
đề tài nghiên cứu thiết kế bộ điều khiển mờ chỉnh định tham số bộ điều khiển PID nhằm cải thiện chất lượng cho ổ đỡ từ
2 Mục tiêu của nghiên cứu
- Tìm hiểu về mô tả toán học cho ổ đỡ từ bốn bậc tự do, sau
đó đưa mô hình đó về dạng mô hình tuyến tính hóa xung quanh điểm làm việc
- Khảo sát chất lượng điều khiển ổ đỡ từ bằng bộ điều khiển PID
- Thiết kế bộ điều khiển mờ chỉnh định tham số bộ điều khiển PID
- Nghiên cứu điều khiển hệ thống bằng mô phỏng
- Nghiên cứu bằng thực nghiệm
3 Nội dung của luận văn
Với mục tiêu đặt ra, nội dung luận văn bao gồm các chương sau: Chương 1: Tổng quan về ổ đỡ từ
Chương 2: Mô tả toán học của ổ đỡ từ chủ động 4 bậc tự do Chương 3: Khảo sát chất lượng điều khiển ổ đỡ từ 4 bậc tự
do sử dụng bộ điều khiển PID bằng mô phỏng và thực nghiệm
Chương 4: Nâng cao chất lượng hệ thống điều khiển ổ đỡ từ 4 bậc tự do bằng bộ điều khiển mờ chỉnh định tham số bộ điều khiển PID
Kết luận và kiến nghị
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VỀ Ổ ĐỠ TỪ
1.1 Khái niệm về ổ đỡ từ
1.1.1 khái niệm ổ trục
Ổ trục là một chi tiết máy thuộc lĩnh vực kỹ thuật cơ khí Nó
có 2 dạng chính là ổ lăn (vòng bi, ổ bi) và ổ trượt
1.1.2 Ổ đỡ từ
Xuất phát từ ý tưởng về việc treo một vật bằng từ trường đã
được đặt ra từ giữa những năm 1842 trong bài báo của Earnshaw
(On the nature of molecular forces), cho đến năm 1934 Braunbeck
mới đề cập sử dụng lực nâng bằng từ trường, những hoạt động sản xuất công nghiệp tại thời điểm đó về ổ đỡ từ được thực hiện bởi tập
đoàn S2M ở Vernon, Pháp Sau đó đã có rất nhiều thí nghiệm và các
ứng dụng thực tế của ổ từ đã trở thành hiện thực từ những năm 1960 Tuy nhiên, giá thành và độ phức tạp của nó đã cản trở việc ứng dụng
và phát triển trong sản xuất công nghiệp Từ những năm 1988 trở lại đây, do sự phát triển mạnh mẽ trong công nghệ điều khiển, cả về phần cứng lẫn phần mềm cũng như những đột phá về kỹ thuật vật liệu và công nghệ chế tạo cơ khí, góp phần làm giảm kích thước,
độ phức tạp cũng như giá thành của ổ từ Điều đó, đã tạo cơ hội cho việc phát triển sử dụng ổ đỡ từ trong công nghiệp và trong các dụng
cụ cao cấp của y sinh học Tính đến năm 2010, đã tổ chức được 12 hội nghị khoa học quốc tế về ổ đỡ từ [18]
Ổ đỡ từ là một loại ổ trục có khả năng nâng không tiếp xúc các trục chuyển động nhờ vào lực từ trường, được thể hiện trên như hình 1.5
Trang 5- Theo chức năng: Ổ đỡ từ ngang trục và ổ đỡ từ dọc trục như hình 1.6
- Theo cấu tạo: ổ đỡ từ chủ động, ổ đỡ từ bị động và ổ đỡ từ siêu dẫn
(6) Trong lĩnh vực kỹ thuật hàng không (7) Trong lĩnh vực động lực học (máy nổ, máy phát, turbin)
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ổ đỡ từ
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.3 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu về sử dụng các bộ điều khiển hiện đại
Trang 6Chương 2
MÔ TẢ TOÁN HỌC CỦA Ổ ĐỠ TỪ CHỦ ĐỘNG
4 BẬC TỰ DO
2.1 Khái quát chung
Một hệ thống điều khiển nói chung cần phải xây dựng cấu trúc điều khiển với bộ điều khiển và đối tượng cần điều khiển
Để thiết kế được một bộ điều khiển cho đối tượng, thì cần thiết phải xây dựng được một mô hình toán học mô tả bản chất vật lý
của đối tượng Mô hình là một hình thức mô tả khoa học và cô đọng
các khía cạnh thiết yếu của một hệ thống thực, có thể có sẵn hoặc cần phải xây dựng Mô hình không những giúp ta hiểu rõ hơn về đối tượng điều khiển, mà còn cho phép thực hiện được một số nhiệm vụ phát triển mà không cần sự có mặt của quá trình và hệ thống thiết bị thực Mô hình giúp cho việc phân tích kiểm chứng tính đúng đắn của một giải pháp thiết kế được thuận tiện và ít tốn kém, trước khi đưa giải pháp vào triển khai
Mô hình toán học là hình thức biểu diễn lại những hiểu biết
của ta về quan hệ giữa tín hiệu vào u(t) và tín hiệu ra y(t) của một hệ
thống nhằm phục vụ mục đích mô phỏng, phân tích và tổng hợp bộ điều khiển cho hệ thống sau này Không thể điều khiển hệ thống nào
đó nếu như không biết gì về nó cả
Mô hình của đối tượng dưới dạng toán học được gọi là mô hình danh định Do vậy, có thể nói rằng, một hệ thống điều khiển danh định là được thể hiện dưới dạng các phương trình toán học Từ đây, ta nhận thức được rằng mô hình hóa đối tượng dưới dạng các phương trình toán học là công việc hết sức cần thiết trong phân tích
hệ thống và thiết kế bộ điều khiển Việc mô tả toán học cho đối tượng càng sát với mô hình vật lý thì việc điều khiển nó càng đạt
Trang 7chất lượng cao như mong muốn Tuy nhiên, việc tính toán, thiết kế
bộ điều khiển sẽ trở nên khó khăn và phức tạp hơn nhiều với các đối tượng không ổn định và có tính phi tuyến cao [4]
Ổ đỡ từ trước hết đó là chi tiết máy thuộc kỹ thuật cơ khí, nó
đỡ cho các trục chuyển động quay và tịnh tiến Mặt khác nó lại là một thiết bị điện có điều khiển Cụ thể, về cấu tạo nó giống như một động cơ điện có stator làm bằng thép lá kỹ thuật điện, trên stator được xẻ rãnh để đặt dây quấn, rotor được chế tạo bằng vật liệu từ tính bao bên ngoài trục chuyển động, nhưng về nguyên lý làm việc thì ổ đỡ từ lại như một nam châm điện thay vì tạo mô men quay cho
trục thì nó lại tạo ra các lực chuyển dịch trục theo phương x và y, các
lực này được điều chỉnh tự động nhằm duy trì khe hở giữa stator và rotor xung quanh giá trị danh định Để thiết lập được mối quan hệ động lực học của ổ đỡ từ chủ động thì trước hết phải phân tích và tính toán được từ thông, từ trở, điện cảm, mật độ từ thông, năng
lượng từ tích trữ và lực từ theo các phương chuyển dịch (x, y) của
trục Trên cơ sở đó, xây dựng được mô hình toán học của AMB
2.2 Cơ sở toán học của hệ nâng từ trường
Trong công nghệ nâng bằng từ trường, các phần tử điện từ gây ra từ thông khép kín trong một mạch vòng từ Khi phân tích những mạch vòng từ như vậy, việc tính toán chính xác từ trường thường là không khả thi và không thực sự cần thiết [8] Thông thường các phương pháp phân tích xấp xỉ hóa dựa vào một số giả thiết chẳng hạn như: từ thông khép mạch hoàn toàn trong lõi sắt từ (không có từ thông tản), ngoại trừ trong khe hở không khí Vì độ
thẩm từ của vật liệu sắt từ μ = μ0μ r lớn hơn nhiều so với độ thẩm từ không khí, các đường đi của từ trường khi rời khỏi vật liệu sắt từ gần như vuông góc với bề mặt của nó
2.2.1 Mật độ từ thông của mạch từ
Trang 8Lực từ động (Magnemotive Force - MMF) được cho bởi công thức sau [8]:
(2.3)
trong đó, R biểu diễn cho tổng từ trở; Ψ là từ thông chạy trong mạch
từ tương đương tại hình 2.2; Mật độ từ thông và cường độ từ trường liên hệ với nhau qua:
0 r
(2.4)
Khi mật độ từ thông B trong lõi sắt từ và khe hở không khí là
như nhau, thay thế (2.4) vào trong (2.3) ta có:
a
S Ni Ni
x S
Trang 92.2.2 Từ trở R và độ tự cảm L trong mạch từ
Hình 2.2 biểu diễn một mạch điện biến đổi tương đương cho mạch từ của cơ cấu điện từ trong Hình 2.1 Các thành phần sức từ động, từ thông, từ trở và mạch từ không đổi được xem xét tương ứng như các thành phần điện áp, dòng điện, điện trở và nguồn một chiều (DC) trong mạch điện Sự khác biệt chính đó là từ trở là một thành phần tích trữ năng lượng chứ không phải là thành phần tiêu tán năng lượng Nguồn “DC” – Ni biểu diễn cho sức từ động do dòng điện trên cuộn dây sinh ra
2.2.3 Lực điện từ khi kể đến từ hóa lõi thép
Khi quan tâm đến năng lượng từ W a được tích trữ trong một
thể tích khe hở không khí của hệ thống, V a = 2x 0 S a ; S a được giả thiết
là vùng chiếu của bề mặt cực, ta có thể dẫn ra được lực từ tại một chuyển dịch bất kỳ Trường hợp từ trường tại khe hở không khí là
đồng nhất, như thể hiện trong Hình 2.2, năng lượng tích trữ W a được tính toán theo công thức [17]:
0
S N i 1
Trang 10Khi khe hở không khí x 0 tăng lên một lượng δx 0 , thể tích V a =
2x 0 S a sẽ tăng lên, và năng lượng từ trường cũng tăng lên một lượng
bằng dW a Nếu vật thể bị dịch chuyển đi một lượng δx thì một lực điện từ F bằng với vi phân từng phần của năng lượng từ trường với
khe hở không khí được sinh ra [15]:
2.2.4 Lực điện từ khi không kể đến từ hóa lõi thép
Đối với các vật liệu sắt từ có r >>1 thì từ hóa của sắt từ
thường được bỏ qua Khi không kể đến ảnh hưởng của độ từ hóa của
vật liệu sắt từ, và giả thiết l I,l C là nhỏ, thành phần C I
được biểu diễn như sau:
Trang 11
2 0 2 0
Phương trình (2.18) được viết thành:
2 0 2
2.3.1 Các dạng cấu trúc ổ đỡ từ hiện nay và hướng nghiên cứu
Như ở Chương 1 đã trình bày, cấu trúc của ổ đỡ từ chủ động gồm hai bộ phận là rotor và stator, rotor của ổ đỡ từ thường được gắn trực tiếp vào trục cần nâng còn stator thì gồm nhiều nam châm điện được bố trí theo nhiều phương pháp khác nhau Các phương pháp bố trí cực từ hiện nay được phân thành ba loại chính là loại ba cực, loại bốn cực và loại tám cực như được minh họa trong Hình 2.3 a,b,c
2.3.2 Cấu trúc của hệ nâng từ trường 4 bậc tự do
Hình 2.4 mô tả sơ đồ cấu trúc tổng quát của mô hình nâng vật chuyển động sử dụng ổ đỡ từ Để đảm bảo vật nâng chuyển động
ổn định thì hệ sử dụng hai ổ đỡ từ ngang trục Mỗi ổ đỡ từ ngang trục
sẽ tạo ra các lực nâng ngang trục theo các phương vuông góc với
Trang 12nhau là x và y Các lực nâng này được điều khiển bởi hệ thống phản
hồi vòng kín để đảm bảo vị trí của trục nâng nằm chính giữa lõi
stator Ổ từ ngang trục phía trái sẽ kiểm soát hai vị trí theo phương x 1
và y 1, còn ổ đỡ từ ngang trục phía phải sẽ kiểm soát hai vị trí theo
phương x 2 và y 2 Như vậy các ổ đỡ từ sẽ kiểm soát 4 bậc tự do cho vật nâng
2.3.3 Xây dựng mô hình toán học
tuyến, nếu khe hở không khí lớn sẽ làm cho đường cong mang đặc tính tuyến tính nhiều hơn do từ trở của mạch sẽ tăng (chủ yếu là tăng
từ trở của khe hở không khí), thậm chí tại giá trị cường độ dòng điện cao thì nó cũng không bị bão hoà Khi tính toán ta giả thiết:
- Lõi sắt từ có đặc tính tuyến tính nghĩa là có độ dẫn từ không đổi;
- Độ dẫn từ của sắt cao, bởi vậy từ trở của lõi sắt từ rất nhỏ có thể bỏ qua
Tuy nhiên, trong
một số trường hợp, từ trở
của lõi từ cần được xét
đến Chẳng hạn một mạch
từ có khe hở rất nhỏ nhưng
đường sức lại dài, từ trở
của lõi sắt từ rất cao Trong
trường hợp này, mối quan
hệ giữa sức từ động (từ Hình 2.9: λ = f(i) ở các khe hở không khí
khác nhau
Trang 13thông vòng) và cường độ dòng điện là phi tuyến Ví dụ, để đạt được
0, cường độ dòng điện i 0 , i 1 , và i 2 cần tương ứng với x 0 = 0, x 1 và
x 2 Để giảm tổn hao đồng và kích cỡ cuộn dây, kích thước khe hở không khí thường được chế tạo ở mức nhỏ nhất có thể ( 0,5 mm) hình 2.9.[8]
2.4 Mô hình tuyến tính hóa xung quanh điểm làm việc
Dựa vào Hình 2.7, căn cứ thực tế các giá trị của độ dịch
chuyển x y1, 1và x y2, 2thường nhỏ hơn rất nhiều so với khe hở không
khí tại vị trí cân bằng x 0, do đó các lực nâng này có thể được viết như sau:
(1) Xây dựng được mô hình toán học của ổ đỡ từ dưới dạng
mô hình tuyến tính hoá
(2) Từ mô hình toán học được xây dựng (2.34) sẽ là cơ sở cần thiết để thiết kế được bộ điều khiển phù hợp cho hệ ổ đỡ từ 4 bậc tự
do trong các chương tiếp sau
Trang 14
Chương 3 KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐIỀU KHIỂN Ổ ĐỠ TỪ 4 BẬC
TỰ DO SỬ DỤNG BỘ ĐIỀU KHIỂN PID BẰNG MÔ PHỎNG
VÀ THỰC NGHIỆM
3.1 Tổng hợp bộ điều khiển PID
Bộ điều khiển được gọi là PID do được viết tắt từ 3 thành phần cơ bản trong bộ điều khiển : khuếch đại tỷ lệ (P), tích phân (I)
3.1.1 Thiết kế bộ điều khiển trên cơ sở hàm quá độ h(t)
3.1.1.1 Phương pháp Ziegler – Nichols
* Phương pháp 1
3.1.1.2 Phương pháp Chien – Hrones – Reswick
3.1.1.3 Phương pháp hằng số thời gian tổng của Kuhn
Phương pháp này được áp dụng cho các đối tượng không có
độ quá điều chỉnh, ổn định và động học hình chữ s (đối tượng 3.1) Với:
3.1.2 Thiết kế điều khiển ở miền tần số
3.1.2.1 Nguyên tắc thiết kế
Trang 15Một hệ thống điều khiển được mô tả:
W đk(s) y(t)
u(t)
(-)
W đt(s)
Hình 3.4: Sơ đồ hệ thống điều khiển
Bài toán đặt ra điều khiển sao cho tín hiệu ra phải bám được tín hiệu vào u(t) Nếu một cách lý tưởng thì hàm truyền hệ kín:
3.2 Thiết kế bộ điều khiển PID
3.2.1 Xây dựng hệ điều khiển
Từ mô hình (2.34) động lực học của trục rotor được viết lại như sau:
3.2.2 Mô phỏng làm việc của hệ thống trên Matlab-Simulink
Sơ đồ mô phỏng như trên hình 3.8, chi tiết như trên hình 3.9, 3.10:
Nhận xét: Ổ đỡ từ là khâu động học không ổn định Khi sử
dụng mô hình điều khiển 2 mạch vòng (mạch vòng vị trí và mạch vòng tốc độ), ta thấy quỹ đạo chuyển động của hệ AMB1 dao động xung quanh tâm của rotor với biên độ lớn nhất khoảng 0.08mm
Trang 16(Hình 3.11a, b và 3.12a, b) Ngoài ra bộ điều khiển vẫn làm việc ổn định khi có nhiễu tác động (hình 3.15 và 3.16)
Trang 17Trường hợp thí nghiệm với tốc độ 6000 v/ph: Tham số bộ điều khiển Kp=35.000; Kd=0.080
Hình 3.24: Đồ thị tốc độ động cơ
Hình 3.25: Đồ thị vị trí trục quay trong ổ đỡ từ theo trục y và x
Trường hợp thí nghiệm với tốc độ 8000 v/ph: Tham số bộ điều khiển
Kp=40.000; Kd = 0.070
Trang 18Hình 3.26: Đồ thị tốc độ động cơ
Hình 3.27: Đồ thị vị trí trục quay trong ổ đỡ từ theo trục y và x
Nhận xét: Từ kết quả thí nghiệm ở các hình 3.22 đến hình 3.27
cho thấy hệ thống làm việc ổn định với điều khiển PID tương tự như
mô phỏng đó là đáp ứng của hệ xác lập ở vị trí trong phạm vi cho phép để trục quay được với tốc độ cao với khe hở danh định là 2
mm Qua thí nghiệm cũng cho thấy với thông số bộ điều khiển PID hợp lý và hệ làm việc ở tốc độ cao (8000v/ph) thì chất lượng làm việc của hệ là rất tốt thể hiện trên hình 3.27