báo cáo môn sức khoẻ môi trường
Trang 11
TR NG I H C Y D C KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG
BỘ MÔN KHOA H C MÔI TR NG
-o0o -
CHUYÊN Ề:
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: Nhóm sv thực hiện:(lớp YHDP3B)
8 Dương Văn Minh
9 Phan Đăng Triều Huế, ngày 16 tháng 3 năm 2013
Trang 22
Lời cảm ơn
Để hoàn thành chuyên đề này, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
Khoa y tế công cộng-Trường đại học Y Dược Huế, bộ môn sức khỏe môi trường cùng các quý thầy cô trong bộ môn đã dìu dắt, hướng dẫn, tạo điều kiện cho chúng em thực hiện chuyên đề này
Trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề, nhóm chúng em đã đoàn kết,cùng nhau cố gắng để hoàn thành đúng thời hạn Với kinh nghiệm còn ít, thời gian còn hạn hẹp nên chúng tôi làm chuyên đề này không tránh khỏi những sai sót, mong quý thầy cô xem xét, góp ý để chúng em hoàn thành tốt hơn trong các chuyên đề lần sau
Người thực hiện chuyên đề
Nhóm sinh viên
Trang 33
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG II: NỘI DUNG 4
1.1 Thực trạng môi trường và bảo vệ môi trường ở Việt Nam 4
1.1.1 Môi trường đất 4
1.1.2 Môi trường nước: 9
1.1.3 Môi trường không khí: 13
1.1.4 Tài nguyên rừng Việt Nam: 17
1.1.5 Đa dạng sinh học: 20
1.1.6 Môi trường đô thị và khu công nghiệp: 26
1.1.7 Môi trường nông thôn và miền núi 31
1.1.8 Môi trường biển và ven bờ 36
1.1.9 Môi trường lao động: 42
1.2 Nguyên nhân ô nhiễm và suy thoái môi trường 47
1.2.1 Chiến tranh Việt Nam và hậu quả ảnh hưởng đến môi trường 47
1.2.3 Sự thiếu thông tin và hiểu biết 51
1.2.4 Quản lý môi trường yếu kém 53
1.2.5 Qúa trình mở cửa còn thiếu hợp lý 55
1.2.6 Tình hình phát triển kinh tế 56
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN 61
CHƯƠNG IV: GIẢI PHÁP 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 63
Trang 41
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế Con người và sinh vật không thể sống tách rời ra khỏi môi trường, luôn chịu ảnh hưởng và tác động qua lại với môi trường Hiện nay môi trường đang bị phá hủy nghiêm trọng mà nguyên nhân chủ yếu không ai khác chính là con người là tác nhân chính và cũng là tác nhân chủ yếu với nhiều hoạt động hủy hoại môi trường như: đốt phá rừng, khai thác khoáng sản và tài nguyên biển bừa bãi, khí thải từ các nhà máy…Hậu quả nặng nề là đợt lũ lụt, hạn hán kéo dài, băng tan ở hai cực, hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ozon Việt Nam chúng ta là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu với những trận lụt lịch sử ở miền trung,nắng nóng kéo dài và sự xâm lấn của biển ây chính là
sự “trút giận” của thiên nhiên lên con người
Thời kỳ công nghiệp phát triển, việc khai thác các nguồn tài nguyên quá mức, gây nạn ô nhiễm môi trường, phá rừng, làm suy thoái lớp thổ nhưỡng, gây
ra những tai hoạ và tổn thất lớn lao cho con người Trong thông điệp kỷ niệm ngày môi trường thế giới 5/6/1999, Giám đốc điều hành UNEP nêu: "Hạnh phúc và mọi hi vọng của các dân tộc trên thế giới sẽ không thể có, nếu môi trường và các hệ sinh thái tren trái đất chưa được đảm bảo an toàn" [26] Rõ ràng vấn đề bảo vệ môi trường trở thành vấn đề thời sự cấp bách đối với mọi quốc gia, của toàn nhân loại Ở Việt Nam trong những năm gần đây cùng với nhịp độ phát triển củanền kinh tế, nâng cao đời sống xã hội thì môi trường sống ngày càng bị ônhiễm, môi trường bị ô nhiễm ở mọi nơi mọi chỗ, từng ngày từng giờ ảnhhưởng trực tiếp đến sức khoẻ của con người Ô nhiễm môi trường bao
Trang 52
gồm 3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí Trong ba loại ô nhiễm đó thì ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, khu công nghiệp và làng nghề là nghiêm trọng nhất, mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép Nhìn chung, hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định Thực trạng đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi trường Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp với dân số trên 80 triệu người [27], Việt Nam đang đứng trước những thách thức về tài nguyên thiên nhiên và môi trường, các hệ sinh thái đang suy thoái ở mức độ nghiêm trọng Tình hình gia tăng dân số, thâm canh nông nghiệp, nhất là quá trình đô thị hóa trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đang ảnh hưởng lớn đến tài nguyên môi trường Cần phải có những giải pháp để phát triển bền vững, ổn định tối đa tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học đang là vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay
Tại Thừa Thiên Huế quá trình đô thị hoá đi liền với sự nghiệp công nghiệp hoá, phát triển giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng điện, nước đã làm thay đổi bộ mặt của các đô thị vốn rất nhỏ bé ở đây Công nghiệp phát triển, đô thị càng mở rộng, dân số đô thị ngày càng tăng đã làm bùng nổ lượng chất thải khí, nước thải
và đặc biệt là chất thải rắn với khối lượng vượt quá khả năng thu gom, xử lý, ở một số nơi vượt quá tầm kiểm soát của cơ quan chức năng địa phương Sông Hương không còn “xanh lững lờ” như xưa, mấy năm gần đây, mức độ ô nhiễm nguồn nước sông Hương ngày càng nặng Trong đó, hàm lượng Coliform tăng hàng chục lần so với những năm trước Báo cáo của Trung tâm quan trắc, Viện Tài nguyên Môi trường và Công nghệ sinh học, ại học Huế, đơn vị được giao quan trắc chất lượng nước sông Hương cho thấy, việc hình thành các đập thủy lợi, thủy điện đã làm thay đổi chế độ dòng chảy, suy giảm đa dạng sinh học và
Trang 63
tài nguyên sinh vật vùng hạ lưu Sông An Cựu vốn trong xanh vào mùa mưa, chỉ đục vào mùa hè Nhưng giờ đây, quanh năm sông chỉ là một màu đen ngòm, nước đục ngầu, lềnh bềnh rác thải, bốc mùi hôi thối Tình trạng ô nhiễm của sông đã quá nghiêm trọng, đặc biệt là ở khu vực chợ An Cựu và chợ Bến Ngự Hàng ngày, rác thải của các chợ và rác thải sinh hoạt của dân cư hai bên bờ cứ
vô tư đổ xuống dòng sông mặc dù đã có thùng rác Dọc hai bên bờ, nhiều ống cống xả nước thải lộ thiên xuống sông Bèo hoa dâu, cỏ dại mọc đầy “xâm chiếm” khiến dòng sông bị thu hẹp
Chính vì những lí do trên, nhóm chúng em đã tiến hành tìm hiểu chuyên đề “
Thực trạng môi trường và bảo vệ môi trường ở Việt Nam” với những mục tiêu
sau:
1 Tìm hiểu thực trạng môi trường hiện nay ở Việt Nam
2 Đưa ra một số biện pháp góp phần ngăn chặn,đẩy lùi quá trình ô nhiễm môi trường,bảo vệ,phát triển môi trường bền vững
Trang 74
CHƯƠNG II: NỘI DUNG 1.1 Thực trạng môi trường và bảo vệ môi trường ở Việt Nam
1.1.1 Môi trường đất
1.1.1.1 Định nghĩa ô nhiễm môi trường đất
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “Ô nhiễm môi trường là sự đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến mức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái chất lượng môi trường” ất được xem là ô nhiễm khi nồng độ các chất độc tăng lên quá mức an toàn, vượt lên khả năng tự làm sạch của môi trường đất
Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất gây ô nhiễm Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo nguồn gốc phát sinh, hoặc theo các tác nhân gây ô nhiễm
1.1.1.2 Ô nhiễm môi trường đất
a) Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt
Chất thải rắn đô thị cũng là một nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất nếu không được quản lý thu gom và kiểm soát đúng quy trình kỹ thuật
Chất thải rắn đô thị rất phức tạp, nó bao gồm các thức ăn thừa, rác thải nhà bếp, làm vườn , đồ dùng hỏng , gỗ, thủy tinh, nhựa, các loại giấy thải,các loạirác đường phố bụi, bùn, lá cây…
Ở các thành phố lớn, chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, tập trung, phân loại và xử lý Sau khi phân loại có thể tái sử dụng hoặc xử lý rác thải đô thị để chế biến phân hữu cơ, hoặc đốt chôn Cuối cùng vẫn là chôn lấp và ảnh hưởng tới môi trường đất
Ô nhiễm môi trường đất tại các bãi chôn lấp có thể do mùi hôi thối sinh ra
do phân hủy rác làm ảnh hưởng tới sinh vật trong đất, giảm lượng oxi trong đất
Trang 85
Các chất độc hại sản phẩm của quá trình lên men khuếch tán, thấm và ở lại trong đất Nước rỉ từ các hầm ủ và bãi chôn lấp có tải lượng ô nhiễm chất hữu cơ rất cao ( thông qua chỉ số BOD và COD) cũng như các kim loại nặng như Cu ,
Zn, Pb, Al ,Fe, Cd , Hg và cả các chất như P, N, … cũng cao Nước rỉ này sẽ ngấm xuống đất gây ô nhiễm đất và nước ngầm
Ô nhiễm môi trường đất còn có thể do bùn cống rãnh của hệ thống thoát nước của thành phố là mà thành phần các chất hữu cơ, vô cơ, kim loại tạo nên các hỗn hợp các phức chất và đơn chất khó phân hủy
b) Ô nhiễm do chất thải công nghiệp
Các hoạt động công nghiệp rất phong phú và đa dạng, chúng có thể là nguồn gây ô nhiễm đất một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Nguồn gây ô nhiễm trực tiếp là khi chúng được thải trực tiếp vào môi trường đất, nguồn gây ô nhiễm gián tiếp là chúng được thải vào môi trường nước, môi trường không khí nhưng
do quá trình vận chuyển, lắng đọng chúng di chuyển đến đất và gây ô nhiễm đất Quá trình phát triển công nghiệp và đô thị cũng ảnh hưởng đến tính chất lý
c) Ô nhiễm đất do chất thải nông nghiệp
Trang 96
Áp lực tăng dân số đòi hỏi nhu cầu tăng lương thực, thực phẩm ngày càng tăng và phải tăng cường khai thác độ phì nhiêu của đất bằng nhiều biện pháp: Tăng cường sử dụng hóa chất như phân bón vô cơ, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, sử dụng chất kích thích sinh trưởng làm giảm thất thoát và tạo nguồn lợi cho thu
hoạch, mở rộng các hệ tưới tiêu
Tuy nhiên trong phân bón và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) thường có sẵn kim loại nặng và chất khó phân hủy, khi tích lũy đến một giới hạn nhất định, chúng sẽ thành chất ô nhiễm
d) Ô nhiễm đất do phân bón hóa học
* Sử dụng phân vô cơ:
Ở nước ta, nhu cầu sử dụng phân bón ngày càng tăng Nhiều kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cây trồng chỉ sử dụng hữu hiệu tối đa 30% lượng phân bón vào đất Phần còn lại sẽ bị rửa trôi theo nước hoặc nằm lại trên đất gây ô nhiễm môi trường
Chất lượng phân bón không đảm bảo: Nhiều loại phân bón bản thân nó có chứa nhiều chất độc hại, phân bón được chế biến từ rác thải đô thị, phế phẩm sản xuất có chứa nhiều kim loại nặng và các vi sinh vật gây hại
* Sử dụng phân hữu cơ:
Trong phân chuồng cũng có chứa rất nhiều các loại kim loại nặng và các vi sinh vật gây hại Ở Việt Nam, phân chuồng thường ít được ủ đúng kỹ thuật và bón đúng liều lượng nên dễ gây ô nhiễm môi trường đất, gây hại cho động vật
và người Bởi vì trong phân bón này có chứa nhiều giun sán, trứng giun, sâu bọ,
vi trùng, và các mầm bệnh dễ lây lan Khi bón vào đất chúng có điều kiện phát triển làm ô nhiễm môi trường sinh thái qua lan truyền trong nước mặt hoặc bốc hơi trong không khí Mặt khác, lạm dụng quá nhiều phân hữu cơ trong điều kiện yếm khí sẽ làm tăng quá trình khử, sinh ra các chất ô nhiễm như: H2S, CH4 và tạo mùi khó chịu, làm giảm pH của đất
Trang 107
e) Ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật
Cùng với phân bón thì hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc thú y cũng được sử dụng ngày càng nhiều, hiện nay Việt Nam sử dụng trên 300 loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng (có cả các loại thuốc bị cấm như Wolfatox, Monitor, DDT) Lượng sử dụng là không lớn (từ khoảng 0,5-1 Kg/ha/năm), tuy nhiên, cũng như phân bón, việc sử dụng không hợp lý đã làm cho thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y trở thành một nguồn gây ô nhiễm
Bảng 1: Lượng thuốc bảo vệ thực vật tiêu thụ trong cả nước qua các năm
Năm Diện tích canh
Trang 118
do sử dụng và bảo quản thuốc bảo vệ thực vật chưa đúng quy định nên đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và nông sản gây nhiều hậu quả nghiêm trọng
f) Ô nhiễm đất do sự cố tràn dầu
Ô nhiễm dầu là một dạng mới xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1980 Ô nhiễm dầu không chỉ ảnh hưởng tới môi trường nước (biển, sông), mà còn ảnh hưởng tới môi trường đất Tác hại của dầu đối với môi trường đất rất lớn, nó có thể biến đất thành đất chết
Theo thống kê của Cục Môi trường (Bộ KHCN&MT), từ năm 1987 đến nay đã xảy ra hơn 90 vụ tràn dầu tại các vùng sông và biển ven bờ của nước ta, gây thiệt hại to lớn về kinh tế cũng như ô nhiễm nghiêm trọng và lâu dài cho môi trường Khi xảy ra sự cố tràn dầu trên nước hoặc trên đất, khả năng triển khai ứng cứu nhanh có vai trò đặc biệt quan trọng để loại bỏ hoàn toàn hay giảm thiểu tối đa những hậu quả nghiêm trọng và lâu dài mà sự cố tràn dầu có thể gây
ra
Khi dầu tràn trên đất hoặc dầu tràn trên nước xâm nhập vào bờ biển, bờ sông, đốt đất, rửa đất để loại bỏ dầu lẫn trong đất là điều không khả thi Xúc đất, cát nhiễm dầu chuyển đi nơi khác là việc làm cực kì tốn kém và cũng chỉ là
"đánh bùn sang ao" ể càng lâu dầu càng ngấm xuống sâu
Từ năm 1986, ở nước ta đã xuất hiện các vết dầu loang do rò rỉ ống dẫn dầu, vỡ tàu chở dầu (như tàu chở dầu của Singapore ở cảng Nhà Bè, thành phố
Hồ chí Minh năm 1994) bao phủ hàng ngàn ha đất bồi ven sông, làm chết rừng ngập mặn, hoa màu ruộng lúa Cùng với sự phát triển của ngành dầu khí, nguồn
ô nhiễm dầu ở nước ta sẽ gia tăng
g) Ô nhiễm do chiến tranh
Miền Nam nước ta qua cuộc chiến tranh tàn khốc đã phải hứng chịu 100.000 tấn chất độc hóa học, trong đó có ít nhất 194 kg đioxin
Trang 129
15 triệu tấn bom đạn đã thải xuống khắp các miền đất nước, không chỉ gây thiệt hại về người mà còn gây ra sự thay đổi về dòng chảy, tàn phá lớp phủ thực vật, đảo lộn lớp đất canh tác, để lại nhiều hố bom ở các vùng sản xuất nông nghiệp trù phú Kết quả là 34% diện tích đất trồng trọt và 44% diện tích rừng bị ảnh hưởng nghiêm trọng
h) Ô nhiễm do thảm họa địa hình
Miền núi, cao nguyên nước ta chiếm khoảng 67% diện tích cả nước với gần 20.883.000 ha Với địa hình cao và dốc, nguyên nhân suy thoái môi trường đồi núi của nước ta cũng không nhỏ và bao gồm các lọai sau: Do địa hình cao, dốc
có các yếu tố chia cắt ngang, chia cắt sâu, với chiều dài sườn dốc có các yếu tố chia cắt ngang , chia cắt sâu với chiều dài sườn dốc
1.1.2 Môi trường nước:
Hình 1: Nước sông ô nhiễm chuyển màu đen, rác thải trôi lềnh bềnh
1.1.2.1 Khái niệm ô nhiễm nước
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi
nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nôngnghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải
Trang 1310
trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã" Hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi các loại hoá chất độc hại, các loại vi khuẩn gây bệnh, virut, ký sinh trùng phát sinh từ các nguồn thải khác nhau như chất thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất, các loại rác thải của các bệnh viện, các loại rác thải sinh hoạt bình thường của con người hay hoá chất, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ sử dụng trong sản xuất nông nghiệp được đẩy ra các ao, hồ, sông, suối hoặc ngấm xuống nước dưới đất mà không qua xử lí hoặc với khối lượng quá lớn vượt quá khả
năng tự điều chỉnh và tự làm sạch của các loại ao, hồ, sông, suối [28]
1.1.2.2 Tình trạng ô nhiễm môi trường nước ở nước ta
a) Ở thành thị và các khu sản xuất:
Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD), nhu cầu ôxy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn.Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố
Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninh
Trang 1411
cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ônhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương) Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 m3 Ô nhiễm nước và hậu quả của nó 400.000 m3 chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24 trong 142 cơ sở y
tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, à Nẵng, Nam ịnh, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ô
xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP Ô nhiễm nước và hậu quả của nó [28]
b) Ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp:
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở
hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được
Trang 1512
xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ 1.500- 3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800- 12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu.Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻ nhân dân Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2001 của cả nước là 751.999 ha Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy
ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển mộtsố loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam [28]
c) Hiện trạng ô nhiễm nước ở một số sông lớn ở nước ta
Sau gần 20 năm mở cửa và đẩy mạnh kinh tế với hơn 64 khu chế xuất và khu công nghiệp, cộng thêm hàng trăm ngàn cơ sở hóa chất và chế biến trên toàn quốc Vấn đề chất thải là một vấn đề nan giải đối với những quốc gia còn đang phát triển, và chất thải lỏng trong trường hợp Việt Nam đã trở thành một vấn nạn lớn cho quốcgia hiện tại vì chúng đã được thải hồi thẳng vào các dòng sông mà không qua xử lý Qua thời gian, nguy cơ ô nhiễm ngày càng tăng dần,
và cho đến hôm nay, có thể nói rằng tình trạng ô nhiễm trên những dòng sông ở Việt Nam đã tăng cường độ ô nhiễm nước và hậu quả của nó rất lớn và không còn phương cách nào cứu chữa được nữa Qua báo chí và truyền thanh ở Việt Nam từ hơn hai năm qua, tin tức ô nhiễm nguồn nước ở hầu hết sông ngòi Việt Nam, đặc biệt ở những nơi có phát triển trọng điểm
Trang 1613
Nhiều dòng sông trước kia là nơi giặt giũ tắm rữa, và nước sông được xử dụng như nước sinh hoạt gia đình Nay tình trạng hoàn toàn khác hẳn Người dân ở nhiều nơi không thể dùng những nguồn nước sông này nữa Những nơi được đề cập đến có thể được chia ra từng khu vực khác nhau từ Bắc chí Nam tùy theo sự phát triển của từng nơi một [28] Ðó là:
- 3 Lưu vực sông Cầu và các phụ lưu qua các tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên,
- Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Dương
- 3 Lưu vực sông Nhuệ, sông Ðáy chảy qua các tỉnh Hòa Bình, TP Hà Nội,
Hà Tây, Hà Nam, Nam Ðịnh, và Ninh Bình
- 3 Lưu vực sông Ðồng Nai, sông Sài Gòn gồm các tỉnh Lâm Ðồng, Ðắc Lắc, Ðắc Nông, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Ðồng Nai (Biên Hòa), TP HCM,Bà Rịa-Vũng Tàu, Ninh Thuận, và Bình Thuận
- 3 Lưu vực Tiền Giang và Hậu Giang gồm các tỉnh thuộc ÐBSCL
1.1.3 Môi trường không khí:
Môi trường không khí ở Việt Nam tại các vùng nông thôn và miền núi còn khá tốt Tuy nhiên, ở các thành phố lớn, các khu đô thị và khu công nghiệp thì đang bị ô nhiễm nặng do nồng độ khói và bụi rất cao
Nguyên nhân do quá trình đô thị hoá tại Việt Nam đang diễn ra khá nhanh
đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng không khí Khói bụi tại những nơi này đang trở thành một vấn đề cấp bách Nồng độ bụi trong các khu dân cư bên cạnh các nhà máy, xí nghiệp hoặc gần các đường cao Bụi do giao thông lớn vượt chỉ
số cho phép từ 1,5-3 lần; tại những nơi đang xây dựng nhà cửa, đường xá vượt mức cho phép từ 10-20 lần Việc gia tăng các phương tiện giao thông cũng đang gây ô nhiễm không khí ở rất nhiều nơi Tại các nút giao thông lớn, nồng độ chì, khí CO khá
1.1.3.1 Việt Nam trong quá trình đô thị hóa nhanh
Bảo vệ môi trường đô thị ngày càng có tầm quan trọng trong phát triển bền vững quốc gia, bởi vì dân số đô thị ngày càng lớn, chiếm tỷ lệ trong tổng dân số
Trang 1714
ngày càng cao Các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia ngày càng
tập trung trong các đô thị Ở khu vực các nước ASEAN gần 3/4 GDP và khoảng
2/3 tổng sản lượng xuất khẩu quốc gia đều xuất phát từ các đô thị Thí dụ, riêng
Metro Bangkok (2005) đóng góp 44% GDP của Thái Lan, Metro Manila (2006)
đóng góp 37% cho GDP của Philippine, Thành phố Hồ Chí Minh (2006) đóng
góp 23,5% cho GDP Việt Nam
Năng lượng tiêu thụ ở các đô thị có thể chiếm tới 3/4 tổng năng lượng tiêu
thụ của quốc gia Năng lượng tiêu thụ, tức là tiêu thụ nhiên liệu than, dầu, xăng,
khí đốt càng nhiều, nguồn khí thải ô nhiễm càng lớn, do đó các vấn đề ô nhiễm
không khí trầm trọng thường xảy ra ở các đô thị, đặc biệt là thường xảy ra ở các
đô thị lớn [5]
Ở nước ta trong thời gian khoảng ¼ thế kỷ qua, cùng với quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là quá trình đô thị hoá tương đối nhanh
Bảng 2: Bùng nổ giao thông cơ giới (ƣớc tính) ở thủ đô Hà nội
Bảng 3: Quá trình Công nghiệp hóa ở Hà Nội
Trang 1815
1.1.3.2 Phương tiện giao thông cơ giới tăng nhanh
ô thị càng phát triển thì số lượng phương tiện giao thông vận tải lưu hành trong đô thị càng tăng nhanh (Biểu đồ 1) ây là áp lực rất lớn đối với môi trường không khí đô thị
Biểu đồ 1 Số lượng ô tô và xe máy hoạt động hàng năm của Việt Nam [8]
Số lượng phương tiện cơ giới này tập trung chủ yếu rất lớn tại các đô thị lớn, đặc biệt là ở Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội
Một đặc trưng của các đô thị Việt Nam là phương tiện giao thông cơ giới 2 bánh chiếm tỷ trọng lớn Ở các đô thị lớn, trong những năm qua, tỷ lệ sở hữu xe ôtô tăng nhanh, tuy nhiên lượng xe máy vẫn chiếm tỷ lệ rất lớn [19]
1.1.3.3 Công nghiệp hóa và đô thị hóa càng mạnh thì nhu cầu tiêu cầu thì nhu cầu tiêu thụ năng lượng càng lớn, nguồn ô nhiễm không khí càng tăng:
Nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong nước ngày càng tăng và dự báo trong 25 năm tới còn tiếp tục tăng cao Nếu các tiêu chuẩn về chất lượng xăng dầu không được thắt chặt thì chúng ta sẽ phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm không khí đô thị rất nghiêm trọng
Trang 1916
Tiêu thụ xăng dầu là một trong những nguyên nhân phát thải các chất độc hại như CO, hơi xăng dầu, SO2, chì Phát thải những chất này liên quan chặt chẽ đến chất lượng xăng dầu Trong cơ cấu tiêu thụ xăng dầu của quốc gia thì giao thông vận tải chiếm tỷ trọng lớn nhất, là nguồn phát thải khí ô nhiễm lớn nhất trong đô thị [17]
1.1.3.4 Ô nhiễm môi trường không khí đô thị:
Hoạt động giao thông vận tải, các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và hoạt động xây dựng là những nguồn chính gây ô nhiễm không khí ở các khu đô thị Theo đánh giá của các chuyên gia, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông gây ra chiếm tỷ lệ khoảng 70%
Xét các nguồn thải gây ra ô nhiễm không khí trên phạm vi toàn quốc (bao gồm cả khu vực đô thị và khu vực khác), ước tính cho thấy, hoạt động giao thông đóng góp tới gần 85% lượng khí CO, 95% lượng VOCs Trong khi đó, các hoạt động công nghiệp là nguồn đóng góp khoảng 70% khí SO2 ối với NO2, hoạt động giao thông và hoạt động sản xuất công nghiệp có tỷ lệ đóng góp xấp
xỉ nhau
Các khí CO, SO2, NO2 trong không khí tại các đô thị nhìn chung vẫn trong ngưỡng cho phép Tuy nhiên, tại một số địa điểm và trong một số thời điểm, nồng độ các chất này có tăng lên, một số trường hợp đã vượt trị số cho phép
Do ảnh hưởng của các hoạt động giao thông, nồng độ NO2 ở gần các trục đường giao thông cao hơn hẳn các khu vực khác ặc biệt tại những đô thị có mật độ phương tiện giao thông cao như TP Hồ Chí Minh, nồng độ NO2 trong không khí cao hơn hẳn những đô thị khác (Biểu đồ 2) iều này chứng tỏ NO2 được phát sinh chủ yếu từ các hoạt động giao thông trong thành phố [18]
Trang 20Nồng độ khí benzen, toluen và xylen đều có xu hướng tăng cao ở ven các trục giao thông đường phố Tại Hà Nội, một số nghiên cứu cho thấy nồng độ BTX (benzen, toluen và xylen) cao nhất ở dọc hai bên các tuyến đường giao thông và có giảm đi ở các khu dân cư nằm xa các trục đường lớn iều này chứng tỏ nguồn gốc của những khí này chủ yếu từ các phương tiện giao thông
1.1.4 Tài nguyên rừng Việt Nam:
Trang 2118
Theo tài liệu của Maurand thì trước năm 1945, Việt Nam có 14 triệu ha rừng chiếm hơn 42% diện tích tự nhiên của cả nước, năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu ha (chiếm 29% diện tích tự nhiên), năm 1985 còn 7,8 triệu ha (23,6%) đến năm 1989 chỉ còn 6, 5 triệu ha (19,7%) (Viện điều tra qui hoạch rừng Việt Nam, 1989)
Do đất nước ta trải dài từ bắc xuống nam và điạ hình với nhiều cao độ khác nhau so với mực nước biển nên rừng phân bố trên khắp các dạng địa hình, với nét độc đáo của vùng nhiệt đới và rất đa dạng: có nhiều rừng xanh quanh năm, rừng già nguyên thủy, rừng cây lá rộng, rừng cây lá kim, rừng thứ cấp, cây bụi
Tỉ lệ % diện tích rừng
lồ đã tiêu hủy hơn 2 triệu ha rừng nhiệt đới các loại và diện tích rừng chỉ còn khoảng 9,5 triệu ha, chiếm 29% diện tích cả nước
Trang 2219
Theo số liệu thu được nhờ phân tích ảnh Landsat chụp năm 1979 – 1981 và KATE 140 trong cùng thời gian, cho thấy trong giai đoạn này rừng chỉ còn lại 7,8 triệu ha, chiếm khoảng 24% diện tích cả nước (Viện iều tra và Quy hoạch rừng), trong đó 10% là rừng nguyên sinh Ở nhiều tỉnh rừng tự nhiên giàu còn lại rất thấp, như Lai Châu còn 7,88%, Sơn La 11,955% và Lào Cai 5,38% Sự suy giảm về độ che phủ rừng ở các vùng này là do mức tăng dân số đã tạo nhu cầu lớn về lâm sản và đất trồng trọt Kết quả đã dẫn tới việc biến nhiều vùng rừng thành đất hoang cằn cỗi Những khu rừng còn lại ở vùng núi phía Bắc đã xuống cấp, trữ lượng gỗ thấp và bị chia cắt thành những đám rừng nhỏ phân tán
Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến thời điểm tháng 12 năm 2008 diện tích rừng cả nước là 13,1 triệu ha (chiếm 38,7% tổng diện tích tự nhiên) bao gồm : 10,3 triệu ha rừng tự nhiên và 2,8 triệu
ha rừng trồng Nếu phân chi theo 3 loại rừng năm 2008 như sau: rừng đặc dụng : 2,1 triệu ha (tương đương với 15,7% tổng diện tích rừng), rừng phòng hộ : 4,7 triệu ha (36,1% tổng diện tích rừng) và rừng sản xuất : 6,2 triệu ha (47,3% tổng diện tích rừng) và rừng ngoài đất quy hoạch cho lâm nghiệp là 118,568 ha (0,9% tổng diện tích rừng) Mặc dù diện tích rừng tăng từ 7,8 triệu ha (năm 1981) lên 13,1 triệu ha (năm 2008) nhưng hiện tượng mất rừng vẫn tiếp diễn phức tạp tại nhiều nơi, từ vùng Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và ông Nam bộ Hiện tượng mất rừng và phá vỡ sự gắn kết các mảng rừng làm cho rừng trở nên manh mún khá phổ biến tại các khu rừng tự nhiên
Theo số liệu Báo cáo Chương trình điều tra, theo dõi và đánh giá tài nguyên rừng toàn quốc (NFIMAP) chu kỳ III, hơn 2/3 diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam được coi là rừng nghèo; Rừng giàu và rừng trung bình chỉ chiếm 4,6% tổng diện tích rừng và phần lớn phân bố tại các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa Nhiều khu rừng ngập mặn và rừng Tràm tại vùng đồng bằng ven biển
có vai trò quan trọng trong việc duy trì đang dạng sinh học dường như đã biến
Trang 2320
mất Cơ hội tái sinh tự nhiên có trữ lượng lớn thường độc lập và manh mún Báo cáo cũng cho thấy chất lượng và đa dạng sinh học rừng tiếp tục bị suy giảm Trong giai đoạn 1999 – 2005, diện tích rừng tự nhiên giàu giảm 10,2% và rừng trung bình giảm 13,4% Nhiều diện tích rừng tự nhiên rộng lớn tại vùng Tây Nguyên, ông Nam Bộ và Tây Bắc đã bị mất trong giai đoạn từ 1991 – 2001[29]
1.1.5 Đa dạng sinh học:
1.1.5.1 Đặc điểm:
Ở Việt Nam, sự khác biệt về khí hậu từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới cùng với sự đa dạng về địa hình, môi trường trên cạn và dưới nước đã tạo nên một thiên nhiên phong phú Một dải rộng các thảm thực vật, gồm nhiều kiểu rừng đã được hình thành như các rừng Thông, thường chiếm ưu thế ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới, rừng hỗn hợp lá kim và lá rộng, rừng khô cây họ Dầu ở địa hình thấp, rừng ngập mặn với các cây họ ước chiếm ưu thế ở ven biển, rừng Tràm ở U Minh và rừng hỗn tạp tre nứa ở nhiều nơi.[31]
Mặc dù bị khai thác quá mức, song rừng Việt Nam vẫn còn chứa đựng nhiều chủng loại Cho đến nay đã thống kê được 10.484 loài thực vật bậc cao có mặt (Phạm Hoàng Hộ, 1991 - 1993) Theo dự báo, số loài có thể đạt đến 12.000 loài, trong đó khoảng 2.300 loài được sử dụng làm lương thực, khoảng 3.300 loài đựơc sử dụng làm dược liệu, thức ăn gia súc, lấy gỗ, lấy dầu
và nhiều sản phẩm quý khác.[31]
Hệ động vật Việt Nam gồm khoảng 275 loài thú, 826 loài chim, 189 loài bò sát, 80 loài ếch nhái (lưỡng cư), 2.472 loài cá trong đó có 472 loài cá nước ngọt, khoảng 2.000 loài cá biển và hàng chục nghìn loài động vật không xương sống ở cạn, ở nước và trong đất [10] Cũng như giới thực vật, giới động vật có
Trang 241.1.5.2 Đa dạng các hệ sinh thái của Việt Nam:
a) Hệ sinh thái trên cạn
Trong các kiểu hệ sinh thái trên cạn thì rừng có sự đa dạng về thành phần loài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật hoang dã và vi sinh vật có giá trị kinh tế và khoa học Các kiểu hệ sinh thái tự nhiên khác có thành phần loài nghèo hơn Kiểu hệ sinh thái nông nghiệp và khu
đô thị là những kiểu hệ sinh thái nhân tạo, thành phần loài sinh vật nghèo nàn Xét theo tính chất cơ bản là thảm thực vật bao phủ đặc trưng cho rừng mưa nhiệt đới ở Việt Nam, có thể thấy các kiểu rừng tiêu biểu: rừng kín vùng thấp, rừng thưa, trảng truông, rừng kín vùng cao, quần hệ lạnh vùng cao Trong đó, các kiểu và kiểu phụ thảm thực vật sau đây có tính đa dạng sinh học cao hơn và đáng chú ý hơn cả: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới; kiểu rừng kín cây lá rộng, ẩm á nhiệt đới núi thấp; kiểu phụ rừng tręn núi đá vôi
b) Hệ sinh thái đất ngập nước:
Công ước Ramsar định nghĩa " ất ngập nước là những vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời,
có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển kể cả những vùng nước biển có độ sâu không quá 6 mét khi triều thấp"
Trang 2522
ất ngập nước ( NN) Việt Nam rất đa dạng về loại hình và hệ sinh thái, thuộc 2 nhóm NN: NN nội địa, NN ven biển Trong đó có một số kiểu có tính DSH cao:
- Rừng ngập mặn ven biển
- ầm lầy than bùn:
- Rạn san hô, cỏ biển
- Vùng biển quanh các đảo ven bờ
Mỗi kiểu hệ sinh thái NN đều có khu hệ sinh vật đặc trưng của mình Tuy nhiên, đặc tính khu hệ sinh vật của các hệ sinh thái này còn phụ thuộc vào từng vùng cảnh quan và vùng địa lý tự nhiên
c) Hệ sinh thái biển:
Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2 với nguồn tài nguyên sinh vật biển khá phong phú Trong vùng biển nước ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau
1.1.5.3 Đa dạng loài:
Mặc dù bị khai thác quá mức, song rừng Việt Nam vẫn còn chứa đựng nhiều chủng loại Cho đến nay đã thống kê được 10.484 loài thực vật bậc cao có mặt (Phạm Hoàng Hộ, 1991 - 1993) Theo dự báo, số loài có thể đạt đến 12.000 loài, trong đó khoảng 2.300 loài được sử dụng làm lương thực, khoảng 3.300 loài đựơc sử dụng làm dược liệu, thức ăn gia súc, lấy gỗ, lấy dầu
và nhiều sản phẩm quý khác.[31]
Hệ động vật Việt Nam gồm khoảng 275 loài thú, 826 loài chim, 189 loài bò sát, 80 loài ếch nhái (lưỡng cư), 2.472 loài cá trong đó có 472 loài cá nước ngọt,
Trang 2623
khoảng 2.000 loài cá biển và hàng chục nghìn loài động vật không xương sống ở cạn, ở nước và trong đất [10] Cũng như giới thực vật, giới động vật có nhiều loài đặc hữu (Endermic): hơn 100 loài và phân loài chim, 78 loài và phân loài thú, nhiều loài có giá trị lớn trong việc bảo tồn như voi, tê giác Java,
bò rừng, bò xám, trâu rừng, hổ, báo, hươu sao, nai cà toong, culi, vượn, voọc xám, voọc mũi hếch, sếu cổ trụi, cò quăm, cò xanh, cò quăm lớn, ngan cánh trắng, nhiều loài trĩ, công, cá sấu, trăn, rắn, vích, đồi mồi, rùa biển [31] Theo các tài liệu thống kê, Việt Nam là một trong 25 nước có mức độ đa dạng sinh học cao tręn thế giới với dự tính có thể có tới 20.000-30.000 loài thực vật Việt Nam được xếp thứ 16 về mức độ đa dạng sinh học (chiếm 6,5% số loŕi
có trên thế giới).[16]
a) Đa dạng loài trong hệ sinh thái trên cạn
Khu hệ thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, đã ghi nhận có 15.986 loài thực vật ở Việt Nam Trong đó, có 4.528 loài thực vật bậc thấp và 11.458 loài thực vật bậc cao Trong số đó có 10 % số loài thực vật là đặc hữu
Khu hệ động vật: cho đến nay đă thống kê được 307 loài giun tròn, 161 loài giun sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 145 loài ve giáp, 113 loài bọ nhảy, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim, 310 loài
và phân loài thú.[25]
b) Đa dạng loài trong hệ sinh thái đất ngập nước nội địa
Các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam rất đa dạng về hệ thực vật cũng như hệ động vật, bao gồm các nhóm vi tảo, rong, các loài cây cỏ ngập nước và bán ngập nước, động vật không xương sống và cá
- Vi tảo: đă xác định được có 1.438 loài tảo thuộc 259 chi và 9 ngành
Trang 2724
- Cho đến nay đã thống kê và xác định được 794 loài động vật không xương sống Trong đó, đáng lưu ý là trong thành phần loài giáp xác nhỏ, có 54 loài và 8 giống lần đầu tiên được mô tả ở Việt Nam Riêng hai nhóm tôm, cua (giáp xác lớn) có 59 loài thì có tới 7 giống và 33 loài (55,9% tổng số loài) lần đầu tiên được mô tả Trong tổng số 147 loài trai ốc, có 43 loài (29,2% tổng số loài), 3 giống lần đầu tiên được mô tả, tất cả đều lŕ những loài đặc hữu của Việt Nam hay vùng ông Dương iều đó cho thấy sự đa dạng vŕ mức độ đặc hữu của khu hệ tôm, cua, trai, ốc nước ngọt nội địa Việt Nam là rất lớn.[26]
c) Đa dạng loài trong các hệ sinh thái biển và ven bờ
ặc tính của khu hệ sinh vật biển Việt Nam thể hiện rő ở đặc tính nhiệt đới, đặc tính hỗn hợp, đặc tính ít đặc hữu vŕ đặc tính khác biệt bắc - nam Trong vůng biển nước ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn
20 kiểu hệ sinh thái điển hình và thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau, trong đó có hai vùng biển: Móng Cái - ồ Sơn, Hải Vân - Vũng Tàu có mức độ
đa dạng sinh học cao hơn các vùng còn lại ặc biệt, tại vùng thềm lục địa có 9 vùng nước trồi có năng suất sinh học rất cao, kèm theo là các bãi cá lớn Tổng số loài sinh vật biển đã biết ở Việt Nam có khoảng 11.000 loài, trong đó cá (khoảng 130 loài kinh tế) có 2.458 loài; rong biển có 653 loài; động vật phù du
có 657 loài; thực vật phù du có 537 loài; thực vật ngập mặn có 94 loài; tôm biển
có 225 loài
Các nghiên cứu về biến động nguồn lợi đă cho thấy danh sách khu hệ cá biển của Việt Nam đến tháng 1/2005 là 2.458 loài, tăng 420 loài so với danh sách được lập năm 1985 (có 2.038 loài) và đã phát hiện thêm 7 loài thú biển mới Một số loài sinh vật mới được phát hiện trong thời gian gần đây ở Việt Nam
Trang 28Một số kết quả điều tra cơ bản gần đây về các loài quý hiếm cũng cho thấy quần thể loài Rái cá lông mũi - loài tưởng đã tuyệt chủng, nay lại thấy ở khu bảo tồn U Minh thượng (Kiên Giang) Các loài mới được phát hiện đă làm phong phú thêm cho sinh giới của Việt Nam, trong khi một số loài khác, đặc biệt các loài có giá trị kinh tế đã biết lại có xu hướng giảm số lượng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng.[25]
1.1.5.4 Nguồn đa dạng sinh học đang bị đe dọa
Việt Nam là một trong những nước phong phú nhất về mặt sinh học ở ông Nam Á Những mối đe dọa chính đối với nguồn đa dạng sinh học tại Việt Nam là khai thác rừng quá mức, tập quán du canh du cư, diện tích đất trồng cây
bị thu hẹp, ô nhiễm nguồn nước, suy thoái các vùng ven biển, và nhu cầu kiếm sống của nông dân trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường Tốc độ tăng dân số nhanh chóng và thâm canh nông nghiệp cũng là những mối đe dọa ngày càng gia tăng Với dân số gia tăng và một nền kinh tế phát triển nhanh chóng, các công trình hạ tầng cơ sở quy mô lớn như đập nước và đường cao tốc cũng đe dọa nguồn đa dạng sinh học giàu có của Việt Nam nếu không được quy hoạch và quản lý tốt Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam là nhìn nhận nguồn
đa dạng sinh học quý giá của mình như một tài sản quốc gia và bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển và bảo tồn [30]
Trang 2926
1.1.6 Môi trường đô thị và khu công nghiệp:
Hiện nay nước ta có khoảng 76 đô thị loại 30.000 dân trở lên và khoảng
400 thị trấn nhỏ Tổng số dân đô thị là khoảng 25 triệu người, chiếm trên 29% tổng số dân cả nước Dự kiến đến năm 2010, dân số đô thị sẽ chiếm tới 35-48% trong đó khoảng 50-60% thuộc 3 thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh
Dân số đô thị tăng nhanh sẽ tạo ra sức ép về nhà ở, nước sinh hoạt, năng lượng, dịch vụ y tế và song song với nó là lượng chất thải (nước, rác thải) tăng, giảm diện tích cây xanh, diện tích mặt nước, tăng mật độ giao thông và lượng khí thải, bụi chì do đó cũng tăng theo
Bên cạnh đó, tốc độ công nghiệp hoá ở nước ta cũng tăng rất nhanh (có nơi đạt tới 35-40%/năm) Ngoài những mặt lợi thì tình hình công nghiệp hoá nhanh cũng mang lại những tác động đáng kể đến môi trường: nguồn chất thải độc hại càng lớn, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác triệt để, môi trường và tài nguyên càng bị suy thoái thì xác suất xảy ra các sự cố môi trường càng cao Các khu công nghiệp và nhà máy ở nước ta nhìn chung đều lạc hậu, chưa có thiết bị xử lý chất thải, đổ trực tiếp nước thải ra sông hồ và các khu vực dân cư xung quanh, gây ô nhiễm môi trường, tác động xấu đến sức khoẻ của người lao động cũng như của cộng đồng dân cư
1.1.6.1 Thực trạng môi trường ở đô thị:
Từ năm 1995 trở lại đây, các thành phố lớn như Hà nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành kiểm tra tình trạng môi trường các nhà máy, doanh nghiệp cũng như các khu dân cư và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường Số liệu cụ thể như sau:
a) Hệ thống cấp nước đô thị
Trang 3027
Theo kết quả thống kê cho biết, khoảng 70% hệ thống cấp nước đô thị lấy
từ nguồn nước mặt, 30% lấy từ nguồn nước ngầm Hệ thống phân phối nước lại
cũ kỹ, hư hỏng, rò rỉ làm thất thoát tới 30-40% lượng nước cung cấp [3] Như vậy lượng nước máy cung cấp đến người dân đô thị còn thấp (ở các thành phố loại I, tỉ lệ dân số được cung cấp nước máy chiếm 49,2%, ở thành phố loại II tỉ
lệ này là 47,1%) [3] Còn lại phần lớn dân cư tự khoan giếng lấy nước sinh hoạt Hiện nay, số lượng giếng khoan trên địa bàn các thành phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh là không thể kiểm soát nổi Chính tình trạng khoan giếng một cách bừa bãi như vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn nước mặt và nước ngầm gây ô nhiễm nguồn cung cấp nước chính cho các nhà máy nước đô thị
ể đánh giá mức độ ô nhiễm nguồn nước ở Hà Nội, người ta đã tiến hành phân tích hơn 660 mẫu nước lấy từ 106 giếng khoan cho kết quả là nhiều nơi thuộc khu vực nội thành Hà nội bị nhiễm bẩn NH4 ở mức độ mạnh và rất mạnh (khu vực Tương Mai, Lương Yên, Bách khoa, Ngô Sỹ Liên, đặc biệt là các khu
Hạ ình, Pháp Vân), một số khu vực còn bị nhiễm độc thạch tín [12]
b) Hệ thống thoát nước thải và vệ sinh môi trường
Tại các khu đô thị, tình trạng sử dụng nhà vệ sinh không hợp tiêu chuẩn vẫn tồn tại (ở Hà Nội là các khu phố cổ, ở thành phố Hồ Chí Minh là các vùng kênh rạch)
Theo báo cáo chiến lược vệ sinh và thoát nước đô thị Quốc gia cho thấy, ở
Hà Nội, số hộ gia đình không có nhà vệ sinh chiếm tới 43%, thành phố Hồ Chí Minh là 18% [3]
Mặt khác, hệ thống cống thoát nước thải cũng không đúng tiêu chuẩn, không có bất kỳ một hệ thống xử lý nước thải tập trung Nước thải được đổ trực tiếp vào hệ thống thoát nước chung và đổ ra các ao hồ sông ngòi trong thành phố
Trang 3128
(ở Hà nội, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu là hai con sông được coi là bẩn nhất với hàm lượng các chất ô nhiễm đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép) [12]
c) Hệ thống thoát nước mưa và tình trạng úng lụt
Hệ thống thoát nước mưa ở hầu hết các khu đô thị đều rất kém Ở Hà nội chỉ cần một trận mưa khoảng 50mm/h sẽ làm cho khoảng 42 điểm trong nội thành bị ngập nước, đặc biệt là khu vực đường Tôn ức Thắng, Nguyễn Thái Học…[1]
Nguyên nhân chính của tình trạng úng lụt là do các đường ống thoát nước
có đường kính nhỏ, không kịp thoát nước, thêm vào đó là các sông ngòi, ao hồ thoát nước đều bị bồi lấp, tồn tại nhiều lòng chảo trong phạm vi thành phố và do mặt bằng đô thị Hà Nội lại thấp hơn so với mực nước sông Hồng
d) Hệ thống xử lý chất thải rắn và tình trạng ô nhiễm đất
Kể từ năm 1997, Nhà nước đã có nhiều văn bản về quản lý chất thải rắn ở các khu đô thị và khu công nghiệp nhưng vấn đề này vẫn tồn tại nhiều bức xúc Trong năm 2000, tổng lượng rác thải đô thị ước tính khoảng 18 nghìn m3/ngày (82% là rác thải sinh hoạt) nhưng mới chỉ thu gom được khoảng 45-55% [1] Hiện nay ở các thành phố lớn chưa có biện pháp xử lý rác thải đúng tiêu chuẩn kỹ thuật Ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã có xưởng xử lý rác thải hữu cơ nhưng công suất thấp (chỉ bằng 1% lượng rác thải trong thành phố) Rác thải bệnh viện đang là một vấn đề gây rất nhiều sự chú ý của người dân Các bệnh viện hầu hết chưa có lò đốt rác hợp vệ sinh Không những thế khu vực đặt lò đốt rác lại sát ngay khu dân cư, khi đốt dân cư xung quanh sẽ hít phải những mùi rất khó chịu và rất độc hại ó là chưa kể đến tình trạng rác thải bệnh viện không được phân loại mà đổ chung với rác thải thông thường không qua xử
lý ây là nguy cơ lây lan các căn bệnh truyền nhiễm
Trang 3229
Gần đây, ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội nhiều bệnh viện đã có lò đốt rác thải hợp tiêu chuẩn vệ sinh y tế nhưng vẫn chưa xử lý hết được lượng chất thải bệnh viện Ngoài ra ở một số bệnh viện nhỏ do kinh phí còn hạn hẹp nên không có lò đốt rác hoặc nếu có thì cũng không thể đưa vào hoạt động
Phương pháp xử lý rác phổ biến hiện nay ở các đô thị là chôn ủ tại các bãi rác tập trung Nhưng hiện nay chưa có bãi rác nào được coi là đảm bảo được vệ sinh môi trường, từ đó gây ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm không khí khu vực lân cận
e) Hệ thống giao thông và tình trạng ô nhiễm không khí
Theo số liệu thống kê của sở giao thông Hà Nội, lượng xe ô tô trên các trục đường chính đạt khoảng 3000 - 7000 xe/giờ Tỉ lệ xe máy, ôtô tăng nhanh, ước khoảng từ 17-20% mỗi năm [23] Các loại xe phần lớn là cũ kỹ lạc hậu, hệ thống đường lại trong tình trạng quá tải hoặc thiếu sửa chữa, bảo dưỡng, xe thô sơ đi lẫn với xe cơ giới nên các xe phải thường xuyên thay đổi tốc độ, khí thải xả ra nhiều và gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng
+ Ô nhiễm bụi: Hà Nội khoảng 1,2mg/m3, gấp 3 – 4 lần tiêu chuẩn cho phép; Hải Phòng khoảng 1,8mg/m3; thành phố Hồ Chí Minh khoảng 1,6mg/m3[23]
+ Ô nhiễm SO2: ường Nguyễn Trãi Hà Nội lên tới 1,5-7,5 mg/m3
(gấp
3-15 lần tiêu chuẩn cho phép) [23]
+Tiếng ồn: ở Hà Nội, đo lường trên một số trục đường chính cho thấy mức
ồn giao thông trung bình trong cả ngày khoảng 75-79 dB; Hải Phòng là khoảng 73-74 Db [23]
1.1.6.2 Thực trạng môi trường khu công nghiệp
Trang 3330
Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến ngày 20/4/2008
cả nước có 185 khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ến hết năm 2008, cả nước có khoảng trên 200 khu công nghiệp Ngoài ra, còn có hàng trăm cụm, điểm công nghiệp được Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỉ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như
Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống
xử lí nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí ến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lí nước thải tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp đang xây dựng trạm xử lí nước thải Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác Tại Hội nghị triển khai ề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông ồng Nai ngày 26/2/2008, các cơ quan chuyên môn đều có chung đánh giá: nguồn nước thuộc lưu vực sông Sài Gòn - ồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, không đạt chất lượng mặt nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt Theo số liệu khảo sát
do Chi cục Bảo vệ môi trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn thực hiện năm 2008 cho thấy, lượng NH3 (amoniac), chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tăng cao tại hầu hết các rạch, cống và các điểm xả Có khu vực, hàm lượng nồng độ NH3 trong nước vượt gấp 30 lần tiêu chuẩn cho phép (như cửa sông Thị Tính); hàm lượng chì trong nước vượt tiêu chuẩn quy định nhiều lần; chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3 - 9 lần Tác nhân chủ yếu của tình trạng ô nhiễm này chính là trên 9.000 cơ sở sản xuất công nghiệp nằm phân tán, nằm xen kẽ trong khu dân cư trên lưu vực sông ồng Nai Bình quân mỗi ngày, lưu vực sông phải tiếp nhận khoảng 48.000m3 nước thải từ các cơ sở sản xuất này Dọc lưu vực sông ồng Nai, có 56 khu công nghiệp, khu
Trang 3431
chế xuất đang hoạt động nhưng chỉ có 21 khu có hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác động xấu đến chất lượng nước của các nguồn tiếp nhận Có nơi, hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp đã phá vỡ hệ thống thuỷ lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân
Nhìn chung, hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định Thực trạng đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi trường Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng, đấu tranh quyết liệt của người dân đối với những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, có khi bùng phát thành các xung đột xã hội gay gắt [20]
1.1.7 Môi trường nông thôn và miền núi
Nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam với 70% dân số đang chuyển mạnh sang cơ cấu sản xuất hiệu quả hơn, trong đó trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, dịch vụ đều đạt tốc độ tăng trưởng cao Cùng với sự chuyển biến tích cực về đời sống, xã hội, nông thôn nước ta vẫn còn bộc lộ những yếu kém về phát triển thiếu quy hoạch, tự phát, kết cấu hạ tầng kỹ thuật còn lạc hậu, vệ sinh môi trường nông thôn còn nhiều bất cập
1.1.7.1 Hiện trạng vệ sinh môi trường:
Theo kết quả điều tra cho thấy tình hình vệ sinh nông thôn Việt Nam hiện nay là hết sức nghiêm trọng Chỉ có 18% số hộ gia đình nông thôn, chưa đầy 12% số trường học và chưa đầy 3% chợ ở nông thôn có nhà vệ sinh đạt tiêu