*Đối tượng nghiên cứu: Để đạt được3mục tiêu trên, đối tượng nghiên cứu của đề tàI tập trungvào hiệu quả kinh tế của sản xuất nấm trong cơ cấu cây trồng ở địa bànnghiên cứu.. Tính cấp thi
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta rất quan tõm tới chất lượng cuộc sốngcủa người nụng dõn Do đú ngoài việc trồng cõy nụng nghiệp thỡ Đảng vànhà nước luụn quan tõm khuyến khớch người nụng dõn phỏt triển thờmnghề phụ cú thể là chăn nuụi lợn, chăn nuụi gà Nhằm mục đớch nõng caothu nhập cho người lao động
Trong thời gian thực tập trung tõm cụng nghệ sinh học – Viện Di truyềnnụng nghiệp- Bộ Nụng Nghiệp, tụi đó cú nhiều điều kiện xuống địa bàn xóTõn lập – huyện Đan phượng – tỉnh Hà tõy để nghiờn cứu về cỏc loại cõytrồng tại xó Và tại đõy tụi hoàn toàn bất ngờ trước sự đổi mới tại xó, vàđược biết nguyờn nhõn chớnh do việc trồng nấm đem lại Nấm và cỏc dượcliệu của nấm cú giỏ trị kinh tế cao, mà doanh thu được từ việc trồng nấmrất lớn và lớn hơn so với việc trồng cỏc cõy trồng khỏc Chớnh vỡ lý do trờn
mà tụi đó chọn đề tài: Trong thời gian thực tập trung tâm công nghệsinh học – Viện Di truyền nông nghiệp- Bộ Nông Nghiệp, tôi đã cónhiều điều kiện xuống địa bàn xã Tân lập – huyện Đan phợng – tỉnh
Hà tây để nghiên cứu về các loại cây trồng tại xã Và tại đây tôi hoàntoàn bất ngờ trớc sự đổi mới tại xã, và đợc biết nguyên nhân chính doviệc trồng nấm đem lại Nấm và các dợc liệu của nấm có giá trị kinh tếcao, mà doanh thu đợc từ việc trồng nấm rất lớn và lớn hơn so với việc
trồng các cây trồng khác Chính vì lý do trên mà tôi đã chọn đề tài: “ Phõn tớch hiệu quả kinh tế của sản xuất nấm ở xó Tõn Lập- huyện Đan Phượng- tỉnh Hà Tõy”.
*Mục đớch nghiờn cứu của đề tài:
Trang 2- Góp phần hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển sản xuấtnấm của nước ta nói chung và địa bàn xã Tân Lập nói riêng.
- Phản ánh thực trạng của sản xuất nấm ăn, hiệu quả của nó trên địabàn xã Tân Lập
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất nấm ăn
ở xã Tân lập huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây trong những năm tới
*Đối tượng nghiên cứu:
Để đạt được3mục tiêu trên, đối tượng nghiên cứu của đề tàI tập trungvào hiệu quả kinh tế của sản xuất nấm trong cơ cấu cây trồng ở địa bànnghiên cứu
*Phạm vi nghiên cứu:
Là những vấn đề về hiệu quả kinh tế của việc phát triển sản xuất nấmtrong cơ cấu cây trồng ở địa bàn nghiên cứu
*Địa đIểm và thời gian nghiên cứu:
- Địa đIểm nhiên cứu: Viện di truyền nông nghiệp và xã Tân Lập –huyện Đan Phượng – Hà Tây
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 17/01 đến ngày 07/05/2005
Trong thời gian nghiên cứu đề tài tôi đã được sự giúp đỡ rất nhiệttình của cán bộ công nhân viên trong Trung tâm Công nghệ sinh họcthực vật và đặt biệt là sự giúp đỡ rất chân thành của cô: T.S Vũ ThịMinh, tôi xin chân thành cảm ơn cô đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tàinày
Trang 3PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
I.Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất nấm.
1 Vai trò của sản xuất nấm và sự cần thiết phảI đánh giá hiệu quả nghành sản xuất nấm
1.1 Vai trò của phát triển sản xuất nấm ở Việt Nam.
Ngành sản xuất nấm đã được hình thành và phát triển trên thế giới từhàng trăm năm nay Do đặc tính khác biệt với động vật và thực vật về khảnăng quang hợp, dinh dưỡng và sinh sản, nấm được xếp thành một thế giớiriêng Giới nấm có nhiều loại, chúng đa dạng về hình dáng, màu sắc, gồmnhiều chủng loại và sống ở khắp nơi Cho đến nay, con người mới chỉ biếtđến một số loại để phục vụ cuộc sống
Nấm là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao
B ng 1: T l % so v i ch t khô ảng 1: Tỷ lệ % so với chất khô ỷ lệ % so với chất khô ệ % so với chất khô ới chất khô ất khô.
Độ Èm (w)
cacbon
Trang 4nicotini
c
Riboflavi n
Trang 5nấm như là một loại thuốc có khả năng phòng chống bệnh ung thư Hướngnghiên cứu này đang được tiếp tục làm sáng tỏ trong tương lai.
Vấn đề nghiên cứu và sản xuất nấm ăn trên thế giới ngày càng pháttriển mạnh mẽ nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực phẩm thực thụ
ở nhiều nước phát triển như Hà Lan, Pháp, Italia, Nhật Bản, Mỹ, Đức…nghề trồng nấm đã được cơ giới hoá cao từ khâu sử lý nguyên liệu đếnkhâu thu hái, chế biến nấm đều do máy móc thực hiện
Các nơi ở khu vực Châu á như Đài Loan, Trung Quốc, Malaixia,Indonêxia, Singapo, Triều Tiên, Thái Lan…nghề trồng nấm cũng phát triểnrất mạnh mẽ Một số loài nấm cũng được nuôi trồng khá phổ biến đó lànấm mỡ, nấm hương, nấm rơm, nấm sò, méc nhĩ
Sản phẩm nấm được tiêu thụ chủ yếu ở dạng tươi, đóng hộp, sấykhô, và làm thuốc bổ Các nước Bắc Mỹ và Tây Âu tiêu thụ nấm nhiều nhất(tính theo bình quân đầu người trong một năm) Giá 1 kg nấm tươi bao giêcũng cao hơn 1 kg thịt bò Nhiều nơi như Mỹ, Nhật Bản, Italia, Đài Loan,Hồng Công phải nhập khẩu nấm từ Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam…
Ở Việt Nam, nấm ăn cũng được biết từ lâu Tuy nhiên chỉ hơn 10năm trở lại đây, trồng nấm mới được xem như là một nghề mang lại hiệuquả kinh tế cao Các tỉnh ở phía Nam chủ yếu trồng nấm rơm và mọc nhĩ,sản lượng đạt trên 10.000 tấn/năm Nấm được tiêu thụ tại thị trường nội địa
và chế biến thành dạng hộp, muối xuất khẩu Các tỉnh phía Bắc như TháiBình, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Nội…đã có nhiều cơ sở quốcdoanh, tập thể, hộ gia đình trồng nấm Trong những năm đầu thập kỷ 90,phong trào trồng nấm mỡ được phát triển mạnh mẽ tổng sản lượng đạtkhoảng 500 tấn/năm Thị trượng tiêu thụ chủ yếu là nấm muối xuất khẩusang Nhật Bản, Italia, Đài loan, Thái Lan…
Trang 61.2 Tính cấp thiết phải đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất nấm.
Việt Nam là một trong những nước có đủ điều kiện để phát triểnmạnh nghề trồng nấm, do:
-Nguồn nguyên liệu để trồng nấm là rơm, rạ, thân gỗ, mùn cưa, bãmía các loại phế liệu sau thu hoạch rất giàu chất Xenlulo ở Việt Nam rấtphong phú Nếu tính trung bình mét tấn thóc sẽ cho ra 1,2 tấn rơm, rạ khôthì tổng lượng rơm rạ trong cả nước đạt con số vài chục triệu tấn/năm Chỉcần sử dụng 10% số nguyên liệu kể trên để trồng nấm thì sản lượng nấm sẽđạt vài trăm ngàn tấn /năm
-Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào và giá công lao động rẻ.Tính trung bình một lao động nông nghiệp mới chỉ dùng đến 30 – 40% quỹthời gian Chưa kể đến mọi người lao động phụ đều có thể tham gia trồngnấm được
Điều kiện tự nhiên (về nhiệt độ, độ Èm ) của Việt Nam rất thíchhợp cho nấm phát triển Cả hai nhóm nấm (nhóm ưa nhiệt độ cao: nấmhương, méc nhĩ , nhóm ưa nhiệt độ thấp: nấm mỡ, nấm hương, nấm sò )
ở Việt Nam đều trồng được
Phân vùng: đối với các tỉnh phía Nam tập trung trồng nấm rơm, mécnhĩ; các tỉnh phía Bắc trồng nấm mỡ, nấm hương, nấm sò
Song, do nhiều nhiệm vụ sản xuất lương thực được ưu tiên hàng đầu,nên trong những năm qua dinh dưỡng Protein chưa được coi trọng Thêmvào các khó khăn về chất lượng giống nấm chưa đảm bảo từ khâu sản xuấtđến quá trình nuôi giống, bảo quản cách sử dụng Hợp đồng xuất khẩu nấmthường không đủ về số lượng, chất lượng thấp dẫn đến mất lòng tin vớikhách hàng nước ngoài Làm cho khả năng xuất khẩu nấm ở nước ta cónhững hạn chế, ảnh hưởng đến mức dé tăng trưởng trong mức sống của
Trang 7người dân Việt Nam Trong hoàn cảnh mục tiêu 2.300 kcalo/người mới chỉđạt 2/3 mức phấn đấu, nhiều trẻ em vẫn còn bị suy dinh dưỡng, nhiềungười còn bị mặc bệnh thiếu chất dinh dưỡng Hiện nay, vấn đề lương thực
ở nước ta đã được giải quyết căn bản Người nông dân đang quan tâm đếnchuyển đổi cơ cấu cây trồng và phát triển sản xuất ngành nghề để nâng caothu nhập Chính vì vậy phân tích hiệu quả kinh tế của sản xuất nấm là cầnthiết để định hướng sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất ở các vùng nông thôn
2 Khái niệm hiệu quả kinh tế.
2.1 Một số quan điểm về hiệu quả kinh tế
Trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận, các nhà kinh doanh đã cố gắngđáp ứng nhu cầu hàng hoá và dịch vụ cho xã hội Mục tiêu của người kinhdoanh là không ngừng tìm mọi biện pháp để tối đa hoá lợi nhuận Muốn đạtđược mục tiêu trên các nhà sản xuất kinh doanh đặc biệt quan tâm đến hiệuquả kinh tế
Vấn đề hiệu quả kinh tế không chỉ là mối quan tâm riêng của các nhàsản xuất kinh doanh mà là mối quan tâm chung của toàn xã hội
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượngcủa hoạt động kinh tế, nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trongquá trình sản xuất kinh doanh Trong khi các nguồn lực sản xuất thì có hạn,nhu cầu hàng hoá và dịch vụ của xã hội ngày càng tăng và đa dạng thì nângcao hiệu quả kinh tế là một xu hướng khách quan của sản xuất
Trên thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh tế.Theo quan điểm của L.N Caricrop “Hiệu quả của sản xuất xã hộiđược tính về kế hoạch hoá trên cơ sở những nguyên tắc chung đối với nềnkinh tế quốc dân, bằng cách so sánh các hiệu quả của sản xuất với các chiphí hoặc nguồn dự trữ sử dụng”
Trang 8Theo tác giả Lê Thị Thụ: “hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu tổng hợp nhất
về chất lượng của sản xuất kinh doanh Nội dung của nó so sánh kết quảthu được với chi phí bỏ ra ”
Chóng ta có thể tìm thấy những quan điểm tương tự qua những côngtrình luận án của Nguyễn Định, Nguyễn Thị Thụ…nhìn chung quan điểmcủa các nhà khoa học có những khía cạnh phân biệt nhưng đều thống nhấtvới nhau, hiệu quả kinh tế là lợi Ých tối ưu mang lại của mỗi quá trình sảnxuất kinh doanh
Phương pháp tính hiệu quả kinh tế là so sánh kết quả sản xuất và chiphí bỏ ra nên có những cách tính khác nhau về chỉ tiêu này:
*Về kết quả sản xuất có những quan điểm cho là:
- Tổng giá trị gia tăng (VA)
- Lợi nhuận (Pr)
- Tổng giá trị sản lượng hoặc tổng giá trị sản xuất (GO)
- Hoặc là phần kết quả tăng thêm tăng thêm(Q)
*Có những quan điểm khác về chi phí:
- Tổng chi phí (TC)
- Chi phí vật chất (VC)
- Chi phí trung gian (IC)
- Chi phí lao động (LC)
- Chi phí từng yếu tố (YC)
- Hoặc chi phí tăng thêm (F)
- Từ khái niệm hiệu quả kinh tế, xác định bằng cách so sánh cáckết quả thu được với chi phí bỏ ra
Trang 9H = Q/CF (1a); H=CF/Q(1b)
Trong đó: H là hiệu quả kinh tế
Q là kết quả thu được
CF là chi phí bỏ ra
Hoặc H = Q/ CF (2a)
H = CF/Q (2b)
Trong đó Q Là phần tăng của kết quả
CF là phần tăng của chi phí
Trong quá trình nghiên cứu về hiệu quả kinh tế, người ta gắn hiệuquả kinh tế với hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối Hiệu quả kinh tếtuỳ thuộc ở sự phân phối các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Trongquan điểm này các nhà kinh tế quan tâm đến hiệu quả trong mối quan hệgiữa hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối
Ngày nay Đảng và Nhà nước ta chủ trương đổi mới cơ chế quản lý,Nghị quyết Đại hội Đảng VIII: Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mô hìnhphát triển kinh tế hiện nay với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế vàquản lý theo cơ chế thị trường có sự định hướng xã hội chủ nghĩa
Phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường có nghĩa là Đảng đặc biệtcoi trọng vấn đề hiệu quả kinh tế, phấn đấu để đạt tối đa hoá lợi nhuận.Theo định hướng XHCN có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước là phải chú ýđến hiệu quả xã hội
Mục tiêu toàn cục của nền kinh tế là ổn định, phát triển bền vững vàcông bằng xã hội
Trang 102.2Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, hiệu quả kinh tế và dịch vụ sảnxuất ra là kết quả của sự kết hợp các yếu tố đầu vào theo công nghệ sảnxuất nhất định Trong thực tế, có nhiều cách kết hợp yếu tố đầu vào vớinhững công nghệ khác nhau
C.Mac đã chỉ ra rằng: “Xã hội này khác với xã hội khác không phảisản xuất ra cái gì mà sản xuất cái đó bằng cách nào”
Sự khác nhau là ở chỗ “Bằng cách nào” đây chính là công nghệ, màtrước hết công nghệ phải phụ thuộc vào trình độ khoa học kỹ thuật vàvốn…
Nền kinh tế chịu sự chi phối của quy luật khan hiếm nguồn lực trongkhi nhu cầu của xã hội về hàng hoá và dịch vụ ngày càng tăng và đa dạng
Do vậy đòi hỏi xã hội phải lùa chọn, từng doanh nghệp phải lùa chọn, saocho với một lượng tài nguyên nhất định tạo ra khối lượng hàng hoá dịch vụcao nhất Đây cũng chính là mục tiêu của doanh nghiệp và của xã hội Nóimột cách cụ thể là ở một mức sản xuất nhất định làm sao để có chi phí vậtchất và lao động trên một đơn vị sản phẩm là thấp nhất Được như vậy thìlợi Ých của nhà sản xuất, người lao động và xã hội được nâng lên, nguồnlực mới được tiết kiệm Như vậy xã hội không chỉ quan tâm tới sản xuất màrất coi trọng hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh tế có thể hiểu là không lãng phínguồn lực, là tiết kiệm nguồn lực
Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất vàphát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia đó là: thoả mãn ngày càng tăng vềnhu cầu vật chất và tinh thần của mọi thành viên của xã hội Đánh giá kếtquả sản xuất là đánh giá về mặt sản lượng sản phẩm sản xuất tức là xem xét
về mặt chất lượng của quá trình sản xuất đó
Trang 11Xét về mặt hiệu quả cũng có nhiều loại: hiệu quả sản xuất, hiệu quảkinh tế, hiệu quả kỹ thuật…trong đó hiệu quả kinh tế là vấn đề trọng tâm.Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh chất lượng củahoạt động kinh tế Nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế cũng có nghĩa lànâng cao hiệu quả kinh tế Đây là một đòi hỏi khách quan của mọi hoạtđộng sản xuất và là yêu cầu của công tác quản lý kinh tế Như vậy, hiệuquả kinh tế chính là chỉ tiêu chất lượng phản ánh trình độ tổ chức, trình độ
sử dụng và quản lý các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp và của toàn bộnền kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh mặt chất lượnghoạt động kinh tế và là đặc trưng của mọi nền sản xuất xã hội
Nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế đa thành phần, phát triển theo
cơ chế thị trường và có sự quản lý của nhà nước Mục tiêu và yêu cầu đặt rađối với mọi thành phần kinh tế có khác nhau, song bất cứ một thành phầnkinh tế nào cũng quan tâm đến hiệu quả kinh tế Nó không chỉ đơn thuần làmột phạm trù kinh tế mà còn bao trùm ý nghĩa xã hội, khi xác đinh nó phảitính đến các vấn đề xã hội phức tạp Do vậy việc xác định, đánh giá hoặc sosánh hiệu quả kinh tế là vấn đề hết sức khó khăn và cũng mang tính chấttương đối Trong thực tế có những vấn đề không thể đánh giá ngay được
mà đòi hỏi phải có thời gian như Ănghen đã chỉ ra: “Nếu chúng ta phải trảiqua hàng ngàn năm lao động, nếu có thể trong một chõng mực nào đó đánhgiá trước được những hiệu quả tự nhiên xa xôi từng hoạt động sản xuất củachúng ta và vì thế chúng ta lại phải trải qua nhiều khó khăn hơn nữa mới cóthể biết được những hiệu quả xã hội của hoạt động Êy ”
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, nó không phải làmột mục đích cuối cùng của sản xuất, tuy nhiên muốn đạt được mục đíchcuối cùng thì lại quan tâm tới hiệu quả kinh tế; phải tìm mọi biện pháp để
Trang 12nâng cao hiệu quả kinh tế Đây cũng chính là ý nghĩa thực tế quan trọngcủa phạm trù hiệu quả kinh tế.
2.3 Phân loại hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, tuỳ theo cơ sở phânloại chúng ta xem xét vấn đề hiệu quả kinh tế trên các góc độ khác nhau: + Hiệu quả kinh tế: phải là mối quan hệ giữa kết quả đạt được về mặtkinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
+ Hiệu quả xã hội: phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và cáclợi Ých xã hội do sản xuất mang lại
+ Hiệu quả kinh tế – xã hội: phản ánh mối quan hệ tương quan giữacác kết quả đạt được tổng hợp ở các lĩnh vực kinh tế và xã hội với chi phí
bỏ ra để đạt được kết quả đó
+ Hiệu quả phát triển: thể hiện sự phát triển của các doanh nghiệp vàcác vùng Đây là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như: tình hình đời sốngvật chất, trình độ dân trí do kết quả phát triển sản xuất và nâng cao hiệuquả kinh tế
Trong các kết quả kinh tế xem xét thì hiệu quả kinh tế là trọng tâm vàquyết định nhất Hiệu quả kinh tế được đánh giá toàn diện đầy đủ nhất khi
có sự kết hợp hài hoà với hiệu quả xã hội và hiệu quả phát triển
Theo phạm vi và đối tượng nghiên cứu chúng ta có thể xem xét hiệuquả theo góc độ sau:
+ Hiệu quả kinh tế quốc dân: chúng ta tính hiệu quả kinh tế cho toànngành kinh tế quốc dân Dùa vào chỉ tiêu này chúng ta đánh giá vấn đề đầu
tư, chính sách của Nhà nước…một cách toàn diện, tránh tư tưởng bảo vệ,cục bộ địa phương chủ nghĩa
Trang 13+ Hiệu quả kinh tế ngành: Tính riêng cho từng ngành sản xuất Ngành
có thể là ngành lớn như nông nghiệp, công nghiệp hoặc phân ngành nhỏnhư trồng trọt, chăn nuôi
+ Hiệu quả kinh tế vùng: vùng ở đây muốn nói tới vùng kinh tế, vùnglãnh thổ như: tỉnh, huyện, xã
+ Hiệu quả kinh tế theo quy mô: tổ chức sản xuất có nhiều loại như:quy mô lớn, quy mô trung bình và quy mô nhỏ Chúng ta phải phân loạihiệu quả kinh tế một cách tương đối để thuận tiện trong quá trình nghiêncứu Song trên thực tế các loại hiệu quả kinh tế nêu trên, có mối quan hệchặt chẽ với nhau, từng ngành sản xuất, sẽ góp phần nâng cao hiệu quảkinh tế quốc dân
Tuy nhiên, không phải thực tế lúc nào cũng diễn ra thuận chiều, đôikhi lại bộ phận nào đó lại ảnh hưởng xấu tới lợi Ých toàn cục, lợi Ýchtrước mắt ảnh hưởng tới lợi Ých lâu dài Do vậy trong quá trình nghiên cứukhi đề xuất các giải pháp cần cân nhắc kỹ, tránh những ảnh hưởng xấu trênchi phí
II ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CỦA CÂY NẤM.
1 Đặc điểm kinh tế.
Nấm ăn bao gồm nhiều loại như: nấm rơm, nấm sò, nấm mỡ, méc nhĩ,nấm hương là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, chứa nhiều protein và cácaxit amin, cũng như rất giàu vitamin, không gây sơ cứng động mạch vàkhông làm tăng lượng cholesterol trong máu như nhiều loại động vật Dovậy nấm ăn được xem như một loại thực phẩm sạch và được sử dụng ngàycàng rộng rãi Nấm có thể sản xuất ở nhiều địa bàn theo các mùa vụ, côngnghệ và quy mô khác nhau, nguyên liệu là các loại phế phụ phẩm trong sảnxuất và chế biến nông sản, rẻ tiền dễ kiếm, đòi hỏi Ýt vốn đầu tư Vì thế
Trang 14trên thế giới nghề trồng nấm được hình thành và phát triển hàng trăm nămnay, đã lan rộng ra khắp toàn cầu.ở nhiều nước, sản xuất và chế biến nấm
đã phát triển thành một nghề ở trình độ cao theo phương thức công nghiệp.Việt Nam được đánh giá là có điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội kháthuận lợi cho việc sản xuất nấm Trải qua nhiều năm thăng trầm, đến nay ởmột số địa phương, việc sản xuất nấm đã tạo ra nhiều công ăn việc làm, tậndụng được thời gian nông nhàn và đem lại nguồn thu nhập đáng kể chonông dân Mặc dù vậy, trên thực tế việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ nấmmới phát triển ở quy mô nhỏ, phân tán, sản xuất nấm tiêu thụ trên thịtrường nội địa là chính, chưa tương xứng với tiềm năng và giá trị của nó.Việt Nam là một trong những nước có điều kiện để phát triển mạnhnghề trồng nấm, là do:
Nguồn nguyên liệu để trồng nấm là rơm, rạ, thân gỗ, mùn cưa, bãmía các loại phế liệu sau thu hoạch rất giàu chất Xenlulo Nếu tính trungbình mét tấn thóc sẽ cho ra 1,2 tấn rơm, rạ khô thì tổng lượng rơm rạ trong
cả nước đạt con số vài chục triệu tấn/năm Chỉ cần sử dụng 10% số nguyênliệu kể trên để trồng nấm thì sản lượng nấm sẽ đạt vài trăm ngàn tấn /năm
Lực lượng lao động dồi dào và giá công lao động rẻ Tính trung bìnhmột lao động nông nghiệp mới chỉ dùng đến 30 – 40% quỹ thời gian Chưa
kể đến mọi người lao động phụ đều có thể tham gia trồng nấm được
Điều kiện tự nhiên ( về nhiệt độ, độ Èm…) rất thích hợp cho nấm pháttriển Cả hai nhóm nấm ( nhóm ưa nhiệt độ cao: nấm hương, méc nhĩ…,nhóm ưa nhiệt độ thấp: nấm mỡ, nấm hương, nấm sò…) ở Việt Nam đềuđược trồng Mặt khác vốn đầu tư ban đầu để trồng nấm rất Ýt so với vốnđầu tư cho các ngành sản xuất khác
Trang 15Kỹ thuật trồng nấm không phức tạp Mọi người dân bình thường cóthể tiếp thu được công nghệ trồng nấm trong thời gian ngắn.
Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và trên thế giới tăng nhanh do sựphát triển chung của xã hội và dân số
-Hiệu quả kinh tế trồng sản xuất các loại nấm ăn:
+ Đối với nấm mỡ (chi phí cho 1 tấn rơm rạ):
1000 kg rơm rạ x 200 đồng/kg = 200.000 đồngHoá chất (đậm, lân, bột nhẹ) = 140.000 đồngGiống nấm 8 – 10 kg = 120.000 đồngCông lao động 30 công x 15.000 đồng = 450.000 đồngChi phí khác = 50.000 đồngTổng chi phí cho 1 tấn rơm rạ = 960.000 đồng
Năng suất trung bình thu hoạch là 20kg nấm tươi/1 tấn rơm rạ thì giáthành sẽ là:
Công lao động 30 công x 15.000 đồng = 450.000 đồng
Khấu hao dụng cụ, giầu giá = 100.000 đồng
Trang 16Tổng chi phí cho 1 tấn rơm rạ = 1.330.000 đồng
Năng suất trung bình cho thu hoạch khoảng 500 kg nấm tưới/ 1 tấnrơm rạ nguyên liệu thì giá thành là:
1.330.000 / 500 = 2.660 đồng/kgGiá nấm sẽ bán lẻ tại thị trường Hà Nội từ 7.000 – 10.000 đồng/kg.+Đối với nấm rơm (chi phí trên 1 tấn rơm rạ)
1000 kg rơm rạ x 200 đồng/1 kg = 200.000 đồng
Giống nấm 10 kg x 10.000 đồng = 100.000 đồng
Công lao động 20 công x 15.000 đồng = 300.000 đồng
Khấu hao dịch vụ, giầu giá = 20.00`0 đồng
Tổng chi phí cho một tấn rơm rạ là = 620.000 đồng
Năng suất trung bình cho thu hoạch là 120 kg nấm tươi/ 1 tấnnguyên liệu thì giá thành là :
620.000 đồng/ 120 kg = 5.200 đồng/ 1kg
Giá bán tại thị trường Hà Nội từ 7.000 – 10.000 đồng/ 1kg
+Nấm hương tính cho 1m3 gỗ
Gỗ sau sau, sồi, dẻ… 1m3 x 100.000 đồng = 100.000 đồng
Giống nấm 6 tíu hoắc 6 chai tương đương 2kg x 45.000 đồng/ 1kg =90.000 đồng
Công lao động 30 công x 15.000 đồng = 450.000 đồng
Khấu hao công cụ và chi phí khác = 100.000 đồng
Tổng chi phí cho 1m3 gỗ = 740.000 đồng
Trang 17Năng suất trung bình là 15 kg nấm khô/ 1m3 nguyên liêu thì giá thànhlà:
Số lượng tính cho 1.000 tói trọng lượng 1,3 – 1,4 kg/ tói
Đơn giá sản xuất: 1.000 đồng/túi
(Chưa kể công chăm sóc, thu hái)
Từ nguyên liệu đến kết thúc nuôi sợi:
Mùn cưa 100kg x 300 đồng/ kg = 300.000 đồng
Tói P.P + bông nót + cổ nót = 150.000 đồng
Giống méc nhĩ = 100.000 đồng
Nhiên liệu (than, củi) = 100.000 đồng
Công (đơn giá 15.000 đồng/ công) = 250.000 đồng
Khấu hao cộng chi phí khác = 100.000 đồng
Tổng cộng: 1.000.000 đồng
Đơn giá: 1.000 đồng/ tói
Chi phí chăm sóc, thu hái sản phẩn:
Công chăm sóc: 290.000 đồng/ 1.000 tói
Trang 18Khấu hao cộng chi phí khác = 100.000 đồng/ 1.000 tói
Tổng chi phí cho 1 tói mùn cưa từ khi sản xuất đến khi thu hái xonglà: 1.390.000 đồng/ 1.000 tói = 1.390 đồng
Sản phẩm thu được:
Trung bình 0,8 kg méc nhĩ tươi/ 1 tói ( tương đương với 0,08 kg khô/
1 tói) ta được 80 kg méc nhĩ khô/ 1.000 tói
Giống =300.000 đồng
Bông nót: 5 kg x 15.000 đông/ kg = 75.000 đồng
Trang 19Tói nilon: 5kg x 16.000 đồng/ kg = 80.000 đồng
Các phu gia = 360.000 đồng
Năng lượng (than, củi) = 150.000 đồng
Khấu hao nhà xưởng cộng dụng cô = 150.000 đồng
Công lao động: 50 công x 15.000 đồng/ công = 750.000 đồng
Các chi phí khác = 200.000 đồng
Tổng chi phí đầu vào 2.365.000 đồng
Năng suất tu được 60 kg linh chi tương ứng với 20 kg linh chi khô
2 Đặc điểm kỹ thuật:
+Nguyên liệu: Tất cả các loại phế thải của ngành nông nghiệp giàuchất Xenlulô đều là nguyên liệu chính để trồng nấm Thống kê 1 số loạinguyên liệu thông dụng nhất
Rơm rạ: Rơm và rạ phơi khô không bị mốc, đánh đống, bảo quảndùng dần
Nếu rơm rạ đã bị mốc, có màu đen, vụn lát do phơi không được nắng,
bị ngấm nước mưa nhiều ngày thì không lên dùng để trồng nấm vì năngsuất thấp
Bông phế thải: nguyên liệu được tạo ra ở các nhà máy rệt sợi sau khilấy gần hết sợi bông, phần còn lại là các hạt, bông vụn Nguyên liệu phảikhông mốc, phơi thật khô
Mùn cưa: Các loại mùn cưa gỗ màu, không có tinh dầu, phơi khô ( cao
su, bồ đề, )
Trang 20Thân cây gỗ: cành lá còn xanh tốt, có độ tuổi từ 3 – 5 tuổi, gỗ mềm cónhựa màu trắng (mít, sung, ngái, bồ đề, so đũa, dâu gia xoan, dừa, caosu ), đường kính thân gỗ 5 – 20 cm.
Các loại phụ gia (phân vô cơ, hưu cơ, ): tỷ lệ phối trộn với số lượngtuỳ theo từng loại nấm khác nhau
+Giống nấm có thể được nhân trên các cơ chất khác nhau: hạt đạimạch, thóc, mùn cưa, vỏ trấu, bông vụn, rơm rạ và các chất phụ gia
Bao bì đựng giống ở các dạng: chai thuỷ tinh, chai nhựa, tói nilon…
Dù trên môi trường hay bao bì nào, giống nấm cũng phải đảm bảo chấtlượng:
Không bị nhiễm bệnh: quan sát bên ngoài giống có màu trắng đồngnhất, sợi nấm méc đều từ trên xuống dưới, không có màu xanh, đen,vàng không có các vùng loang lổ
Giống có mùi thơm dễ chịu: nếu có mùi chua, khó chịu là giống đã bịnhiễm vi khuẩn, nấm dại giống không già hoặc non nếu thấy có mô sẹohay cây nấm méc trong chai, màu chai giống chuyển sang vàng, nâu đen làgiống quá già Giống chưa ăn kín hết đáy bao bì là giống còn non
Sử dụng tốt nhất khi giống đã ăn kín hết đáy chai (hoặc tói) sau 3 – 4ngày Muốn để lâu hơn phải bảo quản ở nhiệt độ lạnh (đối với giống nấm
sò, nấm mỡ, nấm hương và nấm linh chi bảo quản ở nhiệt độ 2 – 50 C, kéodài 30 - 45 ngày, giống nấm rơm và méc nhĩ bảo quản ở nhiệt độ 15 – 200
C, kéo dài 15 – 30 ngày Các chủng giống phù hợp với điều kiện và nhiệt
độ theo mùa vụ) năng suất cao có khả năng chống chịu sâu bệnh
Quá trình vận chuyển nấm phải hết sức nhẹ nhàng, tránh va chạmmạnh, dựng đứng chai giống( nót bông quay lên phía trên) không được mở
Trang 21nót bông ra xem, ngửi Để giống nơi thoáng mát, sạch sẽ không có ánhsáng trực tiếp.
Số lượng giống nấm đủ cho khối lượng rơm rạ đem trồng Tuỳ thuộctừng loại nấm khác nhau tỷ lệ giồng sẽ khá nhau
Tóm lại: Người trồng nấm hết sức lưu ý khi mua giống về sản xuất,đây là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại Nếu giống tốt năngsuất nấm sẽ cao và ngược lại Hiện có nhiều nơi sản xuất giống nấm, bạnnên tìm đến những địa chỉ đáng tin cậy để mua giống
+Nhà xưởng:
Yêu cầu chung về nhà xưởng trồng nấm cần đảm bảo các yếu tố: có hệthống cửa để điều chỉnh độ thông thoáng khi cần thiết, sạch sẽ, càng mátcàng tốt, độ Èm cao Trước và sau mỗi đợt trồng nấm cần phải vệ sinh thậttốt quanh khu vực nuôi trồng và trong nhà Có thể xông hoặc đốt bột lưuhuỳnh hay phun thuốc phoóc môn tỷ lệ 0,5% trước khi đưa nguyên liệu vàonhà trồng nấm một tuần
Đây là vấn đề rất quan trọng trong quá trình trồng nấm, đặc biệt là nhàtrồng nấm liên tục, nếu vệ sinh không tốt sẽ làm giảm năng suất nấm mỗi
vụ nuôi trồng Nguyên nhân dấn đến tình trạnh này là do sâu bệnh đangphát triển nhanh chóng trong nhà và quanh khu vực trồng nấm Một sốdạng nhà để trồng nấm như sau:
+Nhà chữ A:
Dùng cọc tre, cây gỗ thẳng, đường kính 7 – 12cm có chiều dài 2,4 mcác thanh tre, gỗ nhỏ, dài tối đa 20 m làm nan dọc theo nhà, thanh dài 2,4
m làm nan song song với cọc trụ
Trung bình một nhà trồng nấm hình chữ A nên làm dài từ 10 – 20 m,
cứ cách 2 m có một cặp cọc trô
Trang 22Chiều rộng nhà khoảng 2 m, có lối đi ở giữa rộng 0,4 m.
Mái phủ nilon thứ sinh, phía trên mái lợp một líp lá mía, thân cây ngô,
lá chuối, líp lá bề ngoài tạo độ mát (nép chắc 2 líp lại)
Nền nhà dưới các tán cây ăn quả (chuối, nhãn, vải, mít ) hoặc cây lấy
gỗ, bóng mát Nếu không có tán cây, có thể làm trên các khu đất trống, sângạch nơi dể thoát nước Có thể trồng các loại cây có dây leo (mướp, bí ngô,gấc, đậu ) cho bò trên mái càng tốt Phần mái giáp mặt đất có rãnh thoátnước
Hai đầu hối làm cửa ra vào để điều chỉnh ánh sáng và khi cần thiết.Loại nhà này thích hợp trồng các loại nấm mỡ và nấm rơm:
Kiểu nhà chữ A
Ghi chó:
AB: Chiều dài nhà 10 – 20m; CD: Chiều rộng 2m
E: Mái nhà bằng khung tre, líp ni lông, lá mía, thân cây ngô, thanh nẹp.F: Rãnh thoát nước hai bên mái
G: Cửa ra vào có cánh (bằng cót, bao dứa)
h: Chiều cao 1,8m
III CÁC CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ SẢN XUẤT.
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế phải khoán triệt các vấn đềsau:
Trang 23-Phải đảm bảo tính thống nhất, nó thể hiện nội dung và phương pháptính
-Phải đảm bảo tính toàn diện của hệ thống bao gồm chỉ tiêu tổng quát
và chỉ tiêu bộ phận, chỉ tiêu chính và chỉ tiêu bổ sung
-Phải phù hợp với đặc điểm và trình độ sản xuất nói chung và sản xuấtnông nghiệp nói riêng
-Chỉ tiêu phải phù hợp với nội dung, phương pháp tính quốc tế để cóthể so sánh, hoà nhập với kinh tế thế giới trong phát triển kinh tế mở củaĐảng và Nhà nước
Chỉ tiêu tổng quát của hiệu quả kinh tế
Q: là tổng giá trị sản xuất (GO)
Q: là giá trị gia tăng (VA)
Trang 24CF: có thể là chi phí của từng yếu tố sản xuất (YC)
CF: có thể là chi phí trung gian (IC)
Phương pháp xác định Q và CF nêu trên là chung nhất, tuỳ điều kiện
cụ thể mà chúng ta vận dụng
Công thức xác định hiệu quả kinh tế có thể biểu diễn:
H = Q/ CF (1)
Biểu diễn dưới dạng:
H = GO/ TC (1.1);H = VA/ TC (1.2);H= Pr/ TC (1.3) H = VA/
Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là việc làm hết
sứ phức tạp Vì vậy để phải ánh một cách đầy đủ và toàn diện hiệu quả kinh
tế thì ngoài những chỉ tiêu chủ yếu trên, ở một chõng mực nào đó phải kếthợp bổ sung sau :
-Các chỉ tiêu và năng suất lao động :
N = M/ T
N : năng suất lao động
Trang 25M : khối lượng sản phẩm sản xuất trong thời gian t
T: là thời gian hao phí để sản xuất M sản phẩm
-Chỉ tiêu năng suất đất đai:
Nd = GO(N)/ D (ct)
GO(N) giá trị sản xuất trồng trọt
D(ct) diện tích canh tác sử dụng trong ngành trồng trọt
-Thu nhập bình quân đầu người
-Suất hao phí vật tư nguyên liệu
-Trong quá trình phân tích phải chú ý tới khía cạnh về hiệu quả xãhội như giải quyết việc làm, nâng cao trình độ dân trí, góp phần xoá đóigiảm nghèo Đồng thời phải chú ý tới hiệu quả môi trường sinh thái nhưgiảm ô nhiễm môi trường, phát triển ngành nông nghiệp bền vững
Ngoài ra ta còn sử dụng cách khác để đánh giá hiệu quả kinh tế câynấm Đó là giá trị gia tăng: Giá trị gia tăng được tính theo công thức sau:
VA = GO – IC
VA: giá trị gia tăng
GO : giá trị sản xuất
IC: chi phí trung gian
Giá trị sản xuất của cây nấm chính là giá trị sản lượng được sản xuất
ra trên 1 đơn vị sản xuất trong thời gian là một vụ hay mét chu kỳ sản xuất.Chí phí trung gian bao gồm toàn bộ chi phí sản xuất (trừ khấu hao tài sản
cố định) và dịch vụ sản xuất
Trong nên kinh tế thị trường người sản xuất rất quan tâm đến giá trịgia tăng, đặc biệt các quyết định ngắn hạn Đó là kết quả của việc đầu tư
Trang 26chi phí cố định và chi phí biến đổi, lao động sống của từng hộ và khả năngquản lý của chủ hộ.
-Giá trị gia tăng trên một đồng chi phí trung gian Chỉ tiêu giá trị giátăng trên một đồng chi phí trung gian là chỉ tiêu tương đối hiệu quả Nó chỉ
ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi trong sản xuất khi sản xuất cạnhtranh trên thị trường thì chỉ tiêu này sẽ quyết định sự thành bại của một loạisản phẩm
-Thu nhập hỗn hợp = VA – thuế – khấu hao – thuê lao động (nếu có)Thu nhập hỗn hợp là phần trả công cho lao động chân tay và laođộng quản lý của hộ nông dân cùng tiền lãi thu được trên một dơn vị diệntích Nó là một phần đảm bảo cho đời sống và tích luỹ của hộ
Thu nhập hỗn hợp trên ngày công lao động: thu nhập hỗn hợp trênngày công lao động thực tế là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống chotừng cây trồng, từng công thức luân canh trên một đơn vị diện tích canhtác, làm cơ sở so sánh với chi phí cơ hội của từng lao động
Trang 27IV KINH NGHIỆM SẢN XUẤT NẤM Ở VIỆT NAM
1/ Tình hình sản xuất nấm trong nước
-Năm 1986 được tổ chức FAO tài trợ UBND thành phố Hồ Chí Minhthành lập xí nghiệp nấm thành phố Hồ Chí Minh Còng trong năm này, một
số đơn vị nấm khác cũng lần lượt được thành lập: công ty nấm Thái bình( Thái bình ), xí nghiệp nấm, các công ty liên doanh sản xuất và chế biếnnấm ở Cần thơ, Đà lạt Một số đơn vị đã có những hoạt động trong xuấtnhập khẩu nấm như Tổng công ty rau quả Việt Nam
-Năm 1992-1993 Công ty nấm Hà Nội nhập thiết bị chế biến đồ hộpnấm và nhà trồng nấm công nghiệp của Italia Theo đó ở thành phố Hà Nội,Unimex Quảng Ninh các tỉnh Hà Nam Ninh,Vĩnh Phóc phong trào trồngnấm mỡ trong sản xuất các năm 1988-1992 đã mở rộng đến hầu hết cáctỉnh phía bắc với sản lượng rất cao.Tuy nhiên do nhiều lý do khác nhâu,nhiều cơ sở sản xuất nấm ăn làm ăn thua lỗ, phải giải thể
Phong trào trồng nấm tạm lắng xuống, đến năm 1996 sản lượng nấm
ăn lại quay về điểm xuất phát của năm 1989 là 500 tấn/ năm
1.2 Kết quả sản xuất nấm trong nước
Tổng sản lượng các loại nấm ăn và nấm dược liệu của Việt Nam hiện nayđạt trên 120.000 tấn/ năm Kim ngạch xuất khẩu khoảng 40 triệu USD/
Trang 28năm, chỳng ta đang nuụi trồng 6 loại nấm ở cỏc địa phương Tổng sảnlợng các loại nấm ăn và nấm dợc liệu của Việt Nam hiện nay đạt trên120.000 tấn/ năm Kim ngạch xuất khẩu khoảng 40 triệu USD/ năm,chúng ta đang nuôi trồng 6 loại nấm ở các địa phơng.
- Nấm rơm trồng tập trung ở cỏc tỉnh miền Tõy Nam Bộ ( Đồng Thỏp,Súc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ ) chiếm 90% sản lượng nấm rơm cả nước
- Mộc nhĩ trồng tập trung ở cỏc tỉnh miền Đụng Nam Bộ( Đồng Nai,Lõm Đồng, Bỡnh Phước ) chiếm 70% san lượng mộc nhĩ của cả nước
- Nấm mỡ, nấm sũ, nấm hương, chủ yếu trồng ở cỏc tỉnh phớa bắc, sảnlượng mỗi năm đạt khoảng 15.000 tấn
- Nấm dược liệu: võn chi, linh chi, đầu khỉ mới nuụi trồng ở một sốtỉnh thành phố (Thành phố Hà Nội, Hưng Yờn, Vĩnh Phúc, Ninh Bỡnh,Thành phố Hồ Chớ Minh Đà Lạt )sản lượng mỗi năm đạt khoảng 100 tấn
- Một số nấm khỏc như: trõn chõu, kim chõm, đang ĐƯợC nghiờn cứu
và sản xuất thử nghiệm, sản lượng chưa đỏng kể
2 Bài học kinh nghiệm trồng nấm ở Trung Quốc.
Phúc kiến là một tỉnh nằm phớa đụng Trung Quốc, cỏch Đài Loan khoảng
250 km mặt biển,cú dõn số 35 triệu người, diện tớch đất gấp 1,5 lần so vớiViệt Nam, là tỉnh cú lịch sử nuụi trồng nấm lõu đời, kể từ thời giữa nhàMinh và nhà Thanh Chủng loại nấm phong phỳ, hiện đó nuụi trồng tới 45chủng loại nấm ăn và cú độ 100 chủng nấm cú giỏ trị kinh tế rừ rệt Lựclượng làm nấm rất hựng hậu, với khoảng hơn 20 cơ quan nghiờn cứu triểnkhai về nấm ăn, gần 100 cỏc bộ kỹ thuật cao cấp, hơn 500 cỏn bộ trung cấpchuyờn về làm nấm và rất nhiều kỹ thuật viờn làm nấm trong nụng dõn.Kinh nghiệm trồng nấm ở Phúc kiến rất dồi dào, bà con làm nấm lõu ngàytớch luỹ được nhiều kinh nghiệm thực tế, lại rất coi trọng khoa học kỹ thuật
Trang 29và kinh nghiệm nuụi trồng nấm ăn phự hợp với điều kiện của Phúc kiến.Nghề trồng nấm ăn phỏt triển đó mở rộng phạm vi sản xuất thực phẩm chocon người từ lĩnh vực trồng trọt và chăn nuụi sang lĩnh vực vi sinh vật.Nghề trồng nấm ăn cũn giỳp cho con người khai thỏc sự chuyển hoỏ, lợidụng lẫn nhau giữa thực vật động vật và vi sinh vật thụng qua vũng tuầnhoàn an lành mà tỡm ra con đường mới Trong tương lai, tiền đồ phỏt triểncủa nghề nấm ăn vụ cựng rộng lớn Phúc kiến là một tỉnh nằm phía
đông Trung Quốc, cách Đài Loan khoảng 250 km mặt biển,có dân số 35triệu ngời, diện tích đất gấp 1,5 lần so với Việt Nam, là tỉnh có lịch
sử nuôi trồng nấm lâu đời, kể từ thời giữa nhà Minh và nhà Thanh.Chủng loại nấm phong phú, hiện đã nuôi trồng tới 45 chủng loại nấm ăn và
có độ 100 chủng nấm có giá trị kinh tế rõ rệt Lực lợng làm nấm rất hùnghậu, với khoảng hơn 20 cơ quan nghiên cứu triển khai về nấm ăn, gần 100các bộ kỹ thuật cao cấp, hơn 500 cán bộ trung cấp chuyên về làm nấm vàrất nhiều kỹ thuật viên làm nấm trong nông dân Kinh nghiệm trồngnấm ở Phúc kiến rất dồi dào, bà con làm nấm lâu ngày tích luỹ đợcnhiều kinh nghiệm thực tế, lại rất coi trọng khoa học kỹ thuật và kinhnghiệm nuôi trồng nấm ăn phù hợp với điều kiện của Phúc kiến Nghềtrồng nấm ăn phát triển đã mở rộng phạm vi sản xuất thực phẩm cho conngời từ lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi sang lĩnh vực vi sinh vật Nghềtrồng nấm ăn còn giúp cho con ngời khai thác sự chuyển hoá, lợi dụng lẫnnhau giữa thực vật động vật và vi sinh vật thông qua vòng tuần hoàn anlành mà tìm ra con đờng mới Trong tơng lai, tiền đồ phát triển củanghề nấm ăn vô cùng rộng lớn
3 Kinh nghiệm trồng nấm ở Việt Nam
Khỏc với tỉnh Phúc kiến – Trung quốc, nghề trồng nấm ở Việt nammới phỏt triển, chủng loại nấm ở Việt nam rất ít, khoảng 6 loại nấm: nấm
Trang 30rơm, méc nhĩ, nấm sò, nấm mỡ, nấm hương, nấm dược liệu linh chi, và đếnnay Việt nam đã lai tạo được một số chủng giống nấm có năng suất chấtlượng cao vào sản xuất và dần nâng cao hiệu quả trong sản xuất nấm.
Trồng nấm không phải là một nghề khó, một người bình thường saumột thời gian ngắn học chuyển giao kỹ thuật trồng nấm là có thể làm đưọc.Tuy nhiên phải cần căn cứ vào điều kiên tự nhiên, cũng như kinh tế thịtrường để chọn những loại giống nấm cho phù hợp khi đó mới đạt năngxuất cao: các địa phương cần dùa vào điều kiện cô thể của mình mà đề ranhững hướng ưu tiên phát triển các loại nấm phù hợp, tránh tình trạng pháttriển theo phong trào, không ổn định:
- Đối với các tỉnh phía Nam: cần ưu tiên phát triển nấm rơm, méc nhĩ
- Đối với các tỉnh phía Bắc: tập trung phát triển nấm mỡ, nấm sò, nấm rơm(vào mùa hè)
Trong dự án của trung tâm Công Nghệ Sinh Học – Viện Di Truyền NôngNghiệp đã că cứ vào điều kiện của từng tỉnh mà đưa ra các loại giống trồngcho phù hợp
-Xã Đồng Cam huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ, tập trung sản xuất méc nhĩ,nấm sò nấm mỡ để muối sấy khô tại trụ sở hợp tác xã nông nghiệp
-Xã Tân lập huyện Đan phương Tỉnh Hà tây: tập trung sản xuất nấm sò,nấm rơm, nấm mỡ để cung cấp nấm tươi cho thành phố Hà nội và chế biếnđóng hộp tại Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật
-Xã Cẩm đoài huyện Cẩm giàng tỉnh Hải Dương: tập trung sản xuất nấmlinh chi, nấm trân châu, nấm méc nhĩ, nấm kim châm, nấm sò để làm dượcliệu tiêu thụ tươivà chế biến đóng hộp tại xưởng chế biến nấm của xã
-Xã Thanh trù, thị xã Vĩnh yên tỉnh Vĩnh phóc: nấm mỡ, nấm rơm, nấm sò,nấm linh chi
Trang 31-Xã Khánh An huyện Yên Khánh tỉnh Ninh bình: tập trung sản xuất nấm
mỡ, méc nhĩ nấm sò, nấm rơm
Trên báo Hà nội mới có bài: “Trồng nấm để giảm nghèo” có đoạnviết: “ Cái gì mới cũng cần tạo phong trào mới phát triển được Song ở địaphương tôi ai cũng muốn trồng nấm nhưng chúng tôi phải lùa chọn xemnhà ai có đủ điều kiện về tài chính, nhân lực, địa điểm chuyển giao côngnghệ và hỗ trợ ban đầu, đảm bảo đã làm là thành công” Điều này là hoàntoàn phù hợp vì đối với người dân quanh năm bán mặt cho đất, bán lưngcho trời mà nếu bị thất bại trong việc trồng nấm thì người dân rất khó cóthể đứng dậy làm tiếp được Do đó nhiều người nông dân rất thích trồngnấm vì đem lại hiệu quả cao, nhưng thích thôi vẫn chưa đủ mà phải căn cứvào thực tế của gia đình mình có đáp ứng được các yêu cầu của nghề trồngnấm
Trong trồng nấm, biện pháp kỹ thuật rất quan trọng, nó quyết địnhphần lớn hiệu quả của việc trồng nấm Do đó cần phải tìm hiểu thật kỹ cácbiện pháp kỹ thuật ứng với từng loại nấm để có thể chủ động trong việctrồng nấm
Trồng nấm theo kiểu nào phù hợp với từng loại nấm, địa hình, thờitiết khí hậu Tuy nhiên đối với người nông dân chọn “kiểu nhà chữ A” vừatiết kiệm chi phí vừa cho hiệu quả sản xuất cao
Sau thời gian gián đoạn trong nghề trồng nấm, đến nay nghề trồngnấm mới quay trở lại, do đó cần phải chú ý đến các biện pháp kỹ thuật vàkhuyến khích để mọi người dân nhận thức được lợi Ých của nghề trồngnấm và sử dụng nấm
Nấm không những có mặt ở thị trường trong nước và thị trường nướcngoài do đó để phát triển nấm thì các địa phương đều phải có nhà xưởng để
Trang 32thuận lợi cho chế biến và bảo quản nấm Cần tạo điều kiện để giảm gíathành nâng cao năng xuất, cũng như chất lưọng của nấm để đáp ứng nhucầu ngày càng cao của khách hàng thì đội ngò cán bộ kỹ thuật phải thườngxuyên cập nhật thông tin, để qua các phương tiện trường líp để nâng caonghiệp vụ chuyên môn dẫn đến chất lượng được cao
Trang 33
PHẦN II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong lĩnh vực kinh tế – xã hội, muốn có được kết quả nghiên cứuđúng Cần áp dụng nhiều phương pháp kết hợp Cụ thể các phương pháp đólà:
1.Phương pháp chuyên khảo.
Phương pháp này được sử dụng trong việc thu thập, chọn lùa các đềtài trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài Qua đó tiến hành tracứu các kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sản xuất cây nấm màphạm vi đề tài cho phép Phương pháp này được sử dụng nhiều trong giaiđoạn đầu tiên triển khai đề tài nghiên cứu, nó giúp cho các giai đoạn tiếpsau của đề tài được tiến hành một cách thuận lợi
2 Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của nông dân
Việc kết hợp phương pháp này với việc tổng hợp phân tích các tàiliệu thu thập từ các phòng chức năng trong tỉnh Hà Tây, huyện ĐanPhượng, xã Tân Lập để xác định một cách khoa học, chính xác các loại câytrồng ở địa bàn nghiên cứu Đây là cơ sở rất quan trọng để đánh giá đúngđắn, chính xác, có căn cứ khoa học về vai trò của cây nấm
3 Phương pháp phân tích thống kê kinh tế
Phương pháp này được sử dụng trong việc tập hợp xử lý số liệu, tàiliệu về các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội thu thập được Việc điều tra
do chính tác giả trực tiếp thực hiện với sự giúp đỡ của nhân dân, chínhquyền địa phương và các tổ chức, cơ quan liên quan
Trang 344 Phương pháp chuyên gia
Được dùng để tham khảo các ý kiến chuyên gia nông nghiệp của tỉnh
Hà Tây, cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp và các cán bộ chỉ đạo sảnxuất, các bậc lão nông, các hộ gia đình làm ăn có kinh nghiệm Các ý kiếnnày cùng với số liệu chứng minh là cơ sở đánh giá diễn biến phát triển câynấm như thế nào, cũng như xét dự báo cho hướng phát triển của cây nấmtrong tương lai
5 Phương pháp so sánh hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế của cây nấm được thể hiện qua hệ thống chỉ tiêu hiệuquả chính và chỉ tiêu hiệu quả bổ sung Việc lượng hoá các chỉ tiêu phảnánh mức độ đạt được của từng chỉ tiêu nhất định Vì vậy khi đánh giá hiệuquả kinh tế nói chung, hiệu quả kinh tế cây nấm nói riêng, cấn phải so sánhmức độ đạt được của từng chỉ tiêu với nhau để đánh giá nhận xét Việcđánh giá hiệu quả thông qua việc so sánh hệ thống các chỉ tiêu, cần phảichú ý đến các yếu tố nguồn lực khan hiếm để lùa chọn quyết định sản xuấtphù hợp với các vùng hay với một chủ thể sản xuất cụ thể
Trang 35PHẦN III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
I.PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA SẢN XUẤT NẤM Ở XÃ TÂN LẬP
và một số rau màu khác Năm 1990 thì xã Tân Lập đã có những cánh đồngngô đông, đậu tương, khoai tây mà cả huyện biết đến Nhưng phong tràotrồng cây vụ đông dù đã được tập trung lãnh đạo, khuyến khích mà xã viêncũng không thấy mặn mà, nhất là mấy năm gần đây nền kinh tế phát triểnthì ngày công lao động nông nghiệp càng thấp và bấp bênh so với cácngành nghề khác
Từ năm 1997, HTX nông nghiệp Tân Lập bắt đầu mở líp dạy nghềnấm và đã thu được nhiều người tham gia khoá học và kết quả từ nghềtrồng nấm đã đem lại cho xã Tân Lập một cơ hội làm ăn kinh tế mới
Năm 2003, giá trị thu nhập bình quân đầu người đạt 4 triệu đồng/năm Tốc độ phát triển kinh tế hàng năm tăng 8% Song so với một số địaphương khác vẫn còn chậm, do nền sản xuất mang tính tự phát Nhỏ lẻ theo
Trang 36quy mô hộ gia đình, lên chưa tạo ra thành các vùng sản xuất hàng hoá.Song là một xã nằm ở ven đô có thị trường tiêu thụ hàng hoá nông sản rấtthuận tiện nhất là sản phẩm nấm ăn do nhân dân sản xuất ra.
Thực tế từ kết quả của việc chuyển giao công nghệ trồng nấm vàkhuyến khích người dân tham gia sản xuất nấm đã đem lại một nguồn sinhkhí mới cho xã Tân Lập Hiệu quả của việc trồng nấm rất cao, khôngnhững tạo cho một bộ phận nông dân có việc làm ổn định, góp phần vàocông cuộc xáo đói giảm nghèo của địa phương, nhiều hộ làm nấm đời sống
đã được cải thiện rõ rệt
1.2 Quá trình tổ chức triển khai thực hiện dự án trồng nấm ở xã Tân Lập.
Năm 2003, được sự quan tâm của Trung tâm Công nghệ sinh học thựcvật – Viện Di truyền nông nghiệp – Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển NôngThôn đã tạo điều kiện cho xã Tân Lập được tham gia thực hiện dự án trồngnấm
Đảng uỷ – UBND xã đã có nghị quyết lãnh đạo và thành lập ban chỉđạo dự án gồm 5 đồng chí do phó chủ tịch UBND xã làm trưởng ban Năm
2004, do việc phân công điều động cán bộ, ban chỉ đạo dự án được bổ sung
1 đồng chí, đến nay ban chỉ đạo dự án xã là 6 đồng chí Ban chỉ đạo đãphân công cụ thể từng thành viên phụ trách các khâu công việc và tổ chứctriển khai thực hiện dự án Phối hợp với cán bộ kỹ thuật của trung tâm côngnghệ thực vật được phân công phụ trách địa bàn xã, để chỉ đạo các hộ sảnxuất Nhận cấp phát giống nấm, vật tư theo đúng kế hoạch, tổ chức kiểm trađôn đốc các hộ sản xuất đạt hiệu quả cao
Như vậy, nhờ có sự giúp đỡ của Trung tâm Công nghệ thực vật – Viện
Di truyền mà nông dân xã Tân Lập đã có cơ sở vững chắc về phương pháp,