1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên

76 401 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 470,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013..... Ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa Akita K

Trang 1

TRIỆU THỊ NGA

NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT THÂM CANH GIỐNG LÚA AKITA KOMACHI TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Quý Nhân

Thái Nguyên - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian nghiên cứu đề tài, luận văn của tôi đã được hoàn thành với sự nỗ lực của bản thân, sự động viên của bạn bè, đồng nghiệp, đặc biệt là sự hướng dẫn, quan tâm, tạo điệu kiện giúp đỡ của thầy giáo

TS Đặng Quý Nhân, nguyên là giảng viên khoa Nông học - Trường Đại

học Nông Lâm Thái Nguyên, hiện nay đang công tác tại phòng Đào tạo huấn luyện thuộc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, là người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Nông học cùng các thầy cô giáo trong Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên khích lệ, giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 12 năm 2014

Tác giả luận văn

Triệu Thị Nga

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

- Tôi đã luôn luôn nỗ lực, cố gắng và trung thực trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

- Các thông tin trong luận văn đã được chọn lọc, phân tích, tổng hợp, xử lý

từ nhiều nguồn khác nhau và được đưa vào luận văn đúng quy định

- Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 12 năm 2014

Tác giả luận văn

Triệu Thị Nga

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam 5

1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 5

1.2.2 Tình hình sản xuất lúa của Việt Nam 9

1.3 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới và ở Việt Nam 12

1.3.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới 12

1.3.2 Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam 15

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu 23

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 23

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 23

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 31

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Điều kiện thời tiết khí hậu 32

3.1.1 Nhiệt độ 32

3.1.2 Ẩm độ không khí 33

3.1.3 Lượng mưa 33

3.1.4 Số giờ nắng 34

3.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến sinh trưởng và năng suất

của giống lúa Akita Komachi vụ mùa năm 2013 tại huyện Định Hóa 34

3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến thời gian sinh trưởng

của giống lúa Akita Komachi vụ mùa năm 2013 34

3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng đẻ nhánh

của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 35

Trang 5

3.2.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chiều cao cây và khả năng chống đổ

của giống Akita Komachi vụ mùa năm 2013 37

3.2.4 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến tình hình sâu, bệnh hại

trên giống lúa Akita Komachi vụ mùa năm 2013 38

3.2.5 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và

năng suất của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 40

3.2.6 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến hiệu quả kinh tế

của giống lúa Akita Komachi vụ mùa năm 2013 41

3.3 Ảnh hưởng phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất

của giống lúa Akita Komachi vụ mùa năm 2013 và vụ xuân năm 2014

tại huyện Định Hóa 42

3.3.1 Ảnh hưởng của phân bón đến thời gian sinh trưởng

của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 và vụ xuân năm 2014 43

3.3.2 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng đẻ nhánh

của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 và vụ xuân năm 2014 44

3.3.3 Ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao cây và khả năng chống đổ

của giống lúa Akita Komachi, vụ mùa năm 2013 và vụ xuân năm 2014 46

3.3.4 Ảnh hưởng của phân bón đến tình hình sâu bệnh hại

giống lúa Akita Komachi vụ mùa năm 2013 và vụ xuân năm 2014 46

3.3.5 Ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và

năng suất giống lúa Akita Komachi vụ mùa năm 2013 và vụ xuân năm 2014 48

3.3.6 Ảnh hưởng của phân bón đến hiệu quả kinh tế

của giống lúa Akita Komachi vụ mùa năm 2013 và vụ xuân năm 2014 50

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

1 Kết luận 52

2 Đề nghị: 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 6

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CT : Công thức

ĐBSCL : Đồng bằng Sông Cửu Long

BVTV : Bảo vệ thực vật

NSTT : Năng suất thực thu

NSLT : Năng suất lý thuyết

NL : Nhắc lại

TB : Trung bình

KL : Khối lượng

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa

trên thế giới giai đoạn 1970 - 2013 6

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa gạo

của một số nước đứng đầu thế giới năm 2013 7

Bảng 2.3 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa

của Việt Nam giai đoạn 1970 - 2013 10

Bảng 3.1 Diễn biến thời tiết khí vụ mùa năm 2013 và vụ xuân năm 2014

ở huyện Định Hóa 33

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến thời gian sinh trưởng, phát triển

của giống lúa Akita Komachi vụ mùa năm 2013 tại huyện Định Hóa 35

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng đẻ nhánh

của giống lúa Akita Komachi vụ mùa năm 2013 tại huyện Định Hóa 36

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chiều cao cây và khả năng chống đổ

của giống lúa Akita Komachi vụ mùa năm 2013 tại huyện Định Hóa 38

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến tình hình sâu bệnh hại

của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 tại huyện Định Hóa 39

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 tại huyện Định Hóa 40

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến hiệu quả kinh tế

của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 tại huyện Định Hóa 42

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của phân bón đến thời gian sinh trưởng của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 và vụ xuân năm 2014 tại huyện Định Hóa 43

Bảng 3.9 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa

Akita Komachi vụ mùa 2013 và vụ xuân năm 2014 tại huyện Định Hóa 45

Bảng 3.10 Ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao cây

và khả năng chống đổ của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 và

vụ xuân năm 2014 tại huyện Định Hóa 46

Trang 8

Bảng 3.11 Ảnh hưởng của phân bón đến tình hình sâu, bệnh hại giống lúa

Akita Komachi vụ mùa 2013 và vụ xuân năm 2014 tại huyện Định Hóa 47

Bảng 3.12 Ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất

và năng suất giống Akita Komachi vụ mùa 2013 và vụ xuân năm 2014 48

Bảng 3.13 Ảnh hưởng của phân bón đến hiệu quả kinh tế của giống lúa

Akita Komachi vụ mùa năm 2013 và vụ xuân năm 2014 tại huyện Định Hóa 50

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực quan trọng bậc nhất ở nước ta

và đứng hàng thứ hai trên thế giới sau lúa mỳ Khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực chính và 25% dân số sử dụng lúa gạo trên 1/2 khẩu phần lương thực hàng ngày Chính vì thế, việc tăng sản lượng và chất lượng của lúa gạo để đáp ứng nhu cầu của con người vẫn luôn được thế giới quan tâm hàng đầu nhằm đảm bảo an ninh lương thực và chất lượng cuộc sống Trong các châu lục sản xuất lúa thì Châu Á là châu lục có diện tích và sản lượng lúa lớn nhất thế giới (chiếm trên 90% sản lượng lúa gạo thế giới)

Việt Nam là một nước nông nghiệp, sản xuất lúa gạo luôn là vấn đề quan trọng, liên quan trực tiếp đến an ninh lương thực và chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước Việt Nam có trên 70% dân số sống ở nông thôn, gắn liền với truyền thống và tập quán sản xuất lương thực, trong đó lúa gạo là chủ yếu, chiếm gần 90% tổng sản lượng lương thực Trong những năm gần đây, khi lương thực đã được đảm bảo thì thì câu hỏi lớn đặt ra đối với các cấp chính quyền và nhiều hộ nông dân là làm thế nào để sản xuất lúa gạo thành hàng hoá, tăng hệ số sử dụng đất, tăng hệ số sử dụng phân bón để đem lại thu nhập cao hơn cho người sản xuất lúa, đồng thời góp phần bảo vệ được môi trường sinh thái

Định Hóa là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích đất tự nhiên là 52.075 ha, trong đó đất nông nghiệp là 10.169 ha chiếm 17,61% diện tích đất tự nhiên Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII nhiệm kỳ 2010-2015 đã xác định cơ cấu kinh tế của huyện

là "Nông, lâm nghiệp - dịch vụ, du lịch - công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây

dựng”. Trong đó, sản xuất lương thực vẫn giữ vai trò chủ yếu

Hiện nay, Định Hóa đã ổn định về lương thực với diện tích lúa cả năm

là 8.700 ha, sản lượng thóc đạt gần 45 nghìn tấn thóc (Nguồn: Số liệu thống

kê huyện Định Hóa năm 2013) Trong đó lúa vụ xuân diện tích gieo cấy là 4.000 ha năng suất bình quân 52,5 tạ/ha, vụ mùa 4.700 ha năng suất bình quân

là 50 tạ/ha So với 10 năm trước đây năng suất và sản lượng lúa đã tăng gấp

Trang 10

2,5 lần Những năm gần đây, cùng với chủ trương của tỉnh Thái Nguyên, huyện Định Hóa đã đẩy mạnh sản xuất lúa lai với các giống chủ lực như: Syn6, Bio 404, VL20 Tuy nhiên, đối với lúa lai đầu ra cho sản phẩm của người nông dân rất khó khăn (giá thành thấp) nên việc phát triển lúa lai còn rất hạn chế Tại Định Hóa, lúa Khang dân vẫn chiếm ưu thế với khoảng 70% diện tích vụ xuân, 30% diện tích vụ mùa; Vụ mùa chủ yếu là Bao Thai với khoảng 55 - 60% diện tích, còn lại là các giống khác Trong đó, giống Bao Thai là giống lúa có thời gian sinh trưởng dài 140 - 160 ngày và chỉ cấy được

1 vụ mùa (là giống cảm quang) Bao Thai không chịu thâm canh do cây cao hơn các giống khác (cao hơn từ 15 - 20cm) dễ đổ, do đó năng suất thấp, trung bình đạt 48 - 50 tạ/ha, yếu điểm nữa là do lúa Bao Thai là giống dài ngày nên đã ảnh hưởng rất lớn đến việc trồng cây vụ đông

Giống lúa Akita Komachi là giống lúa thuần thuộc loài phụ Japonica,

có chất lượng gạo ngon, thời gian sinh trưởng ngắn (thời gian sinh trưởng ngắn hơn cả giống Khang dân 18) Trong những năm qua, giống lúa này đã được trồng ở một số địa phương như: Vĩnh Phúc, An Giang, Phú Yên…cho kết quả tốt Với ưu điểm của giống lúa này, xuất phát từ thực trạng sản xuất lúa và định hướng phát triển ngành Nông nghiệp của huyện, tôi đã lựa chọn giống lúa này để

tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh giống lúa

Akita Komachi tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên"

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được biện pháp kỹ thuật thâm canh phù hợp cho giống lúa Akita Komachi nhằm đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với điều kiện canh tác tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

3 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ gieo cấy đến khả năng sinh trưởng, khả năng chống chịu và cho năng suất của giống lúa Akita Komachi tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá hiệu quả của một số công thức phân bón đến khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của giống lúa Akita Komachi trong điều

Trang 11

kiện áp dụng thử nghiệm các biện pháp canh tác mới tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

- Xác định đặc tính nông học, năng suất và khả năng chống chịu sâu, bệnh hại, khả năng chống đổ của giống lúa Akita Komachi qua các biện pháp thâm canh

- Nghiên cứu, xác định tính ổn định, khả năng thích ứng của giống lúa Akita Komachi với điều kiện sinh thái của huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, góp phần xây dựng cơ sở khoa học để giới thiệu giống và biện pháp

kỹ thuật canh tác mới cho sản xuất, giúp sản xuất tránh được thiệt hại do sử dụng giống và biện pháp kỹ thuật không phù hợp

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu khoa học để các nhà quản lý, nghiên cứu kỹ thuật về nông nghiệp, giáo viên và sinh viên các trường nông nghiệp tham khảo

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Xác định được biện pháp thâm canh và đánh giá được khả năng thích ứng của giống lúa Akita Komachi tại huyện Định Hóa, là giống lúa có năng suất, chất lượng cao, có thời gian sinh trưởng ngắn và khả năng chống chịu tốt

để ứng dụng vào sản xuất, làm cơ sở mở rộng diện tích sản xuất lúa hàng hóa các giống lúa mới chất lượng cao, tạo điều kiện mở rộng diện tích cây trồng

vụ đông, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích, góp phần cải thiện đời sống

vật chất và tinh thần của người dân

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Trong sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất lúa nói riêng, ngoài điều kiện thời tiết khí hậu thì việc áp dụng các biện kỹ thuật hợp lý là yếu tố quan trọng, quyết định đến năng suất và chất lượng của nông sản Trong thực tiễn sản xuất lúa ở nhiều địa phương cho thấy: Nếu có cơ cấu giống phù hợp với điều kiện tự nhiên, cùng với việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất sẽ làm tăng năng suất từ 15 - 20% Bởi lẽ, năng suất lúa được quyết định bởi các yếu tố cấu thành năng suất như: Số bông/m2 (N), số hạt/bông (n), tỷ lệ hạt chắc (F) và khối lượng 1000 hạt (W) Mối quan hệ phụ thuộc trên có thể biểu diễn bằng công thức:

Y= N * n * W * F * 10-5 (tấn/ha) Các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan mật thiết với nhau Số bông/m2 phụ thuộc vào tỷ lệ đẻ nhánh, mật độ cấy Khi cây đẻ nhánh khỏe, nhiều dảnh thì số bông tăng Khi số bông/m2 tăng quá cao thì bông lúa ngắn

và bé đi, số hạt/bông giảm, tỷ lệ hạt chắc/bông và khối lượng hạt cũng giảm

Để đạt được năng suất cao cần điều khiển cho lúa có số bông tối ưu, đảm bảo

số hạt/bông nhiều, tỷ lệ hạt chắc cao và khối lượng hạt lớn (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [14]

- Yếu tố ảnh hưởng đến số bông/m2: Số bông/m2 được quyết định bởi

2 yếu tố chủ yếu là mật độ cấy và tỷ lệ nhánh đẻ (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [14] Muốn cho lúa đẻ nhánh tốt thì ngoài cấy mạ khỏe, đúng thời vụ, việc bón phân thúc đẻ và thúc đòng ảnh hưởng có tính chất quyết định Thời kỳ đẻ nhánh cần được bón đủ đạm, lân và kali; thời kỳ làm đòng cần bón đạm và kali (Lê Vĩnh Thảo, 2004) [26]

- Yếu tố ảnh hưởng đến số hạt/bông: Số hạt/bông là do số lượng hoa phân hóa và số lượng hoa thoái hóa quyết định (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [14] Tỷ lệ hoa phân hóa liên quan chặt đến chế độ chăm sóc, trong đó phân

Trang 13

đạm có vai trò quan trọng làm tăng số lượng hoa phân hóa, giảm số lượng hoa thoái hóa, tăng kích thước vỏ trấu Bón thúc đạm khi bắt đầu phân hóa đòng còn làm tăng quá trình phân hóa gié Số gié cấp I, đặc biệt là số gié cấp II nhiều thì số hoa/bông cũng nhiều, đây là điều kiện cần thiết đảm bảo số hạt/bông lớn (Nguyễn Văn Hoan, 2006 ) [14]

- Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ hạt chắc: Tỷ lệ hạt chắc phụ thuộc vào số hạt/bông, nếu số hạt/bông quá lớn thì tỷ lệ hạt chắc thấp Ngoài ra tỷ lệ hạt chắc còn phụ thuộc vào lượng tinh bột tích lũy trong cây và đặc điểm giải phẫu của cây lúa (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [14] Trong các nguyên tố đa lượng, đạm và kali ảnh hưởng mạnh đến tỷ lệ hạt chắc vì đạm làm tăng khả năng quang hợp và quá trình tổng hợp chất hữu cơ, kali thúc đẩy sự vận chuyển chất khô về cơ quan tích lũy (Yang và cs., 1999) [52]

- Yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng hạt: Khối lượng hạt phụ thuộc vào kích thước hạt và kích thước của nội nhũ Vào giai đoạn phân bào giảm nhiễm gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi và chế độ dinh dưỡng, đặc biệt là dinh dưỡng đạm, kali phù hợp thì nhận được kích thước hạt lớn, sau đó tích lũy được nhiều tinh bột thì khối lượng hạt thóc cao Sau trỗ nếu thiếu ánh sáng, dinh dưỡng kém, đặc biệt là thiếu kali và quá trình vận chuyển chất khô vào hạt bị cản trở làm giảm khối lượng hạt (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [14]

Như vậy để ruộng lúa đạt năng suất cao cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, trong đó nghiên cứu để xác định mật độ cấy và công thức bón phân hợp lý đối với từng giống lúa đóng vai trò đặc biệt quan trọng

1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới có khoảng 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trồng lúa với diện tích khoảng 166.084 triệu ha (năm 2013) Châu Á là châu lục có diện tích trồng lúa lớn nhất, chiếm tới 88% tổng diện tích trồng lúa trên thế giới, châu Mỹ chiếm 4,1%, châu Phi chiếm 6,5% và châu Úc chiếm 1,4% Biến động về diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên toàn thế giới trong vài

Trang 14

thập kỷ gần đây thể hiện qua Bảng 2.1

Bảng 2.1 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới

giai đoạn 1970 - 2013

(nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

(Nguồn: FAO STAT, 2014)

Qua Bảng 2.1 ta thấy: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa qua các năm có xu hướng tăng lên Song tăng mạnh nhất vào những thập niên 70, 90 của thế kỷ XX và có xu hướng ổn định từ những năm đầu của thế kỷ XXI Về năng suất của lúa cũng tăng dần qua các năm và tăng nhanh nhất vào thập niên 70, 80 Đến thập niên 90 và những năm đầu của thế kỷ XXI năng suất lúa tăng chậm lại song nhìn chung năng suất tăng gần gấp đôi từ 23,51 tạ/ha năm 1970 lên 44,86 tạ/ha vào năm 2013 Điều này cho thấy “cuộc Cách mạng xanh” từ giữa thập niên 60 đã ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của thế giới nói chung và của châu Á nói riêng, những tiến bộ kỹ thuật mới nhất là giống mới, biện pháp kỹ thuật tiên tiến và đầu tư phân bón để thâm canh được

áp dụng rộng rãi trong sản xuất đã góp phần làm cho sản lượng lúa tăng lên đáng kể

Trang 15

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa gạo của một số nước

đứng đầu thế giới năm 2013

Tên nước Diện tích

( nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

(Nguồn: FAO STAT, 2014)

Hiện nay, châu Á có diện tích lúa cao nhất với 146,17 triệu ha, sản lượng 674,7 triệu tấn Các nước có sản lượng lúa cao nhất đó là Trung Quốc,

Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Việt Nam, Myanma và Nhật Bản Tuy nhiên, năng suất lúa cao nhất lại tập trung ở các nước phát triển ở châu

Úc, châu Âu… Nước có năng suất lúa cao nhất là Australia 102,17 tạ/ha, Ai Cập 96,42 tạ/ha, Trung Quốc 67,24 tạ/ha, Mỹ 86,23 tạ/ha, Nhật Bản 67,28 tạ/ha Năm 2013, ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới đó là Ấn Độ (9,61 triệu tấn), Thái Lan (6,79 triệu tấn) và Việt Nam (6,74 triệu tấn)

Qua Bảng 2.2 cho thấy: Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới với diện tích là 43.500 nghìn ha (năm 2013), sản lượng lúa của Ấn

Độ là 159.200 nghìn tấn, chiếm 21,36% tổng sản lượng của thế giới Năm

2013, Ấn Độ là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Tuy nhiên, xuất

Trang 16

khẩu gạo của Ấn Độ thất thường Gạo Ấn Độ xuất khẩu chủ yếu là gạo basmati Theo dự báo của USDA trong thập kỷ tới, dự báo xuất khẩu gạo Ấn

Độ sẽ tăng trưởng hơn 30%, thị phần xuất khẩu gạo của Ấn Độ sẽ tăng từ 16% năm 2007/08 lên khoảng 17% đến năm 2016/17

Trung Quốc có diện tích trồng lúa đứng thứ 2 thế giới Trong vài thập niên gần đây, Trung Quốc có nhiều thành tựu trong cải tiến giống lúa, trong

đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng ưu thế lai ở lúa do đó năng suất bình quân năm 2013 đạt 67,24 tạ/ha, sản lượng đạt 205.015 nghìn tấn (đứng đầu về sản lượng lúa trên thế giới) Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích canh tác lúa của Trung Quốc giảm do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tăng nhanh bên cạnh đó nguồn nước ngọt không đủ và phân bố không đều Đây cũng là trở ngại lớn trong việc nâng cao năng suất và sản lượng lúa của Trung Quốc

Trung Quốc xuất khẩu trung bình 2,6 triệu tấn gạo trong giai đoạn

1998 - 2003, từ đó xuất khẩu gạo của Trung Quốc tiếp tục giữ ổn định ở mức 1 triệu tấn gạo Khối lượng gạo xuất khẩu của Trung Quốc giảm từ năm 2004 do diện tích lúa thu hẹp lại dẫn đến nguồn cung trong nước hạn chế Diện tích sản xuất lúa được dự báo là giảm nhẹ, bù lại năng suất tăng lên Mức tiêu dùng giảm nhẹ bù cho dân số tăng Trung Quốc xuất khẩu gạo chất lượng cao, gạo hạt ngắn và trung bình tới thị trường Bắc Á và gạo chất lượng thấp, hạt dài tới thị trường Sahara Châu Phi và một số thị trường

có thu nhập thấp của Châu Á

Năm 2013, Thái Lan là nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo, sau Ấn Độ Nước này cũng được thiên nhiên ưu đãi với những vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, diện tích canh tác lớn (chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên), điều kiện thời tiết thuận lợi, mưa thuận gió hòa thích hợp cho phát triển cây lúa nước Vì vậy, cây lúa là cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của Thái Lan với diện tích năm 2013 là 12.373 nghìn ha, năng suất bình quân 31,34 tạ/ha, sản lượng 38.787 nghìn tấn Các trung tâm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở nhiều tỉnh và khu vực Nhiệm vụ của các cơ sở

Trang 17

này là tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo ra các giống lúa tốt phục vụ cho nội tiêu và đặc biệt là cho xuất khẩu để thu ngoại tệ Tiêu chí chọn giống lúa của các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trưởng trung bình đến dài ngày (vì phần lớn lúa ở Thái Lan chỉ trồng được 1 vụ/năm) hạt gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất Điều này giải thích tại sao giá gạo xuất khẩu của Thái Lan luôn cao hơn của Việt Nam Theo hướng này, Thái Lan đã tạo ra các giống lúa chất lượng nổi tiếng thế giới, trong đó phải kể đến các giống như: Khao đomali, Jasmin (Hương nhài)…

Theo dự báo của Ban Nghiên cứu Kinh tế, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (2011)[3] dự báo trong giai đoạn 2007 - 2017, các nước sản xuất gạo ở Châu

Á sẽ tiếp tục là nguồn cung cấp gạo xuất khẩu chính của thế giới: Bao gồm Thái Lan, Việt Nam và Ấn Độ Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan

và Việt Nam sẽ chiếm khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới Việt Nam xuất khẩu gạo hạt dài là chủ yếu Thái Lan xuất khẩu gạo thơm, gạo hạt dài đặc biệt và gạo dính Một số nước khác cũng sẽ đóng góp giúp tăng sản lượng gạo thế giới như: Ấn Độ, các tiểu vùng Saharan Châu Phi, Bangladesh, Philippines, Brazil

Năm 2013, sản xuất lúa gạo trên thế giới nhìn chung không có thay đổi lớn so với năm 2012 nhưng nhóm các nước tiêu dùng lớn như: Trung Quốc, Indonesia, Philippines đang đẩy mạnh chiến lược tự cân đối nhu cầu trong nước, do đó thị trường thế giới sẽ chỉ có đột biến khi bất ổn về thiên tai xảy ra

1.2.2 Tình hình sản xuất lúa của Việt Nam

Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á, nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, rất thích hợp cho phát triển cây lúa

Cây lúa là cây lương thực chính trong mục tiêu phát triển nông nghiệp của Việt Nam để đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu Cây lúa đã gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước, trải dài từ Bắc vào Nam và có 3 vùng trồng lúa chủ yếu là Đồng bằng Sông Hồng, Đồng

Trang 18

bằng Sông Cửu Long và vùng Duyên hải miền Trung Trong đó, Đồng bằng Sông Cửu Long (1,8 triệu ha) và Đồng bằng Sông Hồng (1,3 triệu ha) được coi là 2 vựa lúa chính của cả nước

Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam trong những năm gần đây thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.3 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam

giai đoạn 1970 - 2013 Năm Diện tích

(nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

(Nguồn: FAO STAT, 2014)

Số liệu bảng trên cho thấy, diện tích trồng lúa tăng mạnh trong thập kỷ

70 và 90 Diện tích trồng lúa năm 1970 là 4.724,4 nghìn ha, đến năm 2000 đạt 7.666,3 nghìn ha Từ năm 2000 đến nay, diện tích trồng lúa biến động tăng không nhiều Năm 2013, cả nước trồng được 7.899,0 nghìn ha, tăng 145,9 nghìn

ha so với năm 2012 và tăng 3.174,6 nghìn ha so với năm 1970

Năng suất lúa của nước ta cũng tăng rất nhanh theo thời gian Từ những năm 1970 đến 1980 năng suất lúa rất thấp và biến động không nhiều,

Trang 19

đạt khoảng 21 tạ/ha Năm 1990 năng suất lúa đã tăng lên 31,81 tạ/ha, năm

2000 là 42,43 tạ/ha, năm 2010 năng suất lúa đạt 53,22 tạ/ha và năm 2012 có năng suất lúa cao nhất là 56,31 tạ/ha, tăng 13,88 tạ/ha so với năm 2000 và tăng 35,51 tạ/ha so với năm 1980

Do diện tích và năng suất tăng nên sản lượng lúa của nước ta tăng khá cao, năm 2013 đạt 44.076,1 nghìn tấn Có được thành tựu trên nhờ chúng ta không ngừng cải thiện công tác giống trong sản xuất lúa, đây cũng chính là chiến lược sản xuất của Việt Nam trong thời gian tới, phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm là 45 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản xuất giống lúa có chất lượng cao xuất khẩu hàng năm từ 5 - 6 triệu tấn

Ngoài hàng loạt những biện pháp đổi mới của Chính Phủ, công tác cải tiến giống lúa có vai trò quan trọng và sau đó là những thay đổi biện pháp kỹ thuật trồng lúa như việc chuyển đổi mùa vụ, giải quyết vấn đề thủy lợi để tưới tiêu, cải tạo đất phèn ở ĐBSCL Năng suất và sản lượng lúa tăng còn do tăng diện tích gieo trồng Đặc biệt, việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật,

mở rộng diện tích giống lúa lai, lúa thuần có năng suất cao kết hợp với các biện pháp thâm canh tổng hợp, thâm canh lúa cao sản đã góp phần chủ yếu làm tăng năng suất lúa với tốc độ cao ổn định Những năm gần đây chúng ta

có chính sách mở cửa nên nhập nội một số giống lúa từ các Viện lúa quốc tế (IRRI), CIAT và của một số nước khác đặc biệt là Trung Quốc

Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới (đứng thứ 3 trên thế giới sau Ấn Độ và Thái Lan, năm 2013) và được chứng minh bằng việc Việt Nam tiếp tục giành nhiều lợi thế cạnh tranh trong sản xuất gạo so với những nhà sản xuất khác và lợi thế này ngày càng mạnh đối với sản phẩm gạo chất lượng cao Tuy nhiên vẫn còn những câu hỏi đặt ra là làm thế nào để gạo đạt được chất lượng cao và duy trì tốc độ xuất khẩu như hiện nay Sự tăng trưởng đầy ấn tượng về năng suất và sản lượng lúa là thành quả của những nỗ lực tổng hợp của cả nước trong việc tìm kiếm những giải pháp để đẩy mạnh phát triển kinh tế Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những

Trang 20

thành tựu của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề an ninh lương thực

1.3 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới

1.3.1.1 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy trên thế giới

Mật độ cấy là số khóm cấy/m2 Lúa cấy được tính bằng khóm, lúa gieo được tính bằng hạt mọc Về nguyên tắc thì mật độ gieo hoặc cấy càng cao thì

số bông càng nhiều Trong một giới hạn nhất định, việc tăng số bông không làm giảm số hạt trên bông, nhưng nếu vượt qua giới hạn đó thì số hạt trên bông bắt đầu giảm đi do lượng dinh dưỡng phải chia sẻ cho nhiều bông Theo tính toán thống kê cho thấy tốc độ giảm số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ cấy, vì vậy cấy dầy đối với lúa lai gây giảm năng suất nhiều hơn so với lúa thường Tuy nhiên, nếu cấy quá thưa đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn thì khó đạt được số bông tối ưu cần thiết theo dự định

Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống…Khi nghiên cứu về vấn đề này S Yoshida (1978)[50] đã kết luận: Trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ thưa, ngược lại phải cấy dày Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dày không có lợi bằng giống bông to Vùng lạnh nên cấy dày hơn vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dày hơn so với lúa gieo sớm

Nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh S Yoshida (1978) [50] đã khẳng định: Trong ruộng lúa cấy, khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khỏe và sớm thay đổi từ 20 x 20 cm đến 30 x 30 cm Theo ông việc đẻ nhánh chỉ xảy ra đến mật

độ 300 cây/m2, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ có những dảnh chính cho bông Năng suất hạt tăng lên khi mật độ cấy tăng lên 182 - 242 dảnh/m2 Số bông trên đơn vị diện tích cũng tăng theo mật độ nhưng lại giảm số hạt/bông Mật độ cấy thực tế là vấn đề tương quan giữa số dảnh cấy và sự đẻ nhánh Thường gieo cấy thưa thì lúa đẻ nhánh nhiều còn cấy dầy thì đẻ nhánh ít

Các tác giả sinh thái học đã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất và

Trang 21

quần thể ruộng cây trồng và đều thống nhất rằng: các giống khác nhau phản ứng với mật độ khác nhau, việc tăng mật độ ở một giới hạn nhất định thì năng suất tăng nhưng vượt qua giới hạn đó năng suất không tăng mà còn giảm xuống Qua thực tế thí nghiệm nhiều năm đối với nhiều giống lúa khác nhau

S Yoshida (1978) [50] cho rằng: Trong phạm vi khoảng cách 10 x 10 cm đến

50 x 50 cm khả năng đẻ nhánh có ảnh hưởng đến năng suất Ông đã thấy rằng năng suất của hạt giống IR - 154 - 451 (một giống đẻ nhánh ít) tăng lên với việc giảm khoảng cách 10 x 10cm Còn IR8 (giống đẻ nhánh khỏe) năng suất đạt cực đại ở khoảng cách cấy là 20 x 20 cm

Các tác giả người Trung Quốc đã sử dụng tổ hợp lai 2 dòng PA 64S/9311 để nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của tổ hợp lai Các tác giả sử dụng hai công thức cấy thưa (90.000 khóm/ha) và công thức cấy truyền thống của Trung Quốc (300.000 khóm/ha) Kết quả nghiên cứu cho thấy:

+ Số nhánh đẻ ở công thức cấy thưa giảm đáng kể so với công thức cấy dầy vào thời điểm trước 10/5, nhưng đến sau 25/5 thì sự sai khác chỉ còn rất nhỏ

+ Kích thước nhánh đẻ ở công thức cấy thưa lớn hơn công thức cấy dầy 6,86%, tỷ lệ kết hạt thấp hơn 2,35% và khối lượng 1000 hạt cũng thấp hơn 0,86g Năng suất của công thức cấy thưa giảm 17 - 19%

1.3.1.2 Những kết quả nghiên cứu về bón phân cho lúa trên thế giới

Theo Patrick và cs., (1968) [45], Kobayashi (1995) [42]: Khi nghiên cứu khả năng cạnh tranh của 2 giống lúa Hokuriki 52 và Yamakogame cho biết: Các giống lúa phản ứng với điều kiện phân bón khác nhau Giống có tính thích ứng cao trong điều kiện tự nhiên ít phân và tăng số lượng cây con ở mỗi đối tượng, trong khi đó các giống cạnh tranh yếu bị thất bại nghiêm trọng trong điều kiện trồng trọt bình thường, điều đó có nghĩa là giống khoẻ (Hokuriki 52) sẽ làm hại nhiều cho giống yếu (Yamakogame) khi có đủ phân bón

Theo Shi (1986) [48] cho rằng: Phân bón có tác dụng thúc đẩy hoạt

Trang 22

động quang hợp Kết quả nghiên cứu các giống lúa Indica có phản ứng với phân bón là tăng diện tích lá lớn hơn so với giống lúa Japonica nhưng lại phản ứng yếu hơn khi hàm lượng phân bón tăng Khi bàn về năng suất tác giả cho biết: năng suất là kết quả của những giống có phản ứng tốt với phân bón và biện pháp kỹ thuật Ở vùng ôn đới, giống Japonica thường cho năng suất cao

bị thiếu lân cây non có bộ lá hẹp, thường bị cuộn lại, sức đẻ nhánh giảm và đẻ muộn, giai đoạn đẻ nhánh kéo dài Ở thời kỳ lúa đẻ nhánh và tròn mình, phân lân có ảnh hưởng tốt đối với cây lúa, nó làm cho trọng lượng của phần trên mặt đất của cây lúa tăng khá lớn, sau đó đến thời kỳ chín mức tăng của trọng lượng thân cây giảm Ở những chân đất tương đối phì nhiêu, hiệu quả của phân lân đối với năng suất lúa không lớn Bón lân làm cho lúa cứng cây và tăng khả năng chống đổ

Theo Yang (1999) [52] ở nhiều nước trên thế giới thường hay bón phân chuồng và phân ủ cho lúa để làm tăng độ phì nhiêu cho đất như: Trung Quốc,

Ấn Độ, Việt Nam, Malaysia và các nước vùng Đông Nam Á Trong thời gian gần đây phân khoáng đã được dùng phổ biến và phân chuồng được dùng bón lót làm tăng năng suất lúa và tăng hiệu quả của phân khoáng Thí nghiệm của

Trang 23

Ying (1998) [53] cho thấy: sự tích luỹ đạm, lân và kali ở các cơ quan trên mặt đất của cây lúa không kết thúc ở thời kỳ trỗ mà còn được tích luỹ tiếp ở các giai đoạn tiếp theo của cây

Theo Sarker (2002) [46] khi nghiên cứu ảnh hưởng lâu dài của lân đối với lúa được đánh giá: “Hiệu suất của lân đối với năng suất hạt ở giai đoạn đầu cao hơn giai đoạn cuối và lượng lân hút ở giai đoạn đầu chủ yếu phân phối ở các cơ quan sinh trưởng Do đó, phải bón lót để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cây lúa”

Phân bón có tác dụng rất lớn đến năng suất lúa Muốn đạt năng suất, sản lượng cao cần bón phân đúng liều lượng và đúng cách Ngay những thập

kỷ 70, 50% sản lượng nông nghiệp tăng lên ở các nước phát triển là nhờ sử dụng phân bón (FAO - 1994)

Bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất là bón vào lúc lúa đẻ nhánh, sau đó giảm dần Với liều lượng thấp thì bón vào lúc lúa đẻ nhánh và trước trỗ 10 ngày có hiệu quả cao Có hai đỉnh về hiệu suất đỉnh thứ nhất xuất hiện ở giai đoạn lúa đẻ nhánh, đỉnh thứ hai xuất hiện ở 19 - 9 ngày trước trỗ, nếu lượng đạm nhiều thì không có đỉnh thứ 2

Tác giả đã đề nghị: Nếu lượng đạm ít sẽ bón vào 20 ngày trước trỗ Khi lượng đạm trung bình bón hai lần lúc lúa con gái và 20 ngày trước trỗ bông, khi lượng đạm nhiều bón vào lúc lúa con gái

1.3.2 Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam

1.3.2.1 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy ở Việt Nam

Mật độ là số cây, số khóm trồng trên đơn vị diện tích Với lúa cấy thì mật

độ được xác định bằng số khóm/m2, lúa gieo thẳng thì xác định bằng số hạt mọc/m2 Trên đơn vị diện tích nếu mật độ càng cao (cấy dầy) thì bông càng nhiều nhưng số hạt/bông càng ít (bông bé) Tốc độ giảm số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ vì vậy cấy dày quá làm cho năng suất giảm nghiêm trọng Tuy nhiên nếu cấy với mật độ quá thưa đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn thì rất khó hoặc không thể đạt được số bông tối ưu Các thí nghiệm về mật độ thực

Trang 24

hiện ở giống Bắc ưu 64 cho thấy: Mật độ 35 khóm đạt được 320 bông/m2 và số hạt trung bình 1 bông đạt 130 hạt Khi tăng mật độ lên 70 khóm/m2 thì cũng chỉ đạt được 400 bông/m2 nhưng số hạt trung bình 1 bông giảm xuống chỉ còn 73 hạt Như vậy mật độ tăng lên 2 lần cũng chỉ tăng được 1,25 lần số bông, còn số hạt/bông giảm tới 1,78 lần (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [14]

Mật độ cấy thích hợp tùy thuộc vào giống, mùa vụ, tuổi mạ, điều kiện đất đai, phân bón và tập quán canh tác của từng địa phương Theo Nguyễn Thị Trâm (2007)[31] sử dụng mạ non để cấy thì sau cấy lúa thường đẻ nhánh sớm và nhanh Nếu cần đạt 9 bông hữu hiệu/khóm với mật độ 40 khóm/m2 chỉ cần cấy 3-4 dảnh, mỗi dảnh đẻ 2 nhánh là đủ, nếu cấy nhiều hơn, số nhánh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệ hữu hiệu giảm

Khi sử dụng mạ thâm canh, mạ đã đẻ 2- 5 nhánh thì số dảnh cấy phải tính cả nhánh đẻ trên mạ Loại mạ này già hơn 10 - 15 ngày so với mạ chưa

đẻ vì vậy số dảnh cấy cần phải bằng số bông dự định hoặc ít nhất cũng phải đạt trên 70% số bông dự định Sau khi cấy các nhánh đẻ trên mạ sẽ tích luỹ, ra

lá lớn lên và thành bông Thời gian đẻ nhánh hữu hiệu chỉ tập trung vào 8 - 15 ngày sau cấy Vì vậy cấy mạ thâm canh cần có số dảnh cấy/khóm nhiều hơn cấy mạ non Nguyễn Văn Hoan (1999) [14] cho rằng ở mật độ cấy dày trên 40 khóm/m2 thì để đạt 7 bông hữu hiệu trên khóm cần cấy 3 dảnh (nếu mạ non) với loại mạ thâm canh số nhánh cần cấy trên khóm được xác định lượng theo

số bông cần đạt nhân với 0,8

Theo Nguyễn Thị Trâm (2001) [30] thì mật độ cấy càng cao thì số bông càng nhiều Tuy nhiên cấy quá thưa đối với giống ngắn ngày thì khó đạt được

số bông/đơn vị diện tích theo dự định, các giống lai có thời gian sinh trưởng trung bình có thể cấy thưa Ví dụ: Bắc ưu 64 có thể cấy 35 khóm/m2 Các giống có thời gian sinh trưởng ngắn như Bồi tạp sơn thanh, Bồi tạp 77 cần cấy dày 40 - 45 khóm/m2

Nhiều kết quả nghiên cứu xác định rằng trên đất giàu dinh dưỡng mạ tốt thì chúng ta cần chọn mật độ thưa, nếu mạ xấu cộng với đất xấu nên cấy

Trang 25

dầy Để xác định mật độ cấy hợp lý thì có thể căn cứ vào 2 thông số là: Số bông cần đạt trên m2 và số bông hữu hiệu/khóm Từ hai thông số trên có thể xác định mật độ cấy phù hợp với công thức:

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm tới sinh trưởng của lúa ngắn ngày thâm canh Nguyễn Như Hà (1999) [12] kết luận: Tăng mật độ cấy làm cho việc đẻ nhánh của một khóm giảm So sánh số dảnh/khóm của mật độ cấy thưa 45 khóm/m2 và mật độ cấy dày 85 khóm/m2 thì thấy số dảnh đẻ trong một khóm lúa ở công thức cấy thưa lớn hơn 0,9 dảnh/khóm - 14,8% ở vụ xuân, còn ở vụ mùa lên tới 1,9 dảnh/khóm - 25% Về dinh dưỡng đạm của lúa tác động đến mật độ cấy, tác giả kết luận tăng bón đạm ở mật độ cấy dầy có tác dụng tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu Tỷ lệ dảnh hữu hiệu tăng tỷ lệ thuận với mật độ cho đến 65 khóm/m2 ở vụ xuân và 75 khóm/m2 ở vụ mùa Tăng bón đạm ở mật độ cao trong khoảng 55 - 65 khóm/m2 làm tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu

Nguyễn Thạch Cương (2000) [7] đã làm thí nghiệm với tổ hợp Bồi tạp Sơn Thanh trên đất phù sa Sông Hồng và đi đến kết luận:

+ Trong vụ xuân: Với mật độ cấy 55 khóm/m2 trên đất phù sa sông Hồng cho năng suất cao nhất là 82,2 tạ/ha, trên đất phù sa ven biển cho năng suất 83,5 tạ/ha, ở vùng đất bạc màu rìa đồng bằng mật độ 55 - 60 khóm/m2cho năng suất 77,9 tạ/ha

+ Trong vụ mùa: Mật độ 50 khóm/m2, trên đất phù sa Sông Hồng cho

Trang 26

năng suất cao nhất là 74,5 tạ/ha, trên đất phù sa ven biển cho năng suất 74 tạ/ha, mật độ 55 khóm/m2 trên đất bạc màu cho năng suất 71,4 tạ/ha

Nhận xét về mối quan hệ diện tích dinh dưỡng và sự đẻ nhánh, Bùi Huy Đáp (1999) [11] cho rằng sự đẻ nhánh của cây lúa có quan hệ chặt chẽ với diện tích dinh dưỡng Nếu diện tích dinh dưỡng càng lớn thời gian đẻ nhánh càng dài

Ngược lại, diện tích dinh dưỡng càng nhỏ thì thời gian đẻ nhánh càng ngắn Cấy dầy ở mật độ cao lúa sẽ không đẻ nhánh và một số cây mẹ sẽ lụi dần

Theo Nguyễn Văn Hoan (1999) [14] thì nên bố trí các khóm lúa cấy theo kiểu hàng xông, hàng con, trong đó hàng xông rộng hơn hàng con để có khoảng cách giữa các khóm lúa theo kiểu hình chữ nhật là tốt nhất

Theo kết quả nghiên cứu của Ma Thị Ảnh (2003) [1] tại Chiêm Hóa

- Tuyên Quang thì giống lúa Tạp Giao 1 cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất khi cấy với phương thức cải tiến hàng rộng hàng hẹp (35+15)cm x

12 cm ứng với 33 khóm/m2, 4 dảnh/khóm (132 dảnh/m2)

* Những kết quả nghiên cứu về khoảng cách cấy:

Theo TS Nguyễn Văn Hoan (1999)[14]: Khoảng cách tối ưu là khoảng cách đủ rộng để hàng lúa thông thoáng, các khóm lúa không chen lẫn nhau Cách bố trí các khóm lúa theo kiểu hàng xông (hàng cách hàng), hàng con (cây cách cây) trong đó hàng xông rộng hơn hàng con để có khoảng cách giữa các khóm lúa theo hình chữ nhật là cách bố trí hợp lý nhất Tổng kết kinh nghiệm đạt năng suất cao trong gieo cấy lúa ở cả vụ xuân cũng như vụ mùa thì khoảng cách hàng lúa nên bố trí là 20 cm, 25 cm hoặc 30cm

Cũng theo tác giả, lúa lai là loại hình đẻ khỏe, yêu cầu ánh sánh nhiều thì bông mới to vì thế khoảng cách giữa các hàng lúa cần rộng hơn lúa thường Tuy nhiên với cách bố trí gieo cấy theo kiểu truyền thống tức là các hàng lúa đều đặn thì khoảng cách giữa hàng với hàng chỉ có thể bố trí đến 30

cm, quá khoảng cách này thì không thể đảm bảo được mật độ cần thiết (29

-40 khóm/m2) Khi quan sát các khóm lúa ven bờ chúng ta thấy: nhờ được

Trang 27

hưởng nhiều ánh sáng hơn nên các bông lúa đều to, nhiều hạt, số bông/khóm nhiều hơn, tỷ lệ lép thấp hơn hẳn các khóm lúa bên trong ruộng

Theo Nguyễn Thị Trâm (2001), mật độ cấy càng cao thì số bông càng nhiều Tuy nhiên nếu cấy quá thưa đối với giống ngắn ngày thì khó đạt được

số bông trên đơn vị diện tích theo dự định Các giống lai có thời gian sinh trưởng trung bình có thể cấy thưa, các giống có thời gian sinh trưởng ngắn cần cấy dầy hơn

Hiện nay, phương pháp cải tiến được áp dụng rộng rãi, nên đảm bảo mật độ cần thiết 29-40 khóm/m2 , ở nhiều địa phương đã bố trí cấy theo kiểu hàng rộng, hàng hẹp xen kẽ nhau và có thể giãn giữa 02 hàng kép 35-40 cm

mà vẫn đảm bảo mật độ cần thiết

1.3.2.2 Những kết quả nghiên cứu về bón phân cho lúa ở Việt Nam

Theo Bùi Đình Dinh (1999) [9] cho rằng: Phân bón có từ rất lâu đời cùng với sự ra đời của nền nông nghiệp và bắt đầu bằng việc sử dụng các loại phân hữu cơ

Từ trước Công Nguyên con người đã quan tâm đến việc bón phân hữu cơ cho ruộng,

ở Trung Quốc đã biết bón phân xanh và phân bón đã được bắt đầu sử dụng từ phân của động vật và mở rộng ra các loại phân hữu cơ khác

Nông dân Việt Nam đã dùng phân hữu cơ từ rất lâu đời, từ việc phát nương làm rẫy, đốt rơm rạ trên nương để lại lớp tro rồi chọc lỗ bỏ hạt Việc cày vặn ngả dạ (làm dầm) mục đích để rơm rạ được ủ nát thành phân ngay tại ruộng, người nông dân đã biết tận dụng ngay tại chỗ nguồn phân bón kết hợp với thu gom phân trâu bò, tro bếp để bón ruộng

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa, Bùi Huy Đáp (1999)[11] cho biết: “Phân hoá học cung cấp

từ 1/3 đến 1/2 lượng phân đạm cho lúa” Những năm gần đây việc bón phân chuồng cho lúa không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây nên con người

đã sử dụng phân đạm hoá học để bón Mỗi giống lúa khác nhau cần một lượng phân bón nhất định vào các thời kỳ cây đẻ nhánh, đẻ nhánh rộ và giảm dần khi lúa đứng cái

Trang 28

Theo Lê Văn Căn (1964) [4] ở đất phù sa Sông Hồng nếu bón đơn thuần phân đạm mà không kết hợp với phân lân và kali vẫn phát huy được hiệu quả của phân đạm, lượng phân lân và kali bón thêm không làm tăng năng suất đáng kể, nhưng nếu cứ bón liên tục sau 3 - 4 năm thì việc phối hợp bón lân và kali sẽ làm tăng năng suất rõ rệt trên tất cả các loại đất Phân đạm là nguyên tố dinh dưỡng cần thiết nhất nên việc sử dụng phân đạm đã làm tăng năng suất rất lớn Tuy nhiên phân đạm có thể tạo lập độ phì nhiêu cho đất nên khi sử dụng không cân đối giữa đạm với nguyên tố khác sẽ làm suy thoái đất Qua nghiên cứu về phân bón cho thấy: ở Việt Nam, trên đất phèn nếu không bón lân, cây trồng chỉ hút được 40 - 50 kg N/ha, nếu bón lân cây trồng sẽ hút

120 - 130 kg N/ha Do vậy, để đảm bảo đất không bị suy thoái thì về nguyên tắc phải bón trả lại cho đất một lượng dinh dưỡng tương tự lượng dinh dưỡng

mà cây trồng đã lấy đi Tuy nhiên, việc bón phân cho cây trồng lại không chỉ hoàn toàn dựa vào dinh dưỡng cây trồng hút từ đất và phân bón, mà phải dựa vào lượng dinh dưỡng dự trữ trong đất và khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây

Lúa yêu cầu đạm ngay từ lúc nảy mầm và gần như đến cuối cùng của thời kỳ sinh trưởng sinh thực Tỷ lệ đạm trong cây so với trọng lượng chất khô ở các thời kỳ như sau: Thời kỳ mạ 1,54%, đẻ nhánh 3,65%, làm đòng 3.06%, cuối làm đòng 1,95%, trổ bông 1,17% và chín 0,4%

Đối với nhiều loại đất, ngay từ đầu cần phải bón đạm kết hợp với lân mới cho năng suất cao Cũng theo nghiên cứu của Lê Văn Căn (1968)[4]:

Sự tích luỹ đạm, lân, kali ở các cơ quan trên mặt đất không kết thúc ở thời

kỳ trỗ mà còn được tiến hành ở giai đoạn tiếp theo của cây Tuy nhiên, từ khi cây bắt đầu đẻ nhánh đến làm đòng, cây lúa phản ứng mạnh với dinh dưỡng N, K2O ở mức độ cao

Theo Đào Thế Tuấn (1970) [28] trong thí nghiệm 3 vụ liền ở đất phù sa Sông Hồng đã rút ra kết luận: “Vụ lúa chiêm cũng như vụ lúa mùa, chia đạm

ra bón nhiều lần để bón thúc đẻ nhánh, nếu bón tập trung vào thời kỳ đầu đẻ nhánh thì số nhánh tăng lên rất nhiều về sau lụi đi cũng nhiều và thiếu dinh

Trang 29

dưỡng Nếu bón tập trung vào cuối thời kỳ đẻ nhánh thì số nhánh lụi đi ít nhưng tổng số nhánh cũng ít vì vậy cần chú ý cả ai mặt Trong trường hợp đạm bón tương đối ít thì nên bón tập trung vào thời kỳ đẻ nhánh rộ

Theo các công trình đã nghiên cứu, muốn đạt năng suất 50 tạ/ha/vụ cần bón 100 - 120 kg N/ha Lượng đạm này lấy từ các loại phân vô cơ và hữu cơ bón cho lúa

Cây lúa cần đạm ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng, nhưng chủ yếu bón vào thời kỳ bón lót, bón thúc khi đẻ nhánh và bón khi lúa bước vào thời kỳ đòng Tuỳ theo thời kỳ sinh trưởng của cây lúa mà bón, khi bón phải dựa vào thời tiết, khí hậu, mùa vụ Cần tập trung lượng đạm vào thời kỳ đẻ nhánh vì đây là thời kỳ khủng hoảng đạm lớn nhất của cây lúa Nếu bón đạm tập trung vào thời kỳ đẻ nhánh sẽ kích thích cây lúa đẻ nhiều và tập trung, do đó số nhánh hữu hiệu tăng lên Đây chính là yếu tố quyết định năng suất của lúa

Hầu hết các công trình nghiên cứu cho thấy: Nếu chỉ bón đơn độc đạm cho cây lúa thì cây sinh trưởng quá mạnh và chỉ đạt được năng suất khá trong vài vụ đầu, dần dần năng suất sẽ bị giảm, nếu bón kết hợp với lân và kali thì cây lúa sinh trưởng cân đối, cho năng suất cao và ổn định Trong bón phân, phương pháp bón cũng rất quan trọng Cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong khi bón phân thì hiệu quả mới cao, cây lúa mới hút được dinh dưỡng tối

đa Theo Bùi Huy Đáp (1980) [10]: Lân được hút chậm hơn đạm trong thời

kỳ dinh dưỡng đầu và được hút nhanh từ khi phân hoá đòng đến lúa vươn lóng Phần lớn lân trong gạo là tích luỹ trong thân và lá trước khi trỗ rồi chuyển về bông vì sau khi trỗ lúa thường không hút nhiều lân nữa, khi bón quá nhiều lân, đất sẽ giữ lân lại, do đó ruộng ít bị xẩy ra hiện tượng thừa lân Ruộng lúa ngập nước sẽ làm tăng độ dễ tiêu của lân, tăng hiệu quả của phân bón cho cây lúa Cây lúa hút lân trong suốt thời kỳ sinh trưởng vì vậy có thể bón lót hết lượng lân dành cho cả vụ

Theo Nguyễn Vi (1974) [34] khi bón phân lân với lượng không cao và không bón đạm sẽ xúc tiến quá trình đẻ nhánh ban đầu nhưng lại kìm hãm quá

Trang 30

trình đẻ nhánh về sau Vì vậy, khi bón phân lân đơn độc, số nhánh không tăng

mà lại lụi đi nhiều, do đó cần bón kết hợp đạm, lân và kali

Phân bón có tác dụng rất lớn đến năng suất lúa Tại nước ta từ năm

1990 trở lại đây bình quân lương thực bội thu nhờ phân bón hàng năm là 38% Việc bón đạm ở vụ xuân có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất lúa, hiệu suất sử dụng đạm cao nhất khi bón với lượng đạm 102 kg N/ha (16,6 kg thóc/kgN) Ở vụ mùa ít ảnh hưởng đến năng suất lúa, còn với nguyên tố lân ở

vụ xuân hiệu suất sử dụng lân cao nhất khi bón với lượng 120 kgP205 (cho 2,99kg thóc/kg P205) Hiệu suất sử dụng kali cao nhất khi bón với lượng 60 kg

K20 (4,02 kg thóc/kg K20) Vụ mùa hiệu suất sử dụng lân cao nhất ở mức bón

60 kg P205/ha, hiệu suất sử dụng kali cao nhất ở mức bón 30K20/ha

Theo Nguyễn Thị Lẫm (1994) [20] khi bón đạm từ 40 - 200 kg N/ha cho năng suất lúa đạt từ 5 - 10 tấn/ha

Theo cục Khuyến nông và khuyến Lâm (1998) [6] về vấn đề phân bón cân đối và hợp lý cho cây trồng thì cứ 1 tấn (N + P205 + K20) cho bội thu từ

10 - 13 tấn thóc Như vậy nếu tính trong 5 năm gần đây trung bình phân hoá học đã làm tăng 25 - 27% tổng sản lượng lương thực ở nước ta

Cùng với việc đưa các giống mới, các biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất thì việc sử dụng phân bón để thâm canh cây trồng cũng đã không ngừng được tăng lên đáng kể

Trang 31

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Giống lúa Akita Komachi

- Phân bón và mật độ cấy

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: xã Bảo Cường, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

- Thời gian nghiên cứu: Vụ mùa 2013 và vụ xuân 2014

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa Akita Komachi tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và năng suất của giống lúa Akita Komachi tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất và hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật thâm canh mới đối với giống lúa Akita Komachi tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

* Vụ mùa năm 2013: Thực hiện 02 thí nghiệm:

- Thí nghiệm 1: Nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả

năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và năng suất của giống lúa

Akita Komachi Thí nghiệm gồm 4 công thức:

+ Công thức 1: Cấy 25 khóm/m2

+ Công thức 2: Cấy 30 khóm/m2

+ Công thức 3: Cấy 35 khóm/m2

+ Công thức 4: Cấy 45 khóm/m2

Trang 32

Công thức Mật độ

(khóm/m 2 )

Khoảng cách cấy ( cm x cm)

Lượng phân bón: Bón (8 tấn phân chuồng + 60N + 90 P2O5 + 60K)/ha

- Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức phân bón

đến khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và năng suất của giống lúa Akita Komachi Thí nghiệm gồm 2 công thức:

+ Công thức 1: Bón (8 tấn phân chuồng + 60N + 90 P2O5 + 60K)/ha + Công thức 2: Bón (8 tấn phân chuồng + 90 P2O5 + 280 kg phân viên dúi chậm tan)/ha

Thí nghiệm được bố trí trên đất 02 vụ lúa chủ động nước tưới tiêu, được

bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh 3 lần nhắc lại, cụ thể theo sơ đồ sau:

NL 1 2 1

NL 2 1 2

NL 3 1 2

Trang 33

Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 5 m x 2m = 10 m2, tổng cộng 60 m2 không

kể hàng bảo vệ

Mật độ cấy: 45 khóm/m2

* Vụ xuân năm 2014:

Thí nghiệm 3: Tiếp tục đánh giá sự sinh trưởng, phát triển và cho năng

suất của giống lúa Akita Komachi trong điều kiện khí hậu vụ xuân năm 2014,

so sánh hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật thâm canh giống lúa Akita

Komachi Thí nghiệm gồm 02 công thức:

- Công thức 1:

+ Mật độ cấy: 45 khóm/m2 ;

+ Phân bón: Bón (8 tấn phân chuồng + 60N + 90 P2O5 + 60K)/ha

- Công thức 2: Từ kết quả thí nghiệm 1 và 2 của vụ mùa năm 2013, tôi

đã lựa chọn công thức mật độ tối ưu và công thức phân bón tối ưu để tổ hợp lại thành công thức 2 Cụ thể:

Trang 34

- Vụ mùa năm 2013: gieo ngày 18/6/2013, cấy ngày 30/6/2013

- Vụ xuân năm 2014: Gieo ngày 10/3/2014, cấy ngày 24/3/2014

P2O5 + 60 K2O kg)/ha cho tất cả các công thức thí nghiệm

+ Thí nghiệm 2: Mật độ cấy: 45 khóm/m2;

Phân bón: Công thức 1: Bón 8 tấn phân chuồng + (60 kg N + 90 kg

P2O5 + 60 K2O kg)/ha; Công thức 2: Bón 8 tấn phân chuồng + (90 kg P2O5

+ 280 kg phân viên nén dúi sâu)/ha

- Vụ xuân năm 2014:

+ Thí nghiệm 3: Mật độ cấy: 45 khóm/m2

Phân bón: Công thức 1: Bón 8 tấn phân chuồng + (60 kg N + 90 kg

P2O5 + 60 K2O kg)/ha; Công thức 2: Bón 8 tấn phân chuồng + (90 kg P2O5

+ 280 kg phân viên nén dúi sâu)/ha

* Phương pháp bón:

- Đối với các công thức bón phân đơn đạm, lân, kaly, cách bón như sau: + Bón lót : 100% phân chuồng + 100% P2O5 + 50% N + 30% K2O + Bón thúc lần 1 (sau cấy 8 ngày): 40% N + 40% K2O kết hợp làm cỏ sục bùn

+ Bón thúc lần 2 (trước trỗ 25 ngày): Lượng phân còn lại

Trang 35

- Đối với công thức bón phân viên nén dúi sâu:

+ Bón lót: 100% phân chuồng + 100% P2O5

+ Phân viên nén dúi sâu: Bón 1 lần, vào thời điểm 5 ngày sau cấy Bón viên phân dúi vào vị trí chính giữa 4 cây lúa, bón cách hàng sao cho toàn bộ các cây đều có khoảng cách như nhau tới vị trí viên phân dúi Theo sơ đồ số

1, 2, 3 là thứ tự và vị trí cách dúi phân trong hàng giữa các cây lúa

- Lần 1: Sau khi cấy lúa được 8 - 10 ngày

- Lần 2: Sau lần 1 khoảng 15 - 20 ngày

* Chế độ nước:

- Khi lúa mới cấy mực nước 4 - 5 cm, để lúa nhanh bén hồi rễ xanh Duy trì mức nước ruộng từ 3 - 5 cm để lúa đẻ nhánh Sau khi kết thúc đẻ nhánh, rút nước phơi ruộng để hạn chế đẻ vô hiệu

- Giai đoạn làm đòng vào chắc: Giữ mực nước ruộng từ 4 - 6 cm

* Phòng trừ sâu bệnh: Theo dõi và kiểm tra ruộng thường xuyên, tiến hành phun thuốc khi sâu, bệnh đến ngưỡng phòng trừ Cụ thể, vụ mùa năm

2013 và vụ xuân năm 2014 chỉ phun thuốc trừ bệnh khô vằn

* Thu hoạch: Tiến hành thu hoạch khi có khoảng 85 đến 90% số hạt

trên bông đã chín

2.2.2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và

sử dụng của giống lúa QCVN 01 - 55: 2011/BNNPTNT

* Nhóm chỉ tiêu về sinh trưởng:

- Thời gian sinh trưởng:

1 2 3

1 2 3

Trang 36

+ Thời gian từ gieo đến đẻ nhánh: Tính từ khi gieo mạ đến khi có 50%

số khóm xuất hiện nhánh mới

+ Thời gian từ gieo đến làm đòng: Theo dõi bằng cách quan sát trực quan, tính từ khi gieo mạ đến khi có 10% số dảnh cái thắt eo đầu lá lúa

+ Thời gian từ gieo đến trỗ: Tính từ khi gieo mạ đến khi ruộng lúa 50%

số dảnh có bông thoát khỏi bẹ lá đòng từ 5 cm trở lên

- Chiều cao cuối cùng: Dùng thước đo từ mặt đất đến chóp bông

- Khả năng đẻ nhánh: Theo dõi bằng phương pháp đếm trực tiếp số dảnh lúa ở các khóm đã theo dõi chiều cao cây, 10 ngày theo dõi 1 lần

* Tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ:

- Sâu cuốn lá:

Phương pháp điều tra: Theo dảnh bị hại ở giai đoạn lúa đẻ nhánh và đứng cái Mỗi ô thí nghiệm lấy ngẫu nhiên 1 m2 (dùng khung tre có diện tích 1m2) đếm tất dảnh lúa bị sâu ăn phần xanh của lá hoặc lá bị cuốn thành ống và các dảnh của 10 khóm, Sau đó đánh giá theo thang điểm của IRRI

+ Điểm 1: 1-10% số dảnh hoặc bông bị hại

+ Điểm 3: 11-20 % số dảnh hoặc bông bị hại

+ Điểm 5: 21-35 % số dảnh hoặc bông bị hại

+ Điểm 7: 36-50 % số dảnh hoặc bông bị hại

Trang 37

+ Điểm 9: 51-100 % số dảnh hoặc bông bị hại

- Bệnh đạo ôn: Theo dõi bệnh đạo ôn lá và đạo ôn cổ bông Cách lấy mẫu như theo dõi sâu đục thân, đánh giá theo thang điểm của IRRI

+ Đối với bệnh đạo ôn lá:

Điểm 1: Vết bệnh mầu nâu hình kim, chưa xuất hiện vùng sản sinh bào tử Điểm 2: Vết bệnh nhỏ tròn hoặc hơi dài, đường kính từ 1-2 mm, có vết màu nâu rõ, hầu hết các lá phía dưới đều bị bệnh

Điểm 3: Dạng vết bệnh như điểm 2 nhưng vết bệnh phát triển ở các

lá trên

Điểm 4: Vết bệnh điển hình, dài 3 mm hoặc hơn, diện tích vết bệnh

<4% diện tích lá

Điểm 5: Vết bệnh điển hình chiếm 4-10% diện tích lá

Điểm 6: Vết bệnh điển hình chiếm 11-25% diện tích lá

Điểm 7: Vết bệnh điển hình chiếm 26-50% diện tích lá

Điểm 8: Vết bệnh điển hình chiếm 51-75% diện tích lá

Điểm 9: Vết bệnh điển hình chiếm 76-100% diện tích lá

+ Đối với bệnh đạo ôn cổ bông: Quan sát vết bệnh gây hại xung quanh cổ bông Điểm 0: Không có vết bệnh

Điểm 1: Vết bệnh có trên vài cuống bông hoặc trên gié cấp 2

Điểm 3: Vết bệnh có trên vài gié cấp 1 hoặc phần giữa của trục bông

Điểm 5: Vết bệnh bao quanh một phần gốc bông hoặc phần thân rạ phía dưới trục bông

Điểm 7: Vết bệnh bao quanh toàn cổ bông hoặc phần trục gần cổ bông, có hơn 30% hạt chắc

Điểm 9: Vết bệnh bao quanh hoàn toàn cổ bông hoặc phần thân rạ cao nhất, hoặc phần trục gần gốc bông, số hạt chắc ít hơn 30%

- Bệnh khô vằn: Quan sát độ cao tương đối của vết bệnh trên lá hoặc bẹ lá (biểu thị bằng % so với chiều cao cây)

+ Điểm 0: Không có triệu chứng

Trang 38

+ Điểm 1: Vết bệnh thấp hơn 20% chiều cao cây

+ Điểm 3: Vết bệnh 20-30% chiều cao cây

+ Điểm 5: Vết bệnh 31-45% chiều cao cây

+ Điểm 7: Vết bệnh 46-65% chiều cao cây

+ Điểm 9: Vết bệnh > 65% chiều cao cây

- Rầy nâu: Quan sát lá, cây bị hại gây héo và chết, đánh giá theo thang điểm của IRRI

+ Điểm 0: Không bị hại

+ Điểm 1: Hơi biến vàng trên một số cây

+ Điểm 3: Lá biến vàng bộ phận chưa bị “cháy rầy”

+ Điểm 5: Lá bị vàng rõ, cây lùn và héo, ít hơn một nửa số cây bị cháy rầy, cây còn lại lùn nặng

+ Điểm 7: Hơn một nửa số cây bị héo hoặc cháy rầy, số cây còn lại lùn nặng + Điểm 9: Tất cả cây bị chết

- Độ rụng hạt: Giữ chặt cổ bông và vuốt dọc bông, tính tỷ lệ (%) hạt rụng

+ Điểm 1: Khả năng chống đổ tốt (cây không bị nghiêng)

+ Điểm 3: Khả năng chống đổ khá (hầu hết các cây hơi nghiêng)

+ Điểm 5: Khả năng chống đổ trung bình (các cây nghiêng vừa)

+ Điểm 7: Khả năng chống đổ kém (hầu hết các cây nằm rạp)

+ Điểm 9: Khả năng chống đổ rất kém (tất cả các cây đều đổ rạp)

* Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

- Yếu tố cấu thành năng suất:

+ Số bông trên khóm: Đếm tất cả các bông có từ 10 hạt trở lên

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.1. Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới (Trang 14)
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa gạo của một số nước - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa gạo của một số nước (Trang 15)
Bảng 2.3. Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.3. Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam (Trang 18)
Bảng 3.1. Diễn biến thời tiết khí vụ mùa năm 2013 và vụ xuân năm 2014 ở - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.1. Diễn biến thời tiết khí vụ mùa năm 2013 và vụ xuân năm 2014 ở (Trang 41)
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến thời gian sinh trưởng, phát triển của - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến thời gian sinh trưởng, phát triển của (Trang 43)
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng đẻ nhánh của giống - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng đẻ nhánh của giống (Trang 44)
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến tình hình sâu bệnh hại của  giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 tại huyện Định Hóa - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến tình hình sâu bệnh hại của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 tại huyện Định Hóa (Trang 47)
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến hiệu quả kinh tế của giống lúa - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến hiệu quả kinh tế của giống lúa (Trang 50)
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa Akita - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa Akita (Trang 53)
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao cây và khả năng  chống đổ của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 và vụ xuân - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao cây và khả năng chống đổ của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 và vụ xuân (Trang 54)
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của phân bón đến tình hình sâu, bệnh hại giống lúa  Akita Komachi vụ mùa 2013 và vụ xuân năm 2014 tại huyện Định Hóa - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của phân bón đến tình hình sâu, bệnh hại giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 và vụ xuân năm 2014 tại huyện Định Hóa (Trang 55)
Bảng 1: Chi phí chung của các công thức - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 1 Chi phí chung của các công thức (Trang 75)
Bảng 3: Chi phí công lao động và tổng chi của các công thức  Công thức  Số công lao - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 3 Chi phí công lao động và tổng chi của các công thức Công thức Số công lao (Trang 75)
Bảng 2: Lượng thóc giống - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 2 Lượng thóc giống (Trang 75)
Bảng 4. Chi phí của công thức bón phân đơn N, P, K - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh dòng lúa akita komachi tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên
Bảng 4. Chi phí của công thức bón phân đơn N, P, K (Trang 76)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm