1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại phú thọ

99 616 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 3,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng cây chè giống trong vườn ươm của giống chè PH11.... Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây chè giống trong vườn ươm.... - Đánh giá ảnh hưởn

Trang 1

VI VĂN CƯƠNG

NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT GIÂM CÀNH

CHO GIỐNG CHÈ PH11 TẠI PHÚ THỌ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỖ NGỌC OANH

TS ĐẶNG VĂN THƯ

Thái Nguyên – 2014

Trang 2

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Vi Văn Cương

Trang 3

Để hoàn thành bản Luận văn, trong quá trình thực tập tôi đã nhận được

sự giúp đỡ tận tình và tạo điều kiện thuận lợi của Khoa sau đại học; Khoa Nông Học - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến :

- TS Đỗ Ngọc Oanh – Giảng viên khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- TS Đặng Văn Thư – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và phát triển Chè – Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc

Những người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành Luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ viên chức trong Khoa Sau đại học, Khoa Nông Học - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Viện KHKT NLN miền núi phía Bắc, Trung tâm nghiên cứu và phát triển Chè, nơi tôi công tác và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới những người thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên và khích

lệ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành Luận văn

Phú Hộ, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Vi Văn Cương

Trang 4

1.Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục đích và yêu cầu của đề tài: 2

2.1 Mục đích của đề tài 2

2.2 Yêu cầu của đề tài: 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài: 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: 2

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1.Cơ sở khoa học của giâm cành chè 3

1.2.Đặc điểm sinh lý của cành chè giâm 6

1.3.Vai trò sinh lý của phân đa lượng ( N : P : K ) đối với cây chè 7

1.4 Vai trò và cơ chế tác động của chất kích thích sinh trưởng

(gibberellin) đối với cây trồng 9

1.5 Kỹ thuật giâm cành chè 10

1.5.1 Các bước cơ bản của giâm cành chè 10

1.5.2 Quy trình giâm cành chè 11

1.6 Nghiên cứu về giâm cành chè 21

1.6.1 Những nghiên cứu trên thế giới 21

1.6.2 Những nghiên cứu Việt Nam 24

1.7 Nguồn gốc và đặc điểm của giống chè PH11 27

1.7.1 Nguồn gốc giống chè PH11 27

1.7.2 Đặc điểm của giống chè PH11 28

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29 2.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.2 Vật liệu nghiên cứu 29

2.3 Thời gian địa điểm nghiên cứu: 29

2.3.1 Thời gian nghiên cứu: 29

Trang 5

2.5 Phương pháp nghiên cứu 30

2.5.1 Các thí nghiệm và phương pháp bố trí thí nghiệm 30

2.5.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 33

2.6 Phương pháp xử lý số liệu: 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

3.1 Đặc điểm về sinh trưởng búp của giống chè PH11 35

3.2 Ảnh hưởng của phân bón cho cây mẹ đến khả năng sản xuất hom của giống chè PH11 36

3.2.1 Ảnh hưởng bón phân cho cây mẹ đến sản xuất hom chè giống 36

3.2.2 Ảnh hưởng của phân bón cho cây mẹ đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm 38

3.2.3 Ảnh hưởng của phân bón cho cây mẹ đến tỷ lệ bật mầm của hom giâm 40

3.3 Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến khả năng giâm cành trong vườn ươm của giống PH11 42

3.3.1 Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm 42

3.3.2 Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến tỷ lệ bật mầm của hom giâm 44

3.3.3 Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến sinh trưởng của cây chè con 45

3.4 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng cây chè giống trong vườn ươm của giống chè PH11 49

3.4.1 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây chè con 49

3.4.2 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây chè giống trong vườn ươm 51

3.5 Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng cây chè con của giống chè PH11 52

3.5.1 Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng của cây trong vườn ươm 53

Trang 6

3.5.3 Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ hóa nâu và tỷ

lệ xuất vườn của cây giống trong vườn ươm 55

Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57

4.1 Kết luận 57

4.2 Đề nghị 57

Trang 8

Bảng 1.1 Lượng bón phân cho vườn ươm (g/m2) 18 Bảng 3.1 : Các đợt sinh trưởng tự nhiên của giống chè nghiên cứu 35 Bảng 3.2 Ảnh hưởng của phân bón cho cây mẹ đến sản lượng hom giống 37 Bảng 3.3 Ảnh hưởng của phân bón cho cây mẹ đến chất lượng hom chè giống 38 Bảng 3.4: Ảnh hưởng của phân bón cho cây mẹ đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm 39 Bảng 3.5 Ảnh hưởng của phân bón cho cây mẹ đến tỷ lệ bật mầm của hom giâm 41 Bảng 3.6 Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm 43 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến tỷ lệ bật mầm của hom giâm 44 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến sinh trưởng của cây chè con 46 Bảng 3.9: Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến sinh trưởng của cây chè con 47 Bảng 3.10 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng 50 của cây giống trong vườn ươm 50 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của phân bón đến khối lượng thân, khối lượng rễ và tỷ

lệ xuất vườn của cây giống trong vườn ươm 51 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng của cây giống trong vườn ươm 53 Bảng 3.13 Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích sinh trưởng đến khối lượng thân, khối lượng rễ và số lá trên thân chính của cây giống trong vườn ươm 54 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích sinh trưởng 56 đến chất lượng cây giống 56

Trang 9

cư, lao động và chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao thu nhập cho người nông dân

Việt Nam có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển Cây chè giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp, sản phẩm chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của ngành Nông nghiệp Việt Nam Sản xuất chè cho thu nhập chắc chắn, ổn định góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, đặc biệt

là nông nghiệp nông thôn vùng Trung du miền núi phía Bắc

Với mục tiêu chọn tạo và nhân nhanh các giống chè có chất lượng cao để

đa dạng hoá sản phẩm, những năm qua Viện Nghiên cứu Chè (nay là Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc) đã nghiên cứu và chọn tạo ra rất nhiều giống chè đáp ứng các yêu cầu về năng suất và chất lượng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép khu vực hoá, trong

đó có giống chè PH11 Đây là giống có ưu thế về năng suất và chất lượng nhưng có những đặc điểm khác biệt so với những giống chè khác do đó khi áp dụng những quy trình hiện hành để mở rộng diện tích đã gặp phải những vấn

đề như: tỷ lệ xuất vườn thấp, khả năng giâm cành kém và chưa có quy trình kỹ thuật giâm cành riêng cho giống Với định hướng đó chúng tôi tiến hành thực

Trang 10

hiện đề tài: “Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11

tại Phú Thọ” Với mục đích hoàn thiện quy trình kỹ thuật giâm cành chè để

nâng cao tỷ lệ xuất vườn của giống chè PH11

2 Mục đích và yêu cầu của đề tài:

2.1 Mục đích của đề tài

Xác định kỹ thuật giâm cành thích hợp cho giống chè PH11

2.2 Yêu cầu của đề tài:

- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón cho cây mẹ đến kết quả sản xuất hom giống của giống chè PH11

- Đánh giá ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến khả năng giâm cành trong vườn ươm

- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây chè con trong vườn ươm

- Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng của cây chè giống trong vườn ươm

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài:

Kết quả của đề tài đánh giá được ảnh hưởng của kích thước lá mẹ, chế phẩm kích thích sinh trưởng, phân bón đến tỷ lệ xuất vườn trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp khắc phục những hạn chế của giống chè PH11

Kết quả của đề tài sẽ có giá trị bổ sung tư liệu nghiên cứu về giống chè PH11, góp phần hoàn thiện quá trình nghiên cứu về giống chè này trước khi đưa ra sản xuất

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

Các kết quả của đề tài sẽ giúp cho người sản xuất nhân nhanh và mở rộng diện tích trồng giống chè mới PH11, tạo ra những nương chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và mang lại hiệu quả kinh tế

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của giâm cành chè

Cây chè cũng như hầu hết các loại cây trồng khác có thể nhân giống bằng hai phương pháp: Nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định

Nhân giống vô tính chè cũng giống như các loại cây trồng khác bao gồm: nuôi cấy mô, triết, ghép và giâm cành (giâm hom) trong đó phương pháp giâm cành là khả thi nhất

Giâm cành chè là biện pháp dùng một đoạn cành dài 4 - 5 cm, có 1 lá nguyên vẹn sạch sâu bệnh Cành có màu xanh hoặc từ xanh chuyển sang nâu Mỗi hom có một mầm nách dài không quá 1cm Sau đó đem giâm trên nền vật liệu nhất định (đất, cát …) để tạo thành cây con mới với số lượng lớn phục

vụ sản xuất

Các loại cây trồng để duy trì nòi giống, chúng đều phải thông qua cơ quan sinh sản, hoặc chúng có khả năng tái sinh từ các bộ phận của các cơ quan sinh dưỡng như lá, chồi, thân, rễ Nếu đưa các bộ phận của chúng vào môi trường thích hợp nó sẽ phát triển thành rễ, mầm và hình thành cây con Phương pháp giâm cành chè là người ta sử dụng một bộ phận gồm đoạn thân,

lá ( hom chè ) để qua quá trình tái sinh tạo ra cây chè mới

Khi mô tế bào thực vật bậc cao bị thương thì vách tế bào sẽ hóa bần làm cho tế bào sống tách rời nhau Các tế bào sống còn lại phân chia nhiều lần song song với mặt cắt để hàn kín vết thương Loại mô đó gọi là mô sẹo ( callus) Haber Landt ( 1921 ) cho rằng, khi tế bào nhu mô hình thành mô sẹo thì các tế bào bị thương hình thành một loại vật chất xâm nhập vào các tế bào mô vĩnh cửu chưa bị thương ở xung quanh, gây sự kích thích phân sinh, chất đó gọi là thương kích tố ( Wuond – hormones ) Thương kích tố nếu phát sinh ở miệng

Trang 12

vết thương có libe thì có một chất gọi là thương kích tố libe ( Leptohormone ) Nói một cách khác, những tế bào ở bề mặt vết cắt vốn đã ngừng phân chia, nhưng do bị tổn thương gây kích thích nên bắt đầu phân chia trở lại, cùng với

sự biến đổi của các tế bào tượng tầng và các tế bào nhu mô ở cạnh, mô sẹo được hình thành Sự hình thành mô sẹo ở cành non thường mạnh hơn cành già

Mô sẹo lúc đầu là một tế bào nhu mô (vách mỏng) sau đó phân hóa thành mô dẫn, tượng tầng và hình thành điểm sinh trưởng phát sinh rễ bất định

Mô sẹo là nơi hình thành rễ, do vậy đại đa số rễ mọc ra từ gốc cành giâm, còn mầm cành mới lại mọc ra ở phía ngọn cành Từ mô sẹo của thân cành rất khó mọc mầm ( ngoại trừ nuôi cấy mô ), vì vậy muốn giâm cành thành công thì trên cành giâm nhất thiết phải có một mầm

Phương pháp giâm cành chè là sử dụng một bộ phận gồm đoạn thân lá (cơ quan dinh dưỡng ) để tái sinh ra cây chè mới Phiến lá của hom chè là cơ quan để quang hợp tạo ra những chất dinh dưỡng nuôi hom và tái sinh cây, lá

có vai trò quan trọng trong việc tạo thành cây chè Do đó lá không thể bị thương và phải sạch sâu bệnh

Để tạo thành cây chè hoàn chỉnh và sinh trưởng tốt trong vườn ươm, đủ tiêu chuẩn, đưa ra trồng trên nương nó phụ thuộc nhiều vào chất lượng hom giống, môi trường giâm, chế độ chiếu sáng, chế độ chăm sóc và phân bón cho vườn ươm Môi trường giâm hom chè thường dùng là loại đất không lẫn tạp chất có thành phần cơ giới trung bình và độ chua thích hợp PHKCL từ 4,5 - 5,5

Từ vết cắt hom chè sau khi giâm cành xuống đất phần phía dưới hom sẽ hình thành màng mộc thiêm để chống lại sự xâm nhập của vi sinh vật, dần dần tạo thành mô sẹo và từ đó mọc ra rễ đầu tiên, mầm nách của hom chè cũng được phát triển từng bước cùng với sự phát triển của bộ rễ, đầu tiên là lá vảy ốc mở, sau đó đến lá cá và lá thật hình thành để tạo thành cây chè hoàn chỉnh Trong giâm cành chè nếu để mầm phát triển sớm hơn phát triển rễ không tốt vì vậy đòi hỏi phải điều chỉnh sinh trưởng cân đối giữa rễ và mầm

Trang 13

Mỗi giống chè có những đặc điểm khác nhau vì vậy khi giâm cành tỷ lệ ra

rễ và bật mầm khác nhau Trong thực tế có những giống khi giâm cành tỷ lệ xuất vườn rất cao nhưng cũng có những giống tỷ lệ xuất vườn rất thấp vì vậy giá thành cây giống rất cao Để giâm cành chè có hiệu quả cần phải khắc phục những nhược điểm của các giống tạo điều kiện thuận lợi cho cành giâm phát triển

Đặc điểm của cây mẹ, tuổi hom, kích thước hom, thời vụ giâm khác nhau dẫn đến hàm lượng và tỉ lệ các chất thuộc nhóm kích thích sinh trưởng khác nhau do đó sự hình thành rễ và chồi cũng vì thế mà khác nhau Nếu một hom chè ở một thời vụ nhất định có tỷ lệ các chất thuộc nhóm Auxin và Xytokinin thích hợp cho việc hình thành rễ và chồi thì đó là thời vụ giâm có hiệu quả nhất đối với giống chè đó Với tuổi hom khác nhau các chất kích thích trong đó cũng khác nhau, vì vậy mà kết quả giâm cành cũng khác nhau

Rõ ràng rằng tuổi hom, đường kính hom giâm sẽ quyết định tỷ lệ và hàm lượng các chất Phytohoocmon trong hom, thông qua đó mà phần nào quyết định quá trình hình thành rễ và chồi của hom giâm

Ngoài ra, do thời vụ khác nhau mà hàm lượng các chất Phytohoocmon

và sự tổng hợp các chất trong hom khác nhau nên kết quả giâm cũng khác nhau vì vậy việc nghiên cứu về thời vụ giâm hom cũng đã được nghiên cứu

Để đảm bảo chất lượng hom giống, khi nuôi hom nương chè thường được bón phân Tuy nhiên việc bón phân phù hợp hoặc bón không cân đối sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hàm lượng các chất trong hom, thông qua đó tạo điều kiện thuận lợi hay khó khăn cho sự hình thành rễ, chồi và sinh trưởng của hom giâm Vì vậy nghiên cứu lượng phân và dạng phân cho vườn giống khi nuôi hom cũng được nhiều đề tài nghiên cứu đến

Cơ sở khoa học và những giải pháp nêu trên của Đề tài nhằm đạt hiệu quả cao trong nhân giống và khắc phục những hạn chế khi trồng mới giống

Trang 14

chè PH11 đang là yêu cầu của sản xuất và cũng là quá trình hoàn thiện trong nghiên cứu, phục vụ cho việc mở rộng diện tích giống chè này và một số giống chè có đặc điểm tương tự ra sản xuất nhằm tăng nhanh diện tích các giống chè chất lượng cao thay thế các giống chè có năng suất thấp và chất lượng kém giúp cho ngành chè Việt Nam sản xuất hiệu quả hơn

1.2 Đặc điểm sinh lý của cành chè giâm

Cây chè có thể nhân giống bằng 2 phương pháp khác nhau: nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm khác nhau Trước kia người ta thường dùng phương pháp nhân giống hữu tính ( gieo hạt ), phương pháp này có những ưu điểm : kỹ thuật gieo trồng tương đối đơn giản, dễ làm, chi phí lao động, vật tư thấp, tính thích ứng của cây con với điều kiện ngoại cảnh tương đối tốt Tuy nhiên, phương pháp này lại tồn tại những nhược điểm như quần thể nương chè không đồng đều, năng suất và chất lượng búp thấp Ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ người ta đã có thể nhân giống chè bằng các hình thức khác nhau như : Giâm cành chè, chiết, ghép nuôi cấy mô nhằm nhân nhanh các giống mới Nhân giống vô tính đã tạo nên sự đồng đều về hình thái, giữ nguyên đặc trưng của cây mẹ, năng suất, chất lượng cao, nhưng nhược điểm là chi phí giá thành cao, đặc biệt với những giống khó nhân giống

Thực vật nói chung và cây chè nói riêng có khả năng tái sinh cơ thể mới từ các cơ quan sinh dưỡng Khi một đoạn cành được cắt ra khởi cơ thể

mẹ thì các quá trình phân chia tế bào vẫn tiếp tục sảy ra để hình thành mô sẹo

từ mặt cắt của cành giâm phía dưới mặt đất và mầm ở nách lá hoạt động để hình thành một cây chè hoàn chỉnh Tuy nhiên khả năng này thường có ở những cành bánh tẻ và có chứa đỉnh sinh trưởng, đặc biệt phải có môi trường thuận lợi Qúa trình trên chịu ảnh hưởng của 3 nhóm nhân tố sau:

Đặc điểm và trạng thái sinh lý của cây mẹ và cành giâm

Các biện pháp kỹ thuật áp dụng đối với cành giâm

Trang 15

Điều kiện môi trường trong vườn ươm như chế độ nhiệt, chế độ ẩm, độ nhiễm bệnh và cỏ dại

Tỷ lệ và hàm lượng giữa nhóm auxin và xytokinin quyết định sự phân hoá các bộ phận trên và dưới mặt đất của cây chè Với một hom chè để trưởng thành một cây chè hoàn chỉnh cần phải sinh trưởng rễ và chồi Nhưng để hình thành rễ cần phải tăng hàm lượng các chất thuộc nhóm auxin lúc mới giâm, sau đó rễ tự động tổng hợp các chất thuộc nhóm xytokinin xúc tiến quá trình hình thành các chồi để tạo nên cây chè hoàn chỉnh Đó là cơ sở của việc sử dụng một số các chất kích thích sinh trưởng để làm tăng khả năng ra rễ, tăng

tỷ lệ suất vườn của những giống khó nhân giống

1.3 Vai trò sinh lý của phân đa lượng ( N : P : K ) đối với cây chè

Chè là cây công nghiệp lâu năm, bộ phận thu hoạch chính là búp và lá non, vì vậy cây chè cần được cung cấp và hấp thu dinh dưỡng liên tục suốt quá trình sinh trưởng và phát triển Trong thành phần phân bón cho cây chè, các yếu tố đa lượng ( N : P : K ) đóng một vai trò hết sức quan trọng nó quyết định rất lớn đến năng suất cũng như chất lượng chè thành phẩm

+ Đạm (N): Là thành phần quan trọng của hợp chất hữu cơ cấu tạo nên diệp lục tố, nguyên sinh chất, axit nucleic, protein Đạm là dinh dưỡng thúc đẩy sinh trưởng, cải thiện kích thước chồi, kích thước lá, giảm sự ra hoa, kết trái trên cây chè, tăng năng suất, giúp ra lá nhiều, ra búp mới, lá xanh Thiếu đạm cây sinh trưởng kém, ít nảy chồi, búp non có màu xanh nhạt, xanh vàng đến ửng đỏ, năng suất thấp.Tuy nhiên nếu bón thừa đạm cũng không tốt Thừa đạm sẽ làm cho cây không chuyển hóa hết được sang dạng hữu cơ, làm tích lũy nhiều dạng đạm vô cơ gây độc cho cây Thừa đạm sẽ làm cho cây sinh trưởng thái quá, gây vóng Các hợp chất cácbon phải huy động nhiều cho việc giải độc đạm nên không hình thành được các chất “xơ” nên làm cây yếu, các quá trình hình thành hoa quả bị đình trệ làm giảm hoặc không cho thu hoạch, giảm sức đề kháng của cây chè đối với sâu bệnh

Trang 16

+ Lân ( P2O5 ): Lân có vai trò quan trong trong quá trình trao đổi năng lượng và Protein Thúc đẩy ra rễ giúp tăng hấp thu chất dinh dưỡng, góp phần tạo năng suất và nâng cao chất lượng chè thương phẩm Lân cần thiết cho sự phát triển của bộ rễ, kích thích chồi mới, tăng khả năng chịu hạn, tăng tuổi thọ của cây, tăng năng suất và lượng đường hòa tan và tannin, tăng chất lượng chè Thiếu Lân cây chè chậm lớn, khả năng phân cành kém, lâu khép tán, lá

có màu xanh đục, thân cây mảnh, rễ kém phát triển, khả năng hấp thu đạm kém Quá trình tái tạo rễ non ( rễ tơ ) bị chậm dẫn đến khả năng hấp thụ dinh dưỡng kém làm cho năng suất chè không ổn định

+ Kali ( K2O ): Nhu cầu kali của cây chè tương đối cao, ở những nơi đất thiếu kali nếu bón đủ kali cho chè thì tác dụng của kali rất rõ rệt năng suất

có thể tăng từ 28 - 35 %, hàm lượng tanin tăng 6,7 % và các chất hòa tan 8 % Giúp cây cứng chắc, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, rét và hạn, giảm khô lá và rụng lá già, tăng năng suất và tăng độ ngọt, độ đậm trong chè búp Giúp tăng khả năng thẩm thấu qua màng tế bào, điều chỉnh PH, lượng nước qua khí khổng Hoạt hóa enzim có liên quan đến quang hợp và tổng hợp hydratcacbon Cải thiện khả năng sử dụng ánh sáng mặt trời khi thời tiết lạnh

và mây mù, do vậy nâng cao khả năng chống rét và các điều kiện bất lợi khác cho cây Thiếu kali gây ảnh hưởng xấu đến sự trao đổi chất trong cây, làm suy yếu hoạt động của hàng loạt các men, làm phá hủy quá trình trao đổi các hợp chất các bon và protein trong cây, làm tăng chi phí đường cho quá trình hô hấp

Biểu hiện thiếu kali có thể thấy là: Các lá già trở nên vàng sớm và bắt đầu từ bìa lá sau đó bìa lá và đầu lá có thể trở nên đốm vàng hoặc bạc, bìa lá chết và bị hủy hoại và lá có biểu hiện như bị rách Thiếu kali làm chậm lại hàng loạt các quá trình hóa sinh, làm xấu đi hầu như tất cả các mặt của quá trình trao đổi chất Thiếu kali sẽ làm chậm quá trình trình phân bào, sự tăng trưởng và sự dài ra của tế bào Thiếu kali còn làm giảm năng suất quang hợp

và trực tiếp dẫn đến giảm sản lượng mùa màng Ngược lại, sự dư thừa kali

Trang 17

cũng không tốt cho cây Dư thừa ở mức thấp gây đối kháng ion, làm cây

không hút được đầy đủ các chất dinh dưỡng khác như magie, natri v.v , ở

mức cao có thể làm tăng áp suất thẩm thấu của môi trường đất, ngăn cản sự

hút nước và dinh dưỡng nói chung, ảnh hưởng xấu đến năng suất cây chè

1.4 Vai trò và cơ chế tác động của chất kích thích sinh trưởng

(gibberellin) đối với cây trồng

Chất điều hòa sinh trưởng thực vật (còn gọi là các hocmon sinh trưởng )

là những chất được sinh ra trong cây để điều khiển các quá trình sinh trưởng

phát triển của cây Trong suốt đời sống, cây phải trải qua nhiều giai đoạn phát

triển như nảy mầm, lớn lên, ra hoa, kết quả Các chất điều hòa sinh trưởng

giúp cây tiến hành các giai đoạn này một cách cân đối hài hòa theo đặc tính

và quy luật phát triển của cây với liều lượng rất thấp Mỗi giai đoạn được điều

khiển bởi một nhóm chất nhất định Ở thời kỳ sinh trưởng lớn lên có nhóm

chất kích thích sinh trưởng Tới mức độ nhất định cây tạm ngừng sinh trưởng

để chuyển sang thời kỳ phát triển ra hoa, kết quả thì có nhóm chất ức chế sinh

trưởng được hình thành

Nhóm chất kích thích sinh trưởng có các chất Auxin, Gibberellin ( GA )

và Cytokinin Hiệu quả rõ rệt nhất của chất kích thích sinh trưởng là tác động

mạnh mẽ đến sự sinh trưởng kéo dài của thân, sự vươn dài của lóng, kích

thích mạnh lên pha dãn của tế bào theo chiều dọc Vì vậy, khi sử dụng các

chất kích thích sinh trưởng sẽ làm tăng sinh trưởng sinh dưỡng, tăng sinh khối

của cây Ngoài ra chất kích thích sinh trưởng còn thúc đẩy sự phân chia tế

bào, kích thích sự nảy mầm, nảy chồi của các mầm ngủ, hạt…do đó phá vỡ

trạng thái ngủ nghỉ của chúng Chất kích thích sinh trưởng còn có tác dụng ức

chế sinh trưởng sinh thực, ức chế sự phân hoá, phát triển của hoa cái trên cơ

sở đó làm tăng sinh khối của cây

Các chế phẩm kích thích được dùng trong thí nghiệm:

Trang 18

- GA3 : thành phần ( % ) : Pg Ga3 ppmNAAppm, CaO 52,9; AL2O 0,43; MgO 1,2; Fe 0,19; Si 1,75 ; K2O 0,1 Mn 40mg/kg

- Tony 920 40EC : thành phần gibberellic acid 40g/l

- Supper sieu 16SP : thành phần gibberellic acid 1% + 5% + 11N + 5%

P2O5 + 5% K2O + vi lượng

1.5 Kỹ thuật giâm cành chè

Đây là phương pháp dùng một hom chè ( đoạn cành + lá thật + mầm nách ) đem giâm xuống đất với các biện pháp chăm sóc thích hợp chúng sẽ phát triển thành một cây chè hoàn chỉnh Chiều dài của hom 4 – 6cm, vết cắt trên và dưới theo hình chiếu của hom có dạng hình thang cân Hom cắt xong tiến hành cắm ngay là tốt nhất Sau khi cắm xuốngđất, phần mặt cắt dưới đất các quá trình phân chia tế bào vẫn diễn ra và hình thành mô sẹo từ đó sẽ phát triển ra rễ và đồng thời thân lá trên mặt đất phát triển Qúa trình tái sinh này phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố như:

- Đặc điểm sinh lý của cây mẹ và chất lượng hom đem giâm

- Điều kiện môi trường vườn giâm: lý hoá tính đất đóng bầu, chế độ sáng, độ ẩm, nhiệt độ, sâu bệnh, cỏ dại…

- Các biện pháp kỹ thuật chăm sóc

1.5.1 Các bước cơ bản của giâm cành chè

+ Trồng và chăm sóc vườn sản xuất hom chè giống

- Nuôi hom chè giống

- Chăm sóc và bấm tỉa

+ Chăm sóc vườn ươm và chăm sóc cây con

- Chọn địa điểm làm vườn ươm

- Thời vụ giâm cành

- Thiết kế luống và chọn đất đóng bầu

- Làm giàn che

- Chọn cành, cắt và cắm hom

Trang 19

+ Quản lý và chăm sóc vườn ươm

- Tưới nước giữ ẩm

1.5.2.1 Kỹ thuật trồng và chăm sóc vườn sản xuất hom giống ( vườn giống gốc )

Muốn có hom giống tốt phải có vườn cây mẹ tốt ( vườn giống tốt ) và

áp dụng đúng kỹ thuật nuôi hom vì sự tái sinh của cây trồng từ một bộ phận trên cơ thể ban đầu có sự liên quan nhiều đến quá trình sinh lý, sinh hoá của cây mẹ Có nhiều tài liệu cho rằng trong hom chè có nhiều đường, ít đạm thì thuận lợi cho ra rễ Trong hom chè hàm lượng đường và đạm ở cuộng và lá không như nhau và chúng thay đổi theo mùa, từ tháng 8 đến tháng 1 hàng năm, hàm lượng đạm trong lá giảm để dùng cho phát triển đọt và tổng hợp các chất protit; còn mùa xuân và mùa hè thì hàm lượng đạm cao hơn Hiểu được bản chất của quy luật này để có chế độ chăm sóc và điều chỉnh thời vụ nuôi hom giống trên cây mẹ là hết sức quan trọng và cần thiết

* Kỹ thuật nuôi hom

Trong điều kiện khí hậu Việt Nam hom chè giống có thể nuôi quanh năm, nhưng nếu hom giống cắm vào vụ xuân và vụ hè thì tỷ lệ sống thấp và năng suất hom cũng không cao Do đó thường người ta chỉ nuôi hom vào 2 vụ

là vụ hè thu và vụ xuân mà vụ chính là vụ đông xuân cho năng suất hom cao, chất lượng hom tốt và không ảnh hưởng nhiều đến sức sinh trưởng về sau của vườn giống gốc Thời gian nuôi cành chè để lấy hom giâm khi cành chè có 5 -

6 lá thật, lúc cành chè 3 đến 3,5 tháng tuổi Nếu lấy hom giâm vào tháng 7, tháng 8 hay tháng 9 ( vụ thu ) thì bắt đầu chọn lứa chính không hái để nuôi từ

Trang 20

tháng 4 - 5, còn nếu lấy hom giâm vào tháng 11 - 1 thì bắt đầu nuôi từ tháng 8 đến tháng 9

+ Bón phân:

Với nương chè vừa thu búp vừa để hom giống mỗi năm bón bổ sung 20

- 30 tấn phân chuồng/1 ha vào tháng 1 hàng năm Trước khi để hom 15 - 20 ngày cần bón cho 1 gốc chè của vườn giống gốc như sau: Urê: 10 - 12g; kaliclorua (hoặc Kalisunfat) 10 - 15g; Supelân 20 - 25g với nương chè có năng suất xung quanh 5tấn/ha ( Chú ý lượng phân khoáng trên là bón bổ sung khi để nuôi hom giống không bao gồm lượng phân bón cho thời kỳ sản xuất búp trước đó )

+ Chăm sóc, bấm tỉa:

Trong thời gian nuôi hom phải kiểm tra kịp thời thường xuyên những búp rìa tán, những búp nhỏ, sinh trưởng đợt sau, phía dưới để tập trung dinh dưỡng vào búp chính để lấy hom Cần điều chỉnh mật độ cành để thu được hom ở mức độ hợp lý, để lấy chất lượng hom tốt Lượng hom thu được tính theo tuổi chè như sau:

Chè 4 - 8 tuổi: 150 - 200 hom/cây, tương đương 2 - 3 triệu hom/ha Chè trên 8 tuổi: 200 - 300 hom/cây, tương đương 3 - 4 triệu hom/ha Thường xuyên phun thuốc phòng trừ sâu bệnh vì nếu để sâu bệnh phát sinh mới phun thì ảnh hưởng ngay đến chất lượng hom giống Sâu phát sinh trong thời gian này thường là 4 đối tượng chính: rầy xanh, nhện đỏ, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ; ngoài ra có thể có sâu cuốn lá Bệnh thường là bệnh thối búp và bệnh chấm nâu Phòng trừ sâu bệnh theo quy trình và lịch phòng chống sâu bệnh

Trước khi cắt cành để lấy hom giâm 10 - 15 ngày cần tiến hành bấm ngọn cành để cho những đoạn hom phần ngọn cứng cáp và kích thích mầm nách hoạt động

Trang 21

1.5.2.2 Kỹ thuật vườn ươm và chăm sóc cây con

Chăm sóc vườn ươm là khâu kỹ thuật rất quan trọng Mặc dù cây mẹ để giống cho ra các hom tốt nhưng kỹ thuật chăm sóc vườn ươm không tốt sẽ cho kết quả không theo mong muốn, tỷ lệ cây sống thấp, thậm chí bị chết hoàn toàn nếu như người làm vườn không nắm được kỹ thuật vườn ươm Điều này thường xảy ra đối với những cơ sở mới sử dụng kỹ thuật giâm cành nhưng không có chuyên gia chỉ dẫn Cần phải nắm vững yêu cầu của cành giâm trong từng giai đoạn trong suốt quá trình cắm hom đến khi hình thành cây chè con đủ tiêu chuẩn đem trồng Hai yếu tố đặc biệt chú ý là: Chế độ ẩm

và chế độ ánh sáng Điều chỉnh độ ẩm đất theo từng giai đoạn, còn ánh sáng theo thời gian yêu cầu theo mức độ tăng dần Nếu đất vườn ươm quá ẩm hom chè giâm sẽ bị rụng lá mặc dù mầm chè vẫn còn tươi nhưng không thể phát triển dẫn đến cành giâm bị chết Đất qúa ẩm còn dẫn đến vết cắt của hom chè dưới đất chỉ hình thành mô sẹo phình to kéo dài, đường kính phình to có thể tới 1,5cm mà không ra rễ hoặc chỉ có 1 - 2 rễ ngắn không đáp ứng được yêu cầu sinh trưởng của cây Nếu đất quá khô, cành giâm bị mất nước và khô chết, hoặc chỉ ra được ít rễ, mầm chè khó phát triển Ánh sáng rất cần thiết cho quá trình quang hợp của cây chè đảm bảo cho cành chè giâm tích luỹ chất hữu cơ cung cấp dinh dưỡng cho quá trình sinh trưởng của cây chè con Tuy nhiên giai đoạn này cành giâm cần ánh sáng yếu, chủ yếu là ánh sáng tán xạ, nên giai đoạn này phải che toàn bộ vườn, sau đó sẽ điều chỉnh ánh sáng tăng dần theo tình hình thời tiết, ngày giâm mát nên tăng cường ánh sáng và ngày nắng nóng thì ngược lại phải hạn chế bớt ánh sáng

Sau hai yếu tố độ ẩm và ánh sáng thì chế độ phân bón đóng vai trò quan trọng cho quá trình lớn lên của cây chè Một hom chè nhỏ bé vừa tách rời khỏi bộ phận của cơ thể mẹ lúc đầu chỉ được cắm trong 1 bầu đất với thể tích nhỏ và nghèo dinh dưỡng cho nên quá trình lớn lên của cây chè cần cung cấp lượng phân bón vào bầu ngày càng tăng Tuy nhiên, thời kỳ và liều lượng bón

Trang 22

phân cho vườn ươm đòi hỏi phải nắm được yêu cầu kỹ thuật của cành giâm theo từng giai đoạn Giai đoạn đầu chưa hình thành mô sẹo nếu đất có nồng

độ NPK cao hom chè sẽ bị chết Về nguyên tắc khi hom chè có rễ thì mới có thể bón phân

* Kỹ thuật làm vườn ươm:

+ Chọn địa điểm làm vườn ươm:

Chọn nơi đất bằng hoặc hơi thoải, thoáng, gần nguồn nước tưới, mực nước ngầm nhỏ hơn 1m, tiện lợi giao thông đi lại và gần khu vực trồng chè

+ Thời vụ giâm cành: Ở nước ta, phía bắc có 2 thời vụ giâm cành tốt nhất là vụ đông xuân và vụ hè thu Vụ đông xuân có thể giâm cành từ 15 tháng 11 đến trung tuần tháng 2 Vụ hè thu có thể giâm cành từ giữa tháng 6 đến trung tuần tháng 8

+ Thiết kế luống, chọn đất và túi bầu

Sau khi chọn xong địa điểm tiến hành san bằng, đóng cọc căng dây phân luống Những nơi sản xuất nhiều cần phân nhỏ thành từng vườn, mỗi vườn khoảng 500m2, vườn nọ cách vườn kia 2m để cho thông thoáng, trong vườn cần xác định vị trí để đào giếng lấy nước tưới

+ Luống chè là nơi đặt các bầu chè giâm

Luống có chiều dài 15 - 20 m, chiều rộng 1,0 - 1,2m, giữa 2 luống chừa lại một rãnh rộng 40cm để đi lại chăm sóc, đào rãnh tiêu nước cho vườn ươm

Đất đóng bầu cần tơi xốp, có thành phần cơ giới trung bình, ở miền Bắc đất thường có màu đỏ nâu, còn ở miền Nam ( Bảo Lộc ) đất có màu xám, trước khi lấy đất cần gạt tầng đất mặt từ 10 - 20 cm Đất được đập nhỏ qua sàng ( đường kính viên đất nên nhỏ hơn 0,5cm ) có điều kiện phơi khô nỏ càng tốt

Túi bầu là túi PE có kích thước 10 x 18 cm đục 6 - 8 lỗ và hàn đáy, trong 1m2 luống chè có thể xếp được 150 bầu Khi đưa đất vào túi bầu phải

Trang 23

nhồi chặt, xếp bầu vào luống thật đứng và sít vào nhau, dùng tre nứa nẹp xung quanh luống, giữ bầu đứng không nghiêng, không đổ

+ Làm giàn che

Giàn che có tác dụng che nắng che mưa, giữ độ ẩm không khí và nhiệt

độ thích hợp cho vườn ươm Khung giàn thường làm bằng tre ( những nơi có

kế hoạch sản xuất bầu chè lâu dài, cột giàn có thể đổ bằng bê tông ) che mái

và che xung quanh bằng phên nứa, cỏ tế, lá mía hoặc lưới che nhưng tốt nhất

là phên nứa, vì thuận lợi điều chỉnh ánh sáng và ẩm độ, nhiệt độ tốt hơn cho cây Độ cao che giàn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng để đảm bảo cho đi lại chăm sóc tiện lợi dễ dàng ở Việt Nam nên làm cao từ 1,7m - 1,9m Chân cột không đưa vào giữa rãnh sẽ rất khó khăn khi đi lại chăm sóc Kiểu giàn che hiện nay rất phong phú tuỳ theo từng nơi

+ Chọn cành cắm hom

Chọn cành khoẻ không sâu bệnh, độ dài và đường kính hom tuỳ theo giống, đường kính hom từ 4 - 6mm, đoạn cành dài từ 4 - 6 cm Cành chè khi cắt cần nguyên vẹn, tránh giập lá, gãy cành Dùng kéo sắc cắt hom ( cành đưa

về cắt và cắm ngay là tốt nhất ), mỗi hom có một phần mầm nách còn nguyên vẹn không dài quá 0,5cm Trường hợp cần vận chuyển hom đi xa thì nhất thiết phải bảo quản trong túi PE dày 0,5 mm, kích thước túi 100 x 80cm, đựng

3000 - 4000 hom/túi buộc kín phun ẩm bảo quản được 5 - 10 ngày Khi vận chuyển hom bằng ô tô cần phải làm giá đỡ nhiều bậc, để mỗi bậc chỉ xếp một lượt túi tránh chồng lên nhau làm cho hom giập nát

Trong khi cắt hom thường phân thành loại 1, loại 2 ( có thể là A,B ) để thuận tiện cho quá trình chăm sóc sau này Trước khi cắm hom chè có thể xử

lý bằng sunfat đồng ( CuSO4 ) 0,1% ) để trừ nấm bệnh

Cắm hom: Trước khi cắm hom, bầu đất cần được tưới ẩm 80 - 85%, hom chè được cắm thẳng đứng, lá xuôi theo chiều gió, cuống lá gần sát đất

Trang 24

Không cắm sâu quá mầm dễ bị thối, sau khi cắm xong phải tưới ẩm ngay, tốt nhất là tưới dưới dạng sương mù

+ Quản lý chăm sóc vườn ươm

Sau khi cắm hom 10 - 15 ngày hom chè liền vết cắt, sau 15 - 30 ngày hom hình thành mô sẹo, sau 30 - 60 ngày hom chè ra rễ, thời kỳ này cần được chăm sóc chu đáo Đây là yếu tố quyết định tỷ lệ sống cao

Chăm sóc vườn ươm là công việc thường xuyên liên tục bao gồm các công việc : tưới ẩm, điều chỉnh ánh sáng, bón phân, phá váng, giặm hom, vê

bỏ nụ chè, phòng trừ sâu bệnh, phân loại cây con

- Tưới giữ ẩm: Tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của hom chè mà nước tưới khác nhau

Giai đoạn 1:

Từ khi cắm hom đến 15 - 20 ngày đầu, hom chè vừa tách khỏi cây mẹ sống tự lập, chưa ổn định, lá từ trạng thái tươi đến rủ lá, giai đoạn này tế bào bắt đầu phân chia mạnh mẽ, vết thương bị cắt đang liền, sức hút nước chưa mạnh, mặt lá bốc hơi nước nhiều do đó dễ bị héo Giai đoạn này cần được tưới ẩm đầy đủ, yêu cầu độ ẩm không khí cao, giảm bớt sự thoát nước qua mặt lá, vườn ươm cần che đậy cẩn thận cả trên mái và xung quanh, để giữ ẩm cần phun mù trên mặt lá vào khoảng không trong vườn ươm Độ ẩm không khí yêu cầu 80 - 90%, độ ẩm đất yêu cầu 80%, giai đoạn này nếu trời không mưa mỗi ngày tưới 1 - 2 lần, lượng tưới 1 lít nước cho 1m2 bầu ( dùng bơm con gà để tưới ) Cuối giai đoạn 1 lá trở lại xanh tươi, vết thương cắt liền trở lại

Giai đoạn 2:

Khoảng 15 - 30 ngày sau, vết cắt hom được phục hồi, hom chè hút nước mạnh, mặt lá có sức căng lớn, xanh bóng, bắt đầu hình thành mô sẹo, các tế bào nơi vết cắt dưới hom phình to thành 1 vòng ( mô sẹo ), lượng nước tưới lúc này vừa phải, 2 ngày tưới 1 lần, mỗi lần tưới 1,5 lít nước cho 1m2 bầu,

độ ẩm đất yêu cầu 70 - 80% ( dùng loại bơm con gà hoặc ô doa tưới nước )

Trang 25

Giai đoạn 3:

Từ ngày 30 đến ngày thứ 60, rễ bắt đầu hình thành và phát triển, lượng nước phải được bảo đảm thường xuyên đầy đủ, nếu không rễ non mới ra dễ bị khô hoặc phát triển chậm Hai hoặc ba ngày tưới một lần, mỗi lần tưới 1,5 lít nước cho 1 m2 bầu, độ ẩm đất yêu cầu 75 - 80% ( dùng ô doa tưới )

Giai đoạn 4:

Từ 60 - 90 ngày sau khi cắm hom, hệ rễ phát triển mạnh, đặc biệt là rễ hút, cây bắt đầu sử dụng dinh dưỡng trực tiếp từ bầu đất, giai đoạn này kết hợp với việc bón phân cần duy trì lượng nước thường xuyên đầy đủ để phát triển tốt Ba ngày tưới từ 1 lần, mỗi lần tưới từ 1,5 đến 2,0 lít cho 1m2 bầu, độ

ẩm đất yêu cầu 75 - 80% ( dùng ô doa tưới )

Giai đoạn 5:

Từ 90 - 120 ngày là giai đoạn sinh trưởng của mầm chè, mầm phát triển mạnh, khi nhiệt độ cao, lúc này nếu trời nắng khô 6 ngày tưới 1 lần với 2 lít nước/m2 bầu, nếu quá khô phải tăng số lần tưới lên 2 - 3 ngày tưới 1 lần đảm bảo độ ẩm đất 70 - 80%

Giai đoạn 6:

Từ 120 - 180 ngày, giai đoạn này cây đã có chiều cao 15 - 30cm, rễ dài

10 - 20cm, cây con đã hoàn chỉnh, nhiều cây đã đủ tiêu chuẩn xuất vườn cứ

10 - 15 ngày tưới 1 lần, mỗi lần tưới với lượng 3 lít nước/m2 bầu, vì để luyện cho cây khỏe nên chỉ giữ ẩm đất khoảng 70 - 75% ( tưới bằng ô doa )

Trang 26

quang hợp của cây chè con, Từ 150 - 180 ngày tách 50% giàn che, tăng cường ánh sáng nhiều hơn Sau 180 ngày mở toàn bộ giàn che và xung quanh để cây thích ứng với điều kiện ánh sáng tự nhiên

Vụ hè thu:

Trong phạm vi 1 - 30 ngày đầu che xung quanh từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều, từ 30 - 60 ngày tiếp theo che xung quanh từ 10 giờ đến 3 giờ chiều, từ

120 - 150 ngày mở 50% mài giàn che, sau 150 ngày mở hẳn giàn che

Chú ý: Cả vụ xuân và vụ hè thu cần phải có sự kiểm tra, giám sát điều

chỉnh ánh sáng hàng ngày, nếu trời mưa, mù, ánh sáng thiếu có thể mở thật rộng giàn che ở các giai đoạn ( trời mưa to ), còn nếu trời nắng to, nhiệt độ cao thì cần phải che toàn bộ giàn và xung quanh

- Bón phân:

Cây chè từ nhỏ đến lớn cần được bón phân với lượng tương ứng của các giai đoạn Tổng số phân NPK/m2bầu là 140g gồm đạm sunfat 60g ( nếu là đạm Urê thì chỉ tính bằng 1/2 lượng đạm sunfat ), Supe lân 30g, Kali sunfat 50g Trong thời gian từ lúc cắm hom khoảng 2 tháng đầu không được bón bất

kỳ loại phân gì, lượng bón tăng dần theo tháng tuổi, lượng bón cho các giai đoạn vườn ươm được quy định như sau:

Bảng 1.1 Lượng bón phân cho vườn ươm (g/m 2 ) Thời gian cắm

Cách bón: Hoà tan NPK trong ô doa tưới rải đều trên mặt luống ( nồng

độ 1% ) sau đó tưới rửa lại bằng nước lã Khi mầm chè mọc cao, có 2 - 3 lá có

Trang 27

thể phun urê 2%, 1 lít dung dịch phun cho 5 m2 bầu kết hợp với phun thuốc trừ sâu, phun vào thời gian giữa 2 lần bón phân

- Phòng trừ sâu bệnh cỏ dại:

Trong vườn ươm thường xuất hiện những loại sâu phổ biến là: rầy xanh, cánh tơ, nhện đỏ, bọ xít muỗi nên cần phải thường xuyên kiểm tra để phun phòng trừ các loại thuốc có trong danh mục cho phép của bộ NN và PTNT Ngoài sâu hại cần chú ý đến bệnh thối búp làm phần ngọn non bị thối, bệnh này lây lan nhanh nhưng dễ phòng trừ bằng thuốc Booc đô ( hỗn hợp đồng với vôi và nước tỷ lệ 1:1:100 ) phun một lít dung dịch cho 1m2 bầu hoặc dùng thuốc Benlát 0,1% Vườn ươm thường xuyên được vệ sinh sạch sẽ, nhặt hom chết, que, cọc, lá rụng, cắt vết bệnh ( trên lá ) Thường xuyên nhổ cỏ dại bằng tay ở xung quanh vườn và trong túi bầu không để tranh chấp dinh dưỡng cây chè

- Giặm hom, phá váng, vê nụ và bấm ngọn

Hom chết hay bị bệnh thì nhổ lên, giặm lại hom mới, ngắt hết nụ và hoa trên hom chè, 10 - 15 ngày trước khi đem bầu đi trồng tiến hành bấm ngọn cây chỉ giữ lại ở mức cao 15 - 25cm

- Luyện cây, phân loại:

Thực tế sản xuất cho thấy giống cây trồng trong vườn được tôi luyện tốt sẽ làm tăng tỷ lệ sống đáng kể khi trồng mới Vì thế trong các khâu quản

lý, chăm sóc vườn ươm không thể coi nhẹ khâu này Luyện cho cây cứng cáp, khỏe mạnh để có thể chịu đựng được khi cây chè thay đổi môi trường sống từ điều kiện vườn ươm được chăm sóc chu đáo đến nương chè trồng mới thích ứng với môi trường khí hậu thời tiết tự nhiên Luyện cây là một biện pháp tổng hợp bao gồm các yếu tố chủ yếu: điều chỉnh ánh sáng, ẩm độ đất cho thích nghi dần, điều chỉnh phân bón ( gồm cân đối các yếu tố NPK và thời gian bón phân ), nhấc đầu cắt đứt rễ bám ở phần dưới đất, luyện cây yêu cầu cần phải thực hiện nghiêm ngặt các bước sau:

Trang 28

Bước 1: Điều chỉnh ánh sáng: khi cây đã đủ chiều cao cần đưa ra khỏi

vườn ươm ( không cần che bóng ) thời gian không che hoàn toàn cần từ 1 - 2 tháng

Bước 2: Điều chỉnh độ ẩm: giai đoạn trước khi đem bầu đi trồng 1 - 2

tháng không nên tưới quá ẩm mà chỉ tưới độ ẩm đất 70%

Bước 3: Phân bón: 2 tháng trước khi xuất bầu trồng tuyệt đối không

được bón, hoặc phun bất cứ loại phân bón nào

Bước 4: Cây cần được nhấc ra khỏi vị trí để cắt đứt rễ ăn ra khỏi bầu và

bám sâu vào đất trước 1 - 2 tháng xuất bầu đi trồng

Kết hợp với nhấc bầu ra khỏi vị trí với phân loại bầu Khi vườn ươm đã

có 60% số cây cao trên 20cm thì phân loại, những cây cao đưa ra khỏi vườn ươm để kết hợp luyện cây Những cây thấp giữ lại vườn ươm tiếp tục chăm sóc chu đáo để cây mau lớn và có đủ tiêu chuẩn xuất vườn trồng đúng thời vụ Thời gian cây chè sống trong vườn ươm 8 - 12 tháng, nhưng nói chung thời gian sống trong vườn ươm dài, cây sẽ khỏe và khi trồng ra nương sẽ có tỷ lệ sống cao

Thực hiện quy trình kỹ thuật vườn ươm tốt, tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn có thể đạt 75 - 80% ( tùy theo giống )

+ Tiêu chuẩn bầu xuất vườn và thời gian chuyển bầu:

Cây quá non khi trồng dễ bị chết, còn cây quá già thì bộ rễ thường đâm sâu xuống đất khi nhấc lên dễ bị chột Cây con khi đem trồng yêu cầu có chiều cao trên 20cm, có trên 6 lá thật, đường kính sát gốc từ 3 - 5mm ( tùy giống ), các giống khác nhau thì sự hóa nâu khác nhau, song yêu cầu thân cần hóa nâu 50%, vỏ ngọn xanh thẫm, không có nụ, ngọn non đã được bấm trước khi trồng 10 - 15 ngày, bầu đất còn nguyên vẹn Khi vận chuyển bầu có thể bằng xe thô sơ ( khoảng cách gần ), xe ôtô ( nếu ở xa ) nhưng cần đặc biệt lưu

ý khi xếp bầu không được xếp quá nhiều lớp, khi xếp không được làm vỡ bầu, rơi đất hoặc làm dập nát thân cây

Trang 29

1.6 Nghiên cứu về giâm cành chè

1.6.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Giâm cành chè được xem là một tiến bộ khoa học quan trọng của ngành

chè Ưu điểm của phương pháp là cây con giữ được các đặc tính tốt của cây

mẹ, vườn chè đồng đều, rất thuận lợi cho chăm sóc, thu hái và chế biến, hệ số nhân giống cao ( 1ha vườn giống cung cấp đủ giống để trồng 80ha )

Giâm cành đã được bắt đầu nghiên cứu ở Trung Quốc từ những năm

1900, sau đó nhiều quốc gia khác cũng đã tiến hành nhiều công trình nghiên cứu về kỹ thuật giâm cành chè, ở Ấn Độ năm 1911, ở Gruzia năm 1928, ở Nhật Bản năm 1936 và ở Srilanka năm 1938 Hiện nay, hầu hết các nước trồng chè trên thế giới đều áp dụng nhân giống bằng phương pháp giâm cành vào sản xuất

Qua các công trình nghiên cứu, các tác giả Srilanca cho rằng quá trình

ra rễ của cành giâm không ảnh hưởng bởi tuổi của cây mẹ Tuy nhiên trong sản xuất những cây chè vào tuổi 4 khi cây bắt đầu ổn định về sinh trưởng và năng suất thì cho hom giâm tốt Đối với giâm cành chè ở Srilanca các nhà nghiên cứu cho rằng không nên tiến hành khi thời tiết khô hanh hay hạn hán Kết quả nghiên cứu ở Ấn Độ, Trung Quốc, Liên Xô cũ cho thấy thời vụ giâm cành tốt nhất vào tháng 7, tháng 8, tháng 9

Theo Watt 1940 sự khác nhau về kết quả giâm cành là do đặc điểm của giống cây gây nên, các giống chè gần giống Trung Quốc cho tỷ lệ ra rễ cao hơn những giống gần giống với ATSan Sự phát triển của rễ phụ thuộc vào các chất dự trữ trong thân cây, vì vậy vên chọn lấy hom giống ở những cây khoẻ mạnh

Từ năm 1958, Srilanca đã trồng những dòng chè chọn lọc bằng giâm cành trong túi P.E, đầu tiên là sêri 2020 ( phổ biến la 2023; 2025; 2026; 2043… ) có năng suất chất lượng tốt; sau đó là sêri 3013 tới 3020 Tại

Trang 30

Bangladesh trồng chè giâm cành từ những năm 1970; Indonexia bắt đầu phổ biến trồng các giống mới như GMB-1; GMB-2; GMB-3; GMB-4 từ năm 1988

Ở Trung Quốc, kỹ thuật giâm cành chè cũng được nghiên cứu từ rất lâu, tuy nhiên phải đến năm 1958 mới được phổ biến rộng rãi trên phạm vi cả nước Các tác giả Trung Quốc cho rằng vị trí hom lấy ở giữa cành có tỷ lệ sống, tỷ lệ nảy mầm và tỷ lệ ra rễ cao nhất

Tại Nga, Ấn Độ, Srilanca khi nghiên cứu về kỹ thuật cắm hom, các tác giả cho rằng cắm hom vào túi PE không ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom mà còn thuận lợi trong quá trình vận chuyển

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc, Nga, Ấn Độ đi sâu nghiên cứu về các điều kiện ảnh hưởng đến quá trình giâm cành chè như: tuổi hom, vị trí hom trên cành, các chất kích thích sinh trưởng… Các kết quả đã đóng góp rất nhiều cho sự hoàn thiện công tác nhân giống chè bằng giâm cành

Theo Trần Thị Lư, Nguyễn Văn Niệm (1999 ) Nghiên cứu quan hệ giữa

lá chè và năng suất đã đề ra các chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè như: màu sắc, kích thước lá, cấu tạo giải phẫu lá [ 23 ]

Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa màu sắc lá với chất lượng chè tác giả kết luận: Dạng lá chè có màu vàng là đặc trưng và tương quan có lợi cho các chỉ tiêu sinh hoá, nó phân biệt với lá có màu sắc khác ở chỗ có sự khác nhau của hàm lượng Chlorophyll, Tanin và một số chỉ tiêu khác Dạng lá có màu cà phê sáng đặc trưng có lợi cho các chỉ tiêu sinh lý

Khi nghiên cứu kích thước lá chè tác giả kết luận: Kích thước lá biến động theo giống và tuổi của cây chè, thường những giống chè Ấn Độ có kích thước lá lớn nhất, kích thước lá của những giống chè Nhật Bản thường nhỏ hơn

Nghiên cứu về quan hệ giữa lá chè với năng suất chất lượng chè Vũ Công Quỳ (1982 ) cho rằng: Góc lá tối ưu cho quang hợp của cây chè là 450,

lá chè màu vàng là đặc trưng có lợi cho các chỉ tiêu sinh hoá búp chè [ 30 ]

Trang 31

Nghiên cứu quan hệ giữa lá chè trưởng thành và lá thứ 3 của búp chè tôm ba lá tác giả Trần Thị Lư, Nguyễn Văn Niệm (1999 ) cho rằng: Lá thứ 3 của búp 1 tôm 3 lá thường có diện tích bằng 40% lá trưởng thành [23 ]

Nghiên cứu của Võ Ngọc Hoài (1998 ) về chỉ số diện tích lá của các giống chè đã rút ra kết luận: Chỉ số diện tích lá của những giống chè thông thường là 3 - 4 và của những giống chè có thế lá đứng là 5 - 7 Giống chè Trung Quốc chỉ số diện tích lá cao hơn, có khả năng trồng và phát triển tốt trong điều kiện ánh sáng đầy đủ và cho năng suất cao hơn kiểu giống Assam [ 15 ]

Nghiên cứu về hoocmon, các chất sinh trưởng đối với sự ra rễ của hom chè giâm các nhà khoa học cho rằng: các hoocmon và các chất kích thích sinh trưởng chỉ có hiệu quả cao trong phạm vi hẹp đối với những giống chè quý hiếm và khó ra rễ Ở Zaia người ta đã dùng cách ngâm hom chè vào dung dịch nước vôi trong, thuốc tím và 2,4D trước khi giâm Ở Liên Xô cũ đã sử dụng các chất như: 2,4D, α NAA, IAA với thời gian ngâm hom 24 giờ

Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng tia X quang đến tỷ lệ ra rễ, sinh trưởng phát triển của cành giâm người ta cho rằng: Cành giâm sẽ ra rễ nhanh hơn, tỷ lệ sống so với đối chứng tuy tăng không đáng kể nhưng cành giâm sẽ bật mầm tốt hơn Khi xử lý cành giâm bằng những tia γ có thể tạo ra những cây chè có chất lượng rất khác nhau

Nghiên cứu kỹ thuật cắm hom khi giâm cành chè các tác giả thuộc Liên

Xô cũ, Ấn Độ, Srilanka đều khẳng định giâm hom chè vào túi polyetylen không những không ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom chè mà còn tạo điều kiện tốt cho quá trình vận chuyển cây con ra nương và do đó góp phần tăng tỷ lệ sống khi trồng mới

Việc bón phân cho cành giâm theo các tác giả chỉ nên bắt đầu khi các cành giâm đã có rễ và kết thúc khi bắt đầu giai đoạn luyện cây trước khi mang trồng Có thể dùng phân Sulphat, phân Urê, phân tổng hợp với lượng 2 - 30g/m2 tuỳ từng giai đoạn Một số tác giả khác đều thống nhất cho rằng phân

Trang 32

N, P, K theo tỷ lệ 15:10 :10 bón với lượng 1,5g hỗn hợp này cho một bầu sẽ cho kết quả tốt Tại Srilanka sau khi hom chè đã nảy mầm và ra rễ bón 15g hỗn hợp T55 ( 35 phần đạm sunphat + 10 phần Kali + 10 phần muối Magiê ) cho 100 bầu, bón 28g T55 cho 100 bầu chè trước khi trồng hai tháng sẽ cho kết quả tốt Theo Nguyễn Văn Tạo ( 2005 ) khi nghiên cứu vai trò của các nguyên tố trong quá trình phát triển của cành chè giâm đã khẳng định: Kali và

Mg có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của bộ rễ chè [ 36 ]

Như vậy cây chè cũng như nhiều loại cây trồng khác có thể nhân giống

vô tính bằng nhiều cách khác nhau, nhưng phương pháp nhân giống vô tính

đã được áp dụng rộng rãi nhất hiện nay là phương pháp giâm cành, phương pháp này có nhiều ưu điểm hơn các phương pháp nhân giống khác bởi hệ số nhân giống cao và tính khả thi, ưu việt của nó

1.6.2 Những nghiên cứu Việt Nam

Theo Đỗ Ngọc Quỹ - Nguyễn Văn Niệm ( 1979 ) muốn có hom chè tốt phải bón cho cây mẹ 20gam đạm sunfat, 20gam supe lân, 20gam kalisunfat [ 32 ]

Nghiên cứu về kích thước hom các tác giả kết luận : Hom chè có kích thước dài 3 - 5cm, và có 1 lá nguyên là tốt nhất Vết cắt phía trên của hom với khoảng cách từ lá mẹ trở nên là 0,5cm là tốt nhất

Theo Nguyễn Văn Toàn ( 1994 ) khi nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước lá mẹ đến khả năng giâm cành của giống đã nhận xét : Diện tích lá chè có ảnh hưởng xấu tới tỷ lệ sống, hình thành mô sẹo và khả năng ra rễ của hom [ 42 ]

Theo Đỗ Ngọc Quỹ - Nguyễn Văn Niệm ( 1979 ) đã khẳng định để hạn chế quá trình thoát hơi nước có thể cắt bớt 1/3 lá chè đối với những giống chè

có diện tích lá lớn [ 32 ]

Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón và số lần bón đến tỷ lệ xuất vườn

và chất lượng cây chè xuất vườn Lê Tất Khương – Hoàng Văn Chung ( 1999 ) kết luận : khi tăng lượng phân bón đã làm tăng tỷ lệ xuất vườn, hạ giá thành

Trang 33

cây con, lượng phân bón tăng 25% so với quy trình và bón 7 lần từ tháng thứ

2 sau cắm có kết quả rất tốt [ 19 ]

Khi nghiên cứu về tuổi cây con khi trồng mới Nguyễn Văn Niệm và cộng sự ( 1994 ) kết luận cây chè con 14 tháng tuổi khi trồng có tỷ lệ sống cao nhất [ 25 ]

Nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật nhân giống chè 1A ( Luận án tiến sỹ - Đặng Văn Thư ) tại Phú Hộ với nội dung là ảnh hưởng của thời vụ và phân bón tới giâm cành Kết quả cho thấy khi bón riêng N, hom sinh trưởng kém còn khi bón đầy đủ NPK hữu cơ thì cây con khỏe, tỷ lệ xuất vườn cao [ 48 ]

Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm hình thái giải phẫu mỗi loại hom với khả năng giâm cành của Nguyễn Thị Ngọc Bình ( 2002 ) tại Phú

Hộ 1996 – 1998 cho thấy : Đặc điểm hình thái của mỗi loại hom của từng giống khác nhau đã ảnh hưởng tới tỷ lệ ra mô sẹo, ra rễ, bật mầm và tỷ lệ xuất vườn của các loại hom Các giống khác nhau, tỷ lệ ra rễ khác nhau Khả năng

ra rễ của hom bánh tẻ cao nhất, thấp nhất là hom nâu Tỷ lệ sống của các giống và các loại hom chênh lệch không cao Các loại hom khác nhau có tỷ lệ xuất vườn khác nhau Các giống khác nhau, tỷ lệ xuất vườn cũng khác nhau Như vậy, khả năng giâm cành của cây chè phụ thuộc rất lớn vào chất lượng hom và giống đem giâm [ 5 ]

Nhân giống chè bằng phương pháp giâm cành đang được áp dụng phổ biến ở các nước trồng chè trên thế giới Ở nước ta giống chè cành cũng đang dần thay thế các giống chè hạt năng suất thấp, khả năng thành công của phương pháp này tương đối cao Tuy nhiên để trồng chè bằng cành giâm thành công cần phải lưu ý một số vấn đề là: tùy theo giống và chất lượng hom giống mà có kỹ thuật tác động phù hợp Nhằm nâng cao hiệu quả nhân giống chè bằng phương pháp giâm cành, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu những biện pháp kỹ thuật tác động vào hom giống, giúp hom giống ra rễ, bật mầm

Trang 34

Khi nghiên cứu thời vụ giâm cành đối với giống chè PH1 các tác giả

Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Văn Niệm kỹ thuật giâm cành chè ở Việt Nam được

áp dụng rộng rãi trong sản xuất khi có giống chè PH1 ra đời và khi giống này được phép khu vực hoá vào năm 1972

- Khi nghiên cứu thời vụ giâm cành đối với giống chè PH1 các tác giả

đã xác định có hai thời vụ chính: Vụ đông xuân giâm từ tháng 12 đến tháng 2

và vụ hè thu từ tháng 6 đến 15 tháng 7 nhưng thời vụ giâm cành tốt nhất đối với giống chè PH1 là vụ Đông Xuân

- Nghiên cứu về kích thước hom các tác giả cho rằng hom chè có kích thước từ 4-5cm, có một lá nguyên Vết cắt phía trên cành giâm cách nách lá

mẹ 0,5cm, nếu khoảng cách này dài quá hay ngắn quá đều không tốt

- Nguyễn Văn Thiệp và Nguyễn Văn Tạo ( 2008 ) khi nghiên cứu hệ số nhân giống của giống chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích đã chỉ rõ: Cành giống tốt là những cành chè có số lá thật đồng đều, lá dầy, màu xanh, độ dài lóng đạt mức độ trung bình, mầm nách phát triển không dài quá 3cm tốt nhất mầm nách chỉ hình thành ở nách lá thứ 1 - 3 với độ dài mầm ≤ 1cm [ 45 ]

- Nguyễn Văn Toàn ( 1994 ) khi nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước

lá đến khả năng giâm cành của các giống đã kết luận: Diện tích lá chè ảnh hưởng đến khả năng giâm cành, những giống có lá quá lớn ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ sống, hình thành mô sẹo, ra rễ và bật mầm của cành giâm [ 42 ]

Tác giả cũng đã đưa ra nhận xét: Giống 1A có điểm khác biệt so với những giống chè khác như bản lá to, lá mỏng và tầng dầy biểu bì trên 1,7μ, mức độ hoá nâu chậm vì thế đây là giống chè khi giâm cành sẽ có tỷ lệ sống thấp nhất

- Theo Đặng Văn Thư ( 2010 ) nếu bón đầy đủ N, P, K và phân hữu cơ cho cây mẹ giống chè 1A, kết quả giâm cành đạt tỷ lệ xuất vườn cao hơn và cây khoẻ hơn [ 48 ]

Trang 35

- Lê Tất Khương ( 2006 ) cho rằng giống chè 1A là một giống khó giâm cành, ra mô sẹo, ra rễ muộn, tỷ lệ sống thấp và đặc biệt bộ rễ phát triển kém Cũng theo tác giả khi phun Komix, Agriconik và hỗn hợp axit Boric + Urê cho chè giâm cành làm tăng tỷ lệ bật mầm, tăng tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn của cành giâm từ đó làm giảm giá thành cây xuất vườn từ 3,2 – 8,1% [ 17 ]

- Nghiên cứu biện pháp giâm cành chè trên nền đất tác giả Đỗ Văn Ngọc và cộng sự ( 2006 ) kết luận: Giâm cành trên nền đất cây chè phát triển thân lá tốt hơn giâm trong bầu, tuy nhiên khối lượng rễ trên cây con khi đem

đi trồng ít hơn so với cây trong bầu Kết quả theo dõi sau trồng tác giả cũng khẳng định không có sự sai khác lớn về sinh trưởng giữa cây giâm trong bầu hay giâm rễ trần [ 29 ]

- Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các dạng phân khoáng bón thúc đến động thái cây chè con LDP1 trong vườn ươm tác giả Nguyễn Văn Tạo ( 2005 ) cho rằng bón đạm Sunfat cho cây chè con đạt sinh khối cao nhất, bộ rễ phát triển khoẻ tỷ lệ xuất vườn cao [ 36 ]

Việc nghiên cứu kỹ thuật giâm cành chè sẽ làm tăng tỷ lệ xuất vườn của cành giâm từ đó hạ giá thành sản xuất cây giống và tăng sức sinh trưởng của cây chè khi trồng mới là một yêu cầu cấp bách và cũng là quá trình hoàn thiện việc nghiên cứu cho giống chè PH11 cũng như một số giống chè triển

vọng khác vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại Phú Thọ ”

1.7 Nguồn gốc và đặc điểm của giống chè PH11

1.7.1 Nguồn gốc giống chè PH11

Giống chè PH11 được chọn lọc cá thể từ tập đoàn các giống chè có nguồn gốc từ Ấn Độ nhập nội vào Việt Nam năm 1996 – 2000 Được Trung tâm nghiên cứu và phát triển Chè - Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đánh giá và khảo nghiệm

Trang 36

1.7.2 Đặc điểm của giống chè PH11

Hình thái Giống chè PH11 có lá màu xanh vàng sáng, chóp lá nhọn, nông đều, phiến lá gồ ghề lượn sóng có 9 – 11 đôi gân lá Kích thước lá lớn, diện tích lá trưởng thành đạt 45,03cm2, lá có hình bầu dục

Hình thái búp : Giống chè PH11 có búp mập, mầu vàng sáng, ít lông tuyết Chiều dài tôm 3 lá ( 8,53cm ) Giống có khối lượng tôm 3 lá đạt 1,56g, chính vì vậy giống chỉ thích hợp chế biến chè đen

Sinh trưởng : Giống chè PH11 sinh trưởng khỏe, có mật độ búp lớn đạt 270,68 búp/m2, diện tích lá lớn

Chất lượng : Giống chè PH11 có hàm lượng tannin cao 38,25%, đồng thời hàm lượng axitamin thấp 1,58% Điều đó khẳng định giống chè PH11 chế biến chè đen chất lượng tốt Giống chè PH11 có khả năng kháng sâu bệnh tốt

Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận sản xuất thử theo quyết định số 230/QĐ-TT-CCN ngày 12 tháng 1 năm 2010, để sản xuất chè đen và cho phép sản xuất thử tại các tỉnh trung du miền núi phía Bắc

Trang 37

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Giống chè PH11 tuổi 6 trồng tại Phú Hộ, năng suất búp tươi 8 tấn/ha

2.2 Vật liệu nghiên cứu

- Phân bón : - Đạm ure ( 46% N )

- Supe lân ( 16% P2O5 )

- Kali sulfat ( 21% K2O )

- Phân trâu bò

- Diện tích lá mẹ của hom giâm

- Chế phẩm kích thích sinh trưởng: GA3, Tony 920 40EC, Supper sieu 16SP

2.3 Thời gian địa điểm nghiên cứu:

2.3.1 Thời gian nghiên cứu:

- Thời gian nghiên cứu từ năm 2013 -2014

2.3.2 Địa điểm nghiên cứu:

- Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc – xã Phú

Hộ - thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ, nằm ở 210,24 vĩ độ Bắc, 1060,12 độ kinh Đông, độ cao so với mặt nước biển là 25m, thuộc vùng Trung du Bắc Bộ, cókhí hậu nhiệt đới gió mùa

2.4 Nội dung nghiên cứu:

* Ảnh hưởng của phân bón cho cây mẹ đến kết quả sản xuất hom giống của

giống chè PH11

* Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến khả năng giâm cành trong vườn ươm

* Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây chè giống trong vườn ươm

* Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng của cây chè giống trong vườn ươm

Trang 38

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Các thí nghiệm và phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của phân bón cho cây mẹ đến kết quả sản

xuất hom của giống chè PH11

Công thức Lượng phân bón bón cho 1 cây mẹ

Thí nghiệm có 3 lần nhắc lại, bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh diện tích ô 22,5 m2, tổng diện tích thí nghiệm là 270m2

Chỉ tiêu theo dõi:

- Sản lượng hom giống

- Chất lượng hom giống ( hom A, hom B )

- Tỷ lệ ra rễ của cành giâm sau 60 ngày, 120 ngày

- Tỷ lệ bật mầm của cành giâm sau 60 ngày, 120 ngày

Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến khả năng giâm cành của

giống chè PH11

Trang 39

- Dùng kéo sắc cắt lá mẹ theo yêu cầu thí nghiệm

+ Chỉ tiêu theo dõi:

- Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến tỷ lệ ra rễ, bật mầm của cành giâm sau khi giâm 30 ngày, 60 ngày, 120 ngày

- Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến sinh trưởng của cành giâm: chiều cao cây ( cm ), đường kích gốc ( cm ), số lá/thân chính ( lá ), khối lượng thân ( g/cây ), khối lượng rễ ( g/cây ), tỷ lệ xuất vườn ( % )

Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây chè

giống trong vườn ươm

+ Các công thức thí nghiệm

Công thức Lượng phân bón bón cho 1m 2 vườn ươm

Trang 40

Thí nghiệm có 3 lần nhắc lại, bố trí theo ngẫu nhiên hoàn chỉnh, diện tích mỗi ô 1m2 Tổng diện tích thí nghiệm là 12m2

- Hoà phân vào nước rồi tưới đều cho diện tích thí nghiệm, sau đó tưới rửa lá bằng nước lã

+ Chỉ tiêu theo dõi

- Chiều cao cây (cm), đường kính gốc (cm), khối lượng thân lá (g/cây), khối lượng rễ ( g/cây )

- Tỷ lệ xuất vườn ( % )

Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích sinh trưởng đến

khả năng sinh trưởng của cây chè giống trong vườn ươm

+ Các công thức thí nghiệm:

CT 1 ( đ/c ): phun nước lã

CT 2 : phun GA3

CT 3 : phun tony 920 40EC

CT 4 : phun supper sieu 16SP

Sơ đồ thí nghiệm

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thí nghiệm - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại phú thọ
Sơ đồ th í nghiệm (Trang 39)
Bảng 3.1 : Các đợt sinh trưởng tự nhiên của giống chè nghiên cứu. - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại phú thọ
Bảng 3.1 Các đợt sinh trưởng tự nhiên của giống chè nghiên cứu (Trang 43)
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của phân bón cho cây mẹ đến sản lượng hom giống - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại phú thọ
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của phân bón cho cây mẹ đến sản lượng hom giống (Trang 45)
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của phân bón cho cây mẹ đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại phú thọ
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của phân bón cho cây mẹ đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm (Trang 47)
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại phú thọ
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm (Trang 51)
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến tỷ lệ bật mầm của hom giâm - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại phú thọ
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến tỷ lệ bật mầm của hom giâm (Trang 52)
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến sinh trưởng của cây chè con - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại phú thọ
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến sinh trưởng của cây chè con (Trang 54)
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của phân bón đến khối lượng thân, khối lượng rễ - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại phú thọ
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của phân bón đến khối lượng thân, khối lượng rễ (Trang 59)
Bảng 3.14.  Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích sinh trưởng - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại phú thọ
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích sinh trưởng (Trang 64)
BẢNG 06 : ẢNH HƯỞNG CỦA DIỆN TÍCH LÁ MẸ ĐẾN SINH - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại phú thọ
BẢNG 06 ẢNH HƯỞNG CỦA DIỆN TÍCH LÁ MẸ ĐẾN SINH (Trang 89)
BẢNG 08: ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN CHIỀU CAO CÂY, - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại phú thọ
BẢNG 08 ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN CHIỀU CAO CÂY, (Trang 93)
BẢNG 09 : ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN KL THÂN, KHỐI - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại phú thọ
BẢNG 09 ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN KL THÂN, KHỐI (Trang 94)
BẢNG 12: ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG - Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè PH11 tại phú thọ
BẢNG 12 ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG (Trang 99)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w