1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên

85 664 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 7,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đưa cây đậu tương vào trồng luân canh và trồng xen với cây lương thực lúa và ngô tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đã được bước đầu xác định được hiệu quả ở huyện Tuần Giáo, tuy n

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

VŨ ĐÀM HÙNG

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ HỆ THỐNG CÂY TRỒNG LUÂN CANH, XEN CANH CÂY ĐẬU TƯƠNG VÀ CÂY LƯƠNG THỰC TẠI HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN

Thái Nguyên - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

VŨ ĐÀM HÙNG

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ HỆ THỐNG CÂY TRỒNG LUÂN CANH, XEN CANH CÂY ĐẬU TƯƠNG VÀ CÂY LƯƠNG THỰC TẠI HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Vũ Đàm Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS Trần Văn Điền Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Trần Văn Điền

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, Khoa Nông học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện trong quá trình học tập và nghiên cứu, hoàn thiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) đã tài trợ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Điện Biên, UBND huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên, phòng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên, Ngân hàng chính sách xã hội huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài tại huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, người thân và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn này

Luận văn này khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, đồng nghiệp và bạn đọc Tôi xin trân trọng cảm ơn

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Vũ Đàm Hùng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4

1.1.1 Lý thuyết hệ thống trong nghiên cứu và đánh giá mô hình sản xuất 4

1.1.2 Khái niệm hiệu quả 5

1.1.3 Hiệu quả kinh tế 6

1.1.4 Hiệu quả xã hội 8

1.1.5 Hiệu quả môi trường 8

1.1.6 Vai trò của cây đậu tương trong các công thức luân canh và xen canh 8

1.1.6.1 Trồng đậu tương luân canh với cây trồng khác 8

1.1.6.2 Trồng đậu tương xen với cây trồng khác 14

1.2 Tình hình sản xuất cây đậu tương trên Thế giới và Việt Nam 17

1.2.1 Tình hình sản xuất cây đậu tương trên Thế giới 17

1.2.2 Tình hình sản xuất, nhập khẩu cây đậu tương ở Việt Nam 21

Trang 6

1.2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 21

1.2.2.2 Tình hình nhập khẩu đậu tương ở Việt Nam 22

1.3 Những kết luận rút ra từ tổng quan tài liệu nghiên cứu 23

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Nội dung nghiên cứu 24

2.4 Phương pháp nghiên cứu 25

2.4.1 Nghiên cứu tài liệu thứ cấp 25

2.4.2 Tham vấn với cán bộ khuyến nông và phòng nông nghiệp cấp huyện và xã 25 2.4.3 Đánh giá ngoài thực địa 25

2.4.4 Phương pháp lập ô điều tra 26

2.4.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 27

2.4.5.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 27

2.4.5.2 Đánh giá hiệu quả môi trường 29

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 30

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên 31

3.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31

3.1.1.1 Tỉnh Điện Biên 31

3.1.1.2 Huyện Tuần Giáo 33

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội chính của huyện Tuần Giáo năm 2012 38

3.1.2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chính của huyện Tuần Giáo

năm 2012 38

3.1.2.2 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Tuần Giáo năm 2012 39

3.1.2.3 Dân số xã hội của huyện Tuần Giáo năm 2012 40

Trang 7

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp 41 3.2 Hiện trạng của một số mô hình hệ thống cây trồng chính 42 3.2.1 Diện tích canh tác bình quân và tình hình sản xuất các loại cây trồng chính tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên 42 3.2.2 Các hệ thống cây trồng chính 44 3.3 Năng suất và hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng trong các hệ thống canh tác 45 3.3.1 Năng suất và hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng trong các hệ thống canh tác 45 3.3.2 So sánh hiệu quả kinh tế của các cây trồng trong hệ thống độc canh và luân canh 47 3.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại cây trồng chính đến môi trường 50 3.4.1 Năng suất sinh khối và khả năng để lại Nitơ trong đất của một số loại cây trồng chính 50 3.4.2 Tác động của các chế độ canh tác đến sự thay đổi năng suất, độ phì đất

và mức nhiễm sâu bệnh 52 3.5 Đánh giá khả năng nhân rộng của các mô hình nghiên cứu và các giải pháp để nhân rộng các mô hình này ra các vùng có điều kiện sinh thái tương tự 55 3.5.1 Tác động của các chế độ canh tác đến khả năng áp dụng và khả năng

mở rộng diện tích của từng chế độ canh tác 55 3.5.2 Canh tác cây đậu tương trong tương lai gần 57 3.5.3 Những hạn chế và khó khăn 58 3.5.4 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng áp dụng của các biện pháp kỹ thuật đến canh tác đậu tương bền vững tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên 59

Trang 8

3.5.4.1 Đề xuất kỹ thuật 59

3.5.4.2 Đề xuất kinh tế - xã hội 60

3.5.4.3 Đề xuất cơ chế chính sách 60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

1 Kết luận 62

2 Kiến nghị 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

I Tiếng Việt 65

II Tài liệu tiếng Anh 66

III Tài liệu mạng 67

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 năm gần đây 18

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất đậu tương năm 2010 của 4 nước đứng đầu

thế giới 19

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam những 5 năm gần đây 22 Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chính của huyện Tuần Giáo

năm 2012 38

Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Tuần Giáo năm 2012 39

Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu dân số xã hội huyện Tuần Giáo 40

Bảng 3.4 Diện tích canh tác các loại cây trồng bình quân hộ trong

vùng nghiên cứu 42

Bảng 3.5 Tình hình sản xuất một số cây trồng chính năm 2012 43

Bảng 3.6 Các hệ thống cây trồng chính 44

Bảng 3.7 Năng suất và hiệu quả kinh tế của các cây trồng trongcác hệ thống canh tác 45

Bảng 3.8 So sánh hiệu quả kinh tế của các cây trồng trong hệ thống luân canh và độc canh 47

Bảng 3.9 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất, hiệu quả vốn đầu tư,

và hiệu quả lao động 48

Bảng 3.10 Năng suất sinh khối của một số loại cây trồng chính 51

Bảng 3.11 Khả năng để lại N trong đất của một số cây trồng chính 51

Bảng 3.12 Tác động của các chế độ canh tác đến sự thay đổi năng suất 52

Bảng 3.13 Tác động của các chế độ canh tác đến sự thay đổi độ phì đất 54

Bảng 3.14 Tác động của các chế độ canh tác đến sự thay đổi mức nhiễm

sâu bệnh 55

Bảng 3.15 Tác động của các chế độ canh tác đến khả năng áp dụng 56

Bảng 3.16 Tác động của các chế độ canh tác đến khả năng mở rộng 57

Bảng 3.17 Ý kiến của người dân về canh tác cây đậu tương 57

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1: Biểu đồ lượng mưa trong 30 năm của huyện Tuần Giáo,

tỉnh Điện Biên 35

Hình 3.2: Biểu đồ nhiệt độ trong 30 năm qua của huyện Tuần Giáo,

tỉnh Điện Biên 37

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Đậu tương (Glycine max (L) Merr.) còn gọi là đậu nành là một cây

trồng cạn ngắn ngày, có giá trị kinh tế cao Khó có thể tìm thấy một cây trồng nào có tác dụng nhiều mặt như ở cây đậu tương Sản phẩm của nó làm thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp, là

một mặt hàng xuất khẩu và là cây cải tạo đất tốt

Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trung bình khoảng từ 38 - 40%, lipit từ 15 - 20%, hyđrát các bon từ 15 - 16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống (Phạm Văn Thiều, 2002) [11] Đậu tương là loại duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả prôtit và lipit Prôtein của đậu tương có phẩm chất tốt nhất trong số các prôtein

có nguồn gốc thực vật Chính vì vậy, từ hạt đậu tương người ta đã chế biến ra hàng trăm loại thức ăn khác nhau có giá trị dinh dưỡng cao như đậu phụ, giá, bột, tương, xì dầu, thịt nhân tạo, v.v

Một đặc điểm hết sức quan trọng ở cây đậu tương là bộ rễ có rất nhiều

nốt sần Nốt sần là kết quả cộng sính của loài vi sinh vật có tên là Rhizobium Japonicum với rễ cây đậu tương Nốt sần đóng vai trò quan trọng trong quá

trình cố định đạm khí trời cung cấp cho cây đậu tương và để lại trong đất Nguyễn Danh Đông (1982) cho biết trong nốt sần có thể cố định một lượng đạm lớn từ 30 - 60 kg/ha trong một vụ trồng đậu tương Chính vì vậy cây đậu tương được xác định là cây trồng luân canh và xen canh tốt với các cây ngũ cốc đặc biệt là với lúa và ngô

Cây đậu tương vốn được đồng bào các dân tộc huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên gieo trồng từ lâu đời theo tập quán cũ, nhỏ lẻ và để tự cung tự cấp

từ nhiều đời nay Đến đầu những năm 2000, huyện Tuần Giáo bắt đầu có chủ

Trang 12

trương đưa cây đậu tương giống mới và kỹ thuật mới vào trồng khảo nghiệm, nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập cho nông dân trong công cuộc xóa đói giảm nghèo Năm 2012, sản lượng đậu tương thu hoạch của huyện Tuần Giáo đạt gần 1.600 tấn Cây đậu tương thường được trồng trên đất 1 vụ trong vụ xuân và vụ thu đông với phương thức trồng xen, luân canh với ngô hoặc luân canh với cây lúa

Việc đưa cây đậu tương vào trồng luân canh và trồng xen với cây lương thực (lúa và ngô) tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đã được bước đầu xác định được hiệu quả ở huyện Tuần Giáo, tuy nhiên hiệu quả kinh tế như thế nào, khả năng cải tạo đất bảo vệ môi trường và tác động cộng hưởng của hệ thống cây trồng ngũ cốc - cây đậu tương (họ đậu) như thế nào? Khả năng nhân rộng

và phổ triển các hệ thống cây trồng này ra các vùng sinh thái khác nhau ra sao? Vẫn chưa được trả lời Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu

tương và cây lương thực tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên”

2 Mục tiêu của đề tài

Đánh giá hiện trạng, hiệu quả kinh tế, khả năng cải tạo đất của một số

hệ thống cây trồng lương thực có trồng luân và xen canh cây đậu tương tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên từ đó xác định khả năng nhân rộng mô hình

ra các vùng có điều kiện sinh thái tương tự ở khu vực các tỉnh vùng Tây Bắc

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Đề tài là công trình nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế của một số

mô hình cây trồng luân và xen canh cây đậu tương với cây lương thực tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

- Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định được mô hình cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao, thích ứng với biến đổi khí hậu, có triển vọng

Trang 13

nhân rộng mô hình ra khu vực Tây Bắc, là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu về nông nghiệp, giáo viên và sinh viên các trường nông nghiệp tham khảo

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Xác định được các tác động của điều kiệu tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Tuần Giáo đến sản xuất nông nghiệp tại địa phương

- Đề tài đã xác định được hiện trạng của một số mô hình cây trồng luân và

xen canh cây đậu tương với cây lương thực tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

- Xác định được hiệu quả kinh tế của một số hệ thống cây trồng luân

và xen canh cây đậu tương với cây lương thực và tìm ra được hệ thống cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

- Kết quả nghiên cứu đánh giá được ảnh hưởng của một số loại cây trồng chính đến môi trường như khả năng để lại Đạm trong đất sau thu hoạch, các tác động của các chế độ canh tác đến sự thay đổi năng suất, độ phì đất và mức nhiễm sâu bệnh

- Đánh giá được khả năng nhân rộng của các mô hình nghiên cứu và các giải pháp để nhân rộng các mô hình này ra các vùng có điều kiện sinh thái tương tự

- Đề tài xác định được những khó khăn, hạn chế làm giảm hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế của nông hộ tại huyện Tuần Giáo, đồng thời đã đưa ra các giải pháp khắc phục

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Lý thuyết hệ thống trong nghiên cứu và đánh giá mô hình sản xuất

Ngày nay lý thuyết hệ thống được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, để phân tích và giải thích các mối quan hệ tương hỗ thực tế sản xuất nông nghiệp cho thấy nông nghiệp muốn phát triển nhanh chóng và hiệu quả thì cần phát triển một cách toàn diện bằng việc tác động đồng thời nhiều mặt tức là giải quyết vấn đề theo quan điểm hệ thống

Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau, có quan

hệ tác đông qua lại Một hệ thống có thể xác lập như một tập hợp các đối tượng hay các thuộc tính liên kết để tạo thành một chỉnh thể

Quan điểm hệ thống là phương pháp luận khoa học chung nhằm nghiên cứu các đối tượng phức tạp gồm nhiều bộ phận có các mối quan hệ mật thiết với nhau Khi nghiên cứu một hệ thống không chỉ nghiên cứu riêng rẽ các phần tử mà còn nghiên cứu mối quan hệ giữa chúng với các phần tử khác

Theo lý thuyết hệ thống, sự tác động đồng bộ, có tổ chức, có sự phối hợp của các bộ phận có thể tạo nên hiệu quả hơn nhiều so với phép cộng đơn thuần tác động

Sản xuất nông nghiệp của mỗi vùng là một hệ thống bao gồm nhiều ngành sản xuất khác nhau, với các mô hình canh tác đa dạng cùng với các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường sinh thái khác nhau Chính những điểm này đã trở thành những nhân tố kìm hãm hay thúc đẩy hệ thống phát triển bởi vì nó tác động trực tiếp đến từng bộ phận của hệ thống

Như vậy mục đích của việc vận dụng quan điểm hệ thống là để nghiên cứu đánh giá một cách hệ thống và điều khiển sự hoạt động của nó

Trang 15

Nội dung của việc điều khiển hệ thống nông nghiệp thực chất là sử dụng các biện pháp kinh tế, kỹ thuật để tác động lên hệ thống nông nghiệp và phát triển một nền nông nghiệp bền vững

1.1.2 Khái niệm hiệu quả

Hiệu quả được hiểu là sự xem xét các điều kiện theo thứ tự ưu tiên các nguồn lực sao cho đạt hiệu quả cao nhất Hiệu quả bao gồm ba nội dung cơ bản: Không sử dụng nguồn lực lãng phí, sản xuất với chi phí thấp nhất, sản xuất đáp ứng nhu cầu của tiêu dùng

Hiệu quả và kết quả là hai phạm trù khác nhau nhưng có mối liên hệ khăng khít và mật thiết - mối liên hệ đó thể hiện giữa mặt chất và mặt lượng trong quá trình sản xuất kinh doanh Kết quả là đại lượng vật chất thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nội dung tùy thuộc từng trường hợp cụ thể Hiệu quả là đại lượng xem xét đánh giá kết quả đó được tạo ra như thế nào, chi phí bao nhiêu, có thể chấp nhận được không Tuy nhiên hiệu quả và kết quả lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm ngành sản xuất và các quy luật kinh tế… Do vậy khi xem xét, đánh giá hiệu quả cần phải cân nhắc để có kết luận phù hợp

Trên phạm vi toàn xã hội các chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó là chi phí lao động toàn xã hội Vì vậy bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả lao động xã hội Từ đó ta có kết luận rằng: Thước đo hiệu quả chính là sự tiết kiệm hao phí lao động toàn xã hội, còn tiêu chuẩn của hiệu quả chính là sự tối

đa hóa kết quả và tối thiểu hóa chi phí trong điều kiện nguồn lực nhất định

Đối với một quốc gia thì hiệu quả được thể hiện trên nhiều mặt: kinh tế,

xã hội, an ninh quốc phòng v.v Điều đó có nghĩa là hiệu quả mang tính chất không gian, thời gian Nó thể hiện ở chỗ một hoạt động kinh tế trong một đơn

vị sản xuất có thể có hiệu quả rất cao song nếu xét trong bối cảnh quốc gia thì chưa trắc đã có hiệu quả Để hiểu rõ vấn đề này ta có thể xem xét một số vấn

Trang 16

đề kinh tế xã hội như: việc chặt phá rừng làm nương rẫy trên thực tế là đem lại lợi ích cho một số cá nhân, tập thể nào đó xong điều đó có thể tác đông tiêu cực tới hệ sinh thái, môi trường, gây hạn hán lũ lụt, làm suy giảm đa dạng sinh học Điều đó khi xét trên bình diện xã hội thì đó là một tổn thất lớn cho toàn xã hội

Như vậy việc đánh giá hiệu quả phải được xem xét một cách toàn diện

cả về mặt không gian và thời gian trong mối liên hệ giữa hiệu quả chung của nền kinh tế quốc dân với hiệu quả của từng bộ phận riêng biệt của các đơn vị sản xuất Hiệu quả đó bao gồm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và môi trường, các thành phần có mối quan hệ mật thiết với nhau như một thể thống nhất không thể tách rời Đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân thì hiệu quả

xã hội phải gắn liền với toàn xã hội trên cả mặt kinh tế, xã hội và môi trường Gắn chặt hiệu quả kinh tế của các đơn vị sản xuất với hiệu quả toàn xã hội là một đặc trưng thể hiện tính ưu việt của nền kinh kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa (Trần Thị Thu Thủy, 2011) [12]

1.1.3 Hiệu quả kinh tế

Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội phản ánh mặt chất của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là đặc trưng của mọi hình thái kinh tế xã hội Đồng thời hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu ích đạt được về mặt kinh tế và những chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó Nó đánh giá hoạt động sản xuất chủ yếu về mặt kinh tế Mối tương quan ấy có thể là phép trừ, phép chia của các yếu tố đại diện cho kết quả và chi phí Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu tư, các nguồn lực tự nhiên và phương thức quản lý

Hiệu quả kinh tế phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh Trong khi các nguồn lực sản xuất có hạn, các nhu cầu về hàng hóa và

Trang 17

dịch vụ của xã hội ngày càng gia tăng và đa dạng thì nâng cao hiệu quả kinh

tế là một xu thế khách quan và cũng là một bức xúc của sản xuất xã hội

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan nhưng nó không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ nền kinh tế đa thành phần nước ta gồm kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế cá thể, dân chủ hoạt động theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Hiệu quả kinh tế là quan hệ so sánh, đo lường cụ thể các yếu tố của quá trình sản xuất (đất đai, vốn, lao động, khoa học kỹ thuật, quản lý) để tạo

ra khối lượng sản phẩm lớn hơn với chất lượng cao hơn Hiệu quả kinh tế phải được gắn liền với kết quả của những hoạt động sản xuất cụ thể trong các doanh nghiệp, nông hộ, nền sản xuất xã hội ở những điều kiện xác định về thời gian và hoàn cảnh kinh tế xã hội

Hiệu quả kinh tế phải lượng hóa được cụ thể việc sử dụng các yếu tố đầu vào (chi phí) và các yếu tố đầu ra (sản phẩm) trong quá trình sản xuất ở từng đơn vị, ngành, nền sản xuất xã hội trong từng thời kỳ nhất định các doanh nghiệp với mục đích là tiết kiệm, lợi nhuận tối đa trên cơ sở khối lượng sản phẩm hàng hóa nhiều nhất với các chi phí tài nguyên và lao động thấp nhất Do đó hiệu quả kinh tế liên quan trực tiếp đến yếu tố đầu vào và đầu ra trong quá trình sản xuất (Hoàng Văn Phụ, 2000) [9]

Từ những nội dung trên có thể thấy rằng hiệu quả chính là trung tâm của mọi quá trình kinh tế và nó liên quan đến tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác Hiệu quả kinh tế đi liền với nội dung tiết kiệm chi phí tài nguyên cho sản xuất trên một đơn vị sản phẩm tạo ra Bản chất của hiệu quả kinh tế chính là tương quan so sánh cả tuyệt đối và tương đối giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất

Trang 18

1.1.4 Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu ích về mặt xã hội với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Nó đánh giá chủ yếu về mặt xã hội của hoạt động sản xuất Các loại hiệu quả liên quan chặt chẽ với hiệu quả kinh tế và biểu hiện mục đích các hoạt động của con người như: tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của mọi tầng lớp dân cư (Nông Quốc Chinh và cs (cộng sự), 2010) [1]

1.1.5 Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường là hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường do tác động của các hoạt động sản xuất gây ra như: xói mòn, rửa trôi, ô nhiễm đất khả năng bảo vệ đất, tích lũy cácbon, giảm phát thải…v.v Mọi hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả môi trường khi các hoạt động đó không có những tác động xấu tới môi trường đó là: Đất, Nước, Không khí và Sinh vật Đây là mục tiêu quan trọng có ý nghĩa quyết định đến tính bền vững của hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp Nó phải bảo đảm được các yếu tố bảo vệ đất, chống xói mòn và nâng cao độ phì của đất, giảm phát thải ra môi trường xung quanh (Nông Quốc Chinh và cs, 2010) [1]

1.1.6 Vai trò của cây đậu tương trong các công thức luân canh và xen canh

1.1.6.1 Trồng đậu tương luân canh với cây trồng khác

Để đánh giá khả năng luân canh cây trồng, Zandstra (1981) đã đưa ra khái niệm về công thức luân canh như sau:

Công thức luân canh là tổ hợp không gian và thời gian của các cây trồng trên một mảnh đất và biện pháp canh tác dùng để sản xuất chúng

Lý Nhạc và cs (1987) lại cho rằng:

Luân canh là sự luân phiên thay đổi cây trồng theo không gian và thời gian trong một chu kỳ nhất định

Trang 19

Chu kỳ luân canh là thời gian các cây trồng (hoặc công thức luân canh) được trồng trên tất cả các cánh đồng

Công thức luân canh là một số cây trồng được trồng luân phiên nhau trên cùng một chân đất (cánh đồng) với chu kỳ là 1 năm Các công thức luân canh được áp dụng cho một vùng nào đó sẽ tạo thành chế độ luân canh (hệ thống luân canh)

Luân canh là trung tâm của các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp khác Tất cả các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp đều căn cứ vào chế độ luân canh

mà xác định nội dung của mình Các chế độ canh tác khác như: thủy lợi, bón phân, tưới nước, làm đất, diệt trừ cỏ dại đều căn cứ vào loại cây trồng, trình

tự luân phiên cây trồng trong hệ thống luân canh để xây dựng các biện pháp

kỹ thuật cụ thể cho suốt quá trình luân canh (Lý Nhạc, 1987)

Xây dựng chế độ luân canh hợp lý nhằm tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên (đất đai, bức xạ mặt trời, lượng mưa, nguồn nước, ) với một mức đầu tư tài nguyên kinh tế nhất định (vốn, vật tư, trang thiết bị, lao động, ) để phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là tăng tổng sản lượng nhằm mang lại lợi nhuận cao nhất

Trong các chế độ luân canh thì luân canh cây đậu tương với các cây trồng khác được đánh giá là mang lại hiệu quả cao, đồng thời mang lại nhiều hiệu quả kinh tế, xã hội, và môi trường

Qua nghiên cứu, đã chỉ ra rằng cây đậu tương trồng liên tiếp không có lợi vì:

+ Rễ cây đậu tương thường tiết ra một loại axít không có lợi cho rễ và

Trang 20

Cho nên đậu tương thường được trồng luân canh với cây trồng khác và

- Nâng cao năng suất đậu tương

- Giảm lượng phân đạm cần thiết cho cây trồng sau

- Phá vỡ vòng đời của sâu bệnh

- Giảm được cỏ dại hại đậu tương

- Điều hoà nhu cầu lao động trong thời gian dài hơn

Vị trí của cây trồng trong hệ thống luân canh

Một vấn đề quan trọng trong xây dựng chế độ luân canh là phải xác định đúng vị trí của các loại cây trồng Đó là vị trí mối quan hệ của cây trồng trước và cây trồng sau, thể hiện ở các mặt:

- Thời vụ cây trồng trước và cây trồng sau

- Ảnh hưởng của cây trồng trước với cây trồng sau qua môi trường (độ

ẩm, dinh dưỡng, sâu bệnh)

- Yêu cầu của cây trồng sau đối với cây trồng trước

* Vị trí của cây trồng trước:

Tất cả các loại cây trồng sau khi trồng trên một mảnh đất đều có ảnh hướng đến cây trồng sau nó, vì nó ảnh hưởng đến tính chất vật lý, hóa học, vi

Trang 21

sinh vật của đất Ngoài ra cây trồng trước còn để lại trong đất nhiều loại vi khuẩn, nấm bệnh cũng như ảnh hưởng đến số lượng, chủng loại cỏ dại làm hại cho cây trồng sau

* Vị trí của cây trồng sau:

Cây trồng sau phải có khả năng khắc phục được những nhược điểm và lợi dụng được mặt tốt của cây trồng trước

Nếu chân đất cây trồng trước là các loại cây có tác dụng bồi dưỡng đất tốt thì cần bố trí cây trồng sau là những cây trồng phàm ăn, cho năng suất cao

Theo Nguyễn Xuân Mai (1998), thì ở Thái Lan đã có nhiều tiến bộ kỹ thuật góp phần phát triển hệ thống cây trồng Trồng kết hợp giữa cây lương thực và cây họ đậu trên đất dốc giúp cho năng suất cây trồng tăng 2 lần Những công thức luân canh trên hệ thống canh tác 3 vụ đất lúa được trồng ở Phayou gồm:

+ Hành - lúa - đậu tương

+ Đậu xanh - lúa - đậu tương

+ Đậu xanh - lúa - lúa mì

+ Ngô đông - lúa - lúa mì

+ Đậu xanh - lúa - khoai tây

Hệ thống canh tác 2 vụ trên đất lúa nên dùng công thức: đậu xanh - lúa; ngô đông - lúa

Theo trích dẫn của Ngô Thế Dân và các cs (1999) [4] trong 10 năm nghiên cứu liên tục ở Illinois, Slife (1976) nhận thấy trong công thức luân canh ngô - ngô - đậu tương hoặc đậu tương - lúa mì, năng suất trung bình của cây đậu tương tăng 14% so với độc canh đậu tương Nghiên cứu hiệu quả của các công thức trồng xen tại các tỉnh Bắc Kạn, Ngô Xuân Hoàng (2005) [6] cho biết đất nương rẫy ở vùng thấp, công thức luân canh đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất là đậu tương - bí đỏ/rau/khoai lang (lãi thuần: 10,5 triệu

Trang 22

đồng/ha), sau đó đến khoai tàu - ngô bioseed (lãi thuần: 9,54 triệu/ha), lúa nương - ngô (lãi thuần: 6,36 triệu/ha) Đất nương rẫy ở vùng cao, công thức luân canh đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất là khoai tàu - ngô bioseed (lãi thuần: 8,87 triệu/ha) sau đó đến đậu tương - bí đỏ/rau/khoai lang Chính vì vậy đưa cây đậu tương vào hệ thống luân canh đã được áp dụng rộng rãi ở tất

* Trung du đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ

+ Đậu tương xuân - lúa mùa sớm - cây vụ đông

+ Ngô xuân (khoai lang ngắn ngày) - đậu tương hè thu - cây vụ đông + Lúa xuân - lúa mùa sớm - đậu tương đông

- Một số công thức tăng vụ:

+ Ngô đông xuân - đậu tương hè - lúa mùa - rau vụ đông

+ Lúa xuân - đậu tương hè - lúa mùa - cây vụ đông

* Đồng bằng Sông Cửu Long

+ Đậu tương vụ 1 - lúa mùa (đất lúa)

+ Đậu tương - ngô (đất cao)

* Đông Nam Bộ, Tây Nguyên

+ Ngô hè thu - đậu tương thu đông gối thuốc lá

+ Đậu tương hè thu - đậu tương thu đông gối thuốc lá

+ Ngô xen đậu tương hè thu - ngô xen đậu tương thu đông gối thuốc lá đông xuân (Trần Văn Điền, 2007) [17]

Trang 23

Mai Quang Vinh, Trần Duy Quý (2002) nghiên cứu chuyển giao tiến bộ

kỹ thuật gớp phần chuyền đổi cơ cấu cây trồng các tỉnh miền núi, trung du phía Bắc đã kết luận một số công thức luân canh với cây đậu tương có hiệu quả cao như sau:

* Các tỉnh miền núi

- Trên ruộng 1 vụ: Đậu tương xuân - lúa mùa

- Trên đất nương rẫy:

+ Ngô xuân hè - đậu tương hè thu

+ Đậu tương xuân hè - lúa cạn

* Các tỉnh trung du

- Trên ruộng chủ động nước:

+ Lúa xuân - lúa mùa - đậu tương đông

+ Lúa xuân - đậu tương hè (DT99) - lúa mùa muộn - khoai tây đông Kết quả khảo sát về thực hiện mô hình cánh đồng đạt giá trị sản xuất 50 triệu đồng/ha/năm của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa (2005) đã chỉ ra các công thức luân canh với đậu tương đạt trên 50 triệu đồng/ha/năm là:

- Trên đất 2 vụ lúa chủ động nước, chân đất lúa, màu:

+ Lúa xuân - đậu tương hè - lúa mùa muộn - khoai tây đông (hoặc rau) + Lúa xuân - đậu tương hè - lạc thu - rau vụ đông

* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành của các hệ thống luân canh cây trồng:

- Khí hậu

- Tính khu vực nghiêm ngặt của cây trồng, tính thời vụ khẩn trương và tính liên tục của sản xuất nông nghiệp

- Sự kết hợp đồng thời giữa sử dụng và bồi dưỡng đất

- Quần thể sinh vật và hệ thống luân canh cây trồng

Trang 24

- Chế độ luân canh cần đạt hiệu quả kinh tế cao

- Nông hộ và hệ thống luân canh cây trồng

- Chính sách và hệ thống luân canh cây trồng

- Thị trường và hệ thống luân canh cây trồng

- Tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội

1.1.6.2 Trồng đậu tương xen với cây trồng khác

Là đem 2 loại cây trồng không có cùng thời gian sinh trưởng nhưng có cùng thời vụ gieo trồng đem gieo xen với nhau theo hàng, theo hốc hoặc theo băng Xen canh cây trồng là biện pháp tốt nhất để đồng thời sử dụng tối ưu các điều kiện đất, ánh sáng, nước, chất dinh dưỡng trong đất, góp phần làm tăng tổng thu nhập cho nhà nông Thí dụ, trồng ngô xen đậu đỗ (đậu tương, đậu xanh ) Ngô là loài cây trồng có rễ ăn sâu, yêu cầu dinh dưỡng cao; còn đậu đỗ là cây thấp, rễ ăn nông, ít yêu cầu dinh dưỡng, mà lại có khả năng cung cấp thêm đạm cho đất Khi trồng ngô xen đậu đỗ không có sự cạnh tranh giữa chúng với nhau về dinh dưỡng và ngô còn sử dụng cả nguồn đạm do đậu

đỗ cố định được Trên cùng diện tích tổng sản lượng của ngô và đậu xen canh cao hơn sản lượng của hai loại cây này khi trồng riêng rẽ

Về phương diện BVTV, xen canh cây trồng thường làm giảm những thiệt hại do các loài dịch hại gây ra cho cây trồng Nhiều loại sinh vật gây hại

có tính chuyên hóa thức ăn, nghĩa là chúng chỉ có thể dùng những loại cây nhất định để làm thức ăn Vì vậy, khi trên đồng có một loại cây được trồng với diện tích lớn liền nhau sẽ tạo nên nguồn thức ăn dồi dào thuận lợi cho sự phát sinh, lây lan của những sinh vật gây hại chuyên tính trên cây trồng đó Trên đồng có nhiều loại cây khác nhau trồng xen kẽ (xen canh) sẽ làm tăng tính đa dạng thực vật trong hệ sinh thái nông nghiệp Do đó đã tạo nên một nguồn thức ăn không thuận lợi cho những loài sinh vật gây hại chuyên tính,

Trang 25

cản trở sự phát sinh, lây lan của chúng, nhất là đối với những loài dịch hại chuyên tính không có khả năng tự phát tán đi xa

Phải chọn những cây trồng xen thích hợp sao cho chúng đem lại lợi ích cho nhau hoặc ít nhất cũng không gây ảnh hưởng xấu cho nhau Cây trồng xen phải hỗ trợ công tác phòng trừ dịch hại, tức là phải tạo ra điều kiện bất lợi cho

sự phát sinh, tích lũy số lượng và lây lan của dịch hại chính trên các cây trồng xen Đồng thời, cây trồng xen cũng phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo

vệ, duy trì quần thể thiên địch tự nhiên của dịch hại hoặc hấp dẫn và khích lệ hoạt động hữu ích của thiên địch tự nhiên trong sinh quần cây trồng xen

Trồng các cây họ đậu hoặc cây ngô (bắp) xen với cây bông rất có ý nghĩa hạn chế số lượng một số sâu hại chủ yếu trên cây bông Kết quả nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Cây bông Nha Hố cho thấy: mật độ sâu xanh, rệp muội trên cây bông trồng xen với đậu xanh hoặc đậu tương (đậu nành) thấp hơn hẳn so với trên cây bông trồng thuần Nếu trồng xen 3 cây (bông + ngô + đậu xanh) thì mật độ của rệp muội, sâu xanh lại thấp hơn so với mật độ của chúng khi chỉ trồng xen 2 cây (bông + đậu xanh)

Một trong các nguyên nhân làm cho mật độ sâu xanh, rệp muội trên cây bông trồng xen thấp hơn hẳn so với trên cây bông trồng thuần là do hoạt động hữu ích của thiên địch tự nhiên, mà đặc biệt là của nhóm nhện lớn bắt mồi trên cây bông trồng thuần thấp hơn rất nhiều so với trên cây bông trồng xen với đậu xanh hoặc đậu tương Và mật độ nhện lớn bắt mồi trên cây bông trồng xen với đậu xanh lại thấp hơn rõ ràng so với trên cây bông trồng trong trường hợp trồng xen 3 cây (bông + ngô + đậu xanh) Trồng bông xen với đậu xanh hoặc với đậu + ngô còn hạn chế được sự lây nhiễm của bệnh xanh lùn hại bông

Trồng cà chua xen với cây ngô hoặc cây đậu đỗ đã làm tăng hoạt động hữu ích của ong mắt đỏ ký sinh trứng sâu xanh Tỷ lệ trứng sâu xanh bị ong mắt đỏ ký sinh trên cây ngô hoặc đậu đỗ được trồng xen với cà chua cao hơn

Trang 26

rất nhiều so với trên cây ngô hoặc với cây đậu đỗ trồng thuần Như vậy, trồng xen cà chua với cây ngô hoặc với cây đậu đỗ đã góp phần hạn chế sâu xanh

Ở Nhật Bản vào những năm 1950, đậu tương trồng xen với các cây ngũ cốc khác đặc biệt là lúa mì chiếm từ 60 - 70% tổng diện tích trồng đậu tương (Mikoshiba, 1975) Tuy nhiên thời gian diện tích trồng xen đậu tương đã giảm đáng kể do việc phát triển và ứng dụng cơ khí hóa trong sản xuất Nghiên cứu ảnh hưởng của trồng xen đến năng suất đậu tương, Hideyyuki Mochida và Shoichi Kimura (1998) [18] cho biết đậu tương trồng xen 2 hàng đậu tương giữa 2 hàng lúa mì với mật độ từ 12 - 23 cây/m2 đã làm tăng số quả/cây và tăng năng suất hạt từ 11 - 16% so với trồng đậu tương thuần sau vụ lúa mì với cùng mật độ trồng

Nhân dân ta thường có kinh nghiệm trồng xen đậu tương với nhiều cây trồng khác như ngô, sắn, các cây công nghiệp dài ngày ở thời kỳ kiến thiết cơ bản như chè, cao su và cây ăn quả Trồng xen đậu tương với ngô là một loại công thức canh tác hợp lý, tiết kiệm được đất đai, mang lại hiệu quả kinh tế cao do phát huy tốt các đặc tính của hai cây về khả năng sử dụng ánh sáng, cân đối dinh dưỡng và hạn chế sâu bệnh

+ Bộ rễ ngô là rễ chùm ăn rộng và sâu còn đậu tương ăn tương đối nông và không lan rộng sử dụng hữu hiệu nguồn dinh dưỡng

+ Tận dụng khả năng sử dụng ánh sáng, phối hợp 1 cây có thân cao bộ

lá lớn chịu cường độ ánh sáng mạnh với một cây có thân lá thấp, lá nhỏ, chịu cường độ ánh sáng yếu

+ Phối hợp được quan hệ dinh dưỡng giữa cây yêu cầu đạm nhiều như ngô với cây yêu cầu lân nhiều như đậu tương

+ Ngô chịu được hạn còn đậu tương chịu được ẩm (Trần Văn Điền, 2007) [5]

Trang 27

Nguyễn Hữu Tháp (2005) [10] nghiên cứu các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho thấy đậu tương là một cây trồng xen rất phù hợp với sắn tại tỉnh Kon Tum Tác giả cho biết năng suất đậu tương trồng xen có thể đạt 22,6 tạ/ha và là mô hình có hiệu quả kinh tế cao nhất có tổng lãi thuần đạt 5.884.600 đồng/ha, trong đó mô hình thâm canh lúa chỉ đạt lãi thuần là 3.530.000 đồng/ha

Lê Công Nông và các cs (2005) [8] trồng xen bông vào đậu tương ảnh hưởng không đáng kể đến năng suất bông so với trồng thuần Công thức trồng xen kiểu 1 hàng bông rộng 1,0 m xen giữa 2 hàng đậu tương 0,25 - 0,30 m cho năng suất bông 22,37 tạ/ha và đậu tương là 9,55 tạ/ha và là công thức cho quả kinh tế cao nhất có lãi thuần đạt 8.955,6 triệu đồng/ha (lãi thuần hơn so với trồng bông thuần là 2.617,1 triệu đồng) Theo Ngô Thế Dân và các cs (1999) [4] một số công thức trồng xen rất phổ biến ở nước ta là đậu tương trồng xen ngô với kỹ thuật như sau:

- Hai hàng ngô xen 4 - 6 hàng đậu tương

- Một hàng ngô xen 2 hàng đậu tương

- Đậu tương trồng thuần và ngô được trồng xen với mật độ từ 1 - 2 vạn cây/ha (1 - 2 cây ngô/m2)

1.2 Tình hình sản xuất cây đậu tương trên Thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình sản xuất cây đậu tương trên Thế giới

Trên thế giới, cây đậu tương là cây trồng quan trọng, đứng ở vị trí thứ 4 sau lúa mì, lúa nước, và ngô Cây đậu tương là loại cây trồng có giá trị dinh dưỡng, kinh tế cao, đặc biệt là có khả năng cải tạo đất rất tốt Vì vậy mà cây đậu tương trồng ở khắp mọi nơi trên thế giới (Vũ Đình Chính, 2010) [3]

Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây được trình bày ở bảng 1.1

Trang 28

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 năm gần đây Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

(Nguồn: FAOSTAT database, 2012) [17]

Qua bảng 1.1 cho thấy sản xuất đậu tương trên thế giới tăng lên cả về diện tích và sản lượng

Về diện tích: Qua bảng 1.1 cho thấy diện tích trồng đậu tương trên toàn thế giới giảm trong giai đoạn 2006 - 2007, và tăng nhanh trong giai đoạn từ

2008 - 2009 Năm 2006 diện tích trồng đậu tương trên thế giới là 95,27 triệu

ha, năm 2010 cả thế giới trồng được 102.38 triệu ha tăng 7,11 triệu ha

Về năng suất: Năm 2006 năng suất đậu tương thế giới đạt 23,29 tạ/ha đến năm 2010 tăng lên 25,55 tạ /ha Năng suất đậu tương, diện tích tăng nhanh nên sản lượng đậu tương trên toàn thế giới năm 2010 đạt 261,57 triệu tấn

Mặc dù cây đậu tương được trồng trên khắp thế giới nhưng khoảng 80% sản lượng đậu tương được sản xuất ở 4 nước là: Mỹ, Brazil, Argentina

và trung Quốc (Vũ Đình Chính, 2010) [3] Tình hình sản xuất đậu tương của 4 nước này được thể hiện qua bảng 1.2

Bảng 1.2 cho thấy quốc gia đứng đầu về sản xuất đậu tương trên thế giới là nước Mỹ Đặc biệt năng suất đậu tương tại Mỹ cao hơn rất nhiều so với năng suất bình quân của các nước thế giới Năm 2010, trong khi năng suất bình quân của thế giới chỉ đạt 25,55 tạ/ha, thì năng suất đậu tương tại Mỹ đã đạt 29,22 tạ/ha

Trang 29

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất đậu tương năm 2010 của 4 nước đứng đầu

thế giới

Tên Nước Diện tích

(triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

(Nguồn: FAOSTAT database, 2012) [17]

Năm 2010, Brazil trở thành nước đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích

và sản lượng đậu tương Quốc gia đứng thứ ba sau Mỹ và Brazil về sản xuất đậu tương là Argentina Tại quốc gia này đậu tương thường được trồng luân canh với lúa mì Từ năm 1961 - 1962 chính phủ đã có chính sách hỗ trợ cho việc phát triển cây đậu tương Nên cây đậu tương được phát triển khá mạnh Cũng nhờ vào chính sách hỗ trợ mà diện tích trồng và sản lượng được tăng đều hàng năm Năm 2010 diện tích đậu tương tại Argentina đạt 18,13 triệu ha, năng suất đạt 29,05 tạ/ha và sản lượng đạt 52,67 triệu tấn

Trung Quốc trở thành quốc gia đứng thứ 4 trên toàn thế giới về sản xuất đậu tương Nhưng do dân số của Trung Quốc gia tăng mạnh mà Trung Quốc dần trở thành Quốc gia nhập khẩu lớn nhất thế giới để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Mỗi năm Trung Quốc cần có 25 - 30 triệu tấn, trong khi

đó sản xuất trong nước mới đạt 15 - 17 triệu tấn (Lê Quốc Hưng, 2007) [7]

Hiện nay, vùng Đông nam Á cũng là một vùng trọng điểm của công tác phát triển giống đậu tương và được ưu tiên hàng đầu trong hệ thống nông nghiệp Tại Indonesia , các nhà nghiên cứu chọn tạo nhằm mục đích cải tiến giống có năng suất cao trồng được ở vùng đất thấp sau vụ thu hoạch lúa, với thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 70 - 80 ngày, chống chịu bệnh gỉ sắt và có

Trang 30

hạt thon dài (Sumarno và T.Adisan wanto, 1991) [21] 13 giống có năng suất cao đã được tạo ra và được khuyến cáo gieo trồng trong đó có giống Wilis được trồng phổ biến nhất, giống này có thời gian sinh trưởng 85 ngày, năng suất bình quân đạt 25 tạ/ha Việc cải tiến giống đã góp phần đưa năng suất đạt

25 tạ/ha, giống có thời gian sinh trưởng ngắn, thích ứng với môi trường không thuận lợi (đất không cày bừa; đất khó tiêu nước), chất lượng hạt được tăng lên, tăng khả năng chống đổ (Sumarno và T.Adisan wanto, 1991) [21] Qua chọn lọc mà họ đã chọn ra được một số giống trồng được trên đất ướt sau vụ thu hoạch lúa với việc làm đất và không làm đất trong mùa khô mà vẫn cho năng suất 14,7 - 16,8 tạ/ha như các giống Kerinci, Lompobatang, Rinjani, (Buitrago và cs, 1971) [15] Các nhà nghiên cứu thuộc viện nghiên cứu cây trồng Thái Lan đã nghiên cứu việc sử dụng DNA marker đẻ xác định gen kháng bệnh gỉ sắt đậu tương đều tập trung vào việc xây dựng tính kháng cho cây chủ Các nhà nghiên cứu sơ bộ cho thấy có 3 DNA marker có liên quan đến tính chống chịu gỉ sắt ở đậu tương (Pitaksa và cs, 1998) [20]

Sự tương tác giữa giống và môi trường có vai trò quan trọng trong quá trình cải lương giống cây trồng nông nghiệp nói chung và cây đậu tương nói riêng Đối với cây đậu tương đã có một số kết quả nghiên cứu về sự tương tác giữa các giống với môi trường khác nhau

Byth và Weber (1986) [16] cho thấy có sự tương tác cao giữa các giống với môi trường cho năng suất hạt và sự tương tác rất thấp cho chiều cao cây, còn tương tác trung bình cho kích thước hạt, sự đổ sớm, hàm lượng đạm và hàm lượng dầu

Liu và cs (2008) [19] cho rằng trong một điều kiện môi trường cụ thể năng suất đậu tương sẽ đạt đến mức tối đa nếu chỉ số diện tích lá tăng đến mức tối thích trong từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây đậu tương

Trang 31

1.2.2 Tình hình sản xuất, nhập khẩu cây đậu tương ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Hiện nay, ở Việt Nam cây đậu tương có vai trò quan trọng trong sản suất nông nghiệp, đặc biệt ở những vùng nông thôn nghèo Ngoài việc cung cấp nguyên liệu chế biến làm thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho xuất khẩu, cây đậu tương là nguồn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi rất tốt

Cây đậu tương có khả năng thích ứng rộng và được trồng nhiều vùng sinh thái khác nhau Trong đó vùng đồng bằng sông hồng có diện tích trồng đậu tương lớn nhất cả nước với 73.400 ha chiếm 49,7% diện tích toàn miền bắc và 38% diện tích cả nước Tiếp đến là các vùng: Đông Bắc (24,9%), Tây Nguyên (12,7%), Tây Bắc (10,7%), đồng bằng sông Cửu Long (8,4%) Các vùng bắc trung bộ, duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ diện tích chỉ vài nghìn ha (Vũ Đình Chính, 1995) [2]

Theo Lê Quốc Hưng (2007) [7], nước ta có một tiềm năng rất lớn để

mở rộng diện tích trồng đậu tương cả 3 vụ xuân, hè và đông và diện tích có thể đạt 1,5 triệu ha, trong đó phân ở các vùng như sau: vùng đồng bằng Sông Hồng có thể mở rộng diện tích tới 600 nghìn ha đậu tương vụ đông trên đất 2

vụ lúa, miền núi phía Bắc 400 nghìn ha Quỹ đất đang có này là một lợi thế để nước ta phát triển sản xuất đậu tương đảm bảo nhu cầu trong nước

Tuy Việt Nam có nhiều tiềm năng để mở rộng diện tích, nhưng hiện nay diện tích gieo trồng đậu tương của cả nước đang có xu hướng tăng, kéo theo sản lượng tăng dần Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam trong 5 năm gần đây được trình bày trong bảng 1.3

Trang 32

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam những 5 năm gần đây

(Nguồn: FAOSTAT database reusults, 2012) [17]

Bảng 1.3 cho thấy diện tích đậu tương của nước ta có xu hướng tăng dần trong 5 năm gần đây, năm 2006 diện tích đạt 185,60 nghìn ha nhưng đến năm 2010 tăng lên 197,80 nghìn ha, sản lượng cũng tăng lên 38,8 nghìn tấn so với năm 2006 Tuy nhiên, xét về mặt năng suất thì năng suất đậu tương của nước ta trong những năm vừa qua có sự nhích lên nhưng không đáng kể, từ 14,70 tạ/ha năm 2007 tăng lên 15,01 tạ/ha vào năm 2010, và còn thấp hơn nhiều so với năng suất bình quân trên thế giới, năm 2010 năng suất bình quân của Việt Nam chỉ đạt 15,01 tạ/ha Trong khi đó năng suất bình quân của thế giới năm 2010 là 25,55 tạ/ha Do đó, có thể khẳng định rằng năng suất là một

lợi thế có khai thác để tăng sản lượng, hạ giá thành trong thời gian tới

1.2.2.2 Tình hình nhập khẩu đậu tương ở Việt Nam

Diện tích và sản lượng đậu tương ở Việt Nam trong những năm gần đây có chiều hướng tăng dần, trong khi nhu cầu trong nước về thực phẩm cũng như thức ăn chăn nuôi tăng mạnh, cho nên Việt Nam đã phải nhập khẩu một lượng lớn hạt đậu tương hạt

Theo số liệu Tổng cục Hải Quan Việt Nam (2011) [13], năm 2010 Việt Nam nhập khẩu hơn 227.000 tấn đậu tương năm 2010 đạt 106 triệu USD, gần bằng 107 triệu USD năm 2008 Trong đó khoảng 78% đậu tương được nhập khẩu từ Hoa Kỳ; 22% còn lại là từ Canada, Trung Quốc, Argentina, Uruguay

Trang 33

và một số nước Căn cứ vào kế hoạch hoạt động của 2 nhà máy nhiều hạt có dầu tại Việt Nam vào quý II và quý III năm 2011, FAO dự báo nhập khẩu đậu tương nguyên chất béo vào khoảng 700.000 tấn và năm 2012 là 1,5 triệu tấn

1.3 Những kết luận rút ra từ tổng quan tài liệu nghiên cứu

Qua phần trình bày về cơ sở khoa học và tổng quan tài liệu những nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến tình hình sản xuất cây đậu tương, kỹ thuật trồng luân và xen canh cây đậu tương cho thấy:

Các công thức luân canh và xen canh cây trồng là yếu tố trung tâm trong hệ thống cây trồng, nó quyết định đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu cây trồng Việc xây dựng các công thức luân, xen canh cây trồng hợp lý phải căn cứ vào các nghiên cứu về:

+ Điều kiện tự nhiên như khí hậu, đất đai, địa hình, nguồn nước, + Điều kiện kinh tế kỹ thuật như cơ sở vật chất, giống, thời vụ,

+ Điều kiện xã hội như dân số, lao động, tập quán canh tác, thị trường tiêu thụ và chính sách

Việc đưa cây đậu tương vào các công thức luân canh hoặc xen canh với cây lúa, cây ngô và các ngũ cốc khác đã được nhiều công trình nghiên cứu cho rằng là tăng năng suất các cây trồng và hiệu quả kinh tế cao hơn Nhưng trong thực tế sản xuất những kỹ thuật này chưa được đánh giá một cách khoa học về hiệu quả kinh tế, những khó khăn và thuận lợi khi áp dụng, các tác động cộng hưởng mang lại từ việc luân canh và trồng xen cây đậu tương Thiếu những thông tin này nên việc mở rộng ra ngoài sản xuất đặc biệt là các vùng sản xuất nông nghiệp khó khăn của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên còn rất hạn chế Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp các địa phương có cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển bền vững những hệ thống cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số hệ thống cây trồng cây lương thực (lúa và ngô) có trồng luân

canh và xen canh với cây đậu tương

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

* Thời gian nghiên cứu: Tiến hành từ tháng 7 năm 2013 đến tháng 7

năm 2014

* Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được triển khai tại huyện Tuần Giáo,

tỉnh Điện Biên

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội liên quan đến phát triển một số mô hình hệ thống cây lương thực chính trồng luân và xen canh với cây đậu tương

- Đánh giá hiện trạng một số mô hình hệ thống cây lương thực chính trồng luân canh và xen canh với cây đậu tương

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình hệ thống cây lương thực chính có trồng luân canh và xen canh với cây đậu tương

- Đánh giá khả năng hiệu quả bảo vệ đất (khả năng cố định N khí trời

và lượng vật chất hữu cơ tích lũy trong đất cho cây trồng sau) và an ninh lương thực cung cấp lương thực tại chỗ, tiêu thụ) của cây đậu tương trong hệ thống cây trồng

- Đánh giá ưu, nhược điểm của mô hình cây lương thực trồng luân xanh

và xen canh với cây đậu tương và đề xuất với cơ quan có thẩm quyền về chính sách hỗ trợ - khuyến khích (trực tiếp - gián tiếp), từ đó xác định khả

Trang 35

năng nhân rộng mô hình ra các vùng có điều kiện sinh thái tương tự ở khu vực các tỉnh vùng Tây Bắc

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại 3 xã: Quài Nưa, Pú Nhung, Rạng Đông Đây là 3 xã được tỉnh Điện Biên và huyện Tuần Giáo xác định là vùng trọng điểm, điển hình về phát triển cây đậu tương Một số công cụ chính thực hiện trong quá trình nghiên cứu như:

2.4.1 Nghiên cứu tài liệu thứ cấp

Kế thừa những tài liệu liên quan đến phát triển kinh tế xã hội, phát triển nông nghiệp của 3 xã Quài Nưa, Rạng Đông, Pú Nhung, của huyện Tuần Giáo và tỉnh Điện Biên

2.4.2 Tham vấn với cán bộ khuyến nông và phòng nông nghiệp cấp huyện và xã

Trên cơ sở những chỉ tiêu nghiên cứu đã được xác định, nhóm nghiên cứu đã trao đổi trực tiếp với cán bộ khuyến nông 3 xã Quài Nưa, Rạng Đông,

Pú Nhung và cán bộ nông nghiệp cấp huyện về những thông tin thu thập ngoài hiện trường và thu thập thông tin cấp cơ sở

2.4.3 Đánh giá ngoài thực địa

Các chỉ tiêu và số liệu không có được trong các tài liệu thứ cấp, nhóm nghiên cứu phải thu thập thông qua các hoạt động điều tra tại hiện trường với các công cụ PRA sau:

- Sử dụng bộ mẫu câu hỏi điều tra: Bộ mẫu câu hỏi điều tra đã được

xây dựng dựa trên các chỉ tiêu định tính và định lượng cần đánh giá Bộ câu hỏi này được phỏng vấn trực tiếp ở các hộ đại diện cho cộng đồng có những

hệ thống cây trồng có luân và xen canh với cây đậu tương Mẫu điều tra được chọn là 30 hộ/xã có có phân loại kinh tế khác nhau giàu, trung bình và nghèo đại diện cho các khu vực trong xã Bộ câu hỏi tập trung vào giải quyết các nội dung nghiên cứu

Trang 36

- Thảo luận sâu: Tổ chức 3 buổi thảo luận sâu với lãnh đạo và cán bộ

khuyến nông của từng xã Quài Nưa, Rạng Đông, Pú Nhung về điểm mạnh, yếu, khó khăn và giải pháp cho các hệ thống cây trồng chính ở địa phương, mức độ an ninh lương thực, kế hoạch và chiến lược phát triển của địa phương

2.4.4 Phương pháp lập ô điều tra

- Xác định dạng ô tiêu chuẩn điển hình được lập với diện tích là 25m2, kích thước 5m x 5m trên một số công thức luân xen canh giữa cây lương thực

và cây đậu tương phổ biến ở huyện Ô tiêu chuẩn điều tra được chọn ở khu vực không có sự chủ động nước tưới (diện tích gieo trồng ở khu vực nghiên cứu đều không có sự chủ động nước tưới) trên các đối tượng được xác định và cắm mốc định ranh giới dây tại hiện trường như sau:

xã = 18 ô điều tra)

- Trước tiên tiến hành sơ thám toàn bộ mô hình nghiên cứu, xác định vị trí có tính chất điển hình về các hệ thống cây trồng, về đặc điểm thổ nhưỡng, điều kiện sinh thái

- Tiến hành lập 18 ô tiêu chuẩn theo dõi và lấy mẫu cho các đối tượng nghiên cứu với mục tiêu là điều tra năng suất và xác định sinh khối, nên trên mỗi ô tiêu chuẩn điều tra cần lập 5 điểm theo đường chéo góc (4 điểm ở 4 góc của ô tiêu chuẩn và điểm giao nhau của hai đường chéo ô tiêu chuẩn) để điều tra chi tiết và lấy mẫu tại hiện trường (mỗi điểm có diện tích 1 m2)

Trang 37

- Lấy mẫu đo đếm tại hiện trường: Địa điểm lấy mẫu tại 2 xã Quài Nưa

và Pú Nhung (xã Rạng Đông do chịu ảnh hưởng lớn của hạn hán nên phải lùi thời gian gieo trồng, dẫn đến không thể lấy mẫu trong phạm vi thời gian nghiên cứu)

Mỗi ô tiêu chuẩn điều tra sẽ được xác định vị trí lấy mẫu ở 5 điểm theo đường chéo, lấy toàn bộ số lượng cây có trong mỗi điểm đối với cây đậu tương, 5 cây đối với ngô (1 cây/điểm)

Tại hiện trường đại diện mẫu về cây trồng được thu thập và xác định các chỉ tiêu theo qui định chuẩn của mỗi cây trồng:

+ Tổng lượng vật chất khô tích lũy của từng loại cây trồng: Là tổng lượng vật chất khô tích lũy trên mặt đất (đậu tương, ngô)

TVCK = VCK của thân lá + VCK năng suất kinh tế

Mẫu bao gồm cả thân lá và hạt ở thời kỳ thu hoạch được lấy về phơi khô đến độ ẩm an toàn bảo quản theo qui định để xác định tổng lượng vật chất khô thu hoạch Khi mẫu đạt đến khối lượng không thay đổi sẽ được cân để xác định VCK tuyệt đối

+ Tổng năng suất hạt thực thu trên một đơn vị diện tích ô tiêu chuẩn điều tra 25m2

+ Khả năng cố định N khí trời (đếm số lượng nốt sần/cây của cây đậu tương trên trên 30 cây đậu tương thu từ 5 điểm/ô tiêu chuẩn điều tra (6 cây/điểm ở thời kỳ chắc xanh)

2.4.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

2.4.5.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế được tính toán dựa vào bản chất của hiệu quả Đó chính là quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra hay giữa chi phí

và kết quả từ chi phí đó

+ Tổng giá trị sản xuất (GO) (Gross output)

Trang 38

Tổng giá trị sản xuất là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định hay tổng giá trị sản xuất là giá trị tính bằng tiền của các loại sản phẩm trên một đơn vị diện tích trong một vụ hay trong một chu kỳ sản xuất được xác định bằng công thức:

GO = 

ni

i Qi Pi

1

*Trong đó: GO: Tổng giá trị sản xuất

Qi: Sản lượng cây trồng Pi: Giá bán sản phẩm + Chi phí trung gian: (IC) (Intermediate cost) Bao gồm toàn bộ chi phí vật chất (trừ khấu hao tài sản cố định) và dịch vụ cho sản xuất

Trong nông nghiệp: Chi phí trung bao gồm các khoản chi phí nguyên vật liệu như: Giống, phân bón, dịch vụ làm đất, bảo vệ thực vật, cung cấp nước…

- Giá trị gia tăng (VA): Là giá trị tăng thêm của người sản xuất khi đầu

tư vào trong sản xuất Và được tính bằng công thức:

VA = GO - IC Đây là chỉ tiêu luôn nhận được sự quan tâm của người sản xuất Đặc biệt là trong các quyết định ngắn hạn Bởi lẽ nó phản ánh các kết quả của việc đầu tư các chi phí vật chất và lao động của từng hộ và khả năng quản lý của chủ hộ

- Năng suất cây trồng: Là khối lượng sản phẩm thu được của từng loại cây trồng trên một đơn vị diện tích trong một chu kỳ sản xuất, lượng kết quả thu được gọi là năng suất cây trồng được xác định bằng công thức:

Trang 39

Sản lượng của từng loại cây trồng NSCT (kg/ha) =

Đơn vị diện tích của từng loại cây trồng

- Lợi nhuận = Giá trị sản xuất - Tổng chi phí sản xuất

Pr = GO - TC Tổng chi phí sản xuất (TC): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất bằng tiền bao gồm cả khấu hao tài sản cố định tham gia vào trong quá rình sản xuất tạo ra sản phẩm đó Trong sản xuất trồng trọt chi phí vật chất thường bao gồm chi phí trung gian cộng với khấu hao tài sản cố định và thuế

- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác (bằng năng suất đất đai) + VA/ha

- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư + VA/IC

- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả lao động + VA/lao động (Lđ)

+ VA/IC: Giá trị gia tăng trên một đồng vốn chi phí trung gian Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, phản ánh hiệu quả sử dụng của các chi phí biến đổi trong sản xuất

2.4.5.2 Đánh giá hiệu quả môi trường

Đánh giá tác động môi trường của việc sử dụng đất là việc xem xét thực trạng và nguyên nhân gây ra sự suy thoái môi trường, từ đó loại bỏ các loại hình sử dụng đất có khả năng gây ra tác động xấu đối với môi trường Nhưng việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải có quá trình nghiên cứu lâu dài Chính vì vậy chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, đánh giá tác động môi trường thông qua việc đánh giá thích hợp của hai hệ thống trồng luân canh và xen canh cây lương thực với cây đậu tương thông qua các kết quả điều tra về sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật

Trang 40

- Năng suất sinh khối

- Lượng N để lại trong đất

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1.2  cho  thấy  quốc  gia  đứng  đầu  về  sản  xuất  đậu  tương  trên  thế  giới  là  nước  Mỹ - Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
ng 1.2 cho thấy quốc gia đứng đầu về sản xuất đậu tương trên thế giới là nước Mỹ (Trang 28)
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất đậu tương năm 2010 của 4 nước đứng đầu - Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất đậu tương năm 2010 của 4 nước đứng đầu (Trang 29)
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam những 5 năm gần đây - Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam những 5 năm gần đây (Trang 32)
Hình 3.1: Biểu đồ lượng mưa trong 30 năm của huyện Tuần Giáo, - Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Hình 3.1 Biểu đồ lượng mưa trong 30 năm của huyện Tuần Giáo, (Trang 45)
Hình 3.2: Biểu đồ nhiệt độ trong 30 năm qua của huyện Tuần Giáo, - Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Hình 3.2 Biểu đồ nhiệt độ trong 30 năm qua của huyện Tuần Giáo, (Trang 47)
Bảng 3.1. Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chính của huyện Tuần Giáo - Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 3.1. Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chính của huyện Tuần Giáo (Trang 48)
Bảng  3.2  cho  biết  tình  hình  sử  dụng  đất  của  huyện  Tuần  Giáo  trong  năm 2012 - Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
ng 3.2 cho biết tình hình sử dụng đất của huyện Tuần Giáo trong năm 2012 (Trang 50)
Bảng 3.4. Diện tích canh tác các loại cây trồng bình quân hộ trong - Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 3.4. Diện tích canh tác các loại cây trồng bình quân hộ trong (Trang 52)
Bảng 3.6. Các hệ thống cây trồng chính - Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 3.6. Các hệ thống cây trồng chính (Trang 54)
Bảng 3.10. Năng suất sinh khối của một số loại cây trồng chính - Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 3.10. Năng suất sinh khối của một số loại cây trồng chính (Trang 61)
Bảng 3.13. Tác động của các chế độ canh tác đến sự thay đổi độ phì đất - Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 3.13. Tác động của các chế độ canh tác đến sự thay đổi độ phì đất (Trang 64)
Bảng 3.14. Tác động của các chế độ canh tác đến sự thay đổi mức nhiễm - Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 3.14. Tác động của các chế độ canh tác đến sự thay đổi mức nhiễm (Trang 65)
Bảng 3.15. Tác động của các chế độ canh tác đến khả năng áp dụng - Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 3.15. Tác động của các chế độ canh tác đến khả năng áp dụng (Trang 66)
Bảng 3.16. Tác động của các chế độ canh tác đến khả năng mở rộng - Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 3.16. Tác động của các chế độ canh tác đến khả năng mở rộng (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w