1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng nguyên tắc toàn diện trong đánh giá hiệu quả sử dụng viện trợ nước ngoài tại việt nam

17 612 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 113 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài hướng đến mục đích và giải quyết vấn đề nhìn nhận sự vật hiện tượng trong mối quan hệ tổng thể toàn diện giữa các mối liên hệ với nhau, nhất là trong lĩnh vực quản lý và đầu tư cô

Trang 1

Mục lục

Lời mở đầu ……… 1

Chương 1 : Lý luận chung về quan điểm toàn diện ……….2

1 Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện……… 2

2 Yêu cầu của nguyên tắc toàn diện……… 4

3 Tính hữu ích của việc ứng dụng nguyên tắc toàn diện trong thực tế cuộc sống.6 Chương 2 : Vận dụng nguyên tắc toàn diện trong đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA tại Việt Nam ……… 8

1 Thực trạng hiệu quả sử dụng ODA tại Việt Nam trong thời gian qua …… 8

2 Vận dụng nguyên tắc toàn diện trong đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn viện trợ ODA tại Việt Nam… ………13

Kết luận……… 15

Mục lục và tài liệu tham khảo

Trang 2

Tài liệu tham khảo

1 Bộ giáo dục đào tạo, Triết học III, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2001

2 Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình triết học Phần 2, Nhà xuất bản lý luận

chính trị, 2001

3 Dương Đức Ưng, hiệu quả viện trợ có thể đạt được bằng cách thay đổi hành

vi, http://www.hapi.gov.vn, 20/08/2006

4 Hồ Xuân Phương, Băn khoăn nợ quốc gia, http://www.saigontimes.com.vn,

28/11/2006

5 Nghệ Nhân, ứng xử mới về ODA, http://www.saigontimes.com.vn, 14/12/2006

6 Nguyễn Minh Hòa, Phát triển đô thị bền vững, http://tuoitre.com.vn, 8/2/2007

7 V.P-S.L, ODA-khong-phai-tien-chua, http://vietbao.vn/Kinh-te/10952500/87/

8 William Easterly, Viện trợ dành cho đầu tư, Nhà xuất bản MIT, 2002

9 World bank, đánh giá viện trợ-khi nào có tác dụng, khi nào không và tại sao ?

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Ph.Ăngghen đã từng khẳng định: một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận Nếu không được trang bị bằng tư duy lý luận thì không một dân tộc hay một con người nào có thể đi tiếp được trên con đường khám phá các cấp độ bản chất và quy luật của thế giới xung quanh, không thể cải tạo hiệu quả thế giới vì lợi ích tối cao của con người

Để nhận thức đúng các cấp độ bản chất của hiện thực đa dạng và phức tạp, để phát hiện ra quy luật chi phối sự vận động và phát triển của chúng, chúng ta cần phải sử dụng tư duy biện chứng với lý luận trình độ cao, mềm dẻo và năng động

Đứng trước sự tranh luận về hiệu quả của việc tiếp nhận nguồn vốn viện trợ nước ngoài (ODA) tại Việt Nam – vấn đề làm tốn không ít giấy mực của báo chí và

sự quan tâm của người dân trong xã hội - tôi mong muốn góp một cái nhìn khách quan, toàn diện về đặc tính và bản chất của nguồn vốn viện trợ nước ngoài thông

qua tiểu luận “Vận dụng nguyên tắc toàn diện trong đánh giá hiệu quả sử dụng

viện trợ nước ngoài tại Việt Nam”.

Đề tài hướng đến mục đích và giải quyết vấn đề nhìn nhận sự vật hiện tượng trong mối quan hệ tổng thể toàn diện giữa các mối liên hệ với nhau, nhất là trong lĩnh vực quản lý và đầu tư công.

Đề tài được xem xét dựa trên những tài liệu tham khảo về triết học, lịch sử triết học cũng như những tác phẩm liên quan đến triết học và kinh tế về thu hút đầu

Ngoài lời mở đầu và phần kết luận, nội dung đề tài gồm hai chương :

Chương 1 : Cơ sở lý luận chung về nguyên tắc toàn diện

Chương 2 : Vận dụng quan điểm toàn diện trong đánh giá và đề xuất những biện pháp nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA tại Việt Nam trong thời gian tới

Do điều kiện về thời gian và khả năng tiếp cận môn triết còn hạn chế nên mặc

dù đã nổ lực cố gắng nhưng đề tài chắc chắn còn khá nhiều thiếu sót, mong nhận được những ý kiến đánh giá và đóng góp của Thầy cô và bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn.

Trang 4

CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA NGUYấN TẮC TOÀN DIỆN

1 Tớnh lịch sử và cơ sở lý luận của nguyờn tắc toàn diện

Nguyờn tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn là một trong những nguyờn tắc phương phỏp luận cơ bản, quan trọng của phộp biện chứng duy vật Cơ sở lý luận của nguyờn tắc toàn diện là nguyờn lý về mối liờn hệ phổ biến

1.1- Cơ sở lý luận - Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Theo quan điểm siêu hình, các sự vật hiện tượng tồn tại một cách tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc lẫn nhau, những mối liên hệ có chăng chỉ là những liên hệ hời hợt, bề ngoài mang tính ngẫu nhiên Một số người theo quan điểm siêu hình cũng thừa nhận sự liên hệ và tính

đa dạng của nó nhưng lại phủ nhận khả năng chuyển hoá lẫn nhau giữa các hình thức liên hệ khác nhau

Ngược lại, quan điểm biện chứng cho rằng thế giới tồn tại như một chỉnh thể thống nhất Các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau

Về nhân tố quy định sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới, chủ nghĩa duy tâm cho rằng cơ sở của sự liên hệ, sự tác động qua lại giữa các sự vật và hiện tượng là các lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con người Xuất phát từ quan điểm duy tâm chủ quan, Béccơli coi cơ sở của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là cảm giác Đứng trên quan điểm duy tâm khách quan, Hêghen lại cho rằng cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật, hiện tượng là ở ý niệm tuyệt đối

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế giới Theo quan

điểm này, các sự vật hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Ngay cả ý thức, tư tưởng của con người vốn là những cái phi vật chất cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con người, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan

Trang 5

Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật hiện tượng, các quá trình, mà nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại: có mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực riêng biệt của thế giới, có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác

động qua lại được thể hiện thông qua một hay một số khâu trung gian, có mối liên hệ bản chất, có mối liên hệ tất nhiên và liên hệ ngẫu nhiên, có mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau và mối liên hệ giữa các mặt khác nhau của sự vật Sự vật hiện tượng nào cũng vận động, phát triển qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, giữa các giai đoạn

đó cũng có mối liên hệ với nhau, tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật

và các quá trình tương ứng

Cỏc mối liờn hệ cú tớnh khỏch quan, phổ biến và đa dạng, chỳng giữ vai trũ khỏc nhau quy định sự vận động phỏt triển của sự vật hiện tượng Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn khụng nờn tuyệt đối hoỏ mối liờn hệ nào và cũng khụng nờn tỏch rời mối liờn hệ này cỏc mối liờn hệ khỏc bởi trờn thực tiễn cỏc mối liờn hệ cũn phải được nghiờn cứu cụ thể trong sự biến đổi và phỏt triển của chỳng.

Nguyờn lý về mối liờn hệ phổ biến khỏi quỏt bức tranh toàn cảnh về thế giới trong những mối liờn hệ chằng chịt giữa cỏc sự vật hiện tượng của nú Tớnh vụ hạn của thế giới khỏch quan, tớnh cú hạn của sự vật, hiện tượng trong thế giới đú chỉ cú thể giải thớch trong mối liờn hệ phổ biến và được quy định bằng nhiều mối liờn hệ cú hỡnh thức vai trũ khỏc nhau Từ nguyờn lý về mối liờn hệ phổ biến, con người rỳt ra được những quan điểm, nguyờn tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn

Bản chất của mọi sự vận động, biến đổi của thế giới cú xu hướng phỏt triển Tuy nhiờn, khụng phải vận động nào cũng phỏt triển, khụng phải bất kỳ quỏ trỡnh vận động nào cũng thể hiện, tượng trưng cho phỏt triển đú Nhưng phỏt triển bao giờ cũng

là cơ sở của bất kỳ sự vận động Vỡ vậy, quan điểm để quỏn triệt tư tưởng của nguyờn

lý phỏt triển là quan điểm phỏt triển : xem xột sự vật trong sự vận động, biến đổi và phỏt triển của nú, đồng thời phải cú tư duy năng động, linh hoạt, mềm dẻo, phải nhận thức được cỏi mới, ủng hộ cỏi mới

1.2 Nội dung quan điểm toàn diện trong triết học Mác- Lênin

Trang 6

Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, triết học Mác - Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức

Là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật hiện tượng, một mặt, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó, mặt khác chúng ta phải xem xét trong mối liên hệ giữa nó với với các sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp) Đề cập đến hai nội dung này, V.I Lênin viết "muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của

sự vật đó Chỳng ta khụng thể làm được điều đú một cỏch hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xột tất cả mọi mặt sẽ đề phũng cho chỳng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc " 1

Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật, cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ, không trọn vẹn Có ý thức được

điều này chúng ta mới tránh được việc tuyệt đối hoá những tri thức đã có về sự vật và tránh xem đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển Để nhận thức được sự vật, chỳng ta cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ

Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ nó chú ý

đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhau những thuộc tính, những quy định khác nhau của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó Quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên

hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó Như vậy, quan điểm toàn diện cũng không đồng

nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật, hiện tượng Nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hiện tượng đó

1 Lờnin toàn tập, t.42, tr.384

Trang 7

Quan điểm toàn diện vừa khác chủ nghĩa chiết trung vừa khác thuật nguỵ biện Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mặt khác nhau nhưng lại kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình ảnh không đúng

về sự vật, không rút ra mặt bản chất, mối liên hệ căn bản nên rơi vào chỗ cào bằng các mặt, hoàn toàn bất lực khi cần phải có quyết sách đúng đắn Thuật nguỵ biện cũng chỉ chú ý đến những mặt, những mối liên hệ khác nhau của sự vật nhưng lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất dẫn đến sai lầm trong xem xét

2 Yờu cầu cơ bản của nguyờn tắc toàn diện

Trong hoạt động nhận thức, chủ thể phải tỡm hiểu và phỏt hiện càng nhiều mối liờn hệ đang chi phối sự vật Phải bao quỏt đối tượng từ mọi phớa, mọi phương diện; phải làm sỏng tỏ tớnh đa dạng, tớnh nhiều vẻ của mối liờn hệ, quan hệ, thuộc tớnh của đối tượng; phõn loại để xỏc định mối liờn hệ nào là bờn trong, cơ bản, tất nhiờn ổn định từ đú lý giải được những mối liờn hệ cũn lại Đồng thời xõy dựng hỡnh ảnh về cỏc sự vật như sự thụng nhất cỏc mối liờn hệ, phỏt hiện ra đặc điểm tớnh chất quy luật bản chất của nú

Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải chỳ trọng đến mọi mối liờn hệ, quan hệ đỏnh giỏ đỳng vai trũ của từng mối liờn hệ chi phối sự vật Thụng qua hoạt động thực tiễn sử dụng nhiều biện phỏp thớch hợp để biến đổi những mối liờn hệ, đặc biệt là những mối liờn hệ bờn trong, cơ bản tất nhiờn, quan trọng Nắm vững sự chuyển hoỏ cỏc mối liờn hệ, kịp thời đưa ra cỏc mối liờn hệ bổ sung để phỏt huy hạn chế sự tỏc động của chỳng, lỏi sự vật theo đỳng quy luật và hợp lợi ớch của chỳng ta

Nguyờn tắc khỏch quan trong xem xột đũi hỏi xem xột sự vật tự nú nhưng khụng

cú nghĩa là sự vật cụ lập, mà là sự vật trong những điều kiện tồn tại tất yếu của nú, trong những mối quan hệ, liờn hệ qua lại giữa nú với những sự vật khỏc Khi vạch rừ nội hàm khỏi niệm quan hệ, liờn hệ, A.Sộptulin viết: “Liờn hệ trước hết đú là quan hệ giữa cỏc sự vật và cỏc hiện tượng của hiện thực Nhưng khụng phải quan hệ nào cũng

là liờn hệ” Trong thế giới, mọi hiện tượng đều nằm trong trạng thỏi vừa liờn hệ qua lại vừa tỏch biệt nhau Trong những quan hệ này chỳng liờn hệ với nhau, nhưng lại khụng liờn hệ với nhau ở những quan hệ khỏc, trong đú cú diễn ra những thay đổi tương ứng trong cỏc hiện tượng khỏc, đồng thời cú cả thay đổi khụng gõy ra những

Trang 8

thay đổi tương ứng trong các hiện tượng khác Vậy là, liên hệ và tách biệt bao giờ cũng tồn tại cùng nhau, là những mặt tất yếu của bất kỳ quan hệ cụ thể nào giữa các hiện tượng của hiện thực

3 Tính hữu ích của việc ứng dụng nguyên tắc trong đời sống thực tiễn

Cuộc sống với muôn vàn mối liên hệ ràng buộc Nếu bị bệnh chủ quan và không vận dụng nguyên tắc toàn diện thì nhận thức của chúng ta sẽ không thể phản ánh đầy đủ nhất sự tồn tại khách quan với nhiều thuộc tính nhiều mối liên hệ, tác động qua lại giữa các khách thể nhận thức Vì thế chúng ta dễ dàng rơi vào chủ

nghĩa phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện, sai lầm và cứng nhắc trong xem xét, đánh giá.

Quan điểm về tính phổ biến của mối liên hệ, quan hệ không chỉ dừng lại trong khuôn khổ triết học mà đã thâm nhập vào mọi ngành khoa học Các nhà khoa học xem bản chất, thuộc tính cơ bản của sự vật, hiện tượng là tổng hòa tính muôn vẻ của quan hệ Tuy nhiên, đòi hỏi nhận thức phải bao quát toàn bộ các mặt, các thuộc tính của sự vật, phải xem xét nó trong tất cả các mối liên hệ và quan hệ là điều không thể làm được một cách đầy đủ Yêu cầu toàn diện trong xem xét chỉ mang tính chất định hướng để chủ thể nhận thức càng thu nhận nhiều thông tin về sự vật càng tốt, để tránh được những sai lầm đáng tiếc Như vậy ở giai đoạn đầu tiên, chủ thể cần phải nắm càng nhiều thông tin về sự vật càng tốt Sau đó dường như yêu cầu toàn diện được chuyển thành yêu cầu đối lập với nó yêu cầu đơn diện trong xem xét, nghĩa là xem xét sự vật thông qua lăng kính của một hay vài tính chất cơ bản của nó Trong khoa học trường hợp này thường xảy ra từ sự nghiên cứu đa diện, định lượng sang nghiên cứu đơn diện, định tính, chuyển từ cái dường như là ngẫu nhiên sang cái tất nhiên…

Việc tìm ra thuộc tính, tính chất cơ bản chưa phải là mục tiêu cuối cùng của nhận thức mà là chỉ bắt đầu xuất phát của một giai đoạn nhận thức tiếp theo Chủ thể bắt đầu lý giải, mổ xẻ các tính chất, các thông tin như những dạng thái biểu hiện khác nhau của nó Tính đơn diện trong xem xét đó cũng có nghĩa là tìm hiểu sự vật một cách toàn diện Nếu ở giai đoạn đầu những tính chất về sự vật cái này nằm cạnh cái kia, thì ở cuối giai đoạn này, chúng có mối liên hệ, quan hệ lẫn nhau một cách hữu cơ

và liên hệ với tính chất cơ bản

Trang 9

Việc tìm ra tính chất cơ bản là bắt đầu chuyển sự xem xét từ các mối liên hệ, quan hệ bên ngoài, thậm chí ngẫu nhiên sang sự xem xét những tác động qua lại giữa những cái cấu thành chúng những quan hệ, liên hệ tất yếu bên trong Điều này đưa đến việc tách cái tất nhiên ra khỏi cái ngẫu nhiên, tìm ra những thuộc tính tất yếu khác trong sự liên hệ ràng buộc, nghĩa là phát hiện ra bản chất sự vật Ở mức độ này chủ thể nhận thức tuân thủ yêu cầu toàn diện không phải là thu tóm mọi tính chất, xem xét mọi mặt, mọi mối liên hệ, quan hệ mà yêu cầu toàn diện thể hiện bằng việc chủ thể phải nắm bắt những mối liên hệ, những mặt tất yếu trong tính chỉnh thể

Chúng ta không những phải xem xét sự vật một cách khách quan, và xem xét

sự vật một cách toàn diện mà chúng ta cần phải xem xét nó trong trạng thái luôn vận động và phát triển, tức là xem xét lịch sử phát sinh, phát triển của nó Chỉ khi nghiên cứu quá khứ của sự vật, nghiên cứu lịch sử ra đời và phát triển của nó chúng ta mới

có thể hiểu rõ được thực trạng của sự vật trong hiện tại và khám phá ra được những quy luật, những xu hướng phát triển của nó trong tương lai

Tóm lại, nguyên tắc toàn diện liên hệ mật thiết với nguyên tắc khách quan

và các nguyên tắc khác của lôgích biện chứng Yêu cầu cụ thể trong hoạt động nhận

thức, chủ thể phải tìm hiểu để phát hiện càng nhiều càng tốt những mối liên hệ, quan

hệ chi phối đối tượng nhận thức; phân loại để xác định trong các mối liên hệ, quan hệ

đã được phát hiện ra thì mối liên hệ, quan hệ nào là bên trong, cơ bản, tất nhiên, ổn định rồi dựa vào chúng để lý giải được những mối liên hệ, quan hệ còn lại; xây dựng hình ảnh chỉnh thể trong tư duy về đối tượng nhận thức như sự thống nhất các mối liên hệ, quan hệ trên để từ đó phát hiện ra đặc điểm, tính chất, quy luật, nghĩa là bản chất của đối tượng

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN TRONG ĐÁNH GIÁ

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ODA TẠI VIỆT NAM

1 Thực trạng về hiệu quả ODA tại Việt Nam trong thời gian qua

Trang 10

Viện trợ nước ngoài là một phần vốn đóp góp vào đầu tư cho tăng trưởng tại Việt Nam Thành công nhiều và thất bại cũng không ít Hiệu quả đấu tư từ nguồn vốn ODA đang là vần đề quan tâm không chỉ của chính phủ là còn là tâm điểm thu hút sự

bình luận, đánh giá của người dân Nên nhìn nhận ODA như thế nào? Thực tế cho

thấy một số quốc gia phát triển nhờ vào nguồn vốn ODA nhưng nhiều quốc gia cũng cho thấy không có mối tương quan giữa viện trợ trong việc thúc đẩy hiệu quả đầu tư

nhằm tăng trưởng kinh tế Phải chăng tất cả xuất phát từ tư duy và cơ chế, từ việc

nhìn nhận phiến diện về lý do viện trợ, về tính hữu ích một mặt của nguồn vốn này ?

Vì thế, cần xem xét từ nhiều mối liên hệ : nước viện trợ và nước nhận, chính phủ và

người dân nước nhận để tìm ra nguyên nhân cơ bản làm định hướng cho lời giải của bài toán gắn kết giữa hiệu quả ODA và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong thời gian tới

1.1 Cơ sở viện trợ của các nước trên thế giới

Viện trợ phát triển chính thức ODA (Official Development Assistance) là một phần của Tài chính phát triển chính thức ODF (Official Development Finance), trong

đó bao gồm yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ nhằm hỗ trợ cho sự phát triển của các nước nhận viện trợ

Tốc độ tăng trưởng của GDP của một quốc gia phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm và

hệ số ICOR theo công thức g = s/k (g: tốc độ tăng trưởng GDP, s : tỷ lệ tiết kiệm, k:

hệ số ICOR) Giả sử một quốc gia với mục tiêu tăng trưởng kinh tế là g = 6 % trong khi k = 5 thì tỷ lệ đầu tư/GDP phải đạt 30% Nếu tiết kiệm trong nước chỉ đạt 20% GDP và giả định rằng toàn bộ tiết kiệm này được chuyển thành đầu tư thì quốc gia

vẫn còn thiếu hụt ở mức 10% GDP Mức thiếu hụt này là một khoảng cách tài chính

mà các quốc gia có thể được bổ sung bằng viện trợ và các nguồn vốn bên ngoài khác

để đạt được mục tiêu tăng trưởng quốc gia

1.2 Viện trợ nước ngoài, tính hiệu quả vả không hiệu quả

Với cơ sở lập luận trên, viện trợ nước ngoài bắt đầu bằng việc tái thiết châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai qua kế hoạch Marshall và các khoản vay của ngân hàng thế giới Viện trợ đã giúp các nước châu Âu phục hồi nhanh chóng Sau đó, mục

Ngày đăng: 26/08/2015, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w