1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh

176 694 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 3,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, kinh doanh TDTT được xem là: “Phương thức hoạt động kinh tế đối với các sản phẩm vật chất và phi vật chất của TDTT có giá trị sinh lời trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

NGUYỄN THỊ HIỀN THANH

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH DỊCH VỤ TẠI MỘT SỐ CÂU LẠC BỘ THỂ DỤC THỂ THAO

QUẦN CHÚNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

BẮC NINH - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Hiền Thanh

Trang 3

Chữ

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông

GDP Tổng sản lượng quốc nội Gross Domestic Product

GD&ĐT Giáo Dục & Đào Tạo

KTTT Kinh tế thể hao

ODA Viện trợ chính thức Offical Deverlopment Assitance

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Inverment

FQU Chất lượng chức năng Functional quality

FQT Chất lượng kỹ thuật Technical quality

GATT Hiệp hội chung về thuế quan

Trang 4

UBND Ủy ban nhân dân

SAT Sự hài lòng (sự thỏa mãn) Satisfaction

SWOT Chiến lược phân tích điểm

mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong kinh doanh

Strength,Weakness, Opportunity, Threat

VH,TT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

WTO Tổ chức thương mại Thế giới World Trade Organization

W% Nhịp độ tăng trưởng

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

Thể

Bảng

1.1 Phân loại kinh doanh TDTT theo quy định quốc tế của

WTO năm 1998 thuộc ngành văn hoá giải trí 7 1.2 Phân loại trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung

1.3 Hệ thống thị trường và loại hình dịch vụ TDTT 24 1.4 Sự khác biệt giữa marketing thương mại và phi thương mại 28 1.5 Quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp TDTT 39 2.1 Nội dung Phiếu phỏng vấn khách hàng (NTD TDTT) 45

2.3 Phân tích hướng chiến lược kinh doanh theo ma trận TOWS 51 3.1 Thống kê chỉ tiêu hoạt động TDTT năm 2013 65 3.2 Thống kê NSNN cấp cho Ngành TDTT năm 2013 66 3.3 Thống kê số lượt NTD TDTT năm 2012 - 2013 69 3.4 Tổng hợp các nguồn thu tài chính tại CLB TDTT năm 2013 70

3.7 Thời điểm thích hợp tham gia môn thể thao 78 3.8 Thời gian nhàn rỗi dành cho hoạt động TDTT 79 3.9 Tình hình cơ cấu nguồn lao động năm 2013 86 3.10 Tiêu chí đánh giá thang đo chất lượng dịch vụ TDTT 98 3.11 Tóm tắt các hệ số khi phân tích nhân tố theo mô hình

Kết quả các thông số thống kê của từng biến trong phương

Trang 6

loại Số Nội dung Trang

3.20 Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết theo mô hình

146

Biểu đồ

3.1 Thời điểm thích hợp tham gia hoạt động TDTT 78

3.7 So sánh nguồn đầu tư tài chính năm 2013 88 3.8 So sánh hiệu quả kinh doanh năm 2012 – 2013 89 3.9 So sánh nguồn doanh thu tài chính năm 2013 90

Trang 7

loại Số Nội dung Trang

3.20 Phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị TDTT 134

3.23 Truyền thông marketing và tài trợ thể thao 142

Sơ đồ

1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng TDTT 19 1.2 Các loại hình tổ chức cung cấp dịch vụ TDTT 37 2.1 Mô hình xây dựng thang đo chất lượng TDTT 49 3.1 Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ TDTT 57

3.3 Mô hình nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ

3.6 Mô hình thang đo lường chất lượng dịch vụ TDTT giả

thuyết (tích hợp 2 mô hình SERVQUAL và GRONROOS) 63

3.7 Mô hình thang đo lường chất lượng dịch vụ TDTT hiệu

chỉnh lần 1 (tích hợp 2 mô hình SERVQUAL và GRONROOS) 103

3.8 Mô hình thang đo lường chất lượng dịch vụ TDTT hiệu

chỉnh lần 2 (tích hợp 2 mô hình SERVQUAL và GRONROOS) 107

3.9 Mô hình thang đo lường chất lượng dịch vụ TDTT hiệu

chỉnh lần 3 (tích hợp 2 mô hình SERVQUAL và GRONROOS) 112

3.10 Mô hình các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh TDTT 123

Trang 8

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Mục đích nghiên cứu 2

Mục tiêu nghiên cứu 2

Giả thuyết khoa học 3

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Khái quát cơ cấu ngành kinh doanh dịch vụ TDTT 4

1.1.1 Kinh doanh TDTT 4

1.1.2 Dịch vụ TDTT là bộ phận của nền kinh tế 5

1.1.3 Các ngành kinh doanh dịch vụ thể thao 7

1.2 Sản phẩm, hàng hóa dịch vụ TDTT 9

1.2.1 Sản phẩm dịch vụ TDTT 9

1.2.1.1 Phân loại sản phẩm dịch vụ TDTT 9

1.2.1.2 Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ TDTT 11

1.2.2 Hàng hóa TDTT 11

1.2.2.1 Các yếu tố cấu thành hàng hóa TDTT 12

1.2.2.2 Nguyên nhân, điều kiện, đặc điểm để dịch vụ TDTT trở thành 13

1.3 Nhu cầu tiêu dùng TDTT 14

1.3.1 Tiêu dùng TDTT 14

1.3.2 Vị trí của tiêu dùng TDTT trong cơ cấu tiêu dùng của xã hội 15

1.3.3 Đặc điểm của tiêu dùng TDTT 17

1.3.4 Loại hình, hiệu quả và các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu dùng TDTT 17

1.3.4.1 Loại hình tiêu dùng TDTT 17

1.3.4.2 Hiệu quả tiêu dùng TDTT 17

1.3.4.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới tiêu dùng TDTT 18

1.4 Giá cả và quan hệ cung cầu hàng hóa dịch vụ TDTT 19

1.4.1 Giá cả hàng hóa dịch vụ TDTT 19

1.4.2 Mối quan hệ cung - cầu trong kinh doanh TDTT 20

1.5 Thị trường, tiêu thụ và marketing sản phẩm dịch vụ TDTT 24

Trang 9

1.5.1 Thị trường dịch vụ TDTT 24

1.5.2 Tiêu thụ sản phẩm dịch vụ TDTT 25

1.5.3 Marketing sản phẩm dịch vụ TDTT 27

1.6 Khái quát chủ trương xã hội hóa TDTT và các loại hình kinh doanh 29

1.6.1 Khái quát chủ trương xã hội hóa TDTT của Đảng và Nhà nước 29

1.6.2 Các loại hình tổ chức kinh doanh dịch vụ TDTT ở nước ta 33

1.7 Các công trình nghiên cứu trong, ngoài nước và các vấn đề liên quan 40

1.7.1 Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước 40

1.7.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 40

Tóm tắt Chương Tổng quan 43

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 44

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 44

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 44

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 44

2.2 Phương pháp nghiên cứu 44

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 44

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn điều tra xã hội học 44

2.2.3 Phương pháp toán kinh tế và phân tích đa biến 46

2.2.3.1 Phương pháp toán kinh tế 46

2.2.3.2 Phương pháp phân tích đa biến 49

2.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu theo mô hình SWOT 51

2.3 Tổ chức nghiên cứu 51

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 52

3.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận đánh giá hiệu quả kinh doanh và chất lượng dịch vụ TDTT 52

3.1.1 Cơ sở lý luận đánh giá hiệu quả kinh doanh TDTT 52

3.1.2 Cơ sở lý luận đánh giá chất lượng dịch vụ TDTT 56

3.1.2.1 Thang đo chất lượng dịch vụ 56 3.1.2.2 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ TDTT với sự hài lòng của NTD 59

Trang 10

3.1.2.3 Xây dựng mô hình thang đo chất lượng dịch vụ TDTT 61

Tóm tắt mục tiêu 1 64

3.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ tại một số CLB TDTT quần chúng ở Tp.HCM 65

3.2.1 Thực trạng hoạt động TDTT tại một số CLB TDTT quần chúng ở Tp.HCM 65

3.2.1.1 Tổ chức hoạt động TDTT 65

3.2.1.2 Phân bổ nguồn kinh phí phát triển Ngành TDTT 66

3.2.1.3 Số người tham gia tập luyện TDTT thường xuyên (tiêu dùng TDTT) 68

3.2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ tại một số CLB TDTT quần chúng ở Tp.HCM 70

3.2.3 Đặc điểm của NTD TDTT tại Tp.HCM 73

3.2.3.1 Đặc điểm nhân khẩu học 73

3.2.3.2 Tính thường xuyên tập luyện TDTT 76

3.2.3.3 Thời gian nhàn rỗi 79

3.2.3.4 Các môn thể thao yêu thích 80

3.2.3.5 Các hoạt động giải trí 81

3.2.3.6 Các môn thể thao giải trí 82

3.2.3.7 Các động cơ tham gia hoạt động TDTT 83

3.2.3.8 Các yếu tố cản trở hoạt động TDTT 84

3.2.4 Phân tích hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số CLB TDTT quần chúng ở Tp.HCM 86

3.2.4.1 Cơ cấu nguồn lao động TDTT 86

3.2.4.2 Nguồn đầu tư tài chính 88

3.2.4.3 Tình hình hoạt động kinh doanh 89

3.2.4.4 Nguồn doanh thu tài chính 89

3.2.4.5 Năng suất lao động 91

3.2.4.6 Mức lương bình quân 92

3.2.4.7 Hiệu quả doanh thu với tỷ suất lợi nhuận 94

Trang 11

3.2.5 Đánh giá chất lượng dịch vụ TDTT tại một số CLB TDTT quần chúng ở

Tp.HCM 98

3.2.5.1 Kết quả xây dựng thang đo chất lượng dịch vụ TDTT 98

3.2.5.2 Đánh giá chất lượng dịch vụ TDTT tại một số CLB TDTT quần chúng tại Tp.HCM 100

3.2.6 Phân tích ma trận TOWS để định hướng chiến lược phát triển 117

Tóm tắt mục tiêu 2 122

3.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số CLB TDTT quần chúng ở Tp.HCM 123

3.3.1 Quy trình xây dựng đề xuất các giải pháp 123

3.3.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA các giải pháp 124

3.3.3 Kết quả kiểm định độ tin cậy của các giải pháp 125

3.3.4 Đánh giá và bàn luận mức độ quan trọng của các giải pháp 125

3.3.5 Kết quả khảo sát tính khả thi và thực tiễn các giải pháp 1466

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 151

Kết luận: 151

Kiến nghị: 153

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 154

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 155

Trang 12

sản xuất hàng hóa thì TDTT đã có thêm “chức năng kinh tế” Vì lao động dịch vụ

TDTT tạo ra sản phẩm làm thỏa mãn nhu cầu giải trí, thưởng thức mang lại giá trị

về sức khỏe và tinh thần Trong kinh tế ở nước ta còn được tiến hành dưới hình thức

gọi là “kinh doanh thể dục thể thao” nhờ vận hành theo các quy luật kinh tế thị

trường Bên cạnh những hoạt động có mục tiêu văn hóa xã hội thuần túy thì nay TDTT đã có nhiều hoạt động được xem như những ngành kinh doanh dịch vụ có khả năng sinh lời TDTT vốn đã đem lại hiệu quả về văn hóa xã hội, nay trực tiếp đem lại hiệu quả rất quan trọng trong kinh tế Sự thay đổi tư duy đó đã thổi một luồng gió mới làm cho các hoạt động TDTT trở nên phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhiều tầng lớp người dân trong xã hội

Hiện nay, với nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu hóa và hội nhập quốc

tế đã làm cho các mối quan hệ kinh tế ngày càng phát triển đa dạng về hình thức lẫn nội dung Cùng với sự phát triển đó, Ngành TDTT cũng chịu ảnh hưởng và không thể đứng ngoài cuộc, đòi hỏi cần phải thay đổi hình thức quản lý, các phương thức kinh doanh cũng như cách cung ứng dịch vụ TDTT để phù hợp với xu hướng và tốc

độ phát triển kinh tế ở nước ta Kinh doanh TDTT là một lĩnh vực khá mới và đang

ở những bước đi ban đầu trong bối cảnh kinh tế Việt Nam có những bước chuyển mạnh mẽ sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trên thực tế còn rất nhiều hoạt động kinh doanh TDTT chưa được khai thác hoặc hiệu quả khai thác chưa tương xứng với tiềm năng vốn có Đây là một trong những lĩnh vực có nhiều tiềm năng để đầu tư phát triển thành một lĩnh vực kinh tế hiệu quả và có lợi nhuận lâu dài Nếu chú ý phát triển ngành kinh doanh TDTT, đẩy mạnh chủ trương xã hội hóa TDTT thì sự nghiệp TDTT sẽ có thêm điều kiện để phát triển

Trang 13

Trong những năm qua, việc kinh doanh TDTT đã có những bước phát triển đáng kể, thu được nguồn tài chính nhất định góp phần giảm chi ngân sách của Thành phố cho Ngành TDTT Tuy nhiên, các CLB TDTT quần chúng vẫn chưa phát huy tiềm năng và chưa đáp ứng được yêu cầu so với đà phát triển Ngành TDTT của Thành phố Phải chăng là do chủ trương chính sách, do sự phối hợp chưa tốt giữa các Sở, ban, ngành trong Thành phố? Hay là do việc triển khai phát triển xã hội hoá TDTT còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được tiềm năng to lớn từ mọi nguồn lực của xã hội đóng góp cho hoạt động TDTT? Hoặc do chưa phát huy vai trò quản lý nhà nước của Ngành TDTT, thiếu những chính sách đột phá, thiếu đồng

bộ, thiếu quy hoạch?

Qua thực tế, chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận lĩnh vực kinh doanh TDTT ở Thành phố còn nhiều hạn chế, rất cần có nhiều giải pháp đổi mới trong thời gian tới Cho nên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể sử dụng tối đa và hợp lý hóa các ưu thế và khả năng của các CLB TDTT quần chúng làm kinh tế có hiệu quả đồng thời thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng TDTT? Đó là lý do chúng tôi lựa

chọn đề tài nghiên cứu: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng ở Thành phố Hồ Chí Minh” Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh dịch

vụ, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ cho các câu lạc bộ TDTT quần chúng ở Thành phố Hồ Chí Minh

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu 1: Hệ thống hóa cơ sở lý luận đánh giá hiệu quả kinh doanh và chất

Trang 14

Giả thuyết khoa học

Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, TDTT đã và đang thực hiện được 2 mục tiêu là vừa đáp ứng nhu cầu của xã hội vừa tạo nguồn tài chính cho Ngành TDTT Bên cạnh những kết quả đã đạt được, các CLB TDTT quần chúng vẫn chưa khai thác hiệu quả đồng thời cũng đã bộc lộ những bất cập, những hạn chế trong phương thức kinh doanh Nếu khắc phục được những bất cập, hạn chế và áp dụng các giải pháp kinh doanh tốt thì hiệu quả kinh

doanh dịch vụ TDTT của các CLB TDTT quần chúng ở Tp.HCM sẽ được cải thiện

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát cơ cấu ngành kinh doanh dịch vụ TDTT

1.1.1 Kinh doanh TDTT

Dựa các tài liệu về lĩnh vực chuyên ngành kinh tế nói chung và kinh tế học TDTT nói riêng trong và ngoài nước, các tác giả đã đưa ra nội dung và một số khái niệm về kinh tế có liên quan đến kinh doanh đã cho thấy ở bất cứ nền sản xuất xã

hội nào cũng đều phải giải quyết 4 vấn đề cơ bản: “Sản suất cái gì? Sản xuất cho ai? Với số lượng bao nhiêu? Phân phối sản phẩm như thế nào?“ [21] Như vậy, kinh

tế được hiểu là một môn khoa học nghiên cứu vấn đề con người lựa chọn và vận dụng những phương thức để sử dụng những nguồn tài nguyên có hiệu quả nhằm sản xuất ra các loại hàng hóa, dịch vụ và phân phối cho tiêu dùng hiện tại và lâu dài của các cá nhân và những nhóm người trong xã hội Trên cơ sở đó, vận dụng vào thực tiễn chỉ đạo và quản lý của hoạt động kinh tế sao cho đạt hiệu quả cao nhất

Khi các nhà kinh tế học nhìn nhận TDTT như một ngành kinh tế quốc dân thì

có định nghĩa khái quát hơn: “Kinh tế học TDTT nghiên cứu và giải thích những mối quan hệ kinh tế trong quá trình tiến hành các hoạt động TDTT cũng như dịch

vụ TDTT” [21,tr.76] Khi nói đến KTTT hay kinh doanh dịch vụ TDTT tức là một

bộ phận mới hình thành của sự nghiệp TDTT vận hành trong cơ chế thị trường Ngành kinh doanh TDTT ở nước ta hình thành muộn hơn nhiều ngành kinh tế khác,

nó mới thực sự phát triển mạnh trong những năm cuối của thế kỷ 20 Kinh doanh TDTT thực chất là kinh doanh sản phẩm do lao động dịch vụ các hoạt động TDTT

mà có, trong đó chủ yếu kinh doanh TDTT giải trí, thực chất là dịch vụ và thương

mại dịch vụ Với nghĩa rộng TDTT được hiểu là:“Hiện tượng văn hóa xã hội của loài người, là bộ phận của nền văn hóa xã hội, thể dục thể thao thông qua phương tiện hoạt động vận động và trò chơi để tăng cường thể chất, nâng cao kỹ năng vận động, làm phong phú đời sống xã hội” [77, tr.10]

Các nhà khoa học đã xác định rõ và đưa ra một số dẫn chứng về sản phẩm TDTT không mang tính kinh doanh vì không phải là hàng hóa như: Sản phẩm của

Trang 16

người tự tập chạy, đi bộ dưỡng sinh, tự tập thể dục, chỉ đơn thuần mang giá trị sức khoẻ tinh thần và thể chất Họ thu được giá trị này không phải chi trả tiền vì không tham gia dịch vụ Hoặc đội tuyển bóng đá quốc gia đoạt chức vô địch trên đấu trường quốc tế, mang lại lòng tự hào dân tộc cho hàng triệu người dân Loại sản phẩm này cũng không thể tính theo giá trị tiền tệ

Như vậy, kinh doanh TDTT được xem là: “Phương thức hoạt động kinh tế đối với các sản phẩm vật chất và phi vật chất của TDTT có giá trị sinh lời trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức

và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ ) trên cơ

sở vận dụng các quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất” Kinh doanh TDTT thuộc phạm trù kinh tế [77, tr.18]

1.1.2 Dịch vụ TDTT là bộ phận của nền kinh tế

TDTT thuộc nhóm ngành thứ ba không trực tiếp sản xuất sản phẩm vật chất

mà chủ yếu là nhóm ngành cung ứng dịch vụ và lao động, do vậy KTTT là nhóm ngành kinh doanh với hình thức lao động dịch vụ cung ứng cho người tiêu dùng KTTT hay kinh doanh TDTT là hoạt động của bộ phận TDTT và cơ cấu sản xuất kinh doanh dịch vụ hoặc dịch vụ TDTT để thỏa mãn nhu cầu giải trí, rèn luyện thân thể của con người [14],[15],[16] Đây là ngành cung ứng sản phẩm tiêu dùng đặc biệt ở dạng phi vật chất nhưng đồng thời có kèm theo những sản phẩm vật chất Có thể nói KTTT là bộ phận của nền kinh tế quốc dân Sản xuất hàng hóa thể thao không chỉ là chuyên ngành mà còn là liên ngành, trong các sản phẩm hàng hóa tiêu dùng, có một thị phần hàng hóa thể thao kể cả xuất khẩu Những sản phẩm vật chất

đó đưa ra kinh doanh chỉ khi coi đó là hàng hóa có giá trị tiền tệ Các hoạt động dịch vụ tập luyện TDTT, xem thi đấu biểu diễn thể thao… thì sản phẩm đó là phi vật chất, chúng thể hiện dịch vụ công ích nên không tiến hành trao đổi, mua bán nên không phải là hàng hóa, nếu các dịch vụ kể trên khi diễn ra dưới phương thức kinh doanh mua bán thì trở thành hàng hóa Trong kinh doanh TDTT chính là kinh doanh

Trang 17

tất cả các loại sản phẩm vật thể và phi vật thể của TDTT, kể cả logo, biểu tượng của thể thao đều là tài sản TDTT [19],[20],[21]

Hiện nay rất nhiều quốc gia dùng phương pháp phân nền kinh tế quốc dân làm

3 nhóm ngành [21],[41]: (1) Nông nghiệp; (2) Công nghiệp; (3) Nhóm ngành dịch

vụ Do nhóm ngành thứ ba của nền kinh tế quốc dân có phạm vi quá rộng nên phân thành 4 nhóm ngành phụ thuộc:

Nhóm ngành lưu thông: Giao thông vận tải; Bưu chính truyền thông, Thương

nghiệp, Sáng tạo và cung ứng vật chất

Nhóm ngành dịch vụ sản xuất và đời sống: Tạo nguồn tài chính, bảo hiểm,

Địa chất khoáng sản, Bất động sản, Phục vụ dân cư, Du lịch, Phục vụ tin tức tư vấn, các ngành phục vụ kỹ thuật

Nhóm ngành dịch vụ nâng cao trình độ khoa học, văn hóa và chất lượng nguồn nhân lực: Giáo dục, Văn hóa, Truyền hình, Nghiên cứu khoa học, Sức khỏe,

TDTT và Phúc lợi xã hội

Nhóm ngành dịch vụ nhu cầu cộng đồng: Cơ quan nhà nước, cơ quan

chính đảng, đoàn thể xã hội, quân đội, công an….

Luật thương mại dịch vụ quốc tế đưa ra định nghĩa về “Dịch vụ” là: “ Bất cứ một hành vi hoặc một hoạt động nào được liệt kê, được mô tả và được mã hoá trong Danh mục PCPC/CPC, thì hành vi hoặc hoạt động đó được thừa nhận là dịch vụ trong giao dịch thương mại quốc tế” [17, tr.18] Hiệp định chung về thuế quan và

thương mại (GATT) có định nghĩa khá rõ ràng về “Thương mại dịch vụ”, được hiểu

là sự cung cấp một dịch vụ Theo khái niệm nêu trên, WTO phân loại 12 ngành dịch

vụ và 155 phân ngành Mỗi ngành hoặc phân ngành trong danh mục phân loại được xác định tương ứng với mã số của bảng phân loại trung tâm, tương tự như xác định

mã phân loại hàng hoá trong biểu thức xuất nhập khẩu Như vậy, “dịch vụ thể dục thể thao” là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân thuộc nhóm ngành thứ ba của

nền kinh tế Điều này có ý nghĩa như sau:

Phản ánh quy luật phát triển kinh tế và xu thế phát triển của nó có nhu cầu phát triển TDTT của xã hội;

Trang 18

Thừa nhận TDTT là một thành phần kinh tế phản ánh sự thay đổi về quan niệm và nhận thức đối với TDTT;

Thừa nhận TDTT thuộc thành phần thứ ba của nền kinh tế có nghĩa là phải nghiên cứu căn cứ lý luận và nhiều vấn đề về KTTT

Bảng 1.1 Phân loại kinh doanh TDTT theo quy định quốc tế của WTO

năm 1998 thuộc ngành văn hoá giải trí [17]

2 9651 Dịch vụ tổ chức tuyên truyền TDTT và TDTT giải trí

3 96510 Như trên nhưng theo môn thể thao

4 9652 Dịch vụ kinh doanh công trình kiến trúc TDTT và TDTT giải trí

5 96520 Như trên nhưng theo loại công trình từng môn

6 96590 Dịch vụ TDTT và TDTT giải trí khác

7 966 Dịch vụ và hỗ trợ vận động viên

8 9662 Phục vụ hỗ trợ TDTT và TDTT giải trí

9 96620 Như trên, nhưng bao gồm dịch vụ nhân lực thể thao, trường TDTT

Căn cứ theo bảng phân loại của WTO, nhiều quốc gia đã ban hành các bảng phân loại và các biểu cam kết dịch vụ TDTT và TDTT giải trí bảng 1.2

Bảng 1.2 Phân loại trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc [40]

TT CPC 96411 Dịch vụ quảng bá sự kiện thể thao

1.1.3 Các ngành kinh doanh dịch vụ thể thao

Theo tài liệu của LiMing “Bàn về sản nghiệp thể thao” năm 2000 [128], đã

đưa ra sơ đồ tổng hợp các ngành kinh doanh TDTT trong đó kinh doanh dịch vụ gắn liền với các hoạt động kinh doanh tài sản TDTT thuộc các nhóm sau:

Trang 19

Ngành kinh doanh dịch vụ thể thao có tính tham dự: người tham dự trực

tiếp tham gia vào tất cả những dịch vụ trong các hoạt động thể thao Đối tượng kinh doanh là người tham gia các giải đại hội thể thao, các giải thể thao chuyên nghiệp, nghiệp dư, thể thao trường học, các hoạt động của CLB…

Ngành kinh doanh dịch vụ thể thao thưởng thức: tất cả những dịch vụ được

cung cấp để thưởng thức các hoạt động thi đấu Đối tượng kinh doanh bao gồm các giải thi đấu chuyên nghiệp, nghiệp dư, lấy việc bán vé làm nguồn thu

Ngành kinh doanh dịch vụ chứng nhận chuyên môn thể thao: Do nhu cầu

của các hoạt động tổ chức thể thao, nên cần có những dịch vụ của những người chuyên môn liên quan đến thể thao Đối tượng là VĐV chuyên nghiệp, nhân viên y

tế thể thao, trọng tài, HLV, chỉ đạo viên

Ngành sản xuất chế tạo các dụng cụ thể thao: chủ yếu là sản xuất chế tạo

các dụng cụ thể thao Đối tượng kinh doanh là NTD sản phẩm

Ngành kinh doanh đồ dùng thể thao: chủ yếu là dịch vụ thực phẩm dinh

dưỡng thể thao, tiêu thụ hàng hóa thiết bị dụng cụ thể thao Đối tượng kinh doanh là các của hàng bán sỉ, lẻ

Ngành kinh doanh liên quan thể thao: ngành dịch vụ tiêu thụ thể thao;

Ngành truyền thông đại chúng thể thao; Ngành sản xuất thông tin thể thao; Ngành phục vụ tổ chức hành chính thể thao; Ngành phục vụ quản lý thể thao; Ngành kinh doanh cá cược thể thao mang tính hợp pháp; Ngành du lịch thể thao; Ngành truyền

bá văn minh thể thao Đối tượng kinh doanh: thiết bị thể thao, thiết bị thi đấu, trang phục, các loại giầy thể thao, các dụng cụ phòng chống chấn thương, thuốc

Để phát triển và quản lý ngành Kinh doanh thể thao trên thế giới, năm 1998

WTO công bố “Phân loại kinh tế thể thao” quy vào lĩnh vực giải trí bao gồm mã

ngành kinh doanh [41]: 965; 9651; 96510; 9652; 96520; 96590; 966; 9662; 96620

và các mã nhánh như: Dịch vụ tiêu dùng mã 44-46; Địa ốc mã 53; Phục vụ giáo dục

mã 61; Nghệ thuật giải trí và tổ chức thể thao, Thể thao nhà nghề mã 71; Dịch vụ khác mã 81

Trang 20

Ở nước ta đến giữa năm 2012, Bộ kế hoạch và Đầu tư mới công bố phân loại ngành nghề kinh doanh thể thao [99]: Giáo dục thể thao giải trí mã 8551 - 85510; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí mã R; Hoạt động cá cược và đánh bạc mã 92002; Hoạt động thể thao mã 931; Hoạt động các cơ sở thể thao mã 9311 - 93110; Hoạt động của các CLB thể thao ã 9312 - 93120; Hoạt động thể thao khác mã 9319 – 93190; Bán lẻ giầy dép và tài trợ mã 47823; Bán lẻ hàng may mặc chuyên dụng mã 47741; Bán lẻ hàng hóa, giải trí mã 476; Bán buôn dụng cụ TDTT mã 46498; và Bán buôn hàng may mặc mã 46413

Như vậy, trong các mã số kinh doanh TDTT nêu trên ở nước ta còn thiếu một

số mã ngành kinh doanh như: Môi giới thể thao, Truyền hình thể thao, Vật kỷ niệm thể thao, Đặt Cược thể thao, Công trình thể thao, Du lịch thể thao, Nhìn chung, bước đầu Nhà nước đã công nhận phân loại mã số kinh doanh của nhiều hạng mục

về TDTT cũng như sự chuyển biến về nhận thức đối với KTTT, mặc dù còn phát triển chậm so với một số nước Đông Nam Á

1.2 Sản phẩm, hàng hóa dịch vụ TDTT

1.2.1 Sản phẩm dịch vụ TDTT

Sản xuất xã hội phân hai loại, lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất phi vật chất, thành quả lao động của chúng khác nhau, sản xuất phi vật chất có nhiều loại, trong đó có sản phẩm dịch vụ TDTT [16],[21] Sản phẩm dịch vụ TDTT đa phần thuộc các dịch vụ văn hóa xã hội, sản phẩm được sản xuất ra trong lĩnh vực thể thao (thi đấu, biểu diễn, giải trí) là sản phẩm của ngành dịch vụ giải trí; dịch vụ truyền thông và dịch vụ luân chuyển nguồn nhân lực (VĐV, HLV chuyên nghiệp)

1.2.1.1 Phân loại sản phẩm dịch vụ TDTT

Sản phẩm dịch vụ TDTT có thể phân loại dựa trên nhiều cơ sở khác nhau [37]:

Theo hình thức xã hội: dịch vụ TDTT chia thành dịch vụ miễn phí (các giờ

học thể dục trong trường phổ thông ) và dịch vụ mất tiền (các giờ học ở CLB, trung tâm thể thao );

Theo động cơ sản xuất: dịch vụ TDTT có thể là thương mại (đem lại lợi

nhuận cho người sản xuất) và phi thương mại (các dịch vụ phúc lợi xã hội);

Trang 21

Theo hình thức sử dụng: dịch vụ TDTT chia thành các dịch vụ cá nhân

(những bài tập thể dục độc lập) và dịch vụ quần chúng (luyện tập TDTT tập thể);

Theo động cơ sử dụng: dịch vụ TDTT chia thành tư nhân (luyện tập thể thao

của một con người cụ thể tại một bể bơi ) và dịch vụ công (thuê bể bơi để tổ chức thi đấu thể thao )

Theo đặc điểm về nhu cầu: dịch vụ TDTT chia thành dịch vụ Giải trí (sự

hiện diện của một cá nhân ở một trận đấu để xem trực tiếp hoặc xem trên truyền hình); Tư vấn (tư lựa chọn môn thể thao phù hợp, phương pháp tập, thời lượng tập, dinh dưỡng, hồi phục ); Giáo dục (GDTC ở các trường tiểu học, phổ thông, trung cấp, cao đẳng và đại học); Giáo dục bổ trợ (luyện tập ở các trung tâm đào tạo, trường năng khiếu thể thao ); Môi giới trung gian (chuẩn bị thủ tục để xây dựng, thành lập hoặc giấy tờ cần thiết cho VĐV chuyên nghiệp); Thương mại (cổ phiếu,

xổ số và đặt cược thể thao); TDTT (cung cấp dịch vụ để luyện tập những bài tập thể dục và các môn thể thao mất tiền hoặc miễn phí)

Theo mức độ quan trọng của người sử dụng: dịch vụ TDTT chia thành

dịch vụ Cơ bản (luyện tập thể thao, thể dục trên nền tảng khoa học); Bổ trợ, hỗ trợ kèm theo (tập luyện TDTT kết hợp với mát xa, tắm hơi); Gắn liền (luyện tập thể thao gắn liền với chế độ dinh dưỡng )

Tổng hợp các cách phân loại trên thì dịch vụ TDTT được sản xuất và đưa vào phục vụ trong khuôn khổ gồm 8 hạng mục: (1) Khu dịch vụ vực dành cho thuê

để tổ chức thi đấu và luyện tập thể thao (trang thiết bị thể thao; sân bóng đá, sân quần vợt, bể bơi, nhà tập thể thao, nhà tập thể hình ); (2) Khu dịch vụ đáp ứng việc luyện tập và các môn thể thao (cá nhân, nhóm và các tổ chức tập thể, khu luyện tập thể thao dành cho người già, khu tập huấn trọng tài ); (3) Khu dịch vụ thể thao giải trí (giải bóng đá, giải quần vợt, biểu diễn và thi đấu, trò chơi giải trí và chơi một số môn thể thao, khai mạc và bế mạc các kỳ đại hội thể thao, lễ hội thể thao); (4) Dịch

vụ GDTC (thực tập sư phạm, chuyên môn và tổ chức của sinh viên TDTT, thực tập chuyên môn của các chuyên gia thể thao, các khóa học để nâng cao trình độ chuyên môn); (5) Dịch vụ y học thể thao (đáp ứng nhu cầu về sức khoẻ cho các trận thi đấu

Trang 22

thể thao, bác sỹ khám, chữa bệnh và nghiên cứu y học phục vụ cho VĐV); (6) Dịch

vụ vật chất TDTT (bán hàng hóa thể thao, quần áo, giầy, trang thiết bị thể thao, dịch

vụ ăn uống cho VĐV, chuyên gia và HLV); (7) Giải trí văn hóa (các buổi ca nhạc,

lễ hội) (8) Dịch vụ đi kèm (dịch vụ bảo hiểm cho VĐV, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ quảng cáo)

1.2.1.2 Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ TDTT

Sản phẩm dịch vụ TDTT không như sản phẩm vật chất Đây là loại sản phẩm

không định dạng bằng thể tích, độ dài, trọng lượng… mà ở dạng “cung ứng hoạt động” Do vậy, không thể tách hành vi sản xuất khỏi sản phẩm, quá trình sản xuất

kết thúc thì sản phẩm không còn tồn tại [16],[19],[20],[21] Quá trình sản xuất kết thúc (như kết thúc thi đấu), cũng đồng thời với kết thúc tiêu dùng (hết giá trị của tấm vé mua vào sân xem thi đấu) Sản phẩm dịch vụ TDTT khác biệt với sản phẩm dịch vụ tương tự, sản phẩm TDTT khác với sản phẩm giáo dục, sản phẩm văn hóa nghệ thuật, sản phẩm ý tế

Những đặc điểm của sản phẩm dịch vụ TDTT có liên quan chặt chẽ với việc tiêu thụ các dịch vụ vật chất (quảng cáo, sửa chữa các dụng cụ và trang thiết bị thể thao) và hàng hóa (quần áo thể thao, giầy, hàng hóa, dụng cụ thể thao ) Những dịch vụ vật chất và hàng hóa vừa nêu trên, bản thân nó không phải là sản phẩm trực tiếp của Ngành TDTT Nói cách khác, những dịch vụ văn hóa xã hội, dịch vụ vật chất và hàng hóa được tiêu thụ trong một hệ thống đồng bộ, thống nhất Nếu nhu cầu dịch vụ phi vật chất tăng lên thì sẽ kéo theo nhu cầu dịch vụ vật chất, hàng hóa tăng lên

1.2.2 Hàng hóa TDTT

Trong điều kiện kinh tế thị trường thì sản phẩm dịch vụ TDTT đương nhiên trở thành hàng hóa, nếu là dịch vụ công hoặc dịch vụ vì lợi nhuận phục vụ cộng đồng (không kể sản phẩm phục vụ cộng đồng không thu phí) Hàng hóa TDTT dùng

để trao đổi sản phẩm, dịch vụ TDTT, đây là biểu hiện quan hệ hợp tác giữa người lao động dịch vụ TDTT với những người lao động khác hoặc tiêu thụ sản phẩm

TDTT

Trang 23

Như vậy, khái niệm về hàng hoá TDTT là: “Những sản phẩm được cung ứng

ra thị trường tiến hành dưới hình thức mua bán, trao đổi giá cả nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội Tuy nhiên, bao hàm cả những sản phẩm dịch vụ phi vật chất Sự thoả mãn ở đây bao hàm cả những nhu cầu về thể chất, tinh thần Hàng hóa TDTT

là những sản phẩm, dịch vụ hoặc cả sản phẩm và dịch vụ được kết tinh trong sản phẩm

để thiết kế, sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng thể thao theo quy luật kinh tế” [77, tr.22]

1.2.2.1 Các yếu tố cấu thành hàng hóa TDTT

Kinh tế hàng hóa dựa vào thị trường, do thị trường điều phối, nguồn phân bố quyết định bởi cơ chế thị trường Trong điều kiện tồn tại mối quan hệ hàng hóa tiền

tệ, NTD TDTT muốn có được sản phẩm, dịch vụ TDTT, đương nhiên phải dùng tiền để mua Chính vì vậy, trong bối cảnh nền kinh tế hàng hóa là nguyên nhân cơ bản khiến sản phẩm dịch vụ TDTT cũng như nhiều sản phẩm vật chất, phi vật chất trở thành hàng hóa

Kinh doanh dịch vụ TDTT trở thành một bộ phận của hệ thống phân công của

xã hội cũng là nguyên nhân để sản phẩm, dịch vụ TDTT trở thành hàng hóa Giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu về TDTT là nguyên nhân trực tiếp để sản phẩm TDTT trở thành hàng hóa Nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng cao, nhu cầu về TDTT của nhân dân ngày càng lớn, nảy sinh mâu thuẫn giữa cung và cầu về TDTT, nếu như thiếu dịch vụ TDTT thì mâu thuẫn này không thể từng bước được giải tỏa Tác dụng mà sản phẩm TDTT trở thành hàng hóa có thể tóm tắt như sau:

Có thể cung cấp kinh phí để phát triển TDTT trong nền kinh tế thị trường, một bộ phận TDTT hoạt động theo phương thức dịch vụ (phục vụ có thu phí), khiến sản phẩm dịch vụ TDTT trở thành hàng hóa, có giá trị tiền tệ, để trao đổi dịch vụ với NTD, chắc sẽ có thêm nhiều kinh phí cho sự phát triển Sự nghiệp TDTT, giảm ngân sách của nhà nước cấp cho Ngành TDTT;

Có lợi cho việc khuyến khích tính tích cực trong hoạt động kinh doanh của các đơn vị cơ sở Tính tích cực được khơi dậy vì các đơn vị cơ sở TDTT thu được

Trang 24

lợi ích, như vậy khả năng tồn tại và sự phát triển mà các đơn vị cơ sở, tổ chức TDTT như các CLB TDTT quần chúng mới tồn tại và phát triển;

Hỗ trợ cho lộ trình kinh tế hóa TDTT, lộ trình này rất dài, nhưng vì TDTT không chỉ hoạt động nhờ NSNN mà là loại hoạt động sự nghiệp trong đó có hoạt động kinh tế

Vì vậy, theo phân tích như trên có thể xem TDTT là một bộ phận của kinh tế

đã trở thành quy luật phổ biến trên thế giới, mặc dù ở nhóm ngành kinh tế thứ ba, có liên quan phần nào đó tới nhóm ngành kinh tế thứ hai Kinh tế hóa TDTT để tạo thành nguồn kinh phí phát triển Sự nghiệp TDTT đồng thời góp phần tăng GDP cho quốc gia, có tác dụng tốt đối với xã hội

1.2.2.2 Nguyên nhân, điều kiện, đặc điểm để dịch vụ TDTT trở thành hàng hóa Nguyên nhân để dịch vụ TDTT trở thành hàng hóa: Hàng hóa TDTT cũng

giống như các loại hàng hóa khác, đều là hàng hóa lao động có giá trị và giá trị sử dụng Sản phẩm dịch vụ TDTT được trao đổi, trở thành đối tượng trao đổi, có mối quan hệ trao đổi và giá trị trao đổi với người tiêu thụ sản phẩm sẽ thành hàng hóa TDTT

Các điều kiện để dịch vụ TDTT trở thành hàng hóa: Thể chế quản lý phải

chuyển từ quản lý hàng hóa đơn thuần sang hình thức quản lý kinh doanh; Quản lý hàng hóa đơn thuần là kế hoạch tập trung không theo cơ chế thị trường, không quan tâm đến quản lý KTTT; Còn thể chế quản lý kinh doanh TDTT khiến TDTT phát triển phù hợp với kinh tế thị trường, có sự điều tiết của chính phủ, thể chế quản lý theo phương thức mới của chính phủ: [16],[20],[21]

Xây dựng hệ thống thị trường dịch vụ TDTT, muốn trao đổi hàng hóa nhất thiết phải có thị trường Hệ thống thị trường TDTT gồm nhiều loại tác động lẫn nhau;

Nghiên cứu phát triển thị trường TDTT thông qua điều tra khảo sát để phát triển thị trường TDTT một cách có ý thức kế hoạch;

Trang 25

Hình thành tổ chức thích hợp để quản lý KTTT và đào tạo bồi dưỡng nhân tài quản lý kinh doanh TDTT Đây là điều kiện quan trọng vì thiếu tổ chức, thiếu nhân tài quản lý về lĩnh vực này thì không thể phát triển kinh doanh TDTT

Đặc điểm để dịch vụ TDTT trở thành hàng hóa: Khác với hàng hóa vật chất,

hàng hóa TDTT có giá trị thưởng thức, nghệ thuật nhất định, quá trình sử dụng hàng hóa là quá trình tham gia của NTD TDTT Hàng hóa ở dạng phi vật chất nhưng lại đem đến cho NTD có thêm hướng tích cực, có thêm sức khỏe, tinh thần và rèn luyện thể chất

1.3 Nhu cầu tiêu dùng TDTT

1.3.1 Tiêu dùng TDTT

Khái niệm “Tiêu dùng” trong kinh tế nói chung là việc sử dụng những của cải

vật chất hoặc phi vật chất được sáng tạo ra trong quá trình sản xuất để thỏa mãn các nhu cầu của xã hội [77],[78] Những luận điểm quan trọng khi đề cập đến khái niệm tiêu dùng cần nhấn mạnh: Tiêu dùng không đơn giản là sử dụng một sản phẩm hoặc dịch vụ mà còn là cách thức NTD tự thể hiện mình; Khi nhu cầu được thỏa mãn, con người tạm dừng hoạt động tiêu dùng; Nhu cầu luôn là điểm khởi đầu và điểm kết thúc của tiêu dùng; Sản phẩm dịch vụ là phương tiện thỏa mãn nhu cầu và trở thành đối tượng hướng tới của tiêu dùng

Nghĩa hẹp của tiêu dùng TDTT là chỉ hành vi tiêu dùng cá nhân trực tiếp cho tiêu dùng TDTT như mua vé xem thi đấu; đóng tiền tập luyện TDTT tại các cơ sở dịch vụ; đóng tiền để được giảng dạy và huấn luyện; mua trang phục TDTT Theo nghĩa rộng của tiêu dùng TDTT là chỉ NTD phải chi phí tiền cho những sự kiện, hoạt động phụ kèm theo các hoạt động TDTT Ví dụ, NTD mua vé xem thi đấu bóng đá đồng thời phải chi phí thông qua con đường đi du lịch, chi phí ăn ở, giao thông Tiền đề của sản xuất là tiêu dùng, không có tiêu dùng thì sản xuất mất hết ý nghĩa và trở thành sản xuất không có mục đích [15],[16],[18],[20],[21] Có hai loại tiêu dùng:

Tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho đời sống: Tiêu dùng cho sản xuất

là sử dụng nguyên, nhiên, vật liệu để tạo ra sản phẩm dịch vụ nhằm mục đích kiếm

Trang 26

lời Tiêu dùng cho đời sống không chỉ thỏa mãn nhu cầu vật chất mà cả nhu cầu về tinh thần Tiêu dùng cho đời sống làm cho tiêu dùng sản xuất trở nên có ý nghĩa

Tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng tập thể: Tiêu dùng cá nhân là con người sử

dụng những của cải vật chất thuộc sở hữu cá nhân, hoặc sản phẩm vật chất do xã hội cung ứng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình Quy mô cơ cấu chất lượng và hiệu quả tiêu dùng TDTT sẽ quyết định quy mô cơ cấu, chất lượng và hiệu quả của thị trường và kinh doanh tài sản TDTT Thông thường, người ta sử dụng phương thức tính mức độ tiêu dùng TDTT như sau: Mức độ tiêu dùng TDTT bình quân của

xã hội; Mức độ tiêu dùng TDTT của các khu vực dân cư khác nhau; Mức độ tiêu dùng TDTT theo nhóm lứa tuổi, giới tính; Mức độ tiêu dùng TDTT theo trình độ văn hoá, theo mức thu nhập kinh tế

Như vậy, tiêu dùng TDTT là điều kiện để một bộ phận người dân tham gia hoạt động TDTT cũng là sự bảo đảm tồn tại và phát triển các hoạt động TDTT, là

cơ sở để xã hội phát triển thị trường hàng hóa tiêu dùng TDTT Lưu ý rằng tiêu dùng TDTT không phải là loại tiêu dùng bức thiết, đây là loại tiêu dùng tự nguyện, theo sở thích hứng thú Tiêu dùng TDTT là một bộ phận quan trọng của tiêu dùng trong đời sống hiện tại và cũng là một trong những nội dung cần nghiên cứu trong KTTT

1.3.2 Vị trí của tiêu dùng TDTT trong cơ cấu tiêu dùng của xã hội

Tiêu dùng xã hội bao gồm tiêu dùng sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh thần Tiêu dùng tập luyện TDTT là tiêu dùng nhằm hoàn thiện thể chất con người tăng cường sức khỏe, vui chơi giải trí tinh thần còn gọi là tiêu dùng không thiết yếu hay

là tiêu dùng thứ cấp Hoạt động tập luyện TDTT với khái niệm tiêu thụ trả tiền là phạm trù kinh tế, cho nên chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường và khi mức sống của con người đã dược nâng lên mức nhất định, họ sẵn sàng chi trả để có được

sự dịch vụ thỏa đáng Xét về vai trò, vị trí tiêu dùng tập luyện TDTT trong tiêu dùng đời sống xã hội với hàm ý phát triển thị trường dịch vụ TDTT trong một xã hội văn minh tiến bộ

Trang 27

Tiêu dùng tập luyện TDTT là một bộ phận cấu thành quan trọng trong cơ cấu tiêu dùng của xã hội để tăng cường sức khỏe, hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ con người Cùng với sự thành lập thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trình độ sản xuất xã hội không ngừng nâng cao, mức đời sống của người dân,

cơ cấu tiêu dùng, ý thức tiêu dùng và thói quen tiêu dùng cũng có những thay đổi rõ rệt Cùng với sự phát triển đó, lĩnh vực tiêu dùng tập luyện TDTT đã và đang không ngừng phát triển

Nếu không có sản xuất thì không có tiêu dùng nhưng không có tiêu dùng cũng không có sản xuất vì mất đi mục đích của sản xuất Sản xuất quyết định tiêu dùng, tiêu dùng là động cơ ngược lại của sản xuất, đó là nhận thức cơ bản trong kinh tế học Quan hệ tiêu dùng xã hội là một mặt quan trọng của quan hệ sản xuất xã hội Bởi vì, tiêu dùng khi nào cũng được xác định bởi mối quan hệ sản xuất nhất định Trình độ phát triển sức sản xuất xã hội càng cao, tốc độ phát triền kinh tế cao, sẽ kéo theo sự phát triển nhanh về nhu cầu tiêu dùng, phương thức tiêu dùng, cơ cấu tiêu dùng, sự phát triển của mức tiêu dùng Tiêu dùng xã hội có thể phân thành tiêu dùng cho đời sống cộng đồng (tập thể) và tiêu dùng cho đời sống cá nhân [15],[21] Tiêu dùng cho đời sống cá nhân có thể phân loại theo các góc độ khác nhau:

Từ góc độ thỏa mãn nhu cầu con người: có thể phân thành tiêu dùng để tồn

tại, tiêu dùng để phát triển và tiêu dùng để hưởng thụ

Từ góc độ hiệu quả và chức năng thỏa mãn nhu cầu: có thể phân thành tiêu

dùng cho ăn, ở, mặc…

Từ góc độ giá trị của hàng hóa: có thể phân thành hạng cấp thấp, hạng trung

bình, hạng cao cấp

Từ góc độ tính chất của nhu cầu con người: có thể phân thành tiêu dùng

dịch vụ, tiêu dùng tinh thần, tiêu dùng vật chất

Như vậy, ba mặt của tiêu dùng để tồn tại, để phát triển, để hưởng thụ khó

tách rời, chỉ có giới hạn tương đối và luôn biến động Tiêu dùng TDTT thuộc loại tiêu dùng để phát triển và để hưởng thụ Tiêu dùng TDTT là bộ phận quan trọng của tiêu dùng hưởng thụ và giải trí của xã hội Khi kinh tế của xã hội phát triển, thời

Trang 28

gian nhàn rỗi nhiều, thể thao giải trí đáp ứng sự đáp ứng sự phát triển này của xã hội, trở thành một loại trào lưu thời thượng

1.3.3 Đặc điểm của tiêu dùng TDTT

Một là, tiêu dùng TDTT phải có văn minh, lành mạnh, khoa học; Hai là, tiêu dùng TDTT tăng trưởng cùng với nhịp độ tăng trưởng sự thu nhập của cá nhân; Ba

là, mức độ biến đổi nhu cầu tiêu dùng TDTT tương đối hẹp; Bốn là, sự phát triển tiêu dùng TDTT có tính chu kỳ; Năm là, tiêu dùng TDTT ở các khu vực khác nhau

có sự khác biệt; Sáu là, thị trường tiêu dùng hàng hóa TDTT có ảnh hưởng đến nhu

cầu tiêu dùng [20],[21]

Như vậy, nhu cầu của con người đa dạng nhưng phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Nếu kinh tế chậm phát triển, cơ sở vật chất TDTT thiếu thốn, chắc chắn tiêu dùng TDTT của xã hội bị hạn chế Đối với cá thể, nếu mức thu nhập thấp, chắc chắn khó có thể hưởng thụ TDTT với mức tiêu dùng cao Tình trạng cung ứng hàng hóa TDTT trên thị trường đương nhiên ảnh hưởng lớn đến nhu cầu tiêu dùng TDTT của người dân Nếu thị trường phong phú nhiều chủng loại thì người dân có nhiều lựa chọn trong tiêu dùng TDTT

1.3.4 Loại hình, hiệu quả và các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu dùng TDTT

1.3.4.1 Loại hình tiêu dùng TDTT

Căn cứ chức năng khác nhau của hàng hóa tiêu dùng TDTT, người ta phân chia tiêu dùng làm một số loại: Tiêu dùng với hình thức thưởng thức (xem thi đấu…); Tiêu dùng với hình thức sản phẩm vật chất (dụng cụ, thiết bị, trang phục, sách, báo tạp chí…); Tiêu dùng với hình thức tham gia hoat động (tham gia tập luyện, giảng dạy, huấn luyện…) [16],[20],[21]

1.3.4.2 Hiệu quả tiêu dùng TDTT

Tiêu dùng TDTT là một loại hình đầu tư lành mạnh, nếu tiêu dùng cho ăn, mặc, ở thì mọi người không ai đánh giá sai nhưng với tiêu dùng TDTT thì một số người lại đắn đo cho rằng chưa hợp lý Những người này chưa hiểu biết đầu tư cho TDTT là loại đầu tư lành mạnh, đem lại sức khỏe, giải tỏa tinh thần mệt mỏi, đem lại vẻ đẹp cho cơ thể Ngay cả tiêu dùng cho thưởng thức thi đấu, biểu diễn thể thao,

Trang 29

chưa kể đến sự tiêu dùng liên quan tới tham gia hoạt động TDTT Chúng ta có thể phân tích thêm hiệu quả kinh tế xã hội của tiêu dùng TDTT [20],[21]:

Thứ nhất, tham gia hoạt động TDTT giúp cho người lao động tăng cường thể

lực, trí lực, tránh bệnh tật chung và bệnh nghề nghiệp, tăng cường hiệu quả sản xuất của người lao động, cũng tức là tăng hiệu suất lao động của toàn xã hội;

Thứ hai, tiêu dùng đối với những sản phẩm hàng hóa vật chất đi kèm tham gia

hoạt động TDTT bao gồm rất nhiều ngành hàng như: thiết bị dụng cụ, ẩm thực, trang phục, du lịch, thể thao giải trí, tư vấn sức khỏe, báo chí thể thao… có thể nói tiêu dùng TDTT giúp cho sự phát triển nhanh chóng của sản xuất các tư liệu tiêu dùng vật chất của TDTT;

Thứ ba, tiêu dùng TDTT nâng cao hiệu quả sử dụng sân bãi, nhà tập, thể thao; Thứ tư, tiêu dùng TDTT thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ TDTT khiến cho tinh

thần sảng khoái, tăng cường ý thức cạnh tranh, phối hợp đồng đội, giúp cho con người phát triển toàn diện;

Thứ năm, tiêu dùng TDTT giúp con người tăng cường ý thức, sự hiểu biết đối

với TDTT, góp phần tăng nhân khẩu TDTT và phong trào TDTT mang tính xã hội.;

Thứ sáu, tiêu dùng TDTT giúp cho xây dựng văn hóa tinh thần của một xã hội

văn minh, tăng niềm tự hào dân tộc và chủ nghĩa yêu nước

1.3.4.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới tiêu dùng TDTT

Tổng quan các tài liệu về xã hội học TDTT, kinh tế học TDTT cho thấy có bốn nhóm nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới sự tiêu dùng TDTT [20],[21],[79]: kinh tế, văn hóa xã hội, nghề nghiệp, tâm lý đời sống cá nhân, hoặc quy tụ theo các nhân tố chủ quan và khách quan biểu thị theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng TDTT

- Niềm tin

- Quan điểm

NTD TDTT

Trang 30

Do tiêu dùng TDTT mang tính hàng hóa, nên quan hệ được hình thành trong lĩnh vực tiêu dùng thể thao của người dân chủ yếu là quan hệ tiền tệ Trình độ tiêu dùng thể thao được hạn chế theo mức độ thu nhập của người dân, thu nhập lao động quy ra tiền tệ của người tiêu dùng ít hay nhiều quyết định trình độ tiêu dùng cá nhân, gia đình cũng như mức độ cải thiện đời sống Điều đó liên quan đến quyết định mức độ tiêu dùng thể thao cao hay thấp của người tiêu dùng Trong điều kiện giá cả sản phẩm tiêu dùng TDTT hiện nay, khi thu nhập tiền tệ của người tiêu dùng càng nhiều thì có thể mua được càng nhiều tư liệu tiêu dùng thể thao hoặc dịch vụ TDTT

Mức độ tiêu dùng TDTT chịu ảnh hưởng của trình độ phát triển kinh tế xã hội, đồng thời chịu ảnh hưởng của bối cảnh văn hóa xã hội, thói quen tiêu dùng truyền thống, ý thức tiêu dùng Tiêu dùng TDTT có mức độ cao ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, để ước lượng mức độ tiêu dùng TDTT có thể dựa vào một số chỉ số: Tổng giá trị tiêu dùng TDTT; Tổng tiêu dùng sản phẩm hàng hóa vật chất TDTT; Tổng tiêu dùng tư liệu phục vụ TDTT; Tổng thời gian dùng để tiêu dùng TDTT; Tổng thời gian nhàn rỗi Xu thế tăng trưởng tiêu dùng TDTT phụ thuộc nhiều vào chiến lược phát triển TDTT của mỗi quốc gia, đưa ra định hướng đúng về phát triển TDTT có liên quan tới tiêu dùng TDTT

Như vậy cho thấy, kinh tế - xã hội càng phát triển cao bao nhiêu thì nhu cầu tiêu dùng TDTT càng lớn bấy nhiêu Mức sống và chất lượng sống của xã hội càng được nâng cao thì nhu cầu hoạt động TDTT càng nhiều và đòi hỏi cung ứng dịch vụ TDTT càng lớn Vì thế, tiêu dùng TDTT đang trở thành nhu cầu quan trọng không thể thiếu được trong đời sống của con người hiện đại

1.4 Giá cả và quan hệ cung cầu hàng hóa dịch vụ TDTT

1.4.1 Giá cả hàng hóa dịch vụ TDTT

Quan hệ cung - cầu trong kinh tế thị trường không chỉ là mối quan hệ với nhau

mà còn ảnh hưởng tới giá: Khi cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị; Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị; Khi cung nhỏ hơn hơn cầu thì giá cả lớn hơn giá trị [28],[64] Nói chung, giá cả của hàng hóa xác định trên cơ sở giá trị nhưng trên

Trang 31

thị trường quan hệ giữa định lượng giá trị và giá trị của hàng hóa, dịch vụ TDTT có đặc điểm riêng Hàng hóa dịch vụ TDTT có một bộ phận ở dạng tâm thể và giải trí, hướng dẫn kỹ thuật chung,… Yếu tố quyết định chất lượng của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ TDTT liên quan đến giá trị, giá cả của hàng hóa cũng khó xác định, không như xác định chất lượng hàng hóa vật chất Đó là do hàng hóa dịch vụ TDTT mang tính lặp lại, tính phân tán và việc xác định hiệu quả cũng rất khó khăn Giá cả của hàng hóa TDTT tạm phân thành:

- Giá cả của hàng hóa thi đấu, biểu diễn thể thao;

- Giá vé vào xem thể thao và thưởng thức hoặc để tham gia tập luyện;

- Giá cả tư vấn hoặc hướng dẫn kỹ thuật phổ cập;

- Giá cả huấn luyện và giảng dạy cả y học trị liệu và y học hồi phục

Như vậy, xu thế chung là giá trị hàng hóa, dịch vụ TDTT rất khó xác định, nhiều biến động Cũng như giá trị hàng hóa vật chất, hàng hóa dịch vụ TDTT cũng cấu thành bởi các loại tư liệu tiêu hao trong quá trình sản xuất và giá trị mới sáng tạo trong quá trình sản xuất hàng hóa TDTT Thông thường trong điều kiện kinh doanh, giá cả hàng hóa TDTT được định giá bao gồm vốn, lợi nhuận và thuế Vốn

là cơ sở của giá cả hàng hóa TDTT, bộ phận chủ yếu cấu thành giá cả hàng hóa bao gồm mấy bộ phận: kinh phí thiết bị, dụng cụ trong quá trình sản xuất, kinh phí tiêu hao của cơ sở vật chất kỹ thuật, kinh phí duy trì tu bổ, kinh phí trả lương các bộ phận nhân viên, phúc lợi, quản lý phí,

Tóm lại, những nhân tố quyết định về các thương phẩm hoặc dịch vụ TDTT ngoài giá cả, còn có các nhân tố như điều kiện thu nhập của NTD, thị hiếu tiêu thụ, giá cả của các hàng hóa liên quan, dự toán của NTD về giá cả và thu nhập cũng là những nhân tố làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh TDTT

1.4.2 Mối quan hệ cung - cầu trong kinh doanh TDTT

Trong kinh tế nói đến cung và cầu là nói đến mối quan hệ có tính quy luật kinh tế [28],[43],[54],[61] Mối quan hệ cung và cầu vừa chịu sự tác động của giá

cả, vừa làm giá cả biến động xung quanh giá trị của hàng hóa Nếu cung nhỏ cầu thì

giá cả lên còn nếu cung lớn cầu thì giá cả xuống Mặc dù giá cả được biểu hiện

Trang 32

bằng giá trị tiền nhưng do quan hệ cung - cầu, giá cả thường tách khỏi giá trị và bị chi phối bởi quy luật cung - cầu

Trong lĩnh vực KTTT cũng vậy, bên cạnh hoạt động mang tính thương mại, còn có một loạt các hoạt động phi thương mại Ứng dụng quy luật cung - cầu trong kinh doanh dịch vụ TDTT để giải quyết mâu thuẫn giữa cung ứng dịch vụ của CLB TDTT với nhu cầu của NTD TDTT cần đáp ứng sự hài lòng cho họ có hiệu quả và toàn diện

Cung trong kinh doanh dịch vụ TDTT chính là số lượng các sản phẩm dịch vụ

mà các CLB TDTT cần đáp ứng cho NTD TDTT trong một khoảng thời gian nhất định Cung trong lĩnh vực dịch vụ TDTT liên quan trực tiếp đến số lượng các tổ chức TDTT khác nhau được sở hữu dịch vụ TDTT Trên thị trường dịch vụ TDTT diễn ra sự cạnh tranh giữa các CLB cung ứng dịch vụ cũng như sự cạnh tranh với các ngành dịch vụ khác về khai thác thời gian rảnh rỗi và phương tiện của NTD TDTT

Cầu trong kinh doanh dịch vụ TDTT là nhu cầu tiêu dùng dịch vụ trên thị

trường, giới hạn bởi giá cả và khả năng thanh toán của người tiêu thụ Đối với nhu cầu TDTT còn phụ thuộc vào các nhân tố khác nhau: kinh tế, xã hội, nhu cầu tiêu dùng thương phẩm, điều kiện giá cả của hàng hóa dịch vụ TDTT, mức độ thu nhập,

sở thích cá nhân, thời gian nhàn rỗi

Sự cân bằng giữa cung và cầu giữa thị trường của người mua (NTD TDTT)

và thị trường của người bán (CLB TDTT) có đặc điểm là một nhu cầu đầy đủ, có nghĩa là thị trường các dịch vụ của CLB TDTT cân bằng khi CLB TDTT bằng lòng với kết quả làm việc (lợi nhuận hoặc phúc lợi xã hội) của mình, còn NTD bằng lòng với các loại hình dịch vụ và chất lượng dịch vụ đó cung ứng

Cung - cầu trong kinh doanh dịch vụ TDTT không chỉ có mối quan hệ với

nhau mà cũng ảnh hưởng tới giá cả Cung và cầu trong kinh tế nói chung có thể xét

ở góc độ vi mô hoặc vĩ mô đối với một mặt hàng, một nhóm ngành hàng hay toàn

bộ hàng hóa và dịch vụ vừa là nhân tố chi phí giá cả nhưng cung và cầu chịu sự tác động của giá cả Nói chung cũng giống như các ngành kinh tế khác, giá cả hàng hóa

Trang 33

TDTT tăng thì nhu cầu TDTT giảm và ngược lại, giá cả giảm thì nhu cầu tăng Nói chung, nhu cầu và giá cả hàng hóa có mối tương quan nghịch với nhau Giá cả hàng hóa càng đắt thì nhu cầu tiêu dùng nó càng nhỏ, ngược lại hàng hóa càng rẻ thì lượng nhu cầu càng lớn [21],[28] Giá cả và nhu cầu về hàng hóa TDTT nói chung mối quan hệ giữa chúng là tỷ lệ nghịch Đặc biệt là TDTT quần chúng, khi giá cả hàng hóa TDTT và dịch vụ TDTT tăng cao, lượng nhu cầu sẽ giảm thấp, còn khi giá

cả giảm thì lượng nhu cầu sẽ tăng lên Ngoài ra còn một số nhân tố khác ảnh hưởng tới nhu cầu hàng hóa TDTT:

Thứ nhất, là mức thu nhập của người dân: mức thu nhập của nhân dân càng

cao thì nhu cầu hàng hóa TDTT càng tăng lên Nói cách khác khối lượng nhu cầu hàng TDTT cũng là hàm số của mức thu nhập đồng thời là hàm số tăng của thu nhập.Mức thu nhập của khách hàng càng tăng do đó nhu cầu tiêu dùng của họ càng phong phú Mục tiêu họ hướng đến là giá cả, chất lượng sản phẩm, phương thức cung cấp hàng hóa và dịch vụ tiện ích Lượng nhu cầu về một loại hàng hóa nào đó còn bị hạn chế bởi dự toán của NTD TDTT Đối với phần lớn các loại hàng hóa, khi thu nhập của NTD TDTT được nâng cao sẽ làm tăng lượng nhu cầu về hàng hóa, còn khi thu nhập giảm sẽ kéo theo sự suy giảm nhu cầu về hàng hóa Nhu cầu tiêu dùng TDTT có mối quan hệ tỷ lệ thuận với thu nhập của NTD TDTT Khi thu nhập của người dân càng cao thì sẽ làm gia tăng tiêu dùng các dịch vụ TDTT Vì thế tăng thu nhập của dân cư mới có thể làm gia tăng sự tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ TDTT Mức độ thu nhập của NTD TDTT càng cao, mới có thể kéo theo sự gia tăng

tỷ lệ tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ TDTT khác và ngược lại

Thứ hai, thời gian nhàn rỗi của người dân: Cùng với sự phát triển xã hội,

quan niệm tiêu thụ TDTT của con người cũng biến đổi không ngừng Thể thao giải trí xuất hiện ở các nước phát triển có đời sống kinh tế cao, thời gian nhàn rỗi khá dồi dào dẫn đến nhu cầu tiêu thụ TDTT tương đối lớn Hoạt động tiêu thụ TDTT thông thường phải tiêu phí nhất định về thể lực và thời gian Vì thế, thời gian nhàn rỗi cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới sự biến động lượng nhu cầu tiêu thụ TDTT Nhu cầu tiêu dùng TDTT có quan hệ tỷ lệ thuận với thời gian

Trang 34

rỗi Thời gian nhàn rỗi càng nhiều thì nhu cầu tiêu thụ TDTT càng tăng, ngược lại

thời gian nhàn rỗi ít, nhu cầu tiêu thụ TDTT sẽ giảm

Thứ ba, xây dựng cơ sở vật chất TDTT: Đây là nhân tố ảnh hưởng đến nhu

cầu hàng hóa TDTT không thể bỏ qua Nếu xây dựng cơ sở vật chất TDTT tăng mà các điều kiện khác không đổi thì đáp ứng nhu cầu TDTT của người dân được nhiều hơn Ngoài ra, trình độ văn hóa cũng là nhân tố ảnh hưởng nhất định đến tính tích cực hoạt động TDTT của nhân dân ảnh hưởng đến nhu cầu TDTT

Như vậy, nhu cầu tiêu dùng TDTT là một bộ phận cấu thành quan trọng trong nhu cầu sinh hoạt hiện đại và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau Thời gian nhàn rỗi của nhân dân cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến nhu cầu TDTT cả miễn phí và có thu phí Nhìn chung, thời gian nhàn rỗi của nhân dân càng

nhiều hơn thì nhu cầu TDTT càng tăng lên Chúng ta thấy rằng cạnh tranh, cung cầu, giá cả và giá trị là những yếu tố luôn đi liền với nhau và cùng tác động đến sản

xuất và lưu thông hàng hóa TDTT Dựa trên cơ sở lý luận về nội dung kinh tế có liên quan kinh doanh TDTT cho thấy, TDTT vừa là một lĩnh vực hoạt động độc lập vừa một bộ phận của nền kinh tế quốc dân bao gồm tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ, sử dụng các sản phẩm hàng hóa dịch vụ,v.v đều có liên quan đến TDTT Giữa chúng có mối quan hệ vô cùng mật thiết giữa thể thao và kinh tế,

đã chỉ ra mối tương quan giữa sự phát triển kinh tế với sự phát triển của thể thao và ngược lại

Tóm lại, từ những phân tích và tổng hợp nêu trên cho thấy mọi người khác nhau về nhu cầu, mức độ thu nhập cũng khác nhau nên trên thực tế thị trường dịch

vụ TDTT có một mô hình phức tạp từ những dịch vụ riêng lẻ Có thể nói rằng các phần đơn lẻ của các dịch vụ thị trường TDTT liên kết những NTD TDTT giống nhau về nhu cầu hoặc bằng nhau về mức độ thu nhập Vì thế, các nhà quản lý CLB TDTT phải thường xuyên nghiên cứu nhu cầu thị hiếu, sở thích của NTD TDTT, dự đóan sự thay đổi của họ, phát hiện các nhu cầu mới , để cải thiện chất lượng dịch

vụ, hình thức cung ứng cho phù hợp đồng thời phải quảng cáo để kích thích nhu cầu của NTD TDTT

Trang 35

1.5 Thị trường, tiêu thụ và marketing sản phẩm dịch vụ TDTT

1.5.1 Thị trường dịch vụ TDTT

Tiêu thụ dịch vụ TDTT là giai đoạn quan trọng của tái sản xuất dịch vụ TDTT để trở thành thị trường dịch vụ TDTT Không có tiêu thụ TDTT thì không phát triển sự nghiệp TDTT Tiêu thụ dịch vụ TDTT có mối quan hệ chặt chẽ giữa người cung ứng dịch vụ và người tiêu dùng dịch vụ theo cơ chế trao đổi giá trị mà

cả người bán (cung ứng dịch vụ) lẫn người mua (tiêu dùng dịch vụ) đều hưởng lợi

Thị trường tiêu dùng dịch vụ TDTT bắt nguồn từ nhu cầu của con người được vui chơi giải trí, tăng cường sức khỏe, giao lưu xã hội, ngày một mở rộng Thị trường dịch vụ TDTT là bộ phận quan trọng, là nền tảng của thị trường dịch vụ tiêu dùng TDTT nói chung và là bộ phận của thị trường tiêu dùng đời sống Thị trường dịch vụ TDTT có quan hệ tương tác với các thị trường TDTT khác như thị trường dịch vụ thi đấu thể thao, thị trường xem thưởng thức thể thao, thị trường cung ứng sản phẩm vật thể thể thao (công trình vật chất, kỹ thuật, thiết bị thể thao), thị trường truyền thông thể thao, trên cơ sở đó từng bước hình thành KTTT [15],[20],[21] Thị

trường thể thao được định nghĩa là: “Bất kỳ khung cảnh nào mà ở đó diễn ra việc mua và bán các loại hàng hóa, dịch vụ, thể hiện toàn bộ những quan hệ kinh tế về mặt giá trị và cung cầu trong lãnh vực trao đổi và tiêu thụ hàng hóa” [21, tr 299]

Như vậy, muốn trao đổi sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ TDTT nhất thiết phải có thị trường Muốn tiêu thụ TDTT cũng phải thông qua thị trường mới được NTD tiêu thụ Ngược lại, NTD cũng phải thông qua thị trường thì mới thực hiện được quá trình tiêu thụ Sản phẩm TDTT rất phong phú và đa dạng, vì thế việc phân loại thị trường TDTT cũng phức tạp, thị trường thể thao xuất hiện dưới các hình thức sau:

Trang 36

3 Thị trường xem thi đấu, biểu diễn thể

thao

Thể thao nhà nghề, TTGT, thưởng thức thi đấu bóng đá, bóng chuyền, vũ đạo thể thao, khiêu vũ thể thao

5 Thị trường tập huấn thể thao Huấn luyện, giảng dạy, bồi dưỡng nghiệp

8 Thị trường du lịch thể thao Đua xe, dù bay, du lịch thể thao kết hợp thi

đấu thể thao quy mô lớn

9 Thị trường xổ số cá cược TT

10 Thị trường môi giới thể thao Chuyển nhượng cầu thủ (nhân lực thể thao

hay lao động thể thao)

11 Thị trường truyền thông thể thao Quảng cáo và tuyên truyền các hoạt động

về TDTT, bản quyền truyền hình

Tóm lại, muốn trao đổi hàng hóa nhất thiết phải có thị trường, hệ thống thị trường TDTT gồm nhiều loại tác động lẫn nhau Nghiên cứu phát triển thị trường TDTT thông qua điều tra khảo sát để phát triển thị trường TDTT một cách có ý thức, có kế hoạch Hình thành tổ chức thích hợp để quản lý KTTT và đào tạo bồi dưỡng nhân tài quản lý kinh doanh TDTT Đây là điều kiện quan trọng để các nhà quản lý các CLB TDTT nghiên cứu vì thiếu người chuyên nghiệp quản lý về lĩnh vực này thì không thể phát triển kinh doanh TDTT nói riêng và KTTT nói chung

1.5.2 Tiêu thụ sản phẩm dịch vụ TDTT

Đây là vấn đề rất quan trọng đối với các nhà quản lý CLB TDTT trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay Tiêu thụ hay không tiêu thụ được sản phẩm, quyết định sự tồn tại hay không tồn tại sự phát triển hay không phát triển của CLB Có người tiêu thụ thì các CLB TDTT kinh doanh mới có điều kiện bù đắp hoặc tái sản xuất được toàn bộ chi phí đã chi ra trong quá trình vận hành, đảm bảo quá trình phát triển và tồn tại của CLB Mặt khác thông qua tiêu thụ sản phẩm dịch vụ TDTT thì mới có thể thực hiện được giá trị lao động thặng dư, nghĩa là thu được lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh

Trang 37

Tiêu thụ TDTT là khái niệm thuộc phạm trù kinh tế xã hội, chỉ việc sử dụng của cải vật chất và phi vật chất để thỏa mãn nhu cầu của NTD Tiêu thụ TDTT cho

đời sống cá nhân vô cùng đa dạng: “Tiêu thụ để đáp ứng sinh tồn, tiêu thụ để đáp ứng nhu cầu phát triển, tiêu thụ để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ ".[21, tr 286] Như

vậy, tiêu thụ sản phẩm dịch vụ TDTT là cầu nối giữa người cung cấp và NTD, là

thước đo đánh giá độ tin cậy, sự hài lòng của NTD đối với người cung cấp dịch vụ

Qua hoạt động tiêu thụ sản phẩm dịch vụ, NTD và người cung cấp dịch vụ gần gũi nhau hơn, tìm ra được phương thức đáp ứng nhu cầu tốt hơn, từ đó giúp CLB TDTT

có lợi nhuận cao hơn Mặt khác, khi đề cập đến các kết quả các hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ của các nhà quản lý CLB, bao giờ cũng phải đề cập đồng thời cả

hai mặt: kết quả của việc thực hiện các chỉ tiêu thuộc về số lượng và chất lượng

Hai mặt này gắn bó mật thiết với nhau và tác động qua lại lẫn nhau Sản phẩm TDTT rất đa dạng bao gồm sản phẩm vật chất và phi vật chất:

Loại sản phẩm vật chất: Hoạt động thi đấu thể thao; huấn luyện; tập luyện;

giải trí; sân bãi, công trình, thiết bị, truyền thông, nước uống thể thao… Các loại sản phẩm này có giá trị tiền tệ, được gọi là hàng hóa thể thao

Loại sản phẩm phi vật chất: Kế hoạch huấn luyện; bài tập, lượng vận động,

sức khỏe; giải trí… Các sản phẩm này không được xác định giá trị tiền tệ nên không phải là hàng hóa thể thao

Các nhà quản lý CLB TDTT muốn kinh doanh có hiệu quả bao giờ cũng phải hoàn thành tốt đồng thời hai nhiệm vụ đó là cung ứng dịch vụ (các hoạt động thể thao, chất lượng dịch vụ, hàng hóa thể thao…) và tiêu thụ sản phẩm (dịch vụ thể thao) Tiêu thụ sản phẩm dịch vụ TDTT là khâu lưu thông hàng hóa, là cầu nối trung gian giữa một bên là các CLB TDTT phân phối với một bên là tiêu dùng thể thao Trong quá trình tuần hoàn các nguồn vật chất, việc mua và bán được thực hiện Giữa cung ứng và tiêu thụ, nó quyết định bản chất của hoạt động lưu thông và thương mại đầu vào (cung cấp dịch vụ), thương mại đầu ra (tiêu thụ dịch vụ) của CLB Như vậy, tiêu thụ sản phẩm dịch vụ thể thao là tổng thể các biện pháp về tổ

Trang 38

chức kinh tế và kế hoạch nhằm thực hiện việc nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu thị trường

từ thị trường đó Như vậy, Marketing thể thao là: “Quá trình thiết kế và thực hiện các hoạt động sản xuất, định giá, chiêu thị và phân phối một sản phẩm thể thao hay sản phẩm kinh doanh thể thao để thoả mãn nhu cầu hay mong muốn của khách hàng và để đạt được mục tiêu của công ty” (Pitts and Stotlar, 2002) Sản phẩm dịch

vụ trong lĩnh vực thể thao rất đa dạng, do đó tính phức tạp của marketing như là một loại marketing hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, nhân vật biểu hiện rất rõ nét:

Marketing hàng hóa thể thao: là một sản phẩm vật chất được đưa ra thị

trường với mục đích mua bán, sử dụng hoặc tiêu dùng như: giày thể thao, quần áo thể thao, thiết bị thể thao

Marketing các dịch vụ thể thao: là các biện pháp hoặc lợi ích nào đó khi vật

chất mà phía người bán (CLB TDTT) có thể cung cấp cho người mua (NTD TDTT) các dịch vụ được cung cấp dưới dạng hoạt động như: trình diễn tư vấn, tập luyện, cho thuê trang phục thể thao

Marketing tổ chức thể thao: là đánh giá hình ảnh của tổ chức đang có và vạch

ra kế hoạch để hoàn thiện hình ảnh đó

Marketing VĐV và chuyên gia: đó là sự danh tiếng, duy trì hoặc thay đổi

quan điểm với những nhân vật cụ thể, VĐV

Marketing địa điểm thi đấu thể thao: là hoạt động “thị trường” để giành

quyền tổ chức các cuộc thi đấu thể thao lớn

Trang 39

Marketing ý tưởng: đó là marketing xã hội, soạn thảo, thực hiện, kiểm tra

chương trình

Nhà nghiên cứu Marketing thể thao người Đức W Freyer đã hoàn chỉnh và cụ

thể hóa khái niệm maketing trong thể thao là: “Ứng dụng phương pháp marketing kinh tế vào các tổ chức thể thao; quản lý các CLB thể thao Trong đó không bao giờ quên đặc điểm của thể thao, các mục đích phi thương mại, hoạt động tự nguyện…”

[52, tr.12]

Bảng 1.4 Sự khác biệt giữa marketing thương mại và phi thương mại [52]

Như vậy, một bộ phận của TDTT chỉ đơn thuần mang lại giá trị cao về sức khoẻ, về văn hoá, xã hội, không trực tiếp có giá trị tiền tệ, tồn tại lâu dài trong xã hội nhưng không phải là hàng hoá, tài sản TDTT Vì bộ phận này không tham gia vào thị trường TDTT thì được coi là hoạt động sự nghiệp phúc lợi công cộng của TDTT Sản phẩm dịch vụ hoặc cả sản phẩm và dịch vụ được kết tinh trong sản phẩm

để thiết kế, sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu NTD thể thao theo quy luật kinh tế được cung ứng ra thị trường tiến hành dưới hình thức mua bán, trao đổi, giá cả nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội

Tóm lại, KTTT đó là sự tổng hòa của hoạt động kinh tế trong lĩnh vực thể thao với mối quan hệ kinh tế nói chung Đây là lĩnh vực tiêu dùng của nền kinh tế quốc dân cung ứng dịch vụ cho xã hội, tồn tại hoạt động kinh tế sản xuất ra hàng hóa

MAKETING

Liên quan đến hàng hóa thể thao, các dịch

vụ phải trả tiền, các nhân vật, liên quan:

lãnh thổ và ý tưởng

Liên quan đến các tổ chức thể thao, nhà nước cũng như các dịch vụ không phải trả tiền

Mục đích thường là tiêu thụ hàng hóa thể

thao và các dịch vụ phải trả tiền thu lợi

nhuận

Mục đích nâng cao trình độ phát triển thể lực của nhân dân

Liên quan đến chi phí NTD Liên quan việc trợ cấp, kể cả nhà nước và

tư nhân, cơ quan bảo trợ

Có định hướng chỉ phục vụ khu vực đem lại

lợi nhuận của thị trường

Có thể không đem lại lợi ích kinh tế của thị trường

Có một loại khách hàng đó là NTD những

giá trị thể thao

Có hai loại khách hàng, NTD các giá trị thể thao và người bảo trợ

Trang 40

TDTT, trao đổi, phân phối, tiêu dùng và các khâu tương ứng Sản xuất hàng hóa TDTT là quá trình cung ứng sản phẩm dưới hình thức thi đấu, biểu diễn, khai thác

và sử dụng sân bãi Tiêu dùng hàng hóa TDTT nhờ quá trình mà người tiêu thụ chi phí, được hưởng thụ dịch vụ TDTT như tham gia vào câu lạc bộ sức khỏe, giải trí, thưởng thức thi đấu, biểu diễn TDTT,… Trao đổi sản phẩm, hàng hóa TDTT là sự trao đổi giữa người sản xuất và người tiêu thụ sản phẩm Những vấn đề nêu trên đã phản ảnh mối quan hệ kinh tế thống nhất giữa sản xuất, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm TDTT

1.6 Khái quát chủ trương xã hội hóa TDTT và các loại hình kinh doanh dịch

vụ TDTT ở nước ta

1.6.1 Khái quát chủ trương xã hội hóa TDTT của Đảng và Nhà nước

Kinh tế nói chung và kinh doanh TDTT nói riêng là một xu hướng quan trọng để thực hiện chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực TDTT, chuyển sự nghiệp TDTT ở nước ta từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN Quan điểm xã hội hóa TDTT của Đảng nhằm huy động tiềm năng to lớn của nhân dân để cùng Nhà nước xây dựng một nền TDTT xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lý của Nhà nước và phục vụ lợi ích của nhân dân lao động Đây

có thể coi là chủ trương là điểm tựa đưa TDTT nước ta vận hành trong cơ chế thị trường:

Với mục đích: Nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng công trình

TDTT, nâng cao chất lượng các hoạt động TDTT phù hợp với đối tượng, và nhu cầu của nhân dân; Đổi mới cơ chế tổ chức các hoạt động; khai thác triệt để công trình TDTT hiện có, nhằm thu hút và tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thường xuyên tập luyện TDTT, sinh hoạt hưởng thụ văn hóa và vui chơi giải trí; Phát huy vai trò quản lý nhà nước của Ngành TDTT và năng lực tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở quản lý, sử dụng công trình TDTT

Với quan điểm: Quản lý và sử dụng công trình TDTT phải đạt hiệu quả, phát

huy tối đa công năng thiết kế cho hoạt động TDTT; Góp phần tổ chức các hoạt động

Ngày đăng: 26/08/2015, 16:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh
Sơ đồ (Trang 7)
Hình Tự hạch toán). Cụ thể theo sơ đồ sau: - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh
nh Tự hạch toán). Cụ thể theo sơ đồ sau: (Trang 48)
Bảng 1.5  Quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp TDTT Tiêu chí - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh
Bảng 1.5 Quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp TDTT Tiêu chí (Trang 50)
Sơ đồ 2.1 Mô hình xây dựng thang đo chất lƣợng TDTT - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh
Sơ đồ 2.1 Mô hình xây dựng thang đo chất lƣợng TDTT (Trang 60)
Sơ đồ 3.1 Mô hình khoảng cách chất lƣợng dịch vụ TDTT - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh
Sơ đồ 3.1 Mô hình khoảng cách chất lƣợng dịch vụ TDTT (Trang 68)
Sơ đồ 3.2: Tiêu chí đánh giá chất lƣợng dịch vụ - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh
Sơ đồ 3.2 Tiêu chí đánh giá chất lƣợng dịch vụ (Trang 70)
Sơ đồ 3.3 Mô hình nhận thức của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ và sự hài lòng - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh
Sơ đồ 3.3 Mô hình nhận thức của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ và sự hài lòng (Trang 71)
Sơ đồ 3.4:  Mô hình thang đo lường chất lượng dịch vụ TDTT - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh
Sơ đồ 3.4 Mô hình thang đo lường chất lượng dịch vụ TDTT (Trang 73)
Sơ đồ 3.6: Mô hình thang đo lường chất lượng dịch vụ TDTT giả thuyết - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh
Sơ đồ 3.6 Mô hình thang đo lường chất lượng dịch vụ TDTT giả thuyết (Trang 74)
Bảng 3.5 Đặc điểm nhân khẩu học của NTD TDTT (n = 1000) - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.5 Đặc điểm nhân khẩu học của NTD TDTT (n = 1000) (Trang 84)
Sơ đồ 3.8 Mô hình thang đo lường chất lượng dịch vụ TDTT hiệu chỉnh lần 2 - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh
Sơ đồ 3.8 Mô hình thang đo lường chất lượng dịch vụ TDTT hiệu chỉnh lần 2 (Trang 117)
Bảng 3.19  Kết quả các thông số thống kê của từng biến trong phương trình - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.19 Kết quả các thông số thống kê của từng biến trong phương trình (Trang 119)
Sơ đồ 3.10: Mô hình các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ TDTT - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh
Sơ đồ 3.10 Mô hình các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ TDTT (Trang 134)
Bảng 3.28  Kết quả phân tích hệ số tương quan của các giải pháp - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.28 Kết quả phân tích hệ số tương quan của các giải pháp (Trang 137)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w