MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Từ thực tế triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa của ngành truyền hình cho thấy, mục tiêu thu hút nguồn lực xã hội theo hình thức xã hội hóa để ph
Trang 1Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng và định hướng phát triển
Abstract: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động xã hội hóa nói chung và xã hội
hóa truyền hình nói riêng Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất chương trình truyền hình có yếu tố xã hội hóa của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh Xác định giải pháp và định hướng phát triển xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình của Đài Truyền hình Thành phố
Hồ Chí Minh
Keywords: Báo chí học; Sản xuất chương trình; Phương tiện truyền thông; Truyền hình
Content:
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH 11
1.1 Chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí 11
1.1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng về xã hội hóa 11
1.1.2 Hệ thống văn bản quản lý Nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí 14
1.2 Khái niệm xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình 18
1.3 Tổng quan về thực tiễn hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình tại Việt Nam 20
1.4 Một số yếu tố nền tảng cho hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 24
1.4.1 Điều kiện phát triển kinh tế xã hội, dân số, mức tiêu thụ của người dân thành phố 24
1.4.2 Hệ thống văn bản quản lý hoạt động xã hội hóa và xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 29
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 33
2.1 Lược sử Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và lịch sử hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài 33
Trang 32.1.2 Các chương trình xã hội hóa đầu tiên của Đài Truyền hình thành
phố Hồ Chí Minh 35
2.1.3 Thành công và bất cập của các chương trình xã hội hóa trong giai đoạn đầu 39
2.2 Khảo sát các chương trình xã hội hóa hiện nay ở Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 40
2.2.1 Số lượng, tỷ lệ các chương trình, tiết mục xã hội hóa và không xã hội hóa trên kênh HTV9 và kênh HTV7 40
2.2.2 Thời gian phát sóng các chương trình có yếu tố xã hội hóa 43
2.2.3 Nội dung của các chương trình có yếu tố xã hội hóa 48
2.2.4 Tuổi thọ của các chương trình có yếu tố xã hội hóa 54
2.3 Các phương thức liên kết sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa 60
2.4 Qui trình sản xuất và quản lý nội dung các chương trình có yếu tố xã hội hóa 63
Tiểu kết chương 2 66
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TẠI ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 68
3.1 Thành công và một số bất cập của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình 68
3.1.1 Thành công của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình 68
3.1.2 Một số bất cập của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình 73
3.2 Định hướng phát triển hoạt động xã hội hóa của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 80
3.3 Giải pháp và đề xuất phát triển hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 81
3.3.1 Thay đổi nhận thức, thái độ về xã hội hóa, về vai trò của công ty truyền thông và khán giả truyền hình 82
Trang 43.3.3 Đổi mới bộ máy, phương thức tổ chức, quản lý và sử dụng nguồn
nhân lực 86
3.3.4 Hoàn thiện cơ chế, chính sách, chế độ tài chính 88
Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHẦN PHỤ LỤC 98
Phụ lục 01: Sơ đồ tổ chức bộ máy hiện nay của Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 99
Phụ lục 02: KẾT QUẢ KHẢO SÁT NHU CẦU - THỊ HIẾU KHÁN GIẢ CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (HTV) THÁNG 11/2012 100
Trang 5MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Từ thực tế triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa của ngành truyền hình cho thấy, mục tiêu thu hút nguồn lực xã hội theo hình thức xã hội hóa để phát triển sự nghiệp là chủ trương đúng, phù hợp với công cuộc đổi mới và hội nhập, đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần ngày càng cao và đa dạng của khán giả truyền hình.Đứng trước yêu cầu tự đổi mới để phát triển hệ thống truyền hình theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và nâng cao chất lượng chương trình, lãnh đạo các Đài Truyền hình đã chủ động thay đổi nhận thức, tư duy bao cấp, vận dụng chính sách mới về xã hội hóa vào quá trình sản xuất theo hướng tự tìm tòi, mạnh dạn thực hiện những mô hình hoạt động liên kết mới mang lại hiệu quả cao hơn Theo đánh giá chung, hệ thống truyền hình phát triển nhanh về số lượng kênh, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính được tăng cường, xu hướng xã hội hóa, liên kết sản xuất kênh, chương trình vẫn đang tiếp tục phát triển nhanh trên chiều rộng, đa dạng về hình thức trong toàn
hệ thống truyền hình
Tuy nhiên, song song với những hiệu quả tích cực nêu trên, quá trình thực hiện chủ trương xã hội hóa, liên kết sản xuất kênh, chương trình truyền hình đã bắt đầu bộc lộ rõ nét hơn một số vấn đề bất cập Những vấn đề nảy sinh cần được quan tâm, nghiên cứu, giải quyết một cách toàn diện, thấu đáo chính là mối quan hệ giữa tăng trưởng doanh thu và chức năng, nhiệm vụ chính trị của Đài Truyền hình; mối quan hệ giữa vai trò, trách nhiệm của Đài Truyền hình và các công ty truyền thông tư nhân trong quá trình liên kết, hợp tác sản xuất; mối quan hệ tác động giữa Đài Truyền hình, công ty truyền
Trang 6thông tư nhân và công chúng liên quan đến công tác quản lý và định hướng nội dung… Đây là những vấn đề khó, liên quan đến lý luận và thực tiễn, liên quan đến định hướng, mô hình phát triển, phương thức hoạt động cụ thể được qui định cho từng chủ thể tham gia xã hội hóa Ngoài ra, công tác quản lý nói chung cũng như việc ban hành các văn bản qui phạm pháp luật vẫn chưa theo kịp hoặc chậm so với sự phát triển nhanh của xu thế xã hội hóa Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến
sự lúng túng trong công tác chỉ đạo, quản lý, khả năng chệch hướng trong việc xác định nhiệm vụ chính trị và lợi ích kinh tế Thực tế cho thấy, hiệu quả kinh tế mang lại chỉ là một khía cạnh của vấn đề và còn rất nhiều câu hỏi đang đặt ra, cần được nghiên cứu, xem xét như:
Mô hình, phương thức hợp tác nào phù hợp trong giai đoạn phát triển sắp tới? Những lĩnh vực, chương trình nào của truyền hình có thể thực hiện xã hội hóa hay không thể thực hiện xã hội hóa? Các công đoạn nào có thể xã hội hóa trong qui trình hợp tác sản xuất? Làm thế nào vừa đảm bảo tăng doanh thu, vừa đảm bảo định hướng nhiệm vụ chính trị? Những mâu thuẫn nào cần giải quyết trong thực tế hợp tác?
Có lẽ câu trả lời chỉ có thể xuất phát từ việc phân tích sâu sắc thực tiễn hoạt động, qui trình hợp tác sản xuất chương trình cụ thể
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong vòng 5 năm trở lại đây đã xuất hiện nhiều ý kiến, bài viết và công trình nghiên cứu khoa học ở nhiều cấp độ khác nhau về hoạt động xã hội hóa nói chung và xã hội hóa sản xuất chương trình nói riêng Tuy nhiên, đa số các ý kiến trên các phương tiện truyền thông về xã hội hóa chỉ tập trung dừng lại ở việc đánh giá, nhận xét vào từng chương trình cụ thể được phát trên sóng truyền hình hơn là phân tích sâu thực trạng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình
Trang 7Các đề tài nghiên cứu còn ít, các giáo trình giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đại học gần như cũng chưa đề cập nhiều đến hoạt động xã hội hóa trong mối quan hệ tổng thể với các thành phần kinh tế tham gia sản xuất chương trình Các khóa luận, luận văn đều nghiên cứu thực trạng và ưu, nhược điểm của qui trình sản xuất hoặc sản phẩm
xã hội hóa của một chương trình truyền hình cụ thể trong một giai đoạn nhất định Ngay bản thân các đài truyền hình cũng chưa có đánh giá, tổng kết hoạt động xã hội hóa một cách bài bản, khoa học
và có hệ thống
Mặc dù đã có nhiều bài viết phân tích, công trình nghiên cứu
có giá trị, nhưng theo tìm hiểu của chúng tôi hiện vẫn chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể nào nhìn từ góc độ kinh nghiệm thực tiễn quản lý trong xu thế phát triển hợp tác với các công ty truyền thông tư nhân
Vì vậy, xuất phát từ hoạt động thực tiễn của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, đề tài này sẽ nghiên cứu và đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện các mô hình quản lý hoạt động xã hội hóa mang tính khả thi cao không chỉ đối với Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và các đài truyền hình ở Việt Nam nói chung
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích chính của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trong mối quan hệ với các công ty truyền thông tại Đài Truyền hình Thành phố
Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện các mô hình liên kết sản xuất phù hợp với định hướng phát triển báo chí theo quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước Trong quá trình nghiên cứu và thu thập thông tin, luận văn sẽ tập trung phân tích những điểm
Trang 8tích cực và hạn chế trong qui trình ký kết, qui trình sản xuất và triển khai thực hiện xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trong mối quan hệ giữa Đài Truyền hình - đơn vị hợp tác và công chúng; phân tích và làm rõ thực trạng, yêu cầu và nhu cầu cần thực hiện xã hội hóa đối với một số lĩnh vực, chương trình cụ thể Để làm sáng tỏ hơn luận điểm, luận văn sẽ kết hợp so sánh hiệu quả giữa chương trình được xã hội hóa và chương trình không có yếu tố xã hội hóa; phân tích và làm rõ vai trò, trách nhiệm, mối quan hệ tương tác giữa các chủ thể, khách thể tác động vào quá trình xã hội hóa sản xuất chương trình; đánh giá hiệu quả của công tác quản lý, định hướng nội dung, đồng thời đề xuất mô hình, giải pháp thực hiện quá trình xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: hệ thống hóa cơ sở lý luận
và thực tiễn về hoạt động xã hội hóa nói chung và xã hội hóa truyền hình nói riêng, đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất chương trình truyền hình có yếu tố xã hội hóa của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh; xác định giải pháp và định hướng phát triển xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu luận văn là thực trạng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình trong mối quan hệ với các công ty liên kết sản xuất và các công ty truyền thông của Đài Truyền hình Thành phố
Hồ Chí Minh Luận văn xác định phạm vi nghiên cứu là quá trình thực hiện xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh trong các năm 2010 - 2011
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ được thực hiện theo các phương pháp như sau: phương pháp nghiên cứu văn bản thứ cấp; phương pháp phỏng vấn ý kiến chuyên gia; phương pháp nghiên cứu trường hợp; phương pháp nghiên cứu, so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trong định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước từ năm 2011 đến năm 2020 nhằm phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế đã tiếp tục đề cập đến yêu cầu đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, thông tin Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn phát triển báo chí Thông qua phân tích, đánh giá thực trạng
và hướng đề xuất giải pháp sẽ có ý nghĩa thiết thực đối với Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình từng bước chuẩn hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình với các đối tác là công ty truyền thông tư nhân Về phương diện
lý luận, luận văn góp phần bổ sung thêm vào hệ thống lý luận về báo chí truyền thông nói chung và truyền hình nói riêng trong bối cảnh hiện nay, và đã cung cấp tư liệu cho một số chuyên đề trong đề tài cấp Đại học Quốc gia về “Hiệu ứng kinh tế - xã hội của hoạt động xã hội hóa sản xuất trong lĩnh vực truyền hình và những vấn đề đặt ra về quản lý Nhà nước đối với hoạt động này”
7 Bố cục của luận văn
Chương 1: Cở sở lý luận và tổng quan thực tiễn hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình
Chương 2: Thực trạng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh
Trang 10Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại Đài truyền hinh thành phố Hồ Chí Minh
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH
1.1 Chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí
1.1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng về xã hội hóa
Sau hơn 25 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, chủ trương thu hút sự tham gia của nhiều nguồn lực xã hội thông qua hoạt động xã hội hóa ngày càng hiệu quả, phù hợp với điều kiện phát triển của cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Việc tham gia ngày càng nhiều của các thành phần kinh tế, các nguồn lực xã hội đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục khẳng định đường lối đúng đắn của sự nghiệp đổi mới Chiến lược phát triển kinh tế xã hội
2011 - 2020 được trình bày tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã tiếp tục định hướng: tiếp tục đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả quản lý, đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, thông
tin, hình thành thị trường văn hóa lành mạnh Đây là quan điểm, định
hướng chỉ đạo mới nhất của Đảng liên quan đến xã hội hóa lĩnh vực văn hóa, thông tin
1.1.2 Hệ thống văn bản quản lý Nhà nước về xã hội hóa trong
lĩnh vực báo chí
Ngày 18/5/2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y
Trang 11tế, văn hóa và thể dục thể thao, trong đó riêng lĩnh vực văn hóa nhấn mạnh việc thu hút mọi nguồn lực, thành phần kinh tế, các tầng lớp nhân dân tham gia các hoạt động và sáng tạo văn hóa Năm 2009, Bộ Thông tin - Truyền thông mới chính thức ban hành Thông tư số 19/2009/ TT-BTTTT ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình
1.2 Khái niệm xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình
Xã hội hội hóa có thể được hiểu là một hoạt động nhằm mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực
và tài lực trong xã hội; phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm tạo điều kiện phát triển một số lĩnh vực Với cách hiểu theo những khái niệm nêu trên, xã hội hóa các hoạt động trong lĩnh vực truyền hình hay trong sản xuất chương trình truyền hình cũng chính
là để thu hút nguồn lực xã hội bên ngoài ngành truyền hình tham gia vào các hoạt động của lĩnh vực này Trong thời kỳ đầu, hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình chủ yếu chỉ là xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình theo hình thức liên kết, hợp tác giữa đài truyền hình với các đối tác Trong thời gian gần đây, xã hội hóa ở lĩnh vực truyền hình không chỉ dừng lại ở hoạt động thu hút nguồn lực để sản xuất chương trình truyền hình đơn thuần mà còn có các
mô hình hợp tác, liên kết ở lĩnh vực khác như công đoạn truyền dẫn, phát sóng…
1.3 Tổng quan về thực tiễn hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình tại Việt Nam
Một trong lý do đột phá dẫn đến sự phát triển nhanh của ngành truyền hình là việc mạnh dạn thực hiện từng bước chủ trương xã hội
Trang 12hóa Xã hội hóa sản xuất chương trình là cơ sở để nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm truyền hình, tăng doanh thu quảng cáo
để phục vụ phát triển sự nghiệp truyền hình Trước khi Bộ Thông tin
- Truyền thông ban hành Thông tư số 19/2009/TT-BTTTT trở về trước, hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình đã phát triển qua nhiều giai đoạn với hình thức, qui mô và tính chất khác nhau Một số đài truyền hình vừa “thí điểm” xã hội hóa, vừa điều chỉnh sao cho không đi chệch chủ trương Từ năm 2009 đến nay, hoạt động xã hội hóa nói chung và xã hội hóa sản xuất chương trình nói riêng phát triển nhanh, song hành với sự phát triển của các công ty truyền thông
1.4 Một số yếu tố nền tảng cho hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại Đài Truyền hình Thành phố
1.4.2 Hệ thống văn bản quản lý hoạt động xã hội hóa và xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 13Trước năm 2002, Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh hoạt động trong cơ chế quản lý như đối với môt đơn vị hành chính, đặc biệt là cơ chế tài chính Với cơ chế như vậy, việc phát triển sự nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách Từ năm 2002, Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thí điểm “Đề án khoán thu chi - đổi mới cơ chế tài chính” Đây là văn bản có ý nghĩa quan trọng, tháo gỡ và mở ra nhiều cơ hội cho sự phát triển của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay, hoạt động xã hội hóa của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh thực hiện theo nội dung Thông tư số 19 của Bộ Thông tin - Truyền thông và trong tháng 9/2012 và Đài cũng đang tiếp tục phối hợp với ngành liên quan để hoàn thiện “Qui chế hợp tác sản xuất chương trình truyền hình”
* Tiểu kết chương 1
Kinh tế phát triển, sức mua tăng dẫn đến nhu cầu ngày càng cao về truyền thông Chính mối quan hệ này là điều kiện gần như bắt buộc các đài truyền hình phải tiếp cận tư duy mới về kinh tế truyền thông trong cơ chế thị trường cũng như sự phát triển nhanh của thị trường truyền thông Bên cạnh đó, mức sống và trình độ dân trí tăng, nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu truyền thông tăng cũng là những điều kiện thúc đẩy thị trường truyền thông phát triển Trong xu thế này, các đài truyền hình buộc phải tự đổi mới, tự nâng cao năng lực sản xuất, năng lực cạnh tranh mới có thể đáp ứng những đòi hỏi hợp lý của thị trường quảng cáo và tiêu dùng Tự đổi mới bằng cách nào? Làm thế nào có thể tăng nguồn thu? Làm thế nào có thể nâng nâng chất lượng phục vụ thông qua các sản phẩm truyền hình nhưng vẫn phải đảm bảo tính định hướng?
Trang 14Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình có thể xem là một trong những bước đi “tự đổi mới” mình của ngành truyền hình Vận dụng xã hội hóa mang lại kết quả khả quan về nhiều mặt, song cũng không thiếu những khó khăn, thách thức và hạn chế…Xuất phát
từ những yêu cầu nêu trên mà luận văn sẽ tập trung nghiên cứu đối tượng chính là thành phần kinh tế tư nhân tham gia liên kết, hợp tác sản xuất chương trình với đài truyền hình Nếu giải quyết tốt mối quan hệ giữa đài truyền hình với các đối tác công ty truyền thông tư nhân thông qua các hình thức xã hội hóa sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình, đảm bảo sự phát triển nhanh, bền vững
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Lược sử Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và lịch sử hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài
2.1.1 Giới thiệu
Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (tiền thân là Đài Truyền hình Giải phóng) phát sóng chương trình truyền hình đầu tiên vào tối ngày 1/5/1975, chỉ một ngày sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước Mặc dù điều kiện tác nghiệp vô cùng khó khăn nhưng đội ngũ những người làm truyền hình cách mạng vẫn nêu cao quyết tâm tổ chức phát sóng chương trình truyền hình đầu tiên của chính phủ cách mạng Thành công của buổi phát hình lịch sử tối ngày 1/5/1975 khẳng định năng lực và tiềm năng của đội ngũ những người làm truyền hình cách mạng, đồng thời đặt nền
Trang 15móng và niềm tin cho chặng đường phát triển tiếp theo của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh Từ năm 2002 cho đến nay là thời kỳ hoạt động xã hội hóa phát triển nhanh với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Hoạt động xã hội hóa liên tục thay đổi về hình thức, phương thức liên kết; chương trình xã hội hóa tăng nhanh
về số lượng Sự thay đổi đặc trưng nhất của thời kỳ này chính là sự thay đổi về mô hình quản lý liên quan đến tài chính và nhân sự và sự tham gia của công ty truyền thông tư nhân
2.1.2 Các chương trình xã hội hóa đầu tiên của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh
Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị đầu tiên của ngành truyền hình Việt Nam khởi đầu hoạt động xã hội hóa thông qua một hoạt động thể dục thể thao để kêu gọi tài trợ Ông Nguyễn Chí Tân - nguyên Phó Tổng Giám đốc Đài cho biết: “Ở vào thập niên 90, các nguồn thu của Đài chỉ liên quan đến một phần của qui trình sản xuất theo cách làm đơn lẻ, thiếu hệ thống và đặc biệt là không tính toán được khả năng và hiệu quả của công việc Chính vì vậy, công tác xã hội hóa có qui mô tương đối lớn, huy động nguồn lực bên ngoài để tham gia tổ chức, điều hành, sản xuất chương trình
được khởi đầu bằng Cuộc đua xe đạp tranh cúp truyền hình” Một
hoạt động xã hội hóa tiếp theo mà Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh triển khai thực hiện khá bài bản, đúng nghĩa xã hội hóa sản
xuất chương trình, đó là chương trình giải trí Rồng vàng (phiên bản
“Ai là triệu phú” của Anh) và chương trình Chung sức Đây là hai
chương trình truyền hình liên kết sản xuất với các công ty truyền thông tư nhân
Trang 162.1.3 Thành công và bất cập của các chương trình xã hội hóa trong giai đoạn đầu
Từ trông chờ vào nguồn ngân sách, thụ động trong tổ chức sản xuất, không có nguồn vốn để đầu tư cơ sở vật chất, nâng cấp thiết bị
kỹ thuật, nhưng chỉ sau vài năm tiến hành xã hội hóa với các hình thức đa dạng, với nhiều chương trình phát sóng thu hút khán giả, Đài
có điều kiện tăng nguồn thu hàng năm, tích lũy để phát triển sự nghiệp, đồng thời nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ Bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình trong điều kiện thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng, thiếu các qui định cụ thể càng làm cho hoạt động xã hội hóa có xu hướng phát triển thiếu định hướng
2.2 Khảo sát các chương trình xã hội hóa hiện nay ở Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Số lượng, tỷ lệ các chương trình, tiết mục xã hội hóa và không xã hội hóa trên kênh HTV9 và kênh HTV7
Hiện nay, mỗi đài truyền hình đều có chủ trương, định hướng
xã hội hóa khác nhau dựa theo yêu cầu, tiêu chí phát triển riêng của mỗi kênh Điều đó có nghĩa rằng, mỗi đài truyền hình phải tự đánh giá, xác định số lượng, thể loại chương trình xã hội hóa trong từng giai đoạn dựa theo năng lực sản xuất sao cho phù hợp với định hướng phát triển của từng kênh
2.2.2 Thời gian phát sóng các chương trình có yếu tố xã hội hóa
Những năm gần đây, vì nhiều lý do, các đài truyền hình có xu hướng tập trung phát sóng các chương trình giải trí có yếu tố xã hội hóa trong những khung giờ thu hút đông người xem Sự điều chỉnh