1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Liên kết đào tạo giữa trường đại học mỏ địa chất với công ty cổ phần nền móng và công trình ngầm FECON nhằm thúc đầy đào tạo nhân lực

130 377 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ HỒNG THẮM LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN NỀN MÓNG VÀ CÔNG TRÌNH N

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HỒNG THẮM

LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC

MỎ ĐỊA CHẤT VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN NỀN MÓNG VÀ CÔNG TRÌNH NGẦM FECON NHẰM

THÚC ĐẨY ĐÀO TẠO NHÂN LỰC

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Khoa học quản lý

Mã số: Đào tạo thí điếm

Hà Nội, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HỒNG THẮM

LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC

MỎ ĐỊA CHẤT VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN NỀN MÓNG VÀ CÔNG TRÌNH NGẦM FECON NHẰM

THÚC ĐẨY ĐÀO TẠO NHÂN LỰC

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ

Mã số: Đào tạo thí điếm

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân

Hà Nội, 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của Thầy cô, bạn

bè, đồng nghiệp Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới Thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân đã tận tình hướng dẫn để

em hoàn thành Luận văn này;

Luận văn là kết quả đúc kết cả quá trình học tập của tác giả tại Khoa Khoa học quản lý Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Do đó, để thực hiện được luận văn này, tác giả đã nhận được những kiến thức truyền đạt

từ các Thầy cô trong các bộ môn giảng dạy, được các Thầy cô Khoa Khoa học quản lý tận tình chỉ bảo, cung cấp nhiều thông tin quý giá để tác giả hoàn thành luận văn này;

Đề tài mà luận văn thực hiện liên quan đến thực trạng liên kết đào tạo của 2 đối tượng cụ thể, là Trường Đại học Mỏ địa chất và Công ty cổ phần Kỹ thuật nền móng và Công trình ngầm FECON Trong quá trình thực hiện luận văn này, với những tài liệu nhận được từ giảng viên của Trường Đại học Mỏ địa chất và của các phòng ban thuộc Công ty cổ phần Kỹ thuật nền móng và Công trình ngầm đã giúp cho tác giả có những luận cứ để thực hiện Qua đây, tác giả xin chân thành cảm ơn Các Thầy cô của trường Đại học Mỏ địa chất, các Anh chị đồng nghiệp ở Công ty đã hỗ trợ nhiệt tình, cung cấp những tài liệu quý giá để luận văn thực sự bám sát với thực tế

Trong quá trình học tập và nghiên cứu, bản thân tác giả đã có nhiều cố gắng, tâm huyết cho đề tài này, tuy nhiên, không tránh khỏi thiếu sót Kính mong các Thầy cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp chỉ dẫn và góp ý

Một lần nữa, tác giả xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2014 Tác giả luận văn

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 Công ty FECON Công ty cổ phần Kỹ thuật nền móng và công

Trang 5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

1 Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức Công ty CP kỹ thuật nền móng và

Công trình ngầm FECON

53

2 Hình 2.2: Sơ đồ các Công ty thành viên của Công ty FECON 54

3 Hình 2.3: Sơ đồ tổ chức Viện Nền móng và Công trình 56

4 Hình 2.4: Thí nghiệm nén tĩnh (Trụ sở Bộ ngoại Giao) 57

5 Hình 2.5: Lắp đặt thiết bị thí nghiệm sensor cọc khoan nhồi

9 Hình 2.9: Thí nghiệm CPTu (PVEX- Hải Phòng 60

10 Hình 2.10: Quan trắc xử lý nền tại Nhà máy nhiệt điện Nhơn

Trạch 2

60

11 Hình 2.11: Phòng Thí nghiệm Viện Nền móng và Công trình

ngầm, địa chỉ: số 99 Đỗ Đức Dục, Phường Mễ Trì, Quận

Nam Từ Liêm, TP Hà Nội

Trang 6

14 Bảng 2.14: Thống kê số lượng giảng viên của TĐH Mỏ Địa

chất năm học 2012-2013 và năm học 2013-2014

71

15 Biểu đồ 2.15: Biểu đồ so sánh trình độ giảng viên của trường

Mỏ địa chất giữa năm học 2012-2013 và năm học 2013-2014

71

17 Sơ đồ 3.2: Mối tương quan giữa Chính phủ, Nhà trường, DN 99

Trang 7

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ DOANH NGHIỆP 8

1.1 Các khái niệm và vai trò của liên kết đào tạo giữa TĐH và DN 8

1.1.1 Các khái niệm 8

1.1.1.1 Liên kết 8

1.1.1.2 Đào tạo 8

1.1.1.3 Liên kết đào tạo 9

1.1.1.4 Chương trình đào tạo 9

1.1.1.5 Nhân lực 10

1.1.1.6 Đào tạo nguồn nhân lực 12

1.1.1.7 Mô hình 13

1.1.1.8 Mô hình liên kết đào tạo 14

1.1.1.9 Doanh nghiệp 14

1.1.1.10 Giáo dục đại học 15

1.1.1.11 Trường đại học 16

1.1.1.12 Chất lượng 18

1.1.2 Vai trò của việc liên kết đào tạo giữa TĐH và DN trong việc thúc đẩy công tác đào tạo nhân lực 23

1.1.2.1 Đối với TĐH 23

1.1.2.2 Đối với DN 24

1.1.2.3 Đối với SV 25

1.1.2.4 Liên kết đào tạo giữa TĐH và DN nhằm thúc đẩy đào tạo nhân lực 26 1.2 Đặc điểm chủ yếu của liên kết đào tạo giữa TĐH và DN 27

1.3 Những nhân tố tác động đến việc liên kết đào tạo giữa TĐH và DN 30

Trang 8

1.3.1 Quy định chính sách pháp luật 31

1.3.2 Phương thức sản xuất của DN 32

1.3.3 Chương trình đào tạo của TĐH 32

1.4 Nội dung về việc liên kết đào tạo giữa TĐH và DN 33

1.4.1 Chính phủ chỉ dẫn, DN TĐH là chủ thể 33

1.4.2 Xây dựng cơ chế hợp tác thống nhất 34

1.4.3 Lấy SV làm chủ thể cho phương hướng hành động 34

1.5 Kinh nghiệm về hoạt động liên kết đào tạo nhân lực giữa TĐH và DN 35

1.5.1 Trên Thế giới 35

1.5.1.1 Mô hình lấy TĐH làm chính của Mỹ 35

1.5.1.2 Mô hình lấy DN làm chính của Đức 36

1.5.1.4 Giáo dục “Hợp tác đa ngành” của Nhật Bản 37

1.5.1.5 Mô hình “Đặt hàng của DN” của Trung Quốc 37

1.5.1.6 Mô hình “Dạy học công xưởng” của Singapore 38

1.5.2 Ở Việt Nam 39

1.5.2.1 Mô hình “ DN TĐH là một” 40

1.5.2.2 Phương diện đào tạo thực tế Lấy mô hình “ Xen kẽ vừa học vừa làm” làm ví dụ 41

1.5.3 Bài học rút ra cho công tác liên kết đào tạo giữa TĐH Mỏ Địa chất và Công ty FECON 43

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 46

2.1 Khái quát về công ty FECON và Viện Nền móng và Công trình ngầm 47

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 47

2.1.1.1 Công ty FECON 47

2.1.1.2 Viện Nền móng và Công trình ngầm 54

Trang 9

2.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh ảnh hưởng tới công tác liên kết đào

tạo 62

2.2 Một số nét khái quát về TĐH Mỏ địa chất và khoa địa chất công trình 65

2.2.1 Lịch sử phát triển 65

2.2.2 Đặc điểm về hoạt động đào tạo của Trường và Khoa Địa chất 73

2.3 Thực trạng công tác liên kết đào tạo giữa TĐH Mỏ địa chất và Công ty FECON 74

2.3.1 Liên kết khoa học 74

2.3.2 Liên kết đào tạo 78

2.3.3 Liên kết hỗ trợ SV 79

2.3.4.Liên kết giao lưu văn hóa – thể thao và hướng tới cộng đồng 84

2.3.5 Đánh giá chung 84

2.4 Những vấn đề đặt ra trong liên kết đào tạo giữa TĐH và DN nói chung và giữa TĐH Mỏ Địa chất với Công ty FECON nói riêng 86

2.4.1 Vấn đề quan niệm 86

2.4.2 Vấn đề thực lực 88

2.4.3 Vấn đề cơ chế 88

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 91

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY FECON VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN MÔ HÌNH LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA TĐH VÀ DN TRONG THỜI GIAN TỚI 92

3.1 Phương hướng sản xuất kinh doanh của công ty trong thời gian tới 92

3.2 Quan điểm liên kết đào tạo 93

3.3 Hoàn thiện mô hình liên kết đào tạo của công ty FECON và TĐH Mỏ địa chất 94

Trang 10

3.4 Các giải pháp cho công tác liên kết đào tạo giữa DN và TĐH 98

3.4.1 Giải pháp từ phía Chính phủ 99

3.4.1.1 Chính phủ cần hoàn thiện các pháp luật pháp quy liên quan đến liên kết đào tạo 100

3.4.1.2 Chính phủ giữ vai trò chỉ đạo, điều hướng, hỗ trợ 101

3.4.1.3 Thiết kế hệ thống chỉnh thể liên kết 102

3.4.2 Giải pháp từ phía DN 105

3.4.2.1 Xác định rõ vị trí vai trò của mình trong liên kết đào tạo với TĐH…105 3.4.2.2 Tìm kiếm mô hình hợp tác mới 106

3.4.2.3 DN nên tăng cường hơn nữa trách nhiệm xã hội, chủ động tham gia hợp tác với TĐH 107

3.4.2.4 DN cần thay đổi hiện trạng vị trí thực tập ít mà thời gian thực tập dài 108

3.4.2.5 DN cần thay đổi tình trạng coi SV thực tập là lao động giá rẻ Error! Bookmark not defined 3.4.2.6 DN cần nâng cao tầm quan trọng của việc đào tạo nhân viên đang làm việc 109

3.4.3 Giải pháp từ phía TĐH 110

3.4.3.1 Nhà trường cần tăng cường xây dựng năng lực chuyên môn 110

3.4.3.2 Nhà trường cần gắn kết tạo môi trường văn hóa DN cho TĐH 111

3.4.3.3 Nhà trường cần thay đổi sự quản lý SV thực tập của trường 111

3.4.4 Giải pháp từ phía SV 112

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 116

KẾT LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI 117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một nghịch lý hiện nay là lực lượng lao động qua đào tạo của Việt Nam thiếu những người đáp ứng nhu cầu công việc nhưng thừa những người không làm được việc Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do thiếu sự gắn kết giữa Trường đại học (TĐH) và doanh nghiệp (DN) trong phối hợp đào tạo và sử dụng nhân lực, các TĐH tìm cách đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới chương trình đào tạo nhưng không đo lường, đánh giá khả năng tiếp cận công việc thực tế và đáp ứng đòi hỏi của nhà tuyển dụng, của sinh viên (SV) khi tốt nghiệp, chưa thực sự phối hợp với nhà tuyển dụng trong việc hợp tác đào tạo và sử dụng nhân lực Trong khi đó, các DN hầu hết đều nhận thức được con người là yếu tố quan trọng nhất nhưng lại thụ động trong việc tìm kiếm và bồi dưỡng nhân lực ngay trên ghế nhà trường, tổ chức những cuộc tuyển dụng tốn kém nhưng phần lớn không tìm ra ứng viên có thể đáp ứng nhu cầu công việc

Nhiều phòng Thí nghiệm của các TĐH lạc hậu, không bắt kịp công nghệ tiên tiến của các DN, đặc biệt là các DN có vốn đầu tư nước ngoài, trong khi đó vì bảo vệ bí mật công nghệ nên DN không tạo điều kiện cho SV và giảng viên tiếp xúc với các quy trình công nghệ dẫn đến SV khi tốt nghiệp ra trường, DN tuyển dụng vào phải đào tạo lại

Nhiều năm trước ở Việt Nam hình thành mô hình bồi dưỡng nhân tài lấy giáo trình làm trung tâm, chú trọng kiến thức truyền đạt, đặc biệt sắp xếp kiến thức lấy hệ thống khoa học làm nguồn, chú ý đến tính hệ thống và tính hoàn chỉnh của kiến thức Do quá chú trọng đến kiến thức lý luận mà coi nhẹ bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp, SV sau khi tốt nghiệp nói chung cần 1 khoảng thời gian tương đối dài để thích ứng Loại mô hình bồi dưỡng nhân tài này lấy hệ thống kiến thức làm chủ, lấy giáo trình dạy học làm hình thức

Trang 12

chính dẫn đến lý luận quá xa rời với thực tiễn, hiện tượng học không đi đôi với hành tạo nên sự lãng phí nguồn tài nguyên tương đối lớn, càng ngày càng không thích ứng được với yêu cầu hiện đại hóa kinh tế xã hội với nhân tài

Việc liên kết giữa DN và TĐH là một mô hình giáo dục nghề nghiệp hiệu quả, là sự lựa chọn chiến lược quan trọng trong sự cải cách phát triển giáo dục nghề nghiệp thời kỳ đổi mới, đặc biệt là trong bối cảnh nước ta đang

ra sức phát triển giáo dục nghề nghiệp, tích cực phát triển và đổi mới các mô hình có ý nghĩa vô cùng lớn và sâu sắc Hiện tại, các vấn đề khó đi sâu vẫn là việc làm thế nào lập ra các mô hình hợp tác phát triển bền vững, tự nguyện,

bổ sung ưu thế cho nhau, cùng chia sẻ lợi ích của TĐH và DN, chính vì vậy

nó đòi hỏi chúng ta cần thực hiện công việc tìm kiếm và đào sâu nghiên cứu hơn nữa

Để giải quyết bài toán trên cần phải có những mô hình phù hợp nhằm đưa SV và giảng viên đến gần với DN

Chính vì vậy, cần tăng cường sự liên kết giữa các TĐH với DN vì đây

là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của hai phía

Qua thời gian thực tế làm việc tại Công ty cổ phần Nền móng và Công trình ngầm FECON (Công ty FECON), tôi nhận thấy, công ty đã có những bước đầu chú trọng vào việc liên kết với các TĐH, đặc biệt là TĐH Mỏ Địa chất trong vấn đề đào tạo, tìm kiếm nhân lực đáp ứng nhu cầu của công ty Tuy nhiên, sự liên kết đó còn sơ khai, chưa có những đầu tư về chuyên sâu trong công tác đào tạo giữa TĐH và DN

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả xây dựng đề tài nghiên cứu

của mình “Liên kết đào tạo giữa TĐH Mỏ địa chất với Công ty cổ phần Kỹ

thuật nền móng và công tình ngầm FECON nhằm thúc đẩy đào tạo nhân lực”

Với việc nhận diện thực trạng công tác đào tạo nhân lực, từ đó xây dựng mô hình liên kết đào tạo thực tế giữa TĐH và DN, tôi mong muốn hình thức liên

Trang 13

kết này sẽ được nhân rộng và phố biến, đem lại lợi ích thiết thực cho cả 2 phía: TĐH và DN

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” Tư tưởng này đã được cụ thể hóa trong nguyên lý giáo dục ở Việt Nam trong suốt lịch sử giáo dục của nước ta Tại Đại hội Văn hóa toàn quốc tháng 7 năm 1948, Tổng bí thư Trường Chinh đã khẳng định: “Biết và làm đi đôi, lý luận và hành động phối hợp”

Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm tạo điều kiện để cho TĐH hợp tác với DN trong đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, nhất là trong những năm trở lại đây đã ban hành những cơ chế chính sách thông thoáng giúp cho sự hợp tác này được thuận lợi hơn Điều này đã được

cụ thể hóa trong Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Giáo dục số 44/2009/QH12 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2009, Luật Giáo dục đại học số 08/2012/QH13 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 2 tháng 7 năm 2012

Mặc dù đã có những cơ chế, chính sách thuận lợi như vậy, song ở nước

ta, cho đến hiện nay có thể nói, thực trạng mối quan hệ hợp tác giữa TĐH và

DN trong vấn đề đào tạo nhân lực còn yếu kém và có rất ít các công trình nghiên cứu về vấn đề này

Các bài nghiên cứu về mối quan hệ hợp tác giữa TĐH và DN mà trong

quá trình nghiên cứu của mình, tôi đã tìm hiểu gồm: “Mô hình hợp tác giữa

nhà trường và DN trong nghiên cứu khoa học, đào tạo và sử dụng nhân lực nhằm nâng cao năng lực tiếp cận thực tế của SV” của tác giả Trần Văn

Quyền – Khoa tài chính ngân hàng – TĐH Lạc Hồng đăng trên trang web của

trường Đại học Lạc Hồng phần Hội thảo doanh nghiệp; “Thực trạng việc đào

Trang 14

tạo và sự dụng nguồn nhân lực hiện nay” của tác giả Phan Anh Tuấn - Phó

Tổng giám đốc Công ty TNHH Sanko Mold VN-KCN Amata trình bày trong

hội thảo doanh nghiệp với TĐH Lạc Hồng; “DN chủ động liên kết với Nhà

trường để làm tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực” của tác giả Phạm Văn

Vui - Tổng vụ Công ty xe gắn máy VMEP; “DN cần gắn kết với nhà trường

để sở hữu nguồn nhân lực với tay nghề đáp ứng trong sản xuất và kinh doanh” của tác giả Nguyễn Hoàng Hà - Phòng nhân sự, Công ty On

Semiconductor VN- KCN Biên Hòa 2; Đề tài nghiên cứu cấp Viện“Thực

trạng việc phối hợp đào tạo giữa trường trung cấp chuyên nghiệp với DN tại

Hà Nội” của tác giả ThS Đào Thanh Hải – Viện Khoa học giáo dục Việt

Nam Ở các đề tài này đã chỉ ra các khía cạnh hợp tác giữa TĐH và DN, chỉ

ra thực trạng của sự liên kết giữa TĐH và DN ở tầm vĩ mô, bao quát chung

Thông qua việc phân tích so sánh hiện trạng nghiên cứu mô hình liên kết giữa DN và TĐH cũng có thể rút ra một số vấn đề tồn tại trong việc nghiên cứu các mô hình hiện tại trong nước, chủ yếu thể hiện qua 3 vấn đề dưới đây: một là việc nghiên cứu đổi mới các mô hình liên kết còn ở giai đoạn bước đầu, thiếu các nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu Hai là nghiên cứu các vấn đề về lợi ích và giá trị của DN cũng như TĐH chưa đi sâu vào chi tiết Tuy các luận văn có đề cập tới, nhưng mới chỉ dừng lại ở bề mặt của bản nghiên cứu Ba là việc nghiên cứu vai trò của nhà nước trong hợp tác giữa DN

và TĐH chưa cụ thể Tuy một số tài liệu cũng đã đưa ra vấn đề này, những vẫn chưa nói rõ nhà nước nên làm như thế nào để phát huy vai trò vốn có của mình trong việc hợp tác giữa DN và TĐH

Trên đây là sự khái lược tình hình nghiên cứu về sự hợp tác giữa TĐH

và DN nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Tuy nhiên, sự nghiên cứu cụ thể về việc xây dựng mô hình liên kết đào tạo ở một TĐH và một DN cụ thể vẫn là một mảng đề tài chưa được khai thác sâu dưới góc độ

Trang 15

quản lý Do đó, tôi lựa chọn vấn đề “Liên kết đào tạo giữa TĐH Mỏ địa chất

và Công ty Nền móng và Công trình ngầm FECON nhằm thúc đẩy công tác đào tạo nhân lực" làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành khoa học quản lý

của TĐH KHXH&NV thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Hoàn thiện mô hình liên kết đào tạo nhằm tăng cường hợp tác giữa TĐH và DN

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về đào tạo và liên kết đào tạo giữa TĐH và

DN, định nghĩa và phân tích các khái niệm liên quan

- Khảo sát thực trạng hợp tác giữa TĐH Mỏ địa chất và Công ty FECON, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng hợp tác này

- Xây dựng mô hình liên kết hoàn thiện

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động liên kết đào tạo của TĐH Mỏ địa chất với công ty FECON

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian:

- Đối với TĐH Mỏ Địa chất: Khoa Địa chất công trình

- Đối với Công ty FECON: Viện Nền móng và công trình Ngầm

Phạm vi về thời gian quan sát đối tượng: từ năm 2010 đến 2012

Phạm vi thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu: từ tháng 01/2013 đến

tháng 12/2013

Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu mối liên kết đào tạo giữa TĐH và

DN

Trang 16

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng liên kết đào tạo giữa công ty FECON và TĐH Mỏ địa chất như thế nào?

- Giải pháp nào để thúc đẩy công tác đào tạo nhân lực thông qua liên kết đào tạo nhân lực giữa TĐH và DN?

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Công tác liên kết đào tạo giữa Công ty FECON và TĐH Mỏ địa chất

đã được hiện thực hóa bởi văn bản cụ thể, tuy nhiên, hoạt động thực tế còn lỏng lẻo, mang nặng tính hình thức

- Thúc đẩy công tác liên kết đào tạo giữa TĐH và DN bằng sự ràng buộc bởi cơ chế pháp luật và tài chính của mỗi bên, từ đó tạo nên tính trách nhiệm trong công tác liên kết đào tạo nhân lực của 2 bên: TĐH và DN

7 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp quan sát thực tế:

Tiếp cận, quan sát tổng thể, theo dõi những mặt biểu hiện trong quá trình đào tạo nhân lực của DN và TĐH, phát hiện những yếu tố ảnh hưởng tới quá trình đào tạo đó

 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu các tài liệu ở sách giáo trình, sách tham khảo về quản trị, tạp chí, website có liên quan đến

mô hình liên kết giữa TĐH và DN trong đào tạo nhân lực Bên cạnh đó là những tài liệu của Công ty FECON về chính sách tuyển dụng, đào tạo; chương trình học, đào tạo của Khoa Địa chất công trình

Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các tài liệu tôi đưa ra các đánh giá, nhìn nhận sâu, sau đó tổng hợp, khái quát hóa thành các vấn đề có tính logic và hệ thống chặt chẽ

Trang 17

 Phương pháp phỏng vấn sâu:

Để thực hiện luận văn của mình, tôi tiến hành phỏng vấn với:

- Các trưởng bộ phận phòng Tổ chức – nhân sự, phòng Truyền thông, phòng Thí nghiệm, phòng Địa kỹ thuật, phòng Nghiên cứu và phát triển đào tạo của Viện Nền móng và Công trình ngầm

- Các Thầy phòng Đào tạo, khoa Địa chất công trình của Trường Mỏ Địa chất

Tìm hiểu quan điểm, cách nhìn nhận và đánh giá của những người được phỏng vấn để đánh giá thực trạng công tác đào tạo của TĐH và DN, cũng như tìm ra giải pháp hữu ích trong việc liên kết đào tạo giữa TĐH và Công ty

8 Kết cấu của luận văn

Luận văn tốt nghiệp được kết cấu thành 3 phần chính:

 Phần mở đầu

 Phần nội dung: bao gồm 3 chương

o Chương 1 Cơ sở lý luận về đào tạo và liên kết đào tạo giữa

TĐH và DN

o Chương 2 Thực trạng công tác liên kết đào tạo nhân lực giữa

Công ty FECON và TĐH Mỏ Địa chất

o Chương 3: Hoàn thiện mô hình liên kết đào tạo giữa TĐH và DN

 Phần kết luận

Trang 18

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ LIÊN KẾT ĐÀO

TẠO GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ DOANH NGHIỆP

1.1 Các khái niệm và vai trò của liên kết đào tạo giữa TĐH và DN 1.1.1 Các khái niệm

hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định

Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định Có nhiều dạng đào tạo: Đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ

xa, tự đào tạo…

Theo từ điển tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên (Nxb, Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010) thì “Đào tạo – đó là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”

Từ những quan điểm trên đây, có thể nhận thấy đào tạo: Là hoạt động làm cho con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định Là quá trình học tập để làm cho người lao động có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ

Trang 19

1.1.1.3 Liên kết đào tạo

Theo từ điển wikipedia thì: “Liên kết đào tạo là một mô hình trong giáo

dục nhằm tạo cơ hội học tập cho toàn xã hội Nhờ cách làm này, nhiều người

ở vùng sâu, vùng xa; nhiều người bận làm việc, không có thời gian cũng có

cơ hội học tập lên cao Liên kết đào tạo không phải là một hình thức mới trong ngành giáo dục và nó đang ngày càng phát triển do nhu cầu học tập của các cá nhân đang ngày càng cao Không chỉ có liên kết đào tạo ở các ngành nghề hấp dẫn như tài chính, kế toán, ngoại ngữ, loại hình liên kết đào tạo còn mở rộng cho khối kỹ thuật, thậm chí phát triển nhanh ở cả lĩnh vực dạy nghề.”

Hiện nay, trong phạm vi tìm hiểu của tác giả, vẫn chưa có khái niệm hoàn chỉnh về liên kết đào tạo giữa TĐH và DN Các khái niệm liên kết đào tạo vẫn dừng lại ở liên kết đào tạo giữa các trường với nhau trong hoạt động đào tạo Theo quan điểm của tác giả, liên kết đào tạo giữa TĐH và DN là hình thức đào tạo và sử dụng nhân lực có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau trong quan hệ cung - cầu và quan hệ nhân- quả, bên nọ làm tiền đề cho bên kia phát triển trong cơ chế thị trường

1.1.1.4 Chương trình đào tạo

Theo từ điển Giáo dục học – Nhà xuất bản Từ điển bách khoa 2001,

khái niệm chương trình đào tạo được hiểu là: ”Văn bản chính thức quy định

mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo”

Theo Wentling (1993): ”Chương trình đào tạo (Program of Training)

là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (khoá đào tạo) cho

Trang 20

biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể trông đợi ở người học sau khoá đào tạo, phác thảo ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ”

Theo Tyler ( 1949 ) cho rằng :” Chương trình đào tạo về cấu trúc phải

có 4 phần cơ bản :

1 Mục tiêu đào tạo

2 Nội dung đào tạo

3 Phương pháp hay quy trình đào tạo

4 Cách đánh giá kết quả đào tạo

Trên cơ sở chương trình giáo dục chung (hoặc chương trình khung) được quy định bởi các cơ quan quản lý giáo dục, các cơ sở giáo dục tổ chức xây dựng các chương trình chi tiết hay còn gọi là chương trình đào tạo

Như vậy, chương trình đào tạo là bản thiết kế chi tiết quá trình giảng dạy trong một khoá đào tạo phản ánh cụ thể mục tiêu, nội dung, cấu trúc, trình

tự cách thức tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá các hoạt động giảng dạy cho toàn khoá đào tạo và cho từng môn học, phần học, chương, mục và bài giảng Chương trình đào tạo do các cơ sở đào tạo xây dựng trên cơ sở chương trình đào tạo đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt

Chương trình đào tạo hay chương trình giảng dạy không chỉ phản ánh nội dung đào tạo mà là một văn bản hay bản thiết kế thể hiện tổng thể các thành phần của quá trình đào tạo, điều kiện, cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo

1.1.1.5 Nhân lực

Theo Từ điển Wikipedia: "Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo DN) tức là tất cả các thành viên trong DN sử dụng kiến thức,

Trang 21

khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển DN."

Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của TĐH Kinh Tế quốc dân:

"Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của

cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động."

Khái niệm nguồn nhân lực (NNL) hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế nước ta Tuy nhiên, cho đến nay quan niệm về vấn đề này hầu như chưa thống nhất Tuỳ theo mục tiêu cụ thể mà người ta có những nhận thức khác nhau về NNL Có thể nêu lên một số quan niệm như sau:

Theo Liên Hợp Quốc thì “NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng,

kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”

Ngân hàng thế giới cho rằng: “NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm

thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.”

Theo tổ chức lao động quốc tế thì “NNL của một quốc gia là toàn bộ

những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.”

Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn

bộ dân cư có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao

Trang 22

động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động

Kinh tế phát triển cho rằng: NNL là một bộ phận dân số trong độ tuổi

quy định có khả năng tham gia lao động NNL được biểu hiện trên hai mặt:

về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động

- Theo giáo sư Phạm Minh Hạc, NNL cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó (Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá – 2001)

Từ những quan điểm trên tôi nhận thấy: NNL là tổng thể những tiềm

năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định

1.1.1.6 Đào tạo nguồn nhân lực

Theo thầy Võ Xuân Tiến trong bài viết: “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển NNL” đăng trên tạp chí Khoa học và công nghệ , Đại học Đà Nẵng, số 5(40)2010 thì:

“Đào tạo NNL là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong

một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người

- Là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai, để họ có thể chuyển tới công việc mới trong thời gian thích hợp

- Là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân một công việc mới dựa trên những định hướng tương lai của tổ chức." Theo quan niệm này,

Trang 23

khi nói đến đào tạo NNL là nói đến việc trang bị cho người lao động: kiến

thức phổ thông, kiến thức chuyên nghiệp, kiến thức quản lý

Đào tạo NNL là cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển chức năng của con người Việc đào tạo nguồn nhân lực không chỉ được thực hiện bên trong một tổ chức, mà còn bao gồm một loạt những hoạt động khác được thực hiện từ bên ngoài, như: học việc, học nghề và hành nghề Kết quả của quá trình đào tạo nguồn nhân lực sẽ nâng cao chất lượng, phát triển NNL đó

Trong từ điển tiếng Việt "mô hình là hình thức diễn đạt hết sức gọn

theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng, để nghiên cứu đối tượng ấy."

Mô hình là một loại thao tác khoa học quan trọng với phương pháp tư duy khoa học Nó là một vài đặc tính bản chất để giải quyết vấn đề đặc định, trong điều kiện giả thiết, đơn giản hóa, trừu tượng giúp hiện nguyên hình khách thể; nó là trung gian, từ đó giúp nhận thức và cải tạo nguyên hình khách thể, xây dựng 1 phương pháp khoa học của khách thể mới Xuất phát từ thực tế, trải qua khái quát, qui nạp, tổng hợp có thể đưa ra các loại mô hình,

mô hình có khả năng hình thành lý luận, cũng có thể xuất phát từ lý luận, tương tự như vậy, phân tích đề ra các loại mô hình, từ đó thúc đẩy phát triển thực tiễn Mô hình tương tự như các sự vật khách quan (mô hình thực vật), là

Trang 24

mô tả trừu tượng thế giới thực (mô hình toán học), là hiển thị hình tượng quan niệm tư tưởng (mô hình hình ảnh và mô hình ngữ nghĩa)

1.1.1.8 Mô hình liên kết đào tạo

Có thể thấy, mô hình là một loại thao tác khoa học và phương pháp tư tưởng khoa học, để nhận biết phương pháp khoa học giữa các quá trình Hợp tác DN - TĐH là một phương thức bồi dưỡng nhân tài chung của hai bên trên

cơ sở thị trường và nhu cầu xã hội, là một kiểu phát triển để đáp ứng nhu cầu

số lượng nhân tài cho DN, là mục tiêu đào tạo người lao động đạt yêu cầu giáo dục xã hội của TĐH Thông qua những hình thức này, học tập lý luận của SV với thao tác thực tế hoặc kết hợp chặt chẽ với huấn luyện, lấy bồi dưỡng toàn diện tố chất của SV, năng lực tổng hợp và tính cạnh tranh nghề nghiệp làm trọng điểm, để tạo ra cho xã hội những nhân tài có tố chất và có tính ứng dụng

Bản chất của mô hình hợp tác DN- TĐH nằm ở việc gắn chặt đưa kiến thức lý luận mà SV tích lũy trong nhà trường vào thực tế hoạt động sản xuất của DN cụ thể, thực hiện tương tác tốt, thực hiện cục diện hai bên cùng có lợi, kết hợp vừa học vừa làm, mục tiêu thực hiện là tăng cường lợi ích dạy học của trường và ưu thế cạnh tranh nhân tài của DN, mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội

1.1.1.9 Doanh nghiệp

Điều 4, Luật DN năm 2005 định nghĩa: “DN là tổ chức kinh tế có tên

riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”

Căn cứ vào quy định này thì DN có những đặc điểm sau:

- Là đơn vị kinh tế, hoạt động trên thương trường, có trụ sở giao dịch

ổn định, có tài sản,

- Đã được đăng ký kinh doanh,

Trang 25

- Hoạt động kinh doanh

Theo điều 4 Luật DN thì “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số

hoặc tất cả các công đoạn của quá tŕnh đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”

1.1.1.10 Giáo dục đại học

Theo từ điển Wikipedia thì: "Giáo dục đại học hay giáo dục bậc cao là giai đoạn giáo dục thường diễn ra ở các TĐH, viện đại học, đại học, trường cao đẳng, học viện, và viện công nghệ Giáo dục đại học nói chung bao gồm các bậc sau trung học như cao đẳng, đại học, và sau đại học, và gồm cả một

số cơ sở giáo dục bậc đại học hay cao đẳng như các trường huấn nghệ và trường kinh doanh có trao văn bằng học thuật hay cấp chứng chỉ chuyên nghiệp

Quyền tiếp cận giáo dục đại học được nói đến trong một số văn kiện nhân quyền quốc tế Điều 13 của Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (1966) của Liên Hiệp Quốc cho rằng "giáo dục đại học phải được phổ cập bình đẳng cho mọi người bằng những phương cách thích hợp, tùy thuộc vào khả năng, và đặc biệt phải tiến dần đến miễn phí." Điều 2 của Công ước châu Âu về Nhân quyền (1950) quy định các nước ký tên phải bảo đảm quyền giáo dục

Giáo dục đại học bao gồm các hình thức giáo dục diễn ra ở các cơ sở học tập bậc sau trung học, cuối khóa học thường được trao văn bằng học thuật hoặc cấp chứng chỉ Các cơ sở giáo dục đại học không chỉ bao gồm các TĐH và viện đại học mà còn các trường chuyên nghiệp, trường sư phạm, trường cao đẳng, TĐH công lập và tư thục hệ hai năm, và viện kỹ thuật Điều kiện nhập học căn bản đối với hầu hết các cơ sở giáo dục đại học là phải hoàn thành giáo dục trung học, và tuổi nhập học thông thường là khoảng 18 tuổi

Trang 26

Giáo dục đại học bao gồm các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, thực tập (như trong các trường y khoa và nha khoa), và phụng sự xã hội của các cơ

sở giáo dục đại học Các hình thức giáo dục đại học bao gồm: giáo dục tổng quát (general education), thường bao gồm đáng kể những yếu tố lý thuyết và trừu tượng cùng với những khía cạnh ứng dụng; giáo dục chú trọng đến các ngành khai phóng (liberal arts education), bao gồm các ngành nhân văn, khoa học, nghệ thuật; giáo dục mang tính huấn nghệ (vocational education), kết hợp cả việc giảng dạy lý thuyết lẫn những kỹ năng thực hành; giáo dục chuyên nghiệp (professional education), như trong các ngành kiến trúc, kinh doanh, luật, y khoa, v.v

Ở nhiều quốc gia phát triển, có tới 50 phần trăm dân số theo học trong các cơ sở giáo dục đại học Giáo dục đại học do đó rất quan trọng đối với kinh

tế quốc gia, với tư cách là một ngành kinh tế và là nơi giáo dục và đào tạo nhân lực cho phần còn lại của nền kinh tế Những người theo học đại học thường kiếm được mức lương cao hơn và ít có khả năng bị thất nghiệp hơn so với những người có học vấn thấp hơn

1.1.1.11 Trường đại học

Theo từ điển Wikipedia thì: TĐH (từ tương tự trong tiếng Anh: college;

có khi còn được dịch ra tiếng Anh là university) là một loại hình cơ sở giáo

dục đại học của Việt Nam Hầu hết các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có tên là TĐH và theo mô hình phân mảnh ngành học và phân mảnh cơ sở giáo dục của Liên Xô cũ, tức là mỗi TĐH tập trung vào một chuyên ngành hay một nhóm chuyên ngành riêng; ví dụ: TĐH Kinh tế Quốc

dân, TĐH Xây dựng, TĐH Thủy lợi Trong TĐH thường có các khoa; trong khoa có các bộ môn

Trang 27

TĐH có khi là một đơn vị thành viên trong một viện đại học, ví dụ TĐH Văn khoa thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thời Mỹ ngụy), hay trong một đại học, ví dụ TĐH Kinh tế thuộc Đại học Đà Nẵng

TĐH tổng hợp (từ tương tự trong tiếng Anh: college hoặc university) là loại hình cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam dưới hai chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Các trường loại này gồm có TĐH Tổng hợp Hà Nội (nay thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), TĐH Tổng hợp Huế (nay thuộc Đại học Huế), và TĐH Tổng hợp Thành phố

Hồ Chí Minh (nay thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) Các TĐH tổng hợp này chỉ tập trung vào các ngành nhân văn và khoa học cơ bản

TĐH bách khoa (từ tương tự trong tiếng Anh: polytechnic), có khi còn

gọi là TĐH kỹ thuật, là loại hình cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam dưới hai chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Các trường loại này gồm có TĐH Bách khoa Hà Nội, TĐH Bách khoa Đà Nẵng (nay thuộc Đại học Đà Nẵng), và TĐH Bách khoa Thành phố

Hồ Chí Minh (nay thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) Các TĐH bách khoa này chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật và công nghệ

TĐH cộng đồng (từ tương tự trong tiếng Anh: community college) là cơ

sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành được thành lập ở Việt Nam dưới thời Việt Nam Cộng hòa (trước năm 1975 ở miền Nam) SV học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc Các TĐH cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế Khởi điểm của mô hình TĐH cộng đồng ở Việt Nam là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Nam California năm 1970 Cơ sở đầu tiên được hình thành là TĐH

Trang 28

Cộng đồng Tiền Giang, thành lập năm 1971 ở Định Tường, sau đó được mở rộng khắp các địa phương

TĐH Hàn Lâm: Là loại hình cơ sở giáo dục đại học, với chương trình đào tạo mang tính chất chuyên sâu về các lĩnh vực khoa học cơ bản cụ thể (Khoa học tự nhiên: Toán học, Vật Lý, và Khoa học xã hội: Triết học, xã hội học ) với xu hướng đi đến cùng bản chất vấn đề mang tính chất căn bản của khoa học, lý giải đầy đủ, cặn kẽ về bản chất, hiện tượng của tự nhiên và con người Ở Việt Nam hiện nay, một số trường có mô hình đào tạo này như: Đại Học Khoa Học Tự Nhiên, Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Với loại hình này, sau khi đào tạo ở bậc đại học, sẽ đi sâu vào nghiên cứu tại các viện nghiên cứu, TĐH ở trong nước và nước ngoài

Đại học dân trí: giống như TĐH cộng đồng, Đại học dân trí là loại hình giáo dục đại học sơ cấp, đa ngành với mục đích đưa những kiến thức kỹ thuật

cơ bản đi sâu vào quần chúng nhân dân, tạo điều kiện nâng cao kiến thức trong nhân dân, nâng cao năng lực kỹ thuật Hiện nay, nhiều TĐH với loại hình này đã được thành lập Tuy nhiên, thiếu sự gắn kết với thực tiễn, loại hình này vẫn đang gặp nhiều bất cập về giải quyết đầu ra nguồn nhân lực

Trang 29

a) Chất lượng được đánh giá bằng đầu vào

Một số nước phương Tây có quan điểm cho rằng “Chất lượng một TĐH phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó” Quan điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực” có nghĩa là: Nguồn lực = chất lượng

Theo quan điểm này, một TĐH tuyển được SV giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là trường có chất lượng cao

Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất

đa dạng và liên tục trong một thời gian dài (3 đến 6 năm) trong TĐH Thực tế, theo cách đánh giá này, quá trình đào tạo được xem là một “hộp đen”, chỉ dựa vào sự đánh giá “đầu vào” và phỏng đoán chất lượng “đầu ra”

Sẽ khó giải thích trường hợp một TĐH có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng chỉ có những hoạt động đào tạo hạn chế

b) Chất lượng được đánh giá bằng đầu ra

Một quan điểm khác về chất lượng giáo dục Đại học (CLGDĐH) cho rằng “đầu ra” của giáo dục Đại học có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đào tạo “Đầu ra” chính là sản phẩm của giáo dục Đại học được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của SV tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó

Có hai vấn đề cơ bản có liên quan đến cách tiếp cận CLGDĐH này Một là, mối liên hệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” không được xem xét đúng mức Trong thực tế mối liên hệ này là có thực, cho dù đó không phải là quan

hệ nhân quả Một Trường có khả năng tiếp nhận các SV xuất sắc, không có nghĩa là SV của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc Hai là, cách đánh giá “đầu ra” của các trường rất khác nhau

c) Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”

Trang 30

Quan điểm thứ ba về CLGDĐH cho rằng một TĐH có tác động tích cực tới SV khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và

cá nhân của SV “ Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu được: là “giá trị gia tăng” mà TĐH

đã đem lại cho SV và được đánh giá là CLGDĐH

Nếu theo quan điểm này về CLGDĐH, một loạt vấn đề phương pháp luận nan giải sẽ nảy sinh: khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm ra được hiệu số của chúng

và đánh giá chất lượng của trường đó Hơn nữa các trường trong hệ thống giáo dục Đại học lại rất đa dạng, không thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất cho tất cả các TĐH Vả lại, cho dù có thể thiết kế được bộ công cụ như vậy, giá trị gia tăng được xác định sẽ không cung cấp thông tin gì cho chúng ta về sự cải tiến quá trình đào tạo trong từng TĐH

d) Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”

Đây là quan điểm truyền thống của nhiều TĐH phương Tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán

bộ giảng dạy trong từng trường trong quá trình thẩm định công nhận chất lượng đào tạo đại học Điều này có nghĩa là TĐH nào có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ đông, có uy tín khoa học cao thì được xem là trường có chất lượng cao

Điểm yếu của cách tiếp cận này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các TĐH để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu trong môi trường bị chính trị hoá Ngoài ra, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khi xu hướng chuyên ngành hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng

e) Chất lượng được đánh giá bằng “Văn hóa tổ chức riêng”

Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các TĐH phải tạo ra được “Văn

Trang 31

hoá tổ chức riêng” hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Vì vậy một trường được đánh giá là có chất lượng khi nó có được “Văn hoá tổ chức riêng” với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này bao hàm cả các giả thiết về bản chất của chất lượng và bản chất của tổ chức Quan điểm này được mượn từ lĩnh vực công nghiệp và thương mại nên khó có thể áp dụng trong lĩnh vực giáo dục đại học

f) Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”

Quan điểm này về chất lượng giáo dục Đại học xem trọng quá trình bên trong TĐH và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định Nếu kiểm toán tài chính xem xét các tổ chức có duy trì chế độ sổ sách tài chính hợp lý không, thì kiểm toán chất lượng quan tâm xem các TĐH có thu thập

đủ thông tin phù hợp và những người ra quyết định có đủ thông tin cần thiết hay không, quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng có hợp lý và hiệu quả không Quan điểm này cho rằng nếu một cá nhân có đủ thông tin cần thiết thì có thể có được các quyết định chính xác, và chất lượng GDĐH được đánh giá qua quá trình thực hiện, còn “Đầu vào” và “Đầu ra” chỉ là các yếu tố phụ

Điểm yếu của cách đánh giá này là sẽ khó lý giải những trường hợp khi một cơ sở đại học có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin, song vẫn có thể có những quyết định chưa phải là tối ưu

Ngoài 6 định nghĩa trên, Tổ chức Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế (INQAHE - International Network of Quality Assurance in Higher Education) đã đưa ra 2 định nghĩa về chất lượng giáo dục đại học là (i) Tuân theo các chuẩn quy định; (ii) Đạt được các mục tiêu đề ra

Theo định nghĩa thứ nhất, cần có Bộ tiêu chí chuẩn cho giáo dục đại học về tất cả các lĩnh vực và việc kiểm định chất lượng một TĐH sẽ dựa vào Bộ tiêu chí chuẩn đó Khi không có Bộ tiêu chí chuẩn việc thẩm định

Trang 32

chất lượng GDĐH sẽ dựa trên mục tiêu của từng lĩnh vực để đánh giá Những mục tiêu này sẽ được xác lập trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và những điều kiện đặc thù của trường đó

Như vậy để đánh giá chất lượng đào tạo của một trường cần dùng Bộ tiêu chí có sẵn; hoặc dùng các chuẩn đã quy định; hoặc đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu đã định sẵn từ đầu của trường Trên cơ sở kết quả đánh giá, các TĐH sẽ được xếp loại theo 3 cấp độ (1) Chất lượng tốt; (2) Chất lượng đạt yêu cầu; (3) Chất lượng không đạt yêu cầu Cần chú ý là các tiêu chí hay các chuẩn phải được lựa chọn phù hợp với mục tiêu kiểm định

Chất lượng là một khái niệm động nhiều chiều và nhiều học giả cho rằng không cần thiết phải tìm cho nó một định nghĩa chính xác Tuy vậy, việc xác định một số cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề này là điều nên làm và có thể làm được

“Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” là một định nghĩa phù hợp

nhất đối với giáo dục đại học của chúng ta nói chung và đối với từng ngành đào tạo nói riêng Mục tiêu trong định nghĩa này được hiểu theo nghĩa rộng

và do từng TĐH xác định

Đảm bảo chất lượng là mô hình quản lý chất lượng giáo dục Đại học phù hợp với điều kiện của nước ta hiện nay Đảm bảo chất lượng là những quan điểm, chủ trương, chính sách, mục tiêu, hành động, công cụ, quy trình và thủ tục, mà thông qua sự hiện diện và sử dụng chúng có thể đảm bảo rằng các mục tiêu đã đề ra đang được thực hiện, các chuẩn mực học thuật phù hợp đang được duy trì và không ngừng nâng cao ở cấp trường và ở chương trình đào tạo của nhà trường

Trang 33

1.1.2 Vai trò của việc liên kết đào tạo giữa TĐH và DN trong việc thúc đẩy công tác đào tạo nhân lực

Giai đoạn hiện nay, chủ đề của hướng nghiệp cho SV là cải cách và phát triển, kết hợp vừa học vừa làm là con đường để phát triển giáo dục, hợp tác DN- TH là cách quan trọng để kết hợp thực hiện vừa học vừa làm Hợp tác giữa DN- TH của các TH với DN không chỉ là yêu cầu tất nhiên của phát triển DN và tham gia cạnh tranh, cũng là phương hướng quan trọng trong cải cách giáo dục ở nước ta, góp phần thúc đẩy công tác đào tạo nhân lực

1.1.2.1 Đối với trường

Việc liên kết đào tạo giúp ích cho việc xây dựng chuyên môn của các trường Thông qua việc liên kết, TH xây dựng hệ thống bài giảng chuyên ngành liên quan, cải cách và đổi mới các phương thức dạy học, xây dựng phòng thực nghiệm trong trường và cơ sở thực tập bên ngoài trường, nâng cao

tỷ lệ và chất lượng việc làm cho SV

Việc liên kết đào tạo cũng giúp ích cho các trường xây dựng đội ngũ giáo viên giỏi lý thuyết, am hiểu thực tiễn Các giảng viên của các trường có

cơ hội luyện tập, tìm hiểu quá trình sản xuất sản phẩm, công nghệ sản xuất, quản lý sản xuất, cũng có thể tìm hiểu được nhiều tri thức mới, kỹ thuật mới

và công nghệ mới của các công ty hơn Qua đó, họ có thể đưa vào nội dung dạy học, khiến các bài giảng gần với nhu cầu của các DN, thực tế sản xuất, làm tăng tính chân thực và ứng dụng hơn

Việc liên kết đào tạo giúp ích cho việc xây dựng năng lực cơ sở của các

TH Các trường muốn tồn tại và phát triển phải không ngừng thu hút đầu tư tiền bạc từ các ngành đặc biệt từ các công ty để tăng nguồn tài chính cho trường, đây cũng là mục đích chủ yếu tìm kiếm cơ hội hợp tác với các DN của các trường Ngoài ra, các trường có thể sử dụng cơ sở sản xuất của các DN

Trang 34

làm nơi thực tập cho SV, giảm bớt các chi phí xây dựng cơ sở thực tập cho trường

Thông qua mô hình hợp tác DN TH này, TH và DN liên kết để bồi dưỡng nhân tài, triệt để thay đổi mô hình bồi dưỡng nhân tài truyền thống lấy giáo trình làm trung tâm, thiết lập mô hình bồi dưỡng nhân tài lấy năng lực làm trung tâm

1.1.2.2 Đối với DN

Thông qua hợp tác, một mặt DN có thể hoàn thành đào tạo cho nhân viên mới vào làm, đảm bảo SV tốt nghiệp có thể làm việc độc lập hoặc làm việc nhóm, rút ngắn thời gian đào tạo cho nhân viên mới, giảm chi phí đào tạo huấn luyện cho nhân viên mới; mặt khác trong quá trình SV khi thực tập sản xuất, DN có thể quan sát, kiểm tra và tìm ra các SV ưu tú có khả năng và kỹ thuật cao để tuyển dụng

Việc hợp tác có ích cho DN, nâng cao tố chất chuyên môn cho nhân viên Thông qua hợp tác, một mặt TH có thể cung cấp các lý luận, kiến thức mới, thông tin mới cho DN, không ngừng nâng cao tố chất chuyên môn của nhân viên; mặt khác, DN có thể thông qua việc liên kết để xây dựng mối quan

hệ giao tiếp tốt với các giảng viên, SV của trường, thu hút nhân tài cống hiến cho sự phát triển của DN

Việc liên kết đào tạo có ích cho DN còn thể hiện ở chỗ nâng cao trình

độ kỹ thuật của DN DN có thể sử dụng nhân tài của trường và các thành quả nghiên cứu, để giải quyết các vấn đề kỹ thuật khó xử lý trong thực tế sản xuất, đồng thời sử dụng các dụng cụ thiết bị của trường nâng cao tính năng của sản phẩm, hoàn thiện quy trình kỹ thuật, thu được kỹ năng và kỹ thuật chuyên môn và khả năng phát triển sản phẩm mới

Việc liên kết đào tạo có ích cho DN nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường DN có thể thông qua việc hợp tác với các trường, tìm hiểu kịp thời

Trang 35

các khoa học kỹ thuật mới và thành quả nghiên cứu kỹ thuật, đặc biệt là các nghiên cứu trong một số lĩnh vực ứng dụng khoa học kỹ thuật, việc hợp tác có thể giúp DN khai thác thị trường, thu được lợi nhuận và tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh với các công ty khác Qua việc hợp tác, DN có thể truyền bá tên tuổi của mình, tạo hình tượng tốt đẹp trong mắt mọi người, nâng cao vị thế của mình hơn

1.1.2.3 Đối với SV

Trước tiên, mô hình hợp tác DN - TH có thể nâng cao năng lực nghề nghiệp cho SV có hiệu quả, làm cho SV tốt nghiệp có thể nhanh chóng thực hiện những chuyển biến từ SV trên giảng đường hướng đến góc độ xã hội Trong thời gian thực tập, có cảm tình với nghề nghiệp, sớm tiếp thu văn hóa

DN Đồng thời làm cho kiến thức lý luận và năng lực thực tiễn thành một thể thống nhất, làm cho chất lượng giáo dục ở TH thật sự nâng cao, quan trọng hơn là những kĩ năng nghề nghiệp, năng lực phân tích tổng hợp, tính độc lập trong công việc và khả năng ứng biến đạt được sự rèn luyện và bồi dưỡng Hơn nữa, mô hình hợp tác DN - TH có thể kịp thời giúp SV nắm vững thông tin nghề nghiệp, liên kết thuận lợi cho SV làm việc và DN dùng người Hiện nay, một trong những trở ngại của SV khi tốt nghiệp gặp phải là thông tin không phù hợp, không quan trọng, những thông tin nghề nghiệp quan trọng, nhất định ở một mức độ nhất định sẽ làm SV phải bỏ ra rất nhiều tiền bạc, thời gian và cơ hội mà không thể tìm ra được công việc thật sự phù hợp với mình Các trường thông qua hợp tác DN - TH thực hiện kết hợp vừa học vừa làm, gia tăng cơ hội để SV tiếp xúc với đơn vị dùng người, khiến họ khi sản xuất thực tế và quá trình phục vụ, tìm hiểu ý định DN tuyển dụng khi dùng nhân công mới, trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp nhận thông tin nghề nghiệp Đồng thời thông qua hợp tác DN - TH, rất nhiều trường đã nắm vững được xu hướng phát triển của nghề nghiệp, nắm vững nhu cầu dùng người của DN,

Trang 36

thực hiện bồi dưỡng thử để cải thiện tình hình tìm việc của SV tốt nghiệp Vậy nên, liên kết đào tạo có ý nghĩa quan trọng trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng cho xã hội

1.1.2.4 Liên kết đào tạo giữa nhà trường và DN nhằm thúc đẩy đào tạo nhân lực

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển sức cạnh tranh của DN, nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, thúc đẩy phát triển toàn diện nền kinh tế, cũng như là điều kiện để người lao động tự tin, khẳng định được và củng cố được vị thế cá nhân trong xã hội Chính vì thế sự hợp tác giữa các TĐH và các DN là rất cần thiết và rất quan trọng

Nếu nhìn từ phía DN Việt Nam, muốn tồn tại và phát triển thì sớm, hay muộn, ít hoặc nhiều đều đứng trước nhu cầu về chất lượng lao động ngày càng cao Hiện nay đang có một nghịch lý rất đáng quan tâm là, trong khi việc tuyển dụng lao động đáp ứng nhu cầu của các DN ngày càng khó khăn hơn, thì lượng

SV đã tốt nghiệp của các TĐH còn thất nghiệp cũng ngày càng tăng Đa số SV giỏi ra trường cũng phải mất một khoảng thời gian mới thực sự hội nhập vào công việc được giao

Nếu nhìn từ phía các TĐH, trong thực tế từ trước đến nay, về cơ bản, các TĐH chỉ đào tạo cái mình có, theo chương trình của mình, mà chưa chú trọng đến nhu cầu thị trường, nhu cầu từng ngành nghề mà DN cần trong thực tiễn hiện tại và tương lai Nói cách khác, các cơ sở đào tạo không biết, chưa biết và

có lẽ cũng chưa có nhu cầu và động lực buộc phải biết những sản phẩm – người lao động, với tư cách “hàng hóa đặc biệt” mình làm ra - được thị trường chấp nhận, được “xã hội hóa” đến đâu…Vì vậy, cùng với nhiều lý do cộng hưởng khác, SV ra trường rất nhiều người chưa có định hướng nghề nghiệp đúng với nhu cầu thị trường và sở trường cá nhân, thiếu kỹ năng và phẩm chất nghề

Trang 37

nghiệp, còn lúng túng khi áp dụng lý thuyết vào thực tế, yếu kém về ngoại ngữ, nhất là ngoại ngữ liên quan trực tiếp đến lĩnh vực làm việc

Trong bối cảnh hội nhập và yêu cầu cạnh tranh trên thương trường, buộc các DN cần xây dựng mối quan hệ hợp tác thường xuyên với Nhà trường, đồng thời cũng khiến các cơ sở đào tạo phải chú trọng hơn đến nhu cầu của thị trường, nhu cầu của DN, để đào tạo SV đáp ứng ngay được với vị trí công việc được tuyển dụng Các hình thức hợp tác có tính khả thi và phổ biến cao là nhà trường cung cấp cho DN những SV tốt nghiệp chất lượng cao theo yêu cầu của DN;Tổ chức đào tạo chuyên sâu và ngắn hạn, cũng như đào tạo chính quy dài hạn theo hợp đồng đặt hàng có quy định nội dung, thời gian và kinh phí cần thiết cụ thể, linh hoạt Ngoài ra, 2 bên có thể hợp tác về trao đổi và tiếp nhận chuyên gia, cố vấn, SV thực tập và các hoạt động và dịch vụ khoa học, ứng dụng triển khai và

Nhân tài chất lượng cao luôn là mối quan tâm hàng đầu của mỗi DN và

TH Nguồn lực có chất xám, có khả năng cống hiến cho DN là đích đến của mỗi DN trong tuyển dụng Đối với TH, thu hút nhân tài từ những học sinh ưu

tú ứng tuyển thi vào trường vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ bởi nhân tài là gốc rễ của trường, trường có đào tạo ra được những SV ưu tú, có khả năng đi

ra các DN làm việc tốt hay không hoàn toàn dựa vào khả năng đào tạo và bồi dưỡng trong trường Lớp nhân tài này sẽ đóng góp vào sự phát triển tương lai của DN nói riêng và của đất nước nói chung

Trang 38

(2) Kế hoạch đào tạo liên kết do DN và TH cùng nhau bàn bạc thỏa thuận, thực hiện và quản lý;

Nếu giữa TH và DN cùng liên kết trong đào tạo nhân tài sẽ đem đến kết quả là cả hai bên cùng có lợi DN được lợi trong việc sử dụng trực tiếp những

SV có kĩ năng, có kinh nghiệm trên nền tảng kiến thức mà chính DN vạch ra

TH được lợi vì vừa tận dụng được sự giúp đỡ của DN, vừa tranh thủ mở rộng kinh nghiệm trong lĩnh vực đào tạo Hai bên có kế hoạch được vạch sẵn trên cơ

sở nhu cầu và trình độ của cả hai, thống nhất kế hoạch đặt ra từ trước sao cho có thể dễ dàng thực hiện và quản lý, điều này vừa là điều kiện, vừa là tiền đề để TH

và DN phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ trong hạng mục và cơ sở đào tạo

(3) Thực tiễn sản xuất là bộ phận quan trọng trong kế hoạch đào tạo; Ngành nghề kinh doanh trong mỗi DN là khác nhau Tùy theo từng DN sản xuất mà ở TH sẽ có những chuyên ngành đào tạo tương ứng phụ thuộc vào nhu cầu của DN Chính vì thế, bản thân DN sản xuất kinh doanh mặt hàng gì, thực tiễn sản xuất ra sao, điều kiện sản xuất cũng như quy định trình

độ của nhân viên như thế nào có liên quan mật thiết đến lĩnh vực đào tạo trong TĐH Tùy vào yêu cầu trực tiếp của mỗi DN mà mỗi trường sẽ mở ra những chuyên ngành đào tạo khác nhau sao cho đáp ứng đầy đủ nhu cầu của

DN Từ đó, gắn nhu cầu trực tiếp giữa cầu của DN và cung của TH, tạo thành một bộ máy hoàn chỉnh đáp ứng nhu cầu của xã hội Trong quá trình đào tạo,

để gắn giữa lý thuyết và thực tế, TH sắp xếp một khoảng thời gian trong quỹ đào tạo của mình để SV tiếp cận nơi sản xuất kinh doanh của DN, tích lũy và hiểu rõ hơn kiến thức tiếp thu trên TH Điều này giúp SV ra trường có hiểu biết tổng quan về DN và nắm chắc kiến thức hơn, đồng thời kiểm nghiệm lý thuyết được học ở trường có phù hợp với thực tế hoạt động của DN trong thời

kỳ mới không

(4) Thực tiễn sản xuất có khoảng thời gian rõ ràng;

Trang 39

Điều kiện sản xuất thay đổi thì hạng mục liên kết đào tạo cũng sẽ thay đổi bởi tùy thuộc vào DN cần đội ngũ lao động lành nghề, có trình độ được đào tạo bài bản ra sao thì TH sẽ dựa vào đó để có kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng nhân tài sao cho phù hợp nhất Có quy định khoảng thời gian hợp lý để

có thể tận dụng tốt nhất những kĩ năng mà SV được học ở trường, từ đó áp dụng vào công việc thực tế Việc quy định khoảng thời gian bao lâu cho thực tiễn sản xuất phù thuộc vào mức độ, yêu cầu của từng đợt Mỗi thực tiễn sản xuất có tiêu chí khác nhau, mục tiêu khác nhau do đó thời gian sử dụng cho hoạt động này cũng khác nhau, và được ghi rõ trong kế hoạch liên kết đào tạo của trường và DN để hai bên chủ động nắm bắt và triển khai

(5) Thực tiễn sản xuất có tỷ lệ hợp lý trong kế hoạch đào tạo;

SV đang trong thời gian học ở TH mới tốt nghiệp đều cần có một khoảng thời gian để có thể tìm hiểu và tiếp xúc thực tế với công việc dự định

sẽ làm trong tương lai Một SV lựa chọn học một chuyên ngành, trong khoảng thời gian đầu học ở trường sẽ được dạy những kiến thức cơ sở cơ bản nhất về công việc, tuy nhiên dù có đào tạo bao lâu đi chăng nữa thì những kiến thức này cũng chỉ là lý thuyết suông nếu chưa bắt tay vào thực hiện Để có được kinh nghiệm thì kiến thức sách vở thôi là chưa đủ, cần có những kĩ năng thực

tế mà bắt buộc người học phải trải qua quá trình tiếp xúc với thực tế công việc mới có thể có khả năng vận dụng và luyện tập được thành thục Vì thế, song song với kiến thức sách vở, SV cần được DN và TH tạo điều kiện tốt nhất để

có thể định kì hoặc trong một khoảng thời gian xác định thực tập tại chính DN, tiếp xúc với môi trường công việc để từ đó mang những kiến thức đã học qua sách vở so sánh, đối chiếu với hiện thực, từ đó rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm quý báu Tỷ lệ giữa thực tập sản xuất và chương trình học trên giảng đường phải hợp lý, phù hợp với mục tiêu của liên kết đào tạo giữa 2 bên (6) Đào tạo và kiểm tra của thực tiễn sản xuất cần duy trì chất lượng cao

Trang 40

Việc liên kết đào tạo giữa nhà trường và DN là một quá trình, cần có thời gian và mục tiêu rõ ràng chứ không phải chỉ để mở ra cho có Việc liên kết đào tạo mang lại lợi ích rõ ràng cho cả hai bên Đây là hoạt động rất thiết thực, tuy nhiên để việc liên kết có chất lượng, đạt hiệu quả cao thì hai bên cần được đào tạo và kiểm tra một cách bài bản Nhà trường có những giáo trình được soạn thảo dành riêng cho SV dựa trên những yêu cầu của DN, SV học được những kiến thức về DN trên cơ sở liên kết đào tạo, vừa được trực tiếp đến DN thực tập, vận dụng được kiến thức được học đưa vào thực tiễn sản xuất, điều này làm họ hình dung và nhận thức được sâu sắc nội dung công việc cần làm, giúp nâng cao hiệu quả công việc hiện tại và có tầm nhìn cho tương lai

Cho dù các nước khác nhau có các biện pháp thực hiện quy định quản

lý không giống nhau, nhưng đều có tiêu chuẩn đánh giá đồng nhất về mặt thực hiện mục tiêu đào tạo Sân bãi thực tiễn sản xuất do DN cung cấp đều là nơi đã trải qua khảo sát kiểm tra đánh giá phù hợp cho SV thực tập của trường;

SV không chỉ dừng lại ở việc quan sát ở công ty, mà phải thực hiện các thao tác thực tế; SV sau khi làm việc ở công ty, công ty đó phải trả tiền lương lao động nhất định; TH thực hiện giám sát tình hình công việc của SV ở công ty; biểu hiện của SV ở công ty sẽ do công ty đó kiểm tra và đánh giá; tỷ lệ thời gian làm việc tham gia thực tiễn sản xuất ở công ty của SV không được thấp hơn 30% trong tổng thời gian của chương trình đào tạo

1.3 Những nhân tố tác động đến việc liên kết đào tạo giữa TĐH và DN Tất cả các sự vật đều không thể tồn tại đơn độc, cũng giống như vậy,

mô hình hợp tác DN TH không chỉ đề cập đến hai bên là DN và TH, mà ngoài

ra còn có sự tác động của chính phủ và sự điều chỉnh của thị trường cũng có những ảnh hưởng quan trọng Ngoài ra còn có các nhân tố khác như lịch sử văn hóa xã hội, các qui định của pháp luật, thể chế quản lý , phương thức sản

Ngày đăng: 25/08/2015, 19:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

14  Bảng  2.14:  Thống  kê số  lượng  giảng  viên  của  TĐH  Mỏ  Địa - Liên kết đào tạo giữa trường đại học mỏ địa chất với công ty cổ phần nền móng và công trình ngầm FECON nhằm thúc đầy đào tạo nhân lực
14 Bảng 2.14: Thống kê số lượng giảng viên của TĐH Mỏ Địa (Trang 6)
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức Công ty CP kỹ thuật nền móng và Công trình ngầm  FECON (Nguồn: http://www.fecon.com.vn/ve-chung-toi/so-do-to-chuc/) - Liên kết đào tạo giữa trường đại học mỏ địa chất với công ty cổ phần nền móng và công trình ngầm FECON nhằm thúc đầy đào tạo nhân lực
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Công ty CP kỹ thuật nền móng và Công trình ngầm FECON (Nguồn: http://www.fecon.com.vn/ve-chung-toi/so-do-to-chuc/) (Trang 63)
Hình 2.2: Sơ đồ các Công ty thành viên của Công ty FECON (Nguồn:  http://www.fecon.com.vn/ve-chung-toi/don-vi-thanh-vien/ ) - Liên kết đào tạo giữa trường đại học mỏ địa chất với công ty cổ phần nền móng và công trình ngầm FECON nhằm thúc đầy đào tạo nhân lực
Hình 2.2 Sơ đồ các Công ty thành viên của Công ty FECON (Nguồn: http://www.fecon.com.vn/ve-chung-toi/don-vi-thanh-vien/ ) (Trang 64)
Hình 2.3: Sơ đồ tổ chức Viện Nền móng và Công trình ngầm (nguồn: Hồ sơ - Liên kết đào tạo giữa trường đại học mỏ địa chất với công ty cổ phần nền móng và công trình ngầm FECON nhằm thúc đầy đào tạo nhân lực
Hình 2.3 Sơ đồ tổ chức Viện Nền móng và Công trình ngầm (nguồn: Hồ sơ (Trang 66)
Hình  2.5:  Lắp  đặt  thiết  bị  thí - Liên kết đào tạo giữa trường đại học mỏ địa chất với công ty cổ phần nền móng và công trình ngầm FECON nhằm thúc đầy đào tạo nhân lực
nh 2.5: Lắp đặt thiết bị thí (Trang 68)
Hình 2.6: Kết hợp thí nghiệm nén tĩnh - Liên kết đào tạo giữa trường đại học mỏ địa chất với công ty cổ phần nền móng và công trình ngầm FECON nhằm thúc đầy đào tạo nhân lực
Hình 2.6 Kết hợp thí nghiệm nén tĩnh (Trang 68)
Hình  2.9:  Thí  nghiệm  CPTu - Liên kết đào tạo giữa trường đại học mỏ địa chất với công ty cổ phần nền móng và công trình ngầm FECON nhằm thúc đầy đào tạo nhân lực
nh 2.9: Thí nghiệm CPTu (Trang 70)
Bảng 2.12: Thống kê Nhân sự Viện nền móng và công trình ngầm - Liên kết đào tạo giữa trường đại học mỏ địa chất với công ty cổ phần nền móng và công trình ngầm FECON nhằm thúc đầy đào tạo nhân lực
Bảng 2.12 Thống kê Nhân sự Viện nền móng và công trình ngầm (Trang 73)
Bảng 2.14: Thống kê số lượng giảng viên của TĐH Mỏ Địa chất - Liên kết đào tạo giữa trường đại học mỏ địa chất với công ty cổ phần nền móng và công trình ngầm FECON nhằm thúc đầy đào tạo nhân lực
Bảng 2.14 Thống kê số lượng giảng viên của TĐH Mỏ Địa chất (Trang 81)
Hình 3.1: Mô hình liên kết tổng thể - Liên kết đào tạo giữa trường đại học mỏ địa chất với công ty cổ phần nền móng và công trình ngầm FECON nhằm thúc đầy đào tạo nhân lực
Hình 3.1 Mô hình liên kết tổng thể (Trang 106)
Sơ đồ 3.2: Mối tương quan giữa Chính phủ, Nhà trường, DN - Liên kết đào tạo giữa trường đại học mỏ địa chất với công ty cổ phần nền móng và công trình ngầm FECON nhằm thúc đầy đào tạo nhân lực
Sơ đồ 3.2 Mối tương quan giữa Chính phủ, Nhà trường, DN (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w