ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- PHẠM THỊ CẨM VÂN SỬ DỤNG CÔNG CỤ TÀI CHÍNH ĐỂ THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QU
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ CẨM VÂN
SỬ DỤNG CÔNG CỤ TÀI CHÍNH ĐỂ THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ DỮ LIỆU CỦA NGÀNH DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TP Hồ Chí Minh, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ CẨM VÂN
SỬ DỤNG CÔNG CỤ TÀI CHÍNH ĐỂ THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ DỮ LIỆU CỦA NGÀNH DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CẢM ƠN 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
DANH MỤC CÁC SƠ, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ 8
PHẦN MỞ ĐẦU 9
1 Lí do chọn đề tài 9
2 Lịch sử nghiên cứu 11
3 Mục tiêu nghiên cứu 13
4 Phạm vi nghiên cứu 13
5 Mẫu khảo sát 13
6 Câu hỏi nghiên cứu 13
7 Giả thuyết nghiên cứu 14
8 Phương pháp nghiên cứu 14
9 Kết cấu luận văn 15
PHẦN NỘI DUNG 16
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG CỤ TÀI CHÍNH ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 16
1.1 Dẫn nhập 16
1.2 Công cụ tài chính 17
1.2.1 Khái niệm 17
1.2.1.1 Khái niệm công cụ 17
1.2.1.2 Khái niệm tài chính 18
Trang 41.2.1.3 Khái niệm công cụ tài chính 19
1.2.2 Vai trò của công cụ tài chính 20
1.3 Chính sách công nghệ thông tin 20
1.3.1 Khái niệm chính sách công nghệ thông tin 20
1.3.1.1 Khái niệm chính sách 20
1.3.1.2 Khái niệm công nghệ thông tin 22
1.3.1.3 Khái niệm chính sách công nghệ thông tin 23
1.3.2 Vai trò của chính sách công nghệ thông tin 23
1.4 Cơ sở lý luận về dữ liệu, quản lý dữ liệu 23
1.4.1 Cơ sở lý luận về dữ liệu 23
1.4.1.1 Khái niệm dữ liệu 24
1.4.1.2 Phân loại dữ liệu 24
1.4.2 Cơ sở lý luận về quản lý dữ liệu 235
1.4.2.1 Khái niệm quản lý dữ liệu 25
1.4.2.2 Nội dung quản lý dữ liệu 25
1.4.2.3 Vai trò của quản lý dữ liệu 26
1.5 Nội dung chính sách công nghệ thông tin trong ngành DS-KHHGĐ 23
1.6 Tác động của công cụ tài chính đến chính sách công nghệ thông tin trong lĩnh vực DS-KHHGĐ ………….29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÔNG CỤ TÀI CHÍNH VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ DỮ LIỆU NGÀNH DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TỈNH NINH THUẬN 32
2.1 Dẫn nhập 32
2.2 Tổng quan ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận 32
Trang 52.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận 32 2.2.2 Kết quả hoạt động giai đoạn 2011 – 2013 34
2.3 Thực trạng quản lý dữ liệu dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận 39
2.3.1 Tình hình quản lý dữ liệu dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận 39 2.3.1.1 Trình độ, chuyên môn của cán bộ DS-KHHGĐ phụ trách công tác quản lý dữ liệu 39 2.3.1.2 Cơ sở hạ tầng máy móc phục vụ công tác quản lý dữ liệu ngành DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận 40 2.3.1.3 Tình hình số liệu, thông tin hệ thống trong công tác quản lý dữ liệu ngành DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận 41 2.3.1.4 Đánh giá thực trạng quản lý dữ liệu ngành DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận 45 2.3.2 Tổ chức bộ máy thực hiện quản lý dữ liệu dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận 46 2.3.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong quản lý dữ liệu dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận 47 2.3.3.1 Thuận lợi 48
2.3.3.2 Khó khăn 48 2.4 Hiện trạng chính sách công nghệ thông tin trong ngành DS-KHHGĐ tại tỉnh Ninh Thuận 49
2.4.1 Ưu điểm 51 2.4.2 Nhược điểm 51
2.5 Thực trạng tác động của các công cụ tài chính tới công nghệ thông tin 52 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
Trang 6CHƯƠNG 3 SỬ DỤNG CÔNG CỤ TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ DỮ LIỆU NGÀNH DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA
GIA ĐÌNH TỈNH NINH THUẬN 56
3.1 Dẫn nhập 56
3.2 Mục tiêu của việc sử dụng công cụ tài chính và chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận 57
3.2.1 Đề xuất việc sử dụng công cụ tài chính 58
3.2.2 Tác động của các đề xuất lên quá trình hình thành chính sách công nghệ thông tin 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 66
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 67
KẾT LUẬN 67
KHUYẾN NGHỊ 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 01 73
PHỤ LỤC 02 75
PHỤ LỤC 03 76
PHỤ LỤC 04 83
PHỤ LỤC 05 84
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Vốn là một người làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình nên tác giả không khỏi bỡ ngỡ khi tham gia lớp đào tạo sau đại học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, vì kiến thức được đào tạo trước đây không thuộc lĩnh vực này Tuy nhiên, trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã nhận được sự truyền đạt, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và đầy tâm huyết của tất cả thầy cô ở Khoa Khoa học Quản lý của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội và cả những thầy cô thỉnh giảng, để sự bỡ ngỡ ban đầu đã nhanh chóng trở thành sự tự tin trong tiếp thu tri thức Phải khẳng định rằng, những kiến thức thu nhận được trong quá trình học tập, nghiên cứu đã thật sự phục vụ bổ ích vào quá trình công tác của tác giả, mà lúc đầu tưởng chừng như chẳng có mấy liên quan
Trước tiên, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Vũ Cao Đàm đã hướng dẫn thực hiện và hoàn thành luận văn này
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo ở Khoa Khoa học Quản lý của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
và cả những thầy cô thỉnh giảng, những người đã đem lại những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các học viên, trong đó có tác giả trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn cùng lớp và đồng nghiệp ở Chi cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận, những người đã luôn động viên và khuyến khích trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 KH&CN: Khoa học và công nghệ
2 KT-XH: Kinh tế - xã hội
3 DS – KHHGĐ: Dân số - kế hoạch hóa gia đình
4 CNTT/KHDA : Công nghệ thông tin/Kế hoạch dự án
5 UB/QĐ : Ủy ban/Quyết định
6 PGS: Phó Giáo Sư
7 TSCĐ: Tài sản cố định
8 ĐMCN: Đổi mới công nghệ
9 KHXH&NV: Khoa học xã hội và nhân văn
16 CSSKSS: Chăm sóc sức khỏe sinh sản
17 TTYT: Thông tin y tế
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả thực hiện chỉ tiêu giảm sinh của ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận 35 Bảng 2.2 Kết quả thực hiện kế hoạch hóa gia đình của ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận 36 Bảng 2.3 Cơ sở hạ tầng máy móc phục vụ công tác quản lý dữ liệu ngành DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận 40 Bảng 2.4 Số liệu hộ, nhân khẩu toàn tỉnh Ninh Thuận xét theo số trên giấy và
số trên máy 42 Bảng 2.5 Biến động số liệu dân số toàn tỉnh Ninh Thuận xét theo số trên giấy
và số trên máy 43 Bảng 2.6 Số liệu kế hoạch hóa gia đình toàn tỉnh Ninh Thuận xét theo số trên giấy và số trên máy 44
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ Biểu đồ 2.7 Đánh giá của công chức viên chức ngành DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận về hiệu quả các chính sách công nghệ thông tin trong ngành DS-KHHGĐ của tỉnh 50 Biểu đồ 2.8 Đánh giá của công chức viên chức ngành DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận về tác động của công cụ tài chính đến hiệu quả áp dụng chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu 53
Sơ đồ 3.1 Quy trình triển khai đề xuất áp dụng công cụ tài chính trong quá trình hình thành chính sách CNTT đối với quản lý dữ liệu ngành DS-KHGGĐ tỉnh Ninh Thuận 59
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay, việc ứng dụng các thành tựu công nghệ trong hoạt động quản
lý đã được chứng minh đem lại hiệu quả tốt hơn rất nhiều so với hoạt động quản lý truyền thống, trong đó có thể kể đến những hiệu quả thiết thực như:
- Rút ngắn thời gian trao đổi thông tin
- Tinh giản khối lượng lưu trữ thông qua các cách sắp xếp khoa học với
hổ trợ từ các phần mềm
- Rút ngắn thời gian xử lý, truy cập và truy xuất dữ liệu
- Xóa bỏ khoảng cách quản lý dữ liệu truyền thống bằng thủ công với quản lý bằng công nghệ thông tin
Nhận ra ưu thế này của công nghệ thông tin, Chính phủ đang thúc đẩy việc tin học hóa các hoạt động quản lý Ngành dân số cũng không nằm ngoài
xu hướng đó, kể từ giai đoạn 1998-2000 Uỷ ban Quốc gia Dân số-Kế hoạch hóa gia đình ( DS-KHHGĐ) đã chủ trì thực hiện thành công Dự án khả thi Cơ
sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ quan phối hợp chính là Tổng cục Thống kê, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp (theo Quyết định 03/CNTT/KHDA ngày 17/02/1998 của Ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin)
Tại Ninh Thuận trong 2 năm qua, tính từ giữa năm 2011, sau khi tiến hành đổi sổ ghi chép ban đầu mới vào tháng 3-6 năm 2011, hoạt động của Hệ thông tin quản lý Dân số - kế hoạch hóa gia đình của tỉnh có chiều hướng chững lại Đến những tháng cuối năm 2012 dù toàn hệ thống đang trong giai đoạn gấp rút hoàn thiện dữ liệu, thử nghiệm báo cáo thống kê Dân số - kế hoạch hóa gia đình điện tử, nhưng vẫn còn nhiều sự trì trệ trong hệ thống Đây là nguyên nhân gây nên những khó khăn cho công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình
Trang 12Chính vì điều này và nhận thấy rất nhiều bất cập trong quá trình triển khai việc tin học hóa quản lý dữ liệu ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình như thiếu các chính sách tài chính để thúc đẩy quá trình hình thành chính sách
công nghệ thông tin Đó chính là lý do tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Sử dụng công cụ tài chính để thúc đẩy quá trình hình thành chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành Dân số- Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận” với mong muốn kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đưa ra
giải pháp cho việc hình thành các chính sách công nghệ thông tin thúc đẩy quá trình tin học hóa hoạt động quản lý dữ liệu dân số - Kế hoạch hóa gia đình ở tỉnh Ninh Thuận thông qua công cụ tài chính
Bên cạnh đó, như đã đề cập, đề tài tác giả tập trung khai thác khía cạnh các công cụ tài chính để thúc đẩy hình thành chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu Lí do tác giả chọn các công cụ, chính sách tài chính mà không phải các công cụ, chính sách khác là vì tầm quan trọng của các công cụ này trong bất kỳ hoạt động nào của các tổ chức Khi tiến hành triển khai bất
kỳ hoạt động nào trong tổ chức, tài chính là vấn đề được đặt ra đầu tiên, các công cụ tài chính sẽ giúp quy trình triển khai được thực hiện dễ dàng và hiệu quả hơn, đồng thời đây cũng là công cụ quyết định kết quả có tốt hay không khi thực hiện thúc đẩy các chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu Các công cụ và chính sách khác như chính sách con người hay các công
cụ về khoa học, công nghệ… đều có những vai trò khác nhau trong hiệu quả hoạt động của một tổ chức, tuy nhiên các công cụ tài chính đóng vai trò quan trọng hàng đầu, vì vậy, tác giả quyết định lựa chọn công cụ này trong chính sách thúc đẩy hình thành chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành Dân số kế hoạch hóa gia đình tại tỉnh Ninh Thuận
Trang 132 Lịch sử nghiên cứu
Nền móng ban đầu của hệ thống Thông tin quản lý Dân số - Kế hoạch hóa gia đình là Quyết định 138 UB/QĐ ngày 10/11/1994 của Bộ trưởng - Chủ nhiệm Ủy ban Quốc gia DS-KHHGĐ về Chế độ ghi chép ban đầu và báo cáo thống kê số liệu DS-KHHGĐ Sổ theo dõi DS-KHHGĐ và các biểu mẫu báo cáo thống kê chuyên ngành được xây dựng để thu thập và xử lý có chọn lọc các chỉ tiêu thông tin cần thiết, đồng thời đảm bảo đơn giản, dễ hiểu và thuận tiện cho người thực hiện trực tiếp công việc này ở cơ sở
Từ đó đã hình thành hệ thống thông tin cơ bản (Sổ theo dõi KHHGĐ) về từng người dân ở từng hộ gia đình trên cả nước Việc theo dõi cập nhật thông tin biến động về từng người vừa dựa theo khai báo của người dân, vừa căn cứ quá trình ghi chép thường xuyên của mỗi cộng tác viên DS-KHHGĐ quản lý địa bàn dân cư Các báo cáo thống kê chuyên ngành DS-KHHGĐ từ cấp cơ sở đến Trung ương được tổng hợp, xử lý dựa trên hệ thống
DS-Sổ ghi chép ban đầu
Đây là một trong các Cơ sở dữ liệu quốc gia - những thành tố nền tảng kết cấu hạ tầng về thông tin, là hệ thống thông tin tích hợp quy mô quốc gia dựa trên mạng máy tính và cơ sở dữ liệu cập nhật thường xuyên những thông tin cơ bản của mỗi người dân nhằm đáp ứng chung các nhu cầu xử lý, khai thác thông tin về dân cư của các cơ quan nhà nước, đoàn thể xã hội, tổ chức, người dân và mọi đối tượng hợp pháp khác Tại 5 quận, huyện thuộc Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ đã hình thành các cơ sở dữ liệu dân cư quản lý gần 215 ngàn hộ và hơn 944 ngàn nhân khẩu, cập nhật và khai thác thường xuyên các biến động dân số như sinh, chết, kết hôn, chuyển đi, chuyển đến
Thông qua các dự án Hoàn thiện hệ thông tin quản lý DS-KHHGĐ (thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia DS-KHHGĐ giai đoạn 2001-2005) và
Trang 14dự án Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin quản lý DS-KHHGĐ (thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia DS-KHHGĐ giai đoạn 2006-2010) tại hơn
760 cơ quan dân số cấp tỉnh, cấp huyện trên cả nước được trang bị mạng máy tính cục bộ kết nối internet cùng phần mềm chuyên dụng MIS DS-KHHGĐ
để thực hiện tin học hóa hệ thông tin quản lý DS-KHHGĐ Từ đây đã hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử (thường gọi kho dữ liệu điện tử) DS-KHHGĐ để cập nhật và khai thác thông tin trong hệ thống Sổ theo dõi DS-KHHGĐ Hệ thống này giúp ngành Dân số quản lý hơn 21 triệu hộ và gần 90 triệu người trên cả nước với các chỉ tiêu thông tin về dân số, cũng như về kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản
Dữ liệu dân số là thông tin cơ bản cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Trong những năm vừa qua, rất nhiều cộng tác viên, chuyên viên DS-KHHGĐ cơ sở đã vì sự phát triển của đất nước, bền
bỉ "đi từng ngõ, gõ cửa từng nhà" để vận động xã hội, gia đình, cá nhân tham gia chương trình DS-KHHGĐ, đồng thời kiên trì ghi chép, cập nhật thông tin
về DS-KHHGĐ của mỗi người trong từng hộ Con đường hướng đến tương lai đã in đậm những dấu chân không mệt mỏi của họ
Mặc dù trong giai đoạn từ 2010 đến nay, ngành dân số Việt Nam đã bắt đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu Nhận thấy việc quản
lý dữ liệu của ngành Dân số là quan trọng và cần thiết, từ thực hiện báo cáo thủ công chuyển sang báo cáo bằng điện tử ứng dụng phần mềm quản lý chuyên ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình; năm 2013, Trung tâm nghiên cứu, thông tin và dữ liệu của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình được thành lập Thế nhưng, một thực tế xảy ra là chưa có bất kỳ một chính sách công nghệ thông tin nào dành riêng cho ngành
Ngoài ra, hiện tại ngành đang sử dụng những chính sách tài chính riêng
Trang 15triển công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu Chính điều này tạo ra tính mới mẻ cho đề tài
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu: Đề xuất cách thức sử dụng công cụ tài chính thúc đẩy quá trình
hình thành chính sách công nghệ thông tin phục vụ quản lý dữ liệu của ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận
Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tác động của các công cụ tài chính đến việc hình thành chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu Dân số-KHHGĐ
- Đánh giá thực trạng việc sử dụng các công cụ tài chính hiện hành và tác động của nó lên các chính sách công nghệ trong quản lý dữ liệu dân số - kế hoạch hóa gia đình tại tỉnh Ninh Thuận
- Đề xuất sử dụng công cụ tài chính để thúc đẩy quá trình hình thành chính sách công nghệ thông tin cho ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn trong các chính sách tài chính phù hợp cho ngành dân
số - kế hoạch hóa gia đình tại tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020
5 Mẫu khảo sát
- Các doanh nghiệp công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
- Các cá nhân, chuyên viên ngành dân số tại tỉnh Ninh Thuận
6 Câu hỏi nghiên cứu
Sử dụng những công cụ tài chính nào để thúc đẩy quá trình hình thành chính sách công nghệ thông tin phục vụ cho việc quản lý dữ liệu dân số - kế hoạch hóa gia đình tại tỉnh Ninh Thuận?
Trang 167 Giả thuyết nghiên cứu
Ngoài việc sử dụng công cụ thuế để khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ thông tin tham gia vào xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu cho ngành dân số, ngành dân số tỉnh Ninh Thuận còn phải có các chính sách sử dụng công cụ tài chính riêng để thúc đẩy quá trình hình thành nên chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu dân số - kế hoạch hóa gia đình
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Luận văn sử dụng số liệu sơ cấp có
liên quan đến công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận
- Phương pháp chọn mẫu: ( đại diện cho mẫu khảo sát)
+ Để thu thập số liệu nhằm tìm ra tác động của công cụ tài chính đến
chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu của ngành DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận
+ Để thu thập số liệu nhằm đánh giá hiệu quả của chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu của ngành DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận
- Khảo sát đặc điểm cơ sở hạ tầng thông tin tỉnh Ninh Thuận
- Khảo sát các chính sách CNTT tại tỉnh Ninh Thuận
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như:
- Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả Luận văn tiến hành phỏng vấn
nhân lực quản lý dữ liệu DS-KHHGĐ của tỉnh Ninh Thuận Để thu được kết quả phỏng vấn, tác giả đã liên hệ trước với người được phỏng vấn, gửi câu hỏi và hẹn gặp Trong cuộc gặp, tác giả đã trao đổi và nghe ý kiến của Cán
bộ, công chức viên chức của ngành Dân số về vấn đề nghiên cứu
Trang 179 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục, đề tài bao gồm ba chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của công cụ tài chính đến việc hình
thành chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu Dân số-KHHGĐ
Chương 2: Thực trạng việc sử dụng công cụ tài chính và chính sách công
nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận
Chương 3: Sử dụng công cụ tài chính thúc đẩy quá trình hình thành
chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận
Trang 18PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG CỤ TÀI CHÍNH ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN 1.1 Dẫn nhập
Để làm nền tảng lý thuyết cho phân tích thực trạng ở nội dung chương tiếp theo, chương một sẽ tổng hợp, hệ thống hóa lại các vấn đề lý thuyết, cơ
sở lý luận về công cụ tài chính, chính sách công nghệ thông tin và tác động của công cụ tài chính đến việc hình thành chính sách công nghệ thông tin nói chung
Nghiên cứu về tác động của công cụ tài chính và chính sách công nghệ thông tin, số lượng tài liệu và các báo cáo khoa học không nhiều, vì vậy, nội dung chương sẽ tập trung khai thác các nội dung theo cách hiểu của cá nhân tác giả, thông qua tư vấn từ các chuyên gia
Có thể thấy, công cụ tài chính được hiểu là những phương thức, cách thức mà các tổ chức, doanh nghiệp dùng để phòng ngừa các rủi ro trong quá trình hoạt động, hướng đến mục tiêu tiết giảm chi phí, tăng cường lợi nhuận
và đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp, tổ chức đã đề ra
Chính sách công nghệ thông tin là một tập hợp các biện pháp được thể chế hóa của một tổ chức nào đó nhằm áp dụng các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú, giúp tổ chức đạt được mục tiêu đề ra một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn
Để hiểu sâu hơn nội dung chương một sẽ khai thác về các khái niệm, các khía cạnh nội dung của công cụ tài chính và các chính sách công nghệ thông tin nói chung và đối với ngành DS-KHHGĐ nói riêng, cụ thể:
Trang 19- Vai trò của công cụ tài chính
- Khái niệm chính sách công nghệ thông tin
- Vai trò của chính sách công nghệ thông tin
- Khái niệm dữ liệu, quản lý dữ liệu
- Vai trò của quản lý dữ liệu
- Nội dung chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành DS-KHHGĐ
- Tác động của công cụ tài chính đến chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành DS-KHHGĐ
1.2 Công cụ tài chính
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm công cụ
“ Công cụ” là khái niệm rất quen thuộc bởi nó xuất hiện ở hầu hết tất cả các lĩnh vực và ngành nghề trong xã hội Vậy, “Công cụ” là gì?
Trong lĩnh vực kế toán, khái niệm công cụ thường được gắn trong cụm
từ công cụ dụng cụ Trong lĩnh vực này, công cụ được hiểu là:
“ Công cụ, dụng cụ là những tư liệu lao động không có đủ các tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng quy định đối với TSCĐ Vì vậy công cụ, dụng cụ được quản lý và hạch toán như nguyên liệu, vật liệu” [I.1]
Các quy định hiện hành cũng quy định cụ thể các loại hình công cụ, dụng cụ cụ thể
Tuy nhiên, xem xét trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, tác giả đang đề cập đến khái niệm “công cụ” với một nghĩa khác, nghĩa của khoa học quản lý Trong khoa học quản lý, “công cụ được hiểu theo cả nghĩa vật thể và phi vật thể” – Theo nghĩa phi vật thể thì công cụ được hiểu như các thiết chế quản lý Một cách khái quát, trong phạm vi đề tài, có thể hiểu, công cụ ở đây là những cách thức, phương thức thực hiện một hoạt động nào đó, nhằm hướng
Trang 20đến một mục tiêu nào đó của doanh nghiệp Đó có thể là công cụ về tài chính, công cụ về con người, công cụ về năng lực cơ sở vật chất của doanh nghiệp…
1.2.1.2 Khái niệm tài chính
Tài chính cũng là khái niệm quen thuộc, được nhắc đến nhiều trong đời sống cũng như trong các báo cáo khoa học, công trình nghiên cứu ở tất cả các ngành nghề khác nhau, Vậy, tài chính là gì?
Có thể hiểu,
“Tài chính là một phạm trù kinh tế, tồn tại khách quan và mang tính lịch
sử Tài chính chỉ ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định Những điều kiện kinh tế xã hội này là những tiền đề khách quan cho sự
ra đời và phát triển của tài chính Những tiền đề đó là nền kinh tế hàng tiền tệ và nhà nước” [I.2-tr.12]
hóa-Như vậy, tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Nó phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định
Các mối quan hệ tài chính được xác định bao gồm:
- Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước
- Mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp với thị trường tài chính
- Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác
- Mối quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp
Trong phạm vi đề tài này, tác giả xem xét tài chính trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp, tổ chức với ngân sách Nhà nước, với thị trường tài chính
và trong nội bộ tổ chức, doanh nghiệp
Bản chất của tài chính bao gồm các nội dung sau đây:
Trang 21- Là các quan hệ tài chính trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức tổng giá trị, thông qua đó tạo lập các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế
- Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền
- Giá cả của các hàng hóa trên thị trường sẽ phản ánh xu hướng phát triển của nền kinh tế Giá cả hàng hóa giảm thì hiệu quả nền kinh tế sẽ yếu, giá cả hàng hóa mà tăng thì nền kinh tế rất hiệu quả
1.2.1.3 Khái niệm công cụ tài chính
Ở trên, tác giả đã hệ thống hóa lại các khái niệm, cơ sở lý luận liên quan đến “công cụ”, “tài chính”, vậy “công cụ tài chính” là gì?
Theo cách hiểu trên thị trường tài chính, công cụ tài chính là những phương thức, cách thức doanh nghiệp dùng để phòng ngừa các rủi ro tài chính; tạo ra thu nhập; tiết kiệm chi phí; và huy động vốn Công cụ tài chính
có thể được phân chia thành nợ (là khoản vay nhà đầu tư cung cấp cho doanh nghiệp) hoặc vốn cổ phần (thể hiện quyền sở hữu đối với doanh nghiệp)
“Hàng hóa giao dịch trên thị trường tài chính được gọi là tài sản tài chính hoặc các công cụ tài chính và chúng rất đa dạng Tuy nhiên, nhìn chung, nếu phân loại các công cụ tài chính theo hình thức huy động vốn
của các đơn vị phát hành, chúng ta có thể phân chia chúng thành 2 loại: (1) nếu huy động vốn bằng cách phát hành nợ, ta có các chứng khoán
nợ (trái phiếu); (2) nếu huy động vốn bằng cách phát hành vốn ta có chứng khoán vốn (cổ phiếu)”[II.7-tr.24]
Nhìn chung, công cụ tài chính được hiểu là những phương thức, cách thức mà các tổ chức, doanh nghiệp dùng để phòng ngừa các rủi ro trong quá
Trang 22trình hoạt động, hướng đến mục tiêu tiết giảm chi phí, tăng cường lợi nhuận
và đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp, tổ chức đã đề ra
1.2.2 Vai trò của công cụ tài chính
Vai trò của các công cụ tài chính biểu hiện ở những nội dung sau đây:
- Giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp, tổ chức trong quá trình hoạt động, đặc biệt là rủi ro từ biến động giá cả hàng hóa
- Giúp các doanh nghiệp, tổ chức tiết kiệm, giảm thiểu các chi phí hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Ví dụ như, các công cụ tài chính giúp cắt giảm đầu tư cho tuyên truyền,
ưu tiên cho đầu tư công nghệ cao ở những ngành cần đầu tư cho công nghệ cao; ưu đãi thuế suất cho các hợp đồng hay dự án về đổi mới công nghệ trong quản lý các ngành cần những ưu đãi về thuế suất
- Góp phần xác lập các chính sách tài chính cho các doanh nghiệp, các tổ chức, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động
Nhìn chung, chính sách tài chính là một công cụ của quản lý Chính sách tài chính được thực hiện nhờ các công cụ được gọi là các công cụ tài chính Các tổ chức dùng chính sách tài chính như một công cụ để kích thích dùng công nghệ cao trong các hoạt động của tổ chức Đi sâu tìm hiểu về các chính sách tài chính chính là nghiên cứu về các công cụ tài chính mà tổ chức đang
sử dụng
1.3 Chính sách công nghệ thông tin
1.3.1 Khái niệm chính sách công nghệ thông tin
1.3.1.1 Khái niệm chính sách
Về khái niệm chính sách, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến khái niệm này, tác giả xin trích dẫn một số khái niệm sau:
Trang 23Theo Nguyễn Thị Như Mai từ Ban Xây dựng pháp luật Văn phòng Chính phủ trong bài “Chính sách và xây dựng pháp luật”, tác giả đã định nghĩa về từ “chính sách” như sau:
“Chính sách là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế -
xã hội Tuy nhiên, qua tìm hiểu các tài liệu, các nghiên cứu cho thấy khái niệm chính sách được thể hiện khác nhau, ví dụ: "Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra"; hoặc "Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội" [II.25-tr1]
Cũng theo tài liệu này, tác giả phân loại ra nhiều loại chính sách khác nhau, đó là:
- Chính sách đối ngoại của Nhà nước: chủ trương, chính sách mang tính đối ngoại của quốc gia;
- Chính sách kinh tế: chính sách của nhà nước đối với phát triển các ngành kinh tế;
- Chính sách xã hội: chính sách ưu đãi trợ giúp cho một số tầng lớp xã hội nhất định như chính sách xã hội đối với công tác giáo dục ở vùng cao, vùng sâu, chính sách xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sĩ
- Chính sách tiền tệ: chính sách của Nhà nước nhằm điều tiết (tăng hoặc giảm) lượng tiền tệ trong lưu thông để đạt được những mục tiêu nhất định như chống lạm phát, kích thích sản xuất, giảm thất nghiệp, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
Như vậy, khái niệm chính sách là một khái niệm vô cùng rộng lớn, bao hàm nhiều lĩnh vực khác nhau Ở phạm vi của đề tài này, chính sách được hiểu như là kế hoạch, chiến lược cụ thể nhằm thực hiện một mục tiêu nào đó của doanh nghiệp hay tổ chức
Trang 24Theo Vũ Cao Đàm trong giáo trình “Khoa học chính sách”, tác giả đã
định nghĩa về từ “chính sách” như sau:
“ Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một
số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”"
[I.3]
Theo tác giả thì khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường
Cũng có nhiều định nghĩa khác đề cập đến khái niệm “chính sách” Có thể hiểu một cách tổng quát, chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra; nó được ban hành căn cứ vào đường lối chung và tình hình thực tế, đồng thời được ban hành nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó và các chính sách được ban hành đều
có sự tính toán và chủ đích rõ ràng
1.3.1.2 Khái niệm công nghệ thông tin
Khái niệm công nghệ thông tin đã rất quen thuộc trong đời sống hiện nay Đây là khái niệm vẫn còn rất mới mẻ, là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin
Trên thế giới, thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Hai
tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT)" [II.8-tr.11]
Trang 251.3.1.3 Khái niệm chính sách công nghệ thông tin
Chính sách công nghệ thông tin có thể được hiểu như là một tập hợp các biện pháp được thể chế hóa, tập hợp những cách thức, phương thức của một
tổ chức nào đó nhằm áp dụng các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm
tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của tổ chức Đơn giản hơn, chính sách công nghệ thông tin là những phương thức để áp dụng các công nghệ về thông tin mới mẻ, tiên tiến vào trong tổ chức, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức
1.3.2 Vai trò của chính sách công nghệ thông tin
Vai trò của chính sách công nghệ thông tin biểu hiện ở những nội dung sau đây:
- Chính sách công nghệ thông tin giúp tổ chức xác định được cách thức, phương thức để nghiên cứu và ứng dụng những công nghệ mới vào thực tiễn
tổ chức
- Chính sách công nghệ thông tin giúp tổ chức tiếp thu các công nghệ mới, các phương thức tiếp nhận thông tin tiên tiến, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức
- Chính sách công nghệ thông tin là phương cách hiệu quả nhất giúp xã hội tiếp cận nhanh chóng với các công nghệ hiện đại, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của các lĩnh vực khác nhau tại quốc gia áp dụng chính sách
- Đầu tư cho công nghệ nói riêng và phát triển công nghệ thông tin nói chung là phương cách nhanh chóng nhất giúp quốc gia phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng nhất
1.4 Cơ sở lý luận về dữ liệu, quản lý dữ liệu
1.4.1 Cơ sở lý luận về dữ liệu
Trang 261.4.1.1 Khái niệm dữ liệu:
Theo điều 4 Luật Giao dịch điện tử số: 51/2005/QH11ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005, Dữ liệu được hiểu là:
“Dữ liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự”
Có thể hiểu một cách tổng quát, dữ liệu bao gồm những mệnh đề phản ánh thực tại Một phân loại lớn của các mệnh đề quan trọng trong thực tiễn là các đo đạc hay quan sát về một đại lượng biến đổi Các mệnh đề đó có thể bao gồm các số, từ hoặc hình ảnh Cơ sở dữ liệu là tập hợp các dữ liệu được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thông qua phương tiện điện tử
1.4.1.2 Phân loại dữ liệu,
Dữ liệu thông thường được phân thành hai loại, bao gồm: Dữ liệu sơ cấp
và dữ liệu thứ cấp
* Dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp bao gồm tất cả những dữ liệu mà tác giả có thể lấy được
từ sách, báo, internet và nhiều nguồn khác như thư viện, tivi, …
Ưu điểm của dữ liệu thứ cấp là sẵn có, không tốn thời gian để tìm kiếm
và thu thập, có thể tìm kiếm ở tài liệu trong và cả ngoài nước vì không giới hạn về mặt địa lý, từ đó nguồn dữ liệu rất phong phú và đa dạng để thu thập
và sử dụng trong luận văn
Nhược điểm của dữ liệu thứ cấp là những dữ liệu này đã được nghiên cứu và đánh giá trước đây bởi các tác giả trước và việc lấy những dữ liệu này
áp dụng với đề tài nghiên cứu trong thời điểm hiện tại sẽ không chính xác so với thời điểm mà các tác giả trước đã nghiên cứu
* Dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp được hiểu là những thông tin được thu thập bởi chính
Trang 27trong các nghiên cứu trước đây và những nhà nghiên cứu thường chọn loại dữ liệu này khi họ không tìm được nguồn dữ liệu thứ cấp tương ứng
Ưu điểm của dữ liệu sơ cấp là phù hợp với đề tài nghiên cứu vì đó là dữ liệu được thu thập trực tiếp cho đề tài nghiên cứu đang thực hiện
Nhược điểm của dữ liệu sơ cấp là hạn chế về độ tin cậy của dữ liệu
1.4.2 Cơ sở lý luận về quản lý dữ liệu
1.4.2.1 Khái niệm quản lý dữ liệu
“Quản lý” là đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các
bộ phận của một tổ chức, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, trí thực và giá trị vô hình), giúp tổ chức đạt được mục tiêu đã đề ra
Quản lý dữ liệu là sự kết hợp giữa con người, quy trình và kỹ thuật, cho phép một tổ chức có thể tối ưu hóa, bảo vệ và sử dụng các nguồn dữ liệu (cấu trúc và phi cấu trúc) một cách hiệu quả như một tài sản của tổ chức đó
Như vậy, quản lý dữ liệu là đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của tổ chức sở hữu dữ liệu đó, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên nhằm giúp các dữ liệu được sử dụng đúng mục đích, giúp tổ chức đạt được mục tiêu một cách nhanh và hiệu quả nhất
1.4.2.2 Nội dung quản lý dữ liệu
Nhiệm vụ cơ bản hay nội dung của quản lý dữ liệu bao gồm:
- Hoạch định: xác định mục tiêu, quyết định những công việc cần làm trong tương lai và lên các kế hoạch hành động nhằm sử dụng hiệu quả nguồn
dữ liệu của tổ chức
- Tổ chức: sử dụng một cách tối ưu các tài nguyên được yêu cầu để thực hiện kế hoạch giúp tổ chức đạt được mục tiêu một cách nhanh và hiệu quả nhất thông qua việc sử dụng đúng và tốt nguồn dữ liệu của tổ chức
Trang 28- Bố trí nhân lực: phân tích công việc, tuyển mộ và phân công từng cá nhân cho từng công việc thích hợp liên quan đến sử dụng nguồn dữ liệu tổ chức
- Lãnh đạo/Động viên: Giúp các nhân viên khác làm việc hiệu quả hơn
để đạt được các kế hoạch
- Kiểm soát: Giám sát, kiểm tra quá trình hoạt động theo kế hoạch
1.4.2.3 Vai trò của quản lý dữ liệu
Vai trò của quản lý dữ liệu thể hiện ở khía cạnh:
- Giúp công tác thu thập, khai thác và sử dụng dữ liệu diễn ra một cách hiệu quả trong các tổ chức
- Thông qua quản lý dữ liệu, các tổ chức có thể tìm kiếm các phương thức, quy trình để giúp người quản lý dữ liệu (data stewards) và người thao tác dữ liệu (data custodians) sử dụng, quản lý dữ liệu một cách hiệu quả nhất
- Giúp tổ chức đạt được các mục tiêu đưa ra nhanh hơn, bằng cách sử dụng hiệu quả nguồn dữ liệu của tổ chức
1.5 Nội dung chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành DS-KHHGĐ
Nội dung chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành DS-KHHGĐ có thể được tóm lược trong sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.1 Nội dung chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành DS-KHHGĐ
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Trang 29Nội dung chính sách công nghệ thông tin trong ngành DS-KHHGĐ
lý dữ liệu ngành
Đánh giá kết quả thực hiện chính sách CNTT trong quản lý dữ liệu ngành DS-KHHGĐ
Kiểm tra, giám sát quá trình triển khai, điều chỉnh linh hoạt
Xây dựng kế hoạch tài chính triển khai chính sách CNTT quản lý
dữ liệu
Xây dựng kế hoạch nhân sự triển khai chính sách CNTT quản lý dữ liệu
Nghiên cứu những chính sách công nghệ thông tin tiên tiến, mới mẻ
Ứng dụng các công nghệ mới vào hoạt động quản lý dữ liệu của ngành
Trang 30Thông qua sơ đồ trên, có thể thấy được các nội dung chính của chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành DS-KHHGĐ bao gồm các nội dung sau đây:
- Xây dựng kế hoạch, chiến lược, chính sách CNTT trong quản lý dữ liêụ ngành DS-KHHGĐ
Trong nội dung này, ngành DS-KHHGĐ sẽ xây dựng các mục tiêu, định hướng chung trong quá trình ứng dụng CNTT vào các hoạt động thông tin của ngành, đồng thời cũng phân rõ các bộ phận, cá nhân thực hiện các công việc liên quan
- Triển khai thực hiện chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liêụ ngành DS-KHHGĐ
Các nội dung triển khai thực hiện chính sách bao gồm:
+ Sử dụng các công cụ nhằm thúc đẩy hình thành chính sách CNTT
Sử dụng các công cụ nhằm thúc đẩy hình thành chính sách CNTT, Trong
đó có các công cụ tài chính, công cụ về sơ sở vật chất, và không thể thiếu các yếu tố về nguồn nhân lực
+ Tập trung khai triển chính sách CNTT trong quản lý dữ liệu ngành KHHGĐ
DS-Các nội dung tập trung triển khai chính sách bao gồm:
> Xây dựng kế hoạch tài chính triển khai chính sách CNTT quản lý dữ liệu
> Xây dựng kế hoạch nhân sự triển khai chính sách CNTT quản lý dữ liệu
> Nghiên cứu những chính sách công nghệ thông tin tiên tiến, mới mẻ
> Ứng dụng các công nghệ mới vào hoạt động quản lý dữ liệu của ngành
Trang 31+ Kiểm tra, giám sát quá trình triển khai, điều chỉnh linh hoạt: Nội dung này sẽ giúp phòng ngừa được những rủi ro phát sinh trong quá trình khai triển chính sách công nghệ thông tin trong ngành
- Đánh giá kết quả thực hiện chính sách CNTT trong quản lý dữ liêụ ngành DS-KHHGĐ
Đây là nội dung giúp ngành đánh giá được những ưu, nhược điểm trong quá trình thực hiện để rút kinh nghiệm cho giai đoạn sau nhằm hoàn thiện hơn nữa các chính sách CNTT trong quản lý dữ liệu ngành DS-KHHGĐ nói riêng
và trong các hoạt động khác của ngành nói chung
1.6 Tác động của công cụ tài chính đến chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành Dân số-KHHGĐ
Tác động của công cụ tài chính đến chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành DS- KHHGĐ có thể được tóm lược trong những nội dung sau:
Thứ nhất, công cụ tài chính hỗ trợ đắc lực cho việc triển khai thực hiện
chính sách công nghệ thông tin, công tác triển khai và hình thành chính sách CNTT trong bất kỳ một ngành nghề hay tổ chức này không thể thiếu các yếu
tố về tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất, và yếu tố về tài chính hay công cụ tài chính là yếu tố rất quan trọng
Tác động này biểu hiện ở chỗ khi cần xây dựng, thiết lập, triển khai hay đánh giá bất kỳ một chính sách công nghệ thông tin nào trong các tổ chức, các doanh nghiệp, thì tổ chức đó cần phải đảm bảo đầy đủ mọi điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng như các yếu tố về con người để thực hiện các kế hoạch, chiến lược ứng dụng chính sách công nghệ thông tin đó Để các yếu tố này phát huy hiệu quả, công cụ tài chính chính là công cụ hỗ trợ đắc lực, và từ
đó nó tác động đến chính sách công nghệ thông tin
Trang 32Thứ hai, công cụ tài chính giúp các chính sách công nghệ thông tin trong
quản lý dữ liệu của ngành DS-KHHGĐ được hình thành một cách nhanh chóng và thúc đẩy sự phát triển của các chính sách này theo từng giai đoạn phát triển của ngành
Tác động thúc đẩy này biểu hiện ở khía cạnh, nhờ có các công cụ tài chính mà các yếu tố như đã đề cập về cơ sở vật chất, con người sẽ hỗ trợ tối
đa cho việc hình thành các chính sách công nghệ thông tin, từ đó các chính sách này sẽ hình thành một cách nhanh chóng hơn
Thứ ba, công cụ tài chính cùng với các công cụ khác giúp cho công tác
ứng dụng các công nghệ mới vào hệ thống quản lý thông tin dữ liệu của ngành DS-KHHGĐ một cách hiệu quả nhất
Tác động này thể hiện sự phối hợp của các công cụ tài chính và các công
cụ khác trong việc nâng cao quá trình thúc đẩy hình thành chính sách công nghệ thông tin Thực hiện đồng bộ và áp dụng đầy đủ các công cụ cần thiết sẽ giúp quá trình này hiệu quả hơn tại tổ chức
Thứ tư, công cụ tài chính giúp giảm thiểu chi phí thúc đẩy hình thành
chính sách thông tin của ngành DS-KHHGĐ, đồng thời thúc đẩy sự hình thành của công nghệ cao được ứng dụng hiệu quả trong ngành
Yếu tố tài chính, chi phí luôn là yếu tố cần được quan tâm trong bất cứ tổ chức, doanh nghiệp nào Tổ chức hay doanh nghiệp sẽ đặt ra các câu hỏi về các khoản chi phí dành cho công tác hình thành chính sách CNTT tại doanh nghiệp Công cụ tài chính sẽ giúp giảm thiểu chi phí không cần thiết, từ đó nâng cao hiệu quả các chính sách CNTT tại các tổ chức
Bên cạnh đó, công cụ tài chính là công cụ hữu hiệu nâng cao hiệu quả
của các hợp đồng, dự án nâng cao chất lượng công nghệ quản lý trong ngành DS-KHHGĐ
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nội dung chương 1 đã đi vào tìm hiểu và nghiên cứu về cơ sở lý luận về công cụ tài chính, chính sách công nghệ thông tin, dữ liệu và quản lý dữ liệu sau đó hệ thống hóa và tổng hợp lại cách hiểu về công cụ tài chính hình thành chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành DS – KHHGĐ nói chung
Nhiệm vụ của chương 2 là phân tích và đánh giá thực trạng việc sử dụng công cụ tài chính để thúc đẩy hình thành chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận trong những năm gần đây
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÔNG CỤ TÀI CHÍNH
VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ DỮ
LIỆU NGÀNH DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
TỈNH NINH THUẬN 2.1 Dẫn nhập
Ngành DS-KHHGĐ tại Việt Nam được hình thành từ thập niên 1960 Nhận thức được tác động của gia tăng dân số nhanh ảnh hưởng tới phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cho tương lai trước mắt và lâu dài
Ngày 26/12/1961 Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký ban hành Quyết định số 216-CP về việc sinh đẻ có hướng dẫn, đánh dấu mốc lịch sử quan trọng của Việt Nam về công tác DS-KHHGĐ Quyết định này đã đánh dấu Việt Nam là một trong những quốc gia có ngành DS-KHHGĐ đầu tiên trên toàn thế giới
Hơn nửa thế kỷ qua, ngành DS-KHHGĐ Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc cân bằng dân số và thực hiện hiệu quả công tác kế hoạch hóa gia đình
Đặc biệt, trong quá trình phát triển của ngành DS-KHHGĐ, yếu tố về phát triển công nghệ, ứng dụng những công nghệ mới vào hoạt động của ngành luôn nhận được nhều sự quan tâm và hỗ trợ
2.2 Tổng quan ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận
Lịch sử hình thành và phát triển ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của toàn ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình của cả nước như đã đề cập ở trên
Tại Ninh Thuận, vào những năm đầu của thập kỷ 90, các chỉ báo dân số
Trang 35con thứ 3 trở lên là 44,5%, số con trung bình của 1 phụ nữ trong độ tuổi sanh
đẻ là 4,1 con Những con số này cho thấy những nguy cơ tiềm ẩn về sự đi xuống trong phát triển xã hội và là viễn cảnh của những khó khăn cho cuộc sống của người dân, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của cả một xã hội, trước hết là tại tỉnh Ninh Thuận và sau đó là trên toàn Việt Nam
Đứng trước những nguy cơ này, ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận đã đề ra các chương trình mục tiêu DS-KHHGĐ trong giai đoạn 1991 – 2000 và giai đoạn 2001-2010 Mục tiêu của các chương trình nhằm giảm nhanh mức sinh hằng năm, giảm tỷ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên, xây dựng quy mô gia đình nhỏ có từ 1 đến 2 con
Ngày 01/4/1992, tỉnh Ninh Thuận được chia tách từ tỉnh Thuận Hải (cũ)
và cũng từ đây, ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận được thành lập
Từ ngày thành lập đến nay, ngành DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận đã trải qua nhiều những khó khăn, thử thách với những tên gọi khác nhau, cụ thể:
- Giai đoạn từ năm 1992 – 2001:
Ủy ban Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận
- Giai đoạn từ năm 2002 – 2007
Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Ninh Thuận
- Giai đoạn từ năm 2008 đến nay
Chi cục Dân số - KHHGĐ, thuộc Sở Y tế
Chi cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình tỉnh Ninh Thuận được thành lập ngày 20 tháng 6 năm 2008 tại Quyết định số 161/2008/QĐ-UBND của UBND tỉnh Ninh Thuận
Từ khi đi vào hoạt động đến nay, công tác DS - KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận luôn được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát, kịp thời trong mỗi giai đoạn, cụ thể qua các văn bản chỉ đạo trọng tâm nhằm huy động sự tập trung chỉ đạo,
Trang 36lãnh đạo, phối hợp điều hành của cả hệ thống chính trị, nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền và huy động sự vào cuộc của các ban, ngành, các tổ chức xã hội, đặc biệt là sự tăng cường nguồn lực, tài chính và những chính sách hỗ trợ cho công tác DS-KHHGĐ, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phong trào thực hiện KHHGĐ trong nhân dân, tạo động lực và niềm tin cho ngành vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ
Gần đây nhất, vào năm 2011, ngành DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận thực hiện triển khai các hoạt động đề án, mô hình mới của chiến lược chương trình DS- Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011- 2020 mà Chính Phủ đã đề ra Tỉnh Ninh Thuận đã thực hiện tốt trong công tác tuyên truyền phổ biến trong nhân dân để nâng cao chất lượng dân số, nâng cao ý thức của người dân về các vấn
đề liên quan đến dân số và kế hoạch hóa gia đình
2.2.2 Kết quả hoạt động giai đoạn 2011 – 2013
Đề tài sẽ phân tích kết quả hoạt động của ngành dân số tỉnh Ninh Thuận trên hai phương diện: Thực hiện chỉ tiêu giảm sinh và thực hiện kế hoạch hóa gia đình với các chỉ tiêu về quy mô dân số, tỷ lệ sinh, kết quả thực hiện kế hoạch hóa gia đình
Bảng dưới đây sẽ tổng hợp về kết quả hoạt động trong giai đoạn 2011 – 2013:
Trang 37Bảng 2.1 Kết quả thực hiện chỉ tiêu giảm sinh của ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận
Tỷ số giới tính khi sinh Chỉ số 108,7 trai/100 gái 106,1 trai/100 gái 105,6 trai/100 gái
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình năm 2011, 2012, 2013 của tỉnh Ninh Thuận)
Trang 38Bảng 2.2 Kết quả thực hiện kế hoạch hóa gia đình của ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận
Đạt %
so với
kế hoạch (%)
Năm 2012
Đạt %
so với
kế hoạch (%)
Năm 2013
Đạt %
so với
kế hoạch (%)
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình năm 2011, 2012, 2013 của tỉnh Ninh Thuận)
Trang 39Thông qua hai bảng trên, có thể thấy được tổng quát về tình hình hoạt động của ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận trong ba năm gần nhất 2011 – 2013
Nhìn chung, trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, Pháp luật của Nhà nước về công tác DS-KHHGĐ và các mục tiêu kinh tế- xã hội của tỉnh, công tác DS- KHHGĐ ba năm gần đây 2011 - 2013 đã được tổ chức triển khai thực hiện đảm bảo tính chủ động, đồng bộ, thống nhất trên địa bàn toàn tỉnh và đạt được một số kết quả quan trọng như đã đề cập ở trên Thông qua hai bảng tổng hợp kết quả hoạt động trên, có thể thấy tình hình hoạt động của ngành dân số tỉnh Ninh Thuận như sau:
- Quy mô dân số tăng đều trong cả ba năm, tuy nhiên mức tăng không cao, nằm ở mức thấp chứng tỏ ngành dân số tỉnh Ninh Thuận đã kiểm soát được tình hình tăng dân số của địa phương Cũng vì vậy mà tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên giảm dần qua ba năm này
- Số trẻ được sinh ra tăng lên trong năm 2012 so với 2011 nhưng năm
2013 gần đây, số trẻ được sinh ra đã được giảm xuống đáng kể cho thấy hiệu quả các chính sách dân số của ngành dân số tỉnh Ninh Thuận
- Tỷ lệ giới tính khi sinh nhìn chung cũng khá đồng đều, chênh lệch ít cho thấy sự cân bằng về giới tính ở các trẻ sinh ra
- Nhìn chung, tình hình thực hiện các BPTT tại địa bàn tỉnh đều đạt chỉ tiêu năm đề ra, năm 2011 đạt 113,9% chỉ tiêu đề ra, năm 2012 đạt 106,2% chỉ tiêu đề ra và năm 2013 là 103,6%
Như vậy, nhìn chung, ngành dân số kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận, bên cạnh những hạn chế, ngành đã đạt được những kết quả tốt trong việc điều chỉnh quy mô dân số, giảm tỷ lệ sinh và thực hiện kế hoạch hóa gia đình khá là hiệu quả
Trang 40Nguyên nhân ngành dân số kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận đạt được những thành quả như trên xuất phát từ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp Ủy đảng, Chính quyền các cấp, các ngành, đặc biệt là sự chỉ đạo sâu sát của Sở Y tế; sự nỗ lực của tập thể những người làm công tác DS- KHHGĐ; sự đồng tình, ủng hộ và tham gia của các tầng lớp nhân dân
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những hạn chế trong hoạt động, xuất phát từ các nguyên nhân sau:
- Nhận thức của một số người dân về công tác DS-KHHGĐ vẫn còn hạn chế, xu hướng muốn có nhiều con và phải có con trai, có nếp có tẻ vẫn còn tồn tại, đặc biệt là đối với vùng sâu, vùng xa, vùng biển và ven biển, các cặp
vợ chồng sinh con một bề
- Theo tín ngưỡng dân gian, người dân vẫn tin vào những thời điểm đẹp
để sinh con trai, ví dụ như năm 2012, vì vậy mà vẫn dẫn đến sự chênh lệch trong tỷ lệ giới cũng như tăng tỷ lệ sinh lên
- Xu hướng muốn có nhiều con và phải có con trai vẫn tồn tại trong một
bộ phận nhân dân trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
- Đơn vị cung cấp dịch vụ chưa đáp ứng kịp thời que cấy tránh thai cho đối tượng sử dụng, do vậy tỷ lệ que cấy tránh thai đạt thấp
- Thù lao cho Cộng tác viên dân số thôn khu phố còn thấp so với công việc đang đảm nhận
- Kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ phân bổ chậm dẫn đến việc triển khai Kế hoạch hoạt động các chương trình gặp nhiều khó khăn