Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học Tư tưởng giải thoát của phật giáo việt nam thời trần luận văn ths triết học
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN HÙNG HẬU
Hà Nội – 2014
Trang 2LỜI CẢM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Hùng Hậu
Luận văn đảm bảo tính khách quan khoa học với những tư liệu chính xác, rõ ràng
Hà Nội, ngày 5 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
TRẦN THỊ THU HIỀN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Chân trọng cảm ơn các thầy cô đã giúp em trong quá trình học tập và hướng dẫn hoàn thành luận văn này Xin cảm ơn các trung tâm tư liệu, thư viện đã cung cấp những tài liệu, sách báo, tạo điều kiện giúp tôi nghiên cứu để hoàn thành tốt khóa luận
Em cũng xin gửi lời tri ân sâu sắc tới thầy hướng dẫn là GS.TS Nguyễn Hùng Hậu và cô giáo chủ nhiệm là TS Trần Thị Hạnh đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn
Con xin cảm ơn cha mẹ đã luôn tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất cho con trong quá trình học tập và nghiên cứu
Cảm ơn các Phật tử trong đạo tràng chùa Quán Sứ, chùa Lý Quốc Sư, chùa Hương Thể (Hà Nội), chùa Bách Lẫm, chùa Ngọc Am (Yên Bái) đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hiểu rõ hơn về Phật giáo và những sinh hoạt tín ngưỡng của Phật giáo Đồng thời giúp tôi tham gia các lớp học, các khóa tu ngắn ngày để phục vụ cho công việc nghiên cứu, hoàn thành tốt luận văn
Xin chân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Học viên
Trần Thị Thu Hiền
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI TRẦN 7
1.1 Một vài nét về Phật giáo và tư tưởng giải thoát trong Phật giáo 7
1.1.1 Một vài nét về Phật giáo 7
1.1.2 Tư tưởng giải thoát của Phật giáo và vị trí của nó trong giáo lý Phật giáo 20
1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần 25
1.2.1 Cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội để hình thành tư tưởng giải thoát Phật giáo Việt Nam thời Trần 25
1.2.2 Cơ sở văn hóa, tư tưởng hình thành tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần 29
Tổng kết chương 1: 32
Chương 2:NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI TRẦN 33
2.1 Nội dung tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần 33
2.1.1 Chủ thể, phương tiện, cách thức giải thoát 33
2.1.2 Mục đích của giải thoát 47
2.2 Đặc điểm tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần 48
2.2.1 Giải thoát là gắn liền với tư tưởng nhập thế cứu đời, không xa rời cuộc sống 48
Trang 52.2.2 Giải thoát gắn liền với cứu nước, cứu dân, đánh đuổi quân xâm lược,
giải phóng dân tộc 62
2.2.3 Giải thoát gắn liền với ổn định trật tự xã hội và phát triển đất nước 71
Tổng kết chương 2 74
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong kiếp nhân sinh nỗi khổ dường như là một tất yếu đối với cuộc sống con người Nhưng mỗi con người lại chịu những nỗi khổ khác nhau do điều kiện và môi trường xã hội, hoàn cảnh sống khác nhau Đức Phật sau khi trải nghiệm cuộc sống cùng với quá trình tu luyện tâm linh, Phật đã giác ngộ rồi kết luận “đời là bể khổ” và “nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới chứa tích lại còn nhiều hơn nước ngoài bốn bể” Nỗi khổ của con người thì hằng hà sa số, nhiều hơn cả cát sông Hằng Nỗi khổ của con người cũng muôn hình vạn trạng với nhiều hình thức khác nhau, nhưng được Phật tóm lược dưới 8 nỗi khổ cơ bản như “ái thụ biệt ly khổ - yêu thương mà phải xa cách; oán tăng hội khổ - ghét mà phải gần nhau; sở cầu bất đắc khổ - mong muốn mà không đạt được; thụ ngũ uẩn khổ - khổ vì sự tồn tại của thân xác; Sinh khổ; Lão khổ; Bệnh khổ; Tử khổ” Đây là 8 nỗi khổ tất yếu theo quy luật của cuộc đời con người mà ai cũng phải trải qua, để trải nghiệm và thấu hiểu cuộc sống Ngoài những nỗi khổ trên, con người còn phải chịu bao nỗi khổ như đói, rét, nóng bức, giặc giã, hỏa hoạn, cướp bóc, tù ngục, ưu sầu, khổ não,
lo lắng, bức bách trong trong thân và tâm cùng biết bao nỗi khổ khác trong cuộc đấu tranh sinh tồn, phát triển
Các quốc gia dân tộc trên thế giới muốn đi tới sự phát triển và khẳng định nền độc lập dân tộc mình đã phải đấu tranh và chịu hy sinh biết bao xương máu, khiến nỗi khổ con người dường như là một tất yếu của cuộc sống Nên giải thoát trở thành một nhu cầu và khát vọng lớn của con người cũng như của các quốc gia dân tộc trên thế giới để đi tới tự do, hạnh phúc
Để giải thoát con người đã sử dụng rất nhiều phương cách khác nhau, nhưng tựu chung lại có hai khuynh hướng cơ bản : Khuynh hướng thứ nhất là đấu tranh hướng ngoại với việc trống lại mọi áp bức, bất công trong xã hội, cải tạo thực tiễn, chinh phục tự nhiên, tự giải thoát mình khỏi chính những trói buộc, rào cản trong hiện thực cuộc sống để đi tới sự phát triển Khuynh hướng thứ hai là hướng nội, quay về trực diện bản tâm, với quá trình thực nghiệm tâm linh và trau dồi đạo đức,
Trang 7trí tuệ đi tới sự giải thoát Tuy nhiên dù theo khuynh hướng nào thì cũng đòi hỏi con người luôn phải cố gắng nỗ lực hết mình mới đi tới sự giải thoát Do môi trường sống với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử khác nhau, cùng với nhân tố chủ quan
và yếu tố khách quan khác nhau mà con đường giải thoát của mỗi con người, mỗi quốc gia dân tộc lại có sự khác nhau Chính sự khác biệt đó đã tạo nên những đặc thù riêng biệt trong mỗi cá nhân con người cũng như mỗi quốc gia dân tộc và thậm trí trong mỗi giai đoạn, thời kỳ lịch sử xã hội cũng có sự khác nhau
Nhìn lại chặng đường phát triển của lịch sử Việt Nam, đó là chặng đường dài với những trang sử hào hùng vẻ vang, nhưng cũng đầy gian khổ trong những cuộc chiến tranh xây dựng và bảo vệ, phát triển đất nước Tuy nhiên người Việt Nam với ý chí, nghị lực, bản lĩnh phi thường, đã không ngừng nỗ lực đấu tranh để giải thoát mình, giải phóng dân tộc khỏi mọi khổ đau của những ách áp bức, bóc lột nô dịch của các thế lực ngoại xâm để tiến tới sự phát triển Thời đại nhà Trần chính là một minh chứng điển hình tiêu biểu
Giai đoạn nhà Trần, đây là giai đoạn đã để lại trong lịch sử dân tộc một thời
kỳ vàng son với những thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước Triều đại nhà Trần, một giai đoạn có khá nhiều những biến động trong lịch sử với những bước ngoặt mang tính đột phá, điều này thể hiện ngay cả trong sự ra đời của nhà Trần và sự chuyển giao quyền lực chính trị giữa hai tộc quyền Lý - Trần Rồi những thắng lợi vĩ đại trong lịch sử, ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông và các thế lực xâm lược, đã khiến tinh thần Đông A hừng hực khí thế, đưa dân tộc bước vào một kỷ nguyên mới của độc lập tự chủ phát triển Không những thế vua quan nhà Trần không chỉ là “Vua minh, binh hùng tướng mạnh” oai phong lẫm liệt nơi sa trường mà còn là những nhà tư tưởng tiêu biểu, dũng cảm trong con đường tu thân, tu đạo để vượt sông mê, bể khổ đi tới bến bờ của sự giác ngộ chân lý, giải thoát sự khổ đau cho con người trong kiếp sống nhân sinh, có giá trị lớn với tư tưởng dân tộc
Vậy yếu tố cơ bản nào đã tạo nên thời kỳ hoàng kim cho triều đại nhà Trần
và đưa một đất nước nhỏ bé nhưng có thể làm nên những kỳ tích lớn lao với những
Trang 8thắng lợi vĩ đại như vậy ? Dưới thời Trần, với sự kế thừa những giá trị văn hóa tư tưởng của triều đại Lý, Phật giáo thời kỳ này phát triển rất mạnh và đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần xã hội Phải chăng đây chính là hệ tư tưởng có
sự ảnh lớn tới sự phát triển của quốc gia dân tộc và tạo nên sức mạnh khổng lồ cho dân tộc trong cuộc kháng chiến cứu nước Dưới thời đại nhà Trần, các vua Trần cũng chính là những thiền sư lỗi lạc và là những vị vua anh minh nên đã lãnh đạo được quân và dân tạo nên những thắng lợi vĩ đại cho lịch sử dân tộc Không những thế hình ảnh các vua quan nhà Trần như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Pháp Loa, Huyền Quang, Trần Hưng Đạo còn trở thành những tấm gương sáng cho các thế hệ mai sau về con đường tu thân,
tu đạo và phát huy vai trò của mình trong việc cải tạo xã hội, bảo vệ và xây dựng phát triển đất nước
Với ý nghĩa đó đề tài muốn đi sâu vào nghiên cứu và làm rõ những giá trị tư tưởng Phật giáo Việt Nam thời Trần cùng sự ảnh hưởng của nó tới đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội; đặc biệt là tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam nhà Trần qua các nhân vật lịch sử như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang cùng với sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử,
để thấy được những giá trị nhân văn và những tư tưởng tiến bộ trong đó Qua đó giúp con người nâng cao nhận thức và vận dụng trong thực tiễn cuộc sống Ngoài ra góp phần bổ sung thêm những tri thức mới vào kho tàng văn hóa Việt Nam Trở thành tài liệu tham khảo cho giảng dạy và cho các công trình nghiên cứu khoa học tiếp theo
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Triều đại nhà Trần, Phật giáo có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp bảo
vệ, xây dựng, phát triển đất nước thời bấy giờ Nói tới Phật giáo thời Trần cũng đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học Tựu chung lại tác giả tạm chia thành bốn nhóm:
Nhóm thứ nhất nghiên cứu Phật giáo Việt Nam thời Trần dưới góc độ lịch
sử, gồm có: “Việt Nam Phật Giáo Sử Lược” của tác giả Thích Mật Thể (Tổng hội tăng ni Bắc Việt, Hà Nội, 1942); “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Tài Thư(Nxb Khoa học xã hội, 1988); “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang(Nxb Văn học, Hà Nội, 1992) “Lược sử Phật giáo Việt Nam” của Thích Minh
Trang 9Tuệ(Thành hội Phật giáo Tp Hồ Chí Minh, 1993); “Lịch sử Phật giáo Việt Nam của
Lê Mạnh Thát(Nxb Thuận hóa, Huế, 1999); “Thuyết Trần- Sử nhà Trần” của Trần Xuân Sinh(Nxb Hải Phòng, 2006) Các công trình này chủ yếu nghiên cứu Phật giáo thời Trần dưới góc độ lịch sử trong sự hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam
Nhóm thứ hai nghiên cứu Phật giáo thời Trần dưới góc độ tôn giáo bao gồm các tác phẩm như “Tư tưởng Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Duy Hinh(Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999); “Thiền học đời Trần” của nhóm tác giả Thích Thanh Từ, HT.Thích Minh Tuệ, TT Thích Phước Sơn, Minh Chi, Trần Lê Nghĩa, Nguyễn Thế Đăng, Ngô Văn Lệ (Nxb Tôn giáo, Hà Nội) Các tác phẩm này đi sâu vào nghiên cứu, phân tích những tư tưởng Phật giáo thời Trần trên lập trường tôn giáo
Nhóm thứ ba nghiên cứu Phật giáo thời Trần dưới góc độ triết học như tác phẩm “Lịch sử triết học” của GS, TS Nguyễn Hữu Vui( Nxb Chính trị Quốc Gia
HN, 2004; “Đại cương lịch sử triết học Việt Nam” của GS, TS Nguyễn Hùng Hậu(Nxb.Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2010) Cùng với rất nhiều các tác phẩm, các bài báo và các công trình nghiên cứu khoa học khác của nhiều tác giả được in ấn và đăng trên các tạp chí Tôn giáo, Triết học cũng đề cập tới tư tưởng Phật giáo thời Trần Những công trình này đã nêu ra được những vấn đề mang tính triết học trong tư tưởng của Phật giáo Việt Nam thời Trần cùng vai trò, sự ảnh hưởng của nó trong sự phát triển xã hội thời bấy giờ
Nhóm thứ tư nghiên cứu Phật giáo thời Trần thông qua tư tưởng của các thiền sư, các nhân vật lịch sử như “Tam Tổ Trúc Lâm” của HT Thích Thanh Từ(Giáo hội Phật giáo Việt Nam Ban Văn Hóa TW, Nxb Thiền viện Thường Chiếu, 1997); “Khóa Hư Lục” Trần Thái Tông, Dịch giả Thích Thanh Kiểm Nxb, Thành Hội Phật Giáo Tp Hồ Chí Minh 1997; “Toàn tập Trần Nhân Tông”, Viện nghiên cứu Phật hoc Việt Nam - Lê Mạnh Thát, (Nxb Phương Đông 2010) Các tác phẩm này đã làm rõ được những giá trị tư tưởng của các thiền sư, các nhân vật lịch sử cùng sự đóng góp của vai trò cá nhân của họ trong sự vận động, phát triển xã hội và
tư tưởng Phật giáo Việt Nam
Tuy nhiên về tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần vẫn là một mảng trống Vì vậy tôi muốn đi sâu vào tìm hiểu và làm rõ những tư tưởng giải
Trang 10thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần để thấy được vai trò và sự ảnh hưởng của
nó trong đời sống tinh thần xã hội lúc bấy giờ, sự tác động của nó trong hệ tư tưởng văn hóa Việt Nam Sự đóng góp của Phật giáo đối với phát triển của đất nước trong các giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội Việt Nam Qua đó chỉ ra được những giá trị tinh hoa trong tư tưởng giải thoát của Phật giáo của Việt Nam thời Trần, giúp có một cái nhìn mới về Phật giáo Việt Nam, và có thể vận dụng trong thực tiễn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần
- Phạm vi nghiên cứu : Luận văn đi vào một khía cạnh của Phật giáo Việt Nam thời Trần đó là tư tưởng giải thoát thông qua cuộc đời, sự nghiệp cùng các tác phẩm thơ văn thời Trần của các tác giả như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Pháp Loa, Huyền Quang
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Phân tích nội dung tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Cơ sở hình thành tư tưởng giải thoát Phật giáo Việt Nam thời Trần
+ Nội dung tư tưởng giải thoát Phật giáo Việt Nam thời Trần, giá trị lý luận của
tư tưởng giải thoát Phật giáo thời Trần với thực tiễn
5 Cơ sở lý luận và thực tiễn
6 Phương pháp nghiên cứu
-Về phương pháp luận chung: Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
-Về phương pháp cụ thể bao gồm có :
+ Phương pháp lịch sử cụ thể
Trang 11+ Phương pháp phân tích – tổng hợp
+ Phương pháp văn bản học, các tư liệu lịch sử
+ Phương pháp nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học
+ Phương pháp logic – lịch sử
+ Phương pháp khái quát hóa – trừu tượng hóa
7 Đóng góp của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu cho việc nghiên cứu và giảng dạy triết học và các công trình nghiên cứu tôn giáo học, góp phần trang bị thế giới quan khoa học cho sự nhận thức và vận dụng trong thực tiễn của con người
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu nghiên cứu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương 4 tiết
Trang 12PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT CỦA
PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI TRẦN
1.1 Một vài nét về Phật giáo và tư tưởng giải thoát trong Phật giáo
1.1.1 Một vài nét về Phật giáo
a, Sự ra đời và phát triển của Phật giáo
Phật giáo đã ra đời vào thế kỷ VI tr.CN ở miền Đông Bắc Ấn Độ Người sáng lập
Phật giáo là Buddha (Theo tiếng Trung Quốc Buddha nghĩa là Phật, là đấng “giác ngộ”
Buddha là một thái tử, tên Tất Đạt Đa, con trai của vua Tịnh Phạn (Suddhodana), dòng họ Sakya, vua một nước nhỏ ở Bắc Ấn Độ, có kinh đô là thành Ca tì la vệ(Kapilavatha), nằm ven sông Hằng (Ganga), nay thuộc Nêpan
Đức Phật sinh ngày 8 tháng 4 khoảng năm 624 TrCN Khi Phật đản sinh, với những nét thiên phú đặc biệt, Đức Phật đã được một nhà hiền triết dự đoán sau này sẽ trở thành một đức vua tài ba, thống lĩnh thiên hạ, hoặc trở thành một đấng Chuyển Luân Pháp Vương, một vĩ nhân- thầy của Trời, người để giúp cứu nhân loại thoát ra khỏi sự khổ đau Với mong muốn con trai sau này thừa kế ngai vàng, nối tiếp dòng họ Sakya hùng mạnh, vua cha đã tạo ra một cuộc sống cực kỳ sa hoa tráng lệ cho hoàng tử
Năm 19 tuổi hoàng tử Siddharta cưới vợ và có một con trai Tuy nhiên sau những chuyến giã ngoại ngoài thành và chứng kiến những cảnh khổ bởi Sinh – Lão - Bệnh - Tử của con người, hoàng tử Siddharta đã rất buồn rầu và suy tư, mặc tưởng về cuộc đời con người Năm 29 tuổi, hoàng tử Siddharta đã bỏ gia đình đi tu vì muốn tìm cách giải thoát nhân loại khỏi sự khổ đau trong vòng luân hồi Sau 6 năm đi tìm chân lý cùng lối tu tập ép xác khổ hạnh, thiền định chiêm nghiệm tâm linh, Đức Phật đã thành đạo dưới gốc cây Bồ đề khi 35 tuổi
Khi đã “giác ngộ”, Ngài lấy hiệu là Buddha(Phật) Ngài còn được người gọi
là Sakyamuni (TQ- Thích Ca Mâu Ni), có nghĩa là “nhà hiền triết của xứ Sakya” và
truyền bá tư tưởng Phật giáo đi khắp nơi nhằm giúp con người giác ngộ Sau 45 năm truyền đạo, Đức Phật đã nhập Niết bàn ở tuổi 80
Trang 13Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, các đệ tử của Phật đã tiếp tục phát triển tư tưởng của Phật, quy tụ và khái quát những tư tưởng của Phật trên cơ sở những bài thuyết pháp và tổ chức hội nghị kiết tập để xây dựng lên những giáo lý Phật giáo, thông qua một hệ thống các Kinh tạng, Luật, Luận, tạo nền móng vững chắc cho Đạo Phật, đưa Đạo Phật trở thành một hệ thống tôn giáo – triết học lớn, có ảnh hưởng to lớn ở Ấn Độ, và từ đó lan ra khắp các quốc gia, khu vực trên của thế giới
Khi du nhập vào các quốc gia, khu vực khác nhau, Phật giáo được chia thành nhiều tông phái với những hình thức tu tập khác nhau, trong đó có ba tông phái cơ bản là Tịnh độ tông, Mật tông, Thiền tông
Đạo Phật cũng được chia thành hai trường phái : Tiểu thừa và Đại thừa: Phái Tiểu thừa, theo Phật giáo đó là cỗ xe nhỏ, thực hiện hình thức tu tập, giải thoát theo Phật giáo nguyên thủy, mang tính cá nhân
Phái Đại thừa, là ‘cỗ xe lớn’, với lối tu tập, giải thoát mang tính đại chúng và
có sự cải biến Phái Đại thừa chủ chương cứu mình, cứu người dựa trên tư tưởng tha nhân “từ bi, cứu khổ, cứu nạn, phổ độ chúng sinh”, dưới sự tương hỗ trợ lực lẫn nhau giữa hàng ngũ tăng ni Phật tử và các tín đồ, cùng với tha lực, sự gia hộ của Phật, các thiên nhân, nhờ hình thức tu tập tụng kinh, niệm Phật, ăn chay, giữ giới
Tư tưởng Phật giáo được thể hiện trong những quan điểm về thế giới quan và nhân sinh quan Trong đó chủ yếu đề cập tới vấn đề nhân sinh quan khi đi sâu vào
lý giải về cuộc đời con người cùng những nguyên nhân nỗi khổ trong cuộc đời con người, qua đó chỉ ra con đường cách thức diệt khổ, giúp con người có được sự an lạc trong cuộc sống Với những tư tưởng mang đậm tính nhân văn sâu sắc, Phật giáo ngày càng phát triển và có sự ảnh hưởng lớn tới con người và các quốc gia, khu vực trên thế giới, trở thành một tôn giáo lớn của thế giới
b, Nội dung tư tưởng Phật giáo
Tư tưởng của Phật giáo được thể hiện trong hệ thống kinh điển đồ sộ, gồm
ba bộ phận gọi là Tripitaka (Tam tạng) bao gồm:
Kinh tạng (Sutra) là những lời Đức Phật thuyết pháp được ghi chép lại
Luật tạng(Vinaya) là các giới luật mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo
Trang 14 Luận tạng(Sastra), là các tác phẩm luận giải các vấn đề Phật giáo của các cao tăng, học giả
Về thê giới quan, Phật giáo quan niệm bản chất sự tồn tại của thế giới là “vô thường” trong sự biến chuyển liên tục, con người và vạn vật cũng thường xuyên biến đổi Thế giới sự vật hiện tượng luôn trong một chu trình biến hóa không ngừng Sinh - Trụ - Dị - Diệt đối với các pháp hữu tình và Thành – Trụ - Hoại – Không đối với các pháp vô tình
Phật giáo đã xây dựng nên thuyết “nhân duyên” để giải thích mối liên hệ nhân quả của thế giới tự nhiên trong sự vận động biến hóa liên tục Nhờ có “duyên”
mà cái “nhân” mới sinh ra “quả”; “quả” lại do duyên mà tạo ra “nhân” khác; “nhân” lại nhờ cái “duyên” mới sinh ra “quả” mới Cứ như vậy, quá trình tương tác nhân – quả nối tiếp nhau vô cùng vô tận Con người và mọi sự vật hiện tượng của thế giới vật chất đều nằm trong mối liên hệ nhân quả, nhân duyên, trong quy luật sinh tử luân hồi theo nghiệp báo cảm chiêu, tất cả đều vô thường, vô ngã và vận động biến đổi liên tục trong dòng chảy tương tục không ngừng nghỉ của vũ trụ
Về nhân sinh quan, Phật giáo còn cho rằng con người và vạn vật đều được cấu tạo bởi các yếu tố vật chất (Sắc) và tinh thần (Danh) Danh và Sắc được chia làm 5 yếu tố (gọi là Ngũ uẩn) là:
Trang 15thần Thể xác là do sự hợp thành bởi “địa - thủy - hỏa - phong – không” Linh hồn hay tinh thần con người là sự sự hợp nhất của “Sắc, thụ, tưởng, hành, thức” dẫn tới hình thành các yếu tố thất tình lục dục “hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố” trong trạng thái tâm lý với cảm giác hạnh phúc hay đau khổ, vui, buồn, giận hờn, tức giận, ai oán, do tâm chịu tác động ngoại cảnh Hai thành phần ấy là kết quả của tan - hợp, hợp - tan từ Ngũ uẩn, nên nó cũng vô thường, chỉ là ảo ảnh, phù du
Với quan điểm cuộc đời con người là kiếp sống nhân sinh đầy đau khổ ‘đời
là bể khổ’, Đức Phật nói “Nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới, tích lại còn nhiều hơn nước ngoài bốn bể"
Để lý giải cuộc đời con người và nổi khổ con người, Đức Phật đã đề ra Tứ Diệu Đế, đó là bốn chân lý tuyệt diệu về cuộc sống con người, bao gồm: Khổ Đế; Nhân Đế; Diệt Đế; Đạo Đế
Khổ đế: là các nỗi khổ của con người phải ghánh chịu Theo quan điểm của Phật giáo, con người sinh ra đã khổ và cuộc sống con người là khổ Nỗi khổ của con người được tóm lược trong “bát khổ” - là 8 nỗi khổ cơ bản mà con người phải ghánh chịu Ngoài bốn nỗi khổ theo chu kỳ của đời người là Sinh – Lão – Bệnh –
Tử của quy luật tự nhiên, con người còn phải chịu thêm bốn nỗi khổ khác như:
Ái thụ biệt ly: yêu thương mà chia lìa, xa cách, biệt ly
Oán tăng hội khổ: Ghét nhau mà phải sống gần nhau
Sở cầu bất đắc: mong muốn mà không đạt được
Thụ ngũ uẩn: khổ về sự tồn tại thân tâm
Nhân Đế ( Samudaya-satya), còn gọi là Tập đế với 12 nhân duyên gây nên nỗi khổ con người Phật giáo lý giải nguồn gốc nỗi khổ của con người xuất phát từ Vô minh là sự ngu muội, si mê, ám độn do không hiểu rõ chân lý, chấp vào danh sắc, bám chấp vào sự sống và thân xác, dẫn tới sự ham muốn dục vọng, làm khởi hành 12 nhân duyên “Duyên Hành, duyên Thức, duyên Danh – Sắc, duyên Lục nhập, duyên Xúc, duyên Thụ, duyên Ái, duyên Thủ, duyên Hữu, duyên Sinh, duyên Lão- Tử” Khiến tạo cơ duyên cho sinh - trụ - dị - diệt, gây
Trang 16nên những nỗi khổ cho con người và khiến con người chịu khổ đau trong lục đạo luân hồi
Để giúp chúng sinh giải thoát khỏi vòng luân hồi đau khổ, Phật đã đề ra thuyết Diệt đế, Đạo đế nhằm chỉ ra cách thức, biện pháp để diệt trừ sự đau khổ của con người trên cơ sở thực hành Bát chính đạo
Diệt đế là con đường diệt trừ nỗi khổ thông qua Bát chính đạo – tức là 8 phương thức tu tập hành trì đạo đức, khai mở tâm linh để diệt khổ, đi tới sự giải thoát
Phương pháp tu tập để giải thoát ra khỏi luân hồi có nhiều cách trong đó chủ yếu dựa trên việc thực hành bát chính đạo “Bát chánh đạo” là tám điều chân chính phù hợp với chân lý để diệt khổ, tiến tới giải thoát đạt tới Niết bàn, bước trên con đường an vui, tự tại, và đó cũng chính là phương tiện giải thoát, bao gồm:
- Chính kiến: Nhận thức đúng, sáng suốt, giữ vững chủ kiến
- Chính tư duy: là sự suy ngẫm, tư duy chân chính, đúng đắn
- Chính nghiệp: Hành động phải chân chính, đúng đắn
- Chính ngữ: Nói phải đúng, không gian dối, không vu oan cho người khác
- Chính mệnh: Sống trung thực, không tham lam, vụ lợi, sống nhân nghĩa và tránh làm các nghiệp ác như sát sinh, buôn bán nô lệ, vũ khí, độc dược và thuốc phiện gây hại cho con người
- Chính tinh tiến: Phải siêng năng học tập, làm việc có ích, có ý thức vươn lên để đạt tới chân lý
- Chính niệm: Phải luôn hướng về đạo lý chân chính Thường xuyên niệm Phật
- Chính định: Kiên định tập trung tư tưởng vào con đường chính, không bị thoái chí, lay chuyển trước mọi cám dỗ Thực hành thiền định để trí tuệ sáng suốt, không bị vọng động bởi dục vọng và duyên trần cám dỗ, thân tâm thanh thản, an lạc đạt tới giác ngộ
Bát chính đạo còn được gọi là tam học “ Giới - Định - Tuệ”
Giới là giới luật của Phật đưa ra để giúp con người giữ gìn được tư tưởng, đạo đức, phẩm hạnh trong sạch trong thân, khẩu, nghiệp ý và cũng là cách thức tu tập để đạt tới cảnh giới Niết bàn
Trang 17Định là sự an định nơi thân tâm con người trên cơ sở thiền định và tu hành bát chính đạo, giúp tâm hồn con người trở nên thanh tịnh, trong sáng, thanh cao, từ
đó khai mở được trí tuệ và cảnh giới tâm linh Định còn là sự tập chung tư tưởng cao độ, giúp phát huy trí tuệ, tư duy còn người, làm nảy sinh tuệ giác và sự sáng tạo
Tuệ là tuệ giác, là trí tuệ con người được phát sinh từ sự tập chung tư tưởng
và quá trình tu tập thiền định, hành trì bát chính đạo Tuệ gồm có chính kiến, chính
tư duy, chính tinh tiến
Ngoài ra do nỗi khổ của con người xuất phát từ đời sống vật chất và tinh thần, nên Phật giáo còn chủ trương diệt nỗi khổ vật chất, sinh lý bằng con đường tuệ giác; diệt nỗi khổ tinh thần, tâm lý bằng con đường đạo đức với “tứ vô lượng tâm” (từ, bi, hỷ, xả) và “ngũ giới”, “thập thiện” để tránh ba nghiệp ác của thân, bốn nghiệp
ác của khẩu, ba nghiệp ác của ý (tham, sân, si) Nội dung của các phương pháp đó là thực hiện “Tam quy”, “ Ngũ giới” và “Lục độ”
Tam quy : Là quy y Phật, Pháp, Tăng để học đạo và được gia hộ, qua đó noi theo gương sáng của Đức Phật mà tu tập để giác ngộ chân lý, không bị lầm lạc, không phải chịu khổ
“Ngũ giới” nghĩa là năm giới cấm mà Phật bảo các Phật tử phải tuân theo để
có được an lành hạnh phúc
1 Bất sát: Không sát sinh, không hại vật
2 Bất đạo: Không trộm cắp, không làm điều phi nghĩa
3 Bất dâm: Không tà dâm, không quan hệ bất chính
4 Bất vọng ngữ: Không không nói dối, không nói lưỡi hai chiều, không nói lời hung dữ và không bịa đặt vu oan giá họa làm khổ người, hại mình
5 Bất tửu: Không uống rượu khiến vô minh, ngu muội
“Lục độ” : là 6 con đường hành thiện và là phép tu trì để đi đến giải thoát”:
Bố thí; Trì giới; Nhẫn nhục; Tinh tiến; Thiền định; Bát nhã
Ngoài Tam quy, Ngũ giới và Lục độ, những người học đạo cần phải giữ Thập Thiện- tức 10 điều thiện trong Thân- Khẩu- Ý
Đối với hàng tu tại gia ( Ưu bà tắc, Ưu bà di), Phật chế định 5 giới luật: Bất
Trang 18sát; Bất đạo; Bất tà dâm; Bất vọng ngữ; Bất tửu
Còn đối với hàng ngũ xuất gia tu đạo thì ngoài việc thực hành Ngũ giới, Lục
độ, Thập thiện cơ bản trên còn phải tuân thủ nhiều những giới luật hết sức nghiêm ngặt Trong luật của Kinh giới bản quy định: Đối với hàng Tỳ Kheo Ni( người nữ xuất gia) bắt buộc phải giữ 348 giới Đối với Tỳ Kheo Ni- Thức Xoa Ma Ni học nữ còn phải học trong hai năm với ba pháp gồm có 4 giới trọng, 6 pháp được đắc giới
và học pháp hành với 288 pháp để có đạo hạnh bậc Đại ni.[1]
Còn đối với người nam xuất gia, cấp Sadi phải giữ 10 giới cơ bản suốt đời Cấp Tỳ Kheo ( bậc Đại Đức) phải giữ 250 giới Theo Nam truyền Luật tạng thì Tỳ kheo phải giữ 227 giới
Như vậy phải bằng con đường Tam quy, Ngũ giới, Lục độ, thực hành Bát chính đạo cùng với trì kinh, giữ giới thì con người mới thoát khổ, đạt tới trạng thái Niết bàn Đó cũng chính là cách thức con người giữ gìn được phẩm hạnh tốt đẹp
và có được hạnh phúc an lạc trong đời này cũng như đời sau, không còn sợ bị đọa vào các cõi địa ngục súc sinh đau khổ
Với những tư tưởng sâu sắc mang đậm tính nhân văn, Phật giáo ngày càng phát triển mạnh mẽ và lan rộng ra các khu vực, quốc gia trên thế giới như Ấn Độ, Thái Lan, Mailaixia, Nhật Bản, Trung Quốc, Lào, Cam Phu Chia, Việt Nam Một
số các quốc gia cũng đã lấy Phật giáo là quốc giáo, một tôn giáo chính thống, đóng vai trò là nền tảng tư tưởng văn hóa của dân tộc Khiến cho Phật giáo trở thành một tôn giáo lớn trên thế giới có tầm ảnh hưởng lớn tới tư tưởng con người và sự phát triển văn hóa, xã hội của các quốc gia dân tộc
c, Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam
Trên cơ sở những tư liệu lịch sử, phần lớn các ý kiến cho rằng, Phật Giáo vào Việt Nam trực tiếp từ Ấn Độ qua đường biển của các nhà buôn và tu sỹ người Ấn
Độ vào khoảng những năm đầu công nguyên
[1], “Luật Tỳ Kheo Ni Giới Bổn”(2010) Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Dịch giả : Thích Thiện Chơn Nxb Tôn giáo
Trang 19Con đường thứ hai là bằng đường bộ, từ Vân Nam Trung Quốc xuống vào khoảng thế kỷ V-VI
Con đường thứ ba, cũng theo đường bộ từ Đông Bắc Ấn Độ, qua vùng Tây Tạng, dọc theo triền sông Mê công vào Việt Nam khoảng Tk XIII
- Các giai đoạn của Phật giáo Việt Nam trước thời Trần
Theo các tư liệu lịch sử, các nhà học giả đều nhất trí cho rằng Phật Giáo Ấn Độ vào Việt Nam ở những thế kỷ đầu, qua đường biển, do các thương nhân và các tăng sĩ
Ấn Độ du nhập, gây ảnh hưởng tác động lớn tới đời sống văn hóa tinh thần Việt Nam, dẫn tới sự hình thành và ra đời trung tâm Phật Giáo Luy Lâu tại Giao Chỉ
Ngay khi vào tới Việt Nam, Đạo Phật đã nhanh chóng thích nghi với nền văn hóa Việt và được người bản địa đón nhận một cách tự nhiên, cởi mở và trở thành yếu tố tinh thần, một phần tất yếu trong nếp sống, tư duy văn hóa của người Việt
Phật Giáo Luy Lâu thời kỳ này là sự kết hợp hài hòa, dung hợp những yếu tố Nho, Phật, Lão và theo khuynh hướng tư tưởng Phật Giáo Đại thừa Giai đoạn này
đã xuất hiện một số Thiền phái như Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông
Theo Thiền Uyển Tập Anh, Tì Ni Đa Lưu Chi là người Nam Thiên Trúc sang Việt Nam năm 580, và thiết lập dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi, kéo dài cho đến tận cuối thời Lý, đầu thời Trần, trong vòng sáu thế kỷ, gồm 19 thế hệ và 28 vị Thiền Sư với hệ thống kinh điển phong phú như: kinh Tượng đầu, Tổng trì( Mật giáo), Kinh Kim Cương, Bát Nhã, Pháp Hoa Các nhà sư trong Thiền Phái Tì Ni Đa Lưu Chi, phần lớn
tu theo hạnh đầu đà(Dhuta), một lối tu khổ hạnh trong con mắt người thường
Năm 820, thiền sư Vô Ngôn Thông từ Trung Hoa sang Việt Nam, dẫn tới sự
ra đời thiền phái Vô Ngôn Thông, một dòng thiền thứ hai ở Việt Nam, mang mầu sắc thiền tông Trung Quốc, tồn tại từ năm 820 đến khoảng những năm 30 của Tk XIII và kéo dài cho đến Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; tồn tại trong vòng 479 năm gồm 15 thế hệ và 38 thiền sư (trừ sư tổ Vô Ngôn Thông) Thiền phái Vô Ngôn Thông có đặc điểm là các thiền sư đều chú tâm vào đạo, với lối sống trong sạch, giản dị, đơn sơ, và chỉ chú tâm vào thiền với những phương pháp, đường lối, nguyên tắc để đi tới sự giác ngộ
Trang 20Phật giáo Việt Nam thời Bắc thuộc trước thời Trần có những nét tiêu biểu là
đã bàn tới tứ vô thường, ngũ giới, thập thiện, tam bảo, tứ thiền, La Hán, Nhất thiết Trí, Hạnh, Bồ Tát, Lục độ, Duyên sinh, Ngũ ấm, Tứ Đại, Thập nhị nhân duyên, Tam thập nhất phẩm, đã nhắc đến Duy Ca Mật, A Di Đà Ở đây đã có những quan niệm được giải thích rõ ràng như Lục độ, Ngũ giới , nhưng cũng có những khái niệm được nhắc tới nhưng không có lời giải thích Nhưng qua những văn bản trên ta cũng thấy được một số nét nhân sinh quan Phật giáo thời kỳ này
Quan niệm về con người, cho rằng chết chưa hẳn đã hết, như theo Mâu Tử, chết chỉ là sự hư hoại về thân xác còn phần hồn thì bất diệt, sau đó biến hóa luân chuyển theo nghiệp lực mà đi sang một kiếp khác
Phật giáo thời kỳ này có nói tới “Khổ” Trong Lục độ tập kinh có nói tới ba cõi (Tam giới) đều khổ Nguyên nhân nỗi khổ là từ Tham - Sân - Si - Nghi - Mạn Trong đó “Tham - Sân - Si” được coi là Tam độc, nguyên nhân gây nhiều đau khổ nhất của con người, đây vốn là những tập tính thói quen mang tính bản ngã của con người Muốn dứt khổ phải tu theo Lục độ, Ngũ giới, Thập thiện, và giữ gìn Giới - Định - Tuệ, diệt trừ Tam độc
Bên cạnh hai trường phái trên, vào thế kỷ 11 còn xuất hiện Thiền phái Thảo Đường Thiền phái Thảo Đường là một trong năm Thiền Phái ở Trung Quốc), du nhập từ Trung Quốc sang Thảo Đường cũng là tên vị sư tổ thành lập ra Thiền phái, với sở trường là Đạo học lại tinh thông Phật học, có khuynh hướng dung hòa giữa Nho giáo và Phật giáo Theo Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, Thiền phái Thảo đường truyền thừa qua sáu thế hệ
Như vậy Phật Giáo vào Việt Nam qua con đường thông thương giao lưu kinh tế, văn hóa, chính trị giữa Việt Nam - Ấn Độ và Việt Nam - Trung Quốc và với các quốc gia lân cận Khi xâm nhập vào Việt Nam, Phật Giáo nhanh chóng hòa nhập với văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc và ăn sâu, bám rễ vào đời sống tư tưởng người Việt Nam, tạo nên sự phong phú trong đời sống tinh thần người Việt Qua đó góp phần xây dựng đời sống kinh tế chính trị xã hội cho đất nước Giúp dân bớt khổ
Trang 21về kinh tế, chính trị, tư tưởng trong các giai đoạn, các thời kỳ khác nhau, với vai trò của các thiền sư, những vị chân sư nổi tiếng một thời
Sự du nhập Phật Giáo vào Việt Nam đã dẫn tới sự ra đời, phát triển Phật giáo Việt Nam sau này và có sự ảnh hưởng lớn tới công cuộc trị nước, bảo vệ đất nước, đặc biệt dưới thời đại Lý - Trần
Dưới thời Lý, Phật giáo đã phát triển rất mạnh, các vua nhà Lý đã lấy Phật giáo làm nền tảng đời sống tinh thần xã hội, nên đã cho xây dựng nhiều chùa chiền
và biên chép, soạn dịch rất nhiều kinh điển phổ biến trong xã hội
Trên tinh thần từ bi, hỷ xả của Đạo Phật, các vua Lý cũng sử dụng nhân tâm trong thuật trị nước, thể hiện nền chính trị mang tính nhân bản sâu sắc Tuy nhiên giai đoạn hậu Lý thì lại trở nên suy vi do các vua quan chỉ chú trọng tới thụ hưởng, không còn quan tâm tới triều chính nữa
d, Phật giáo Việt Nam thời Trần
*Sự hình thành phát triển các tông phái
Đến đời Trần với sự kế thừa những giá trị văn hóa thời Lý, Phật giáo càng phát triển hơn nữa dẫn tới sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trên cơ sở kết hợp Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo với sự kết hợp yếu tố của Thiền Tông, Mật Tông và Tịnh Độ Tông, tạo nên sự hỗn dung tôn giáo Đây chính là một nét đặc sắc của Phật giáo Việt Nam thời Trần
Thời kỳ này đã có 3 phái Thiền du nhập từ Trung Quốc sang, đó là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường Bên cạnh đó còn có một số dòng Phật giáo khác cũng du nhập vào Việt Nam như Tịnh Độ Tông và Mật Tông Như vậy đến thời Trần thì Phật giáo Việt Nam đã thể hiện làm hai dòng cơ bản:
Dòng Phật giáo dân gian: Đây là sự dung hòa tư tưởng Phật giáo với những tín ngưỡng dân gian bản địa tạo nên mầu sắc huyền bí trong những câu chuyện cổ tích, thần thoại như Thánh Gióng, Tấm Cám, Chử Đồng Tử và Tiên Dung, phản ánh những tư tưởng, khát vọng của con người trong cuộc sống muốn hướng thiện và được sự che trở giúp đỡ của ông Bụt, ông Trời, các Thần Thánh Dòng Phật giáo
Trang 22này được thể hiện ở tầng lớp bình dân trong xã hội với xu hướng niềm tin tín ngưỡng đi chùa để cầu Trời, khấn Phật mong được gia hộ, được bình an
Dòng Phật giáo bác học: Đây là dòng Phật giáo tri thức mang đậm mầu sắc triết học với sự ra đời của các hệ phái và tông phái khác nhau: Phật giáo Tiểu thừa
có phật giáo Khơme Nam tông; Phật giáo Đại thừa có ba tông phái Thiền tông, Mật tông, Tịnh độ tông Ngoài ra có dòng khất sỹ với sự kết hợp của tiểu thừa và đại thừa Sự chia tách các tông phái là do sự ảnh hưởng tư tưởng và văn hóa khác nhau tạo nên những nét đặc trưng riêng biệt trong mỗi tông phái
Trong dòng phật giáo Đại thừa chủ yếu nghiêng về Thiền và mang mầu sắc duy tâm thần bí Thiền tông là tông phái hình thành từ Trung Quốc nhưng do sư tổ
Bồ Đề Đạt Ma người Ấn Độ sáng lập, cũng có nguồn gốc từ yoga Ấn Độ Sau này Khương Tăng Hội đã truyền vào Việt Nam Dòng Thiền tông gồm có phái Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thiền Tông
Mật Tông là trường phái Phật giáo Ấn Độ do các nhà sư sáng lập vào TKVII, sau phát triển mạnh và du nhập vào Việt Nam Mật Tông hướng sự tu tập giải thoát bằng các phép tu huyền bí với các nghi lễ, hành thiền độc đáo và sử dụng bùa chú, phép thuật để hàng long phục phục hổ, trấn tà, yểm huyệt…Tiêu biểu là thiền sư Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh thời Lý
Tịnh Độ Tông là trường phái đến từ Trung Quốc do nhà sư Tuệ Viễn sáng lập vào thế kỷ IV Phái Tịnh Độ Tông hướng sự tu tập giải thoát bằng tha lực với hình thức đi chùa tụng kinh, lễ Phật để “ Cầu Trời, khấn Phật” mong sự ban ơn, che trở, gia hộ và khi chết được Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn về Tây phương cực lạc
Mỗi tông phái đều có một hình thức tu tập riêng với những nét đặc sắc riêng Sau này các vua Trần, đặc biệt Trần Nhân Tông đã nghiên cứu, chắt lọc những tinh hoa từ các tông phái, hình thành nên thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Thiền phái Trúc lâm Yên Tử, là dòng thiền Việt Nam được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển những dòng Thiền phái trước đó và tạo nên những nét đặc trưng riêng biệt, đậm mầu sắc văn hóa Việt Nam, đưa Phật giáo Việt Nam đạt tới đỉnh cao của sự phát triển, và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển đất nước
Trang 23Như vậy dưới thời Trần, Việt Nam đã xuất hiện thêm thiền phái Trúc Lâm Yên
Tử, sau này trở thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam, với các vị tổ sư như Phật Hoàng Trần Nhân Tông(1258-1308); Pháp Loa(1284-1330; Huyền Quang ( 1254 – 1334)
So với các thời trước đó, đặc biệt dưới triều Lý thì Phật giáo Việt Nam của thời Trần có những nét đặc sắc riêng biệt Thời đại nhà Trần với tư tưởng nhập thế cứu đời, các thiền sư và các vua Trần đã đưa những tinh hoa Phật giáo lên tới đỉnh cao trong
tư tưởng giải thoát Tiêu biểu là Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng
Sỹ, thiền sư Pháp Loa, thiền sư Huệ Quang
* Sự phát triển Phật giáo Việt Nam thời Trần
Dưới triều đại nhà Trần với vai trò của Trần Thái Tông, Phật Hoàng Trần Nhân Tông (hiệu là Trúc Lâm), Phật giáo phát triển rất mạnh thâm nhập ngày càng sâu rộng trong đời sống nhân dân Giai đoạn này các vua Trần rất quan tâm đến việc truyền bá đạo Phật nên việc xây dựng hệ thống kinh điển rất được chú tâm Năm
1295, vua Anh Tông sai sứ thần sang Trung Hoa thỉnh bản Đại Tạng Kinh mới nhất, sau đó cho in ấn lưu hành Năm 1319 (Kỷ Mùi) các tăng sỹ và cư sỹ đã hiến máu để
in và khắc bản Đại Tạng Kinh, một bộ Kinh vĩ đại với hơn 5000 quyển Trong Đại Tạng Kinh, vua Anh Tông đã cho viết và khắc bản các tác phẩm của Trúc Lâm như Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Trúc Lâm Hậu Lục, Đại Hương Hải Ấn Thi Tập, Thạch Thất Mị Ngữ và Tăng Già Toái Sự, ngoài ra các tác phẩm của Trần Thái Tông như Khóa Hư Lục, Thiền Tông Chỉ Nam, Kim Cương Tam Muội Kinh, Lục Thì Sám Hối Khoa Nghi cũng được in, tác phẩm của Tuệ Trung như Tuệ Trung Thượng Sỹ Ngữ lục cũng được đưa vào Đại Tạng Kinh Bản Đại Tạng Kinh là một công trình đồ sộ và vĩ đại của triều đại nhà Trần do thiền sư Pháp Loa và Bảo Phác chủ trì Ngoài ra các vua Trần và các thiền sư đã cho in rất nhiều kinh sách khác Như Tham Thiền Yếu Chỉ, Kim Cương Trường Đà La Ni Chú Tuy nhiên rất tiếc khi nhà Minh sang xâm chiếm Đại Việt đã thu góp toàn bộ sách cổ quý chở về Kim Lăng và thiêu hủy đi rất nhiều sách quý của ta, chỉ còn lại một số rất ít, đây là sự thiệt hại rất lớn đối với nền văn hóa Việt
Dưới thời Trần, với sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm, số người xin xuất gia và ra nhập giáo hội Trúc Lâm ngày một đông Tháng 9/1313 năm Quý Sửu, Pháp
Trang 24Loa phụng chiếu đến chùa Vĩnh nghiêm ở Lương Giang, đặt văn phòng trung ương giáo hội ở đó, thiết lập hệ thống quản lý, kiểm tra tự viện và sổ tăng tịch có tổ chức Đây cũng
là lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam các tăng sỹ có hồ sơ tại Giáo Hội Trung Ương Do số lượng tăng sỹ quá đông nên Pháp Loa quyết định giới đàn ba năm tổ chức một lần và ba năm một lần độ tăng, trong đó số người xin thụ giới bị thải ra hàng nghìn người Năm 1329 số tăng sỹ xuất gia trong giáo hội Trúc Lâm lên tới 15.000 vị
Về tự viện, năm 1313 có trên một trăm ngôi chùa thuộc giáo hội Trúc Lâm Năm 1314, tại chùa Báo Ân, Pháp Loa cho xây dựng 33 cơ sở trong đó có Phật điện
và tàng kinh, tăng đường Đến năm 1329 ông đã xây dựng được 5 bảo tháp và hai
cơ sở hành đạo lớn (Quỳnh Lâm và Báo Ân) và trên 200 tăng đường Pháp Loa còn đúc tới 1.300 tượng Phật lớn nhỏ bằng đồng Vua Anh Tông nhân ngày lên làm Thái Thượng Hoàng đã cho đúc tượng đồng ba vị Phật Di Đà, Thích Ca và Di Lặc, mỗi tượng cao 17 thước, bất động sản cúng cho chùa rất nhiều, chủ yếu đều xuất phát từ các vương gia và những người có quyền thế giầu có Năm 1322 nhiều người trong triều đã đóng góp vào việc cúng dường để đúc hơn 1000 tượng Phật
Dười thời đại nhà Trần các vương tử, công, tôn thất giai cấp quý tộc quy y cửa Phật rất nhiều, trong đó có Hoa Dương công chúa, Tuệ Nhân đại vương Năm
1323, Văn Huệ Vương và Uy Huệ Vương đến chùa Báo Ân xin thụ Bồ Đề Tâm Giới và pháp quán đỉnh 1324 Chiêu Từ hoàng thái phi xin xuất gia, thụ Bồ Tát Giới, năm 1329, Tuyên Chân công chúa và Lệ Bảo công chúa xin xuất gia Những đạo tràng do Pháp Loa và các thiền sư tổ chức thường rất đông người Nhu cầu học Phật trở thành một trào lưu ngày càng lan rộng trong giai cấp quý tộc và dân chúng
Pháp Loa cũng rất đông đệ tử, trong 15.000 đệ tử của giáo hội thì có tới
3000 vị tới cầu pháp và đắc pháp với ông Trong đó có những đệ tử trở thành giảng sư nổi tiếng như Tuệ Nhiên, Tuệ Chúc, Hải Ấn, Hoằng Tế, Huyền Giác…
Phật giáo dưới thời đại nhà Trần cũng có các phái Đại thừa, Tiểu Thừa Thời đại này yếu tố Mật giáo cũng được coi trọng với các nghi lễ mang tính thần bí Năm
1318 vua Anh Tông xuống chiếu đi tìm vị tăng sỹ Ấn Độ tên Ban Để Đa Ô Sa Thất Lợi về dịch cuốn kinh Mật giáo tên là Bạch Tán Thần Chú Kinh Năm 1311, một vị tăng sỹ Ấn Độ tên Du Chi Ba Lam tới, xưng 300 tuổi, có thể ngồi xếp bằng trên mặt
Trang 25nước Đời vua Minh Tông cũng có vị tăng Mật giáo Ấn Độ tên Bồ Đề Thất Lý sang cũng có thể nổi trên mặt nước Với những yếu tố kỳ bí nên các vua chúa, quan lại rất ưa chuộng Mật Giáo Vua Anh Tông cũng được Pháp Loa làm lễ quán đỉnh năm
1320, một nghi lễ của Mật Giáo Ngoài ra rất nhiều người như Văn Huệ vương và
Uy Huệ vương cũng xin làm lễ quán đỉnh
Có thể nói sự hưng thịnh của Phật giáo thời Trần là một tất yếu khi mà những người đứng đầu một quốc gia dân tộc là các vua Trần đã giác ngộ và thấy được những giá trị nhân văn cao cả của Phật giáo nên đã lấy Phật giáo làm nền tảng
hệ tư tưởng xã hội, đồng thời cũng chắt lọc những tinh hoa trong Nho giáo, Đạo giáo để xây dựng phát triển đất nước Các vua Trần chính là hình ảnh tiêu biểu trong con đường “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” để tạo nên một thời kỳ thái bình thịnh trị với những trang sử hào hùng dân tộc
Sự hưng thịnh, phát triển của Phật giáo thời Trần còn thể hiện qua những truyền thống văn hóa của dân tộc, mà sau này nó đã ăn sâu, bám rễ vào tâm thức người Việt và trở thành thói quen tất yếu, như tập quán đi lễ chùa cầu may vào các dịp lễ tết và ngày rằm mùng một, lễ Vu Lan báo hiếu trong ngày rằm tháng bảy, lễ Phật Đản, lễ vía Phật Quan Thế Âm Bồ Tát, …Những hoạt động văn hóa đó không chỉ phản ánh mầu sắc tín ngưỡng, văn hóa tâm linh mà còn là những nét tinh hoa văn hóa của người Việt, có giá trị bồi đắp thêm nhân cách con người Việt, biết đoàn kết, yêu thương nhau và sống có tình có nghĩa, biết nhớ tới cội nguồn, sống luôn hướng thiện, chân thành cởi mở, hòa đồng với cuộc sống với thiên nhiên, tâm hồn khoáng đạt, viên dung
1.1.2 Tư tưởng giải thoát của Phật giáo và vị trí của nó trong giáo lý Phật giáo
a, Khái niệm giải thoát
Giải thoát theo tiếng Phạn là Moksha, mukti( mộc xoa, mộc đề) “Giải”
nghĩa là gỡ ra, cởi ra, chia tách ra hay giải thích cho rõ; “Thoát” nghĩa là vượt ra khỏi sự trói buộc, sự ràng buộc.[2,tr 45].
[2], Doãn Chính(1999), “Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ”, Nxb Thanh niên, Hà nội, tr45]
Trang 26Trong Từ điển Phật học Hán – Việt khi bàn đến “giải thoát” có viết: “Giải thoát có nghĩa là lìa bỏ mọi trói buộc mà được tự tại Cởi bỏ sự trói buộc của nghiệp, thoát ra khỏi khổ quả của tam giới Còn là tên khác của Niết bàn, bởi vì dùng Niết bàn để lìa bỏ sự trói buộc Còn chỉ tên gọi khác của Thiền định như tam giải thoát, bất tư nghị giải thoát Thoát ràng buộc và được tự tại là đức tính của Thiền định” [3]
Trong Phật học từ điển, tác giả Đoàn Trung Còn nói về giải thoát như sau:
“Giải là lìa khỏi sự trói buộc, được tự tại, mở những dây trói buộc của nghiệp lầm (hoặc nghiệp) Thoát là ra ngoài quả khổ tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới)…Giải thoát tức là Niết bàn, nó là thể Niết bàn, vì lìa tất cả sự trói buộc”.[4]
Trong tư tưởng của Veda(Ấn Độ), đặc biệt trong kinh Upanishad, cho rằng tinh thần thế giới là Brahman- đó là linh hồn vũ trụ tối cao và Atman là linh hồn cá thể, tồn tại trong mỗi con người Atman do nằm trong thể xác con người và bị vây hãm bởi vỏ bọc của thể xác nên luôn bị chi phối bởi những dục vọng thấp hèn của con người trong cuộc sống, đây cũng chính là nguyên nhân gây ra nỗi khổ đau của con người, đưa con người sống trong luân hồi nghiệp báo do những hành động, việc làm của mình gây ra Giải thoát chính là cách thức đưa Atman trở về với Brahman, hòa nhập với linh hồn vũ trụ để thoát khỏi mọi sự ràng buộc và sự khổ đau của kiếp sống luân hồi Con đường giải thoát không chỉ nhờ vào tha lực với sự cầu xin các thần linh cứu độ, như trong kinh Veda, mà còn bằng con đường tự lực với quá trình
tu luyện hành động(karma yoga) và tu luyện tri thức (Jana yoga)
Khái niệm giải thoát trong Phật giáo Ấn Độ cho rằng: giải thoát là trạng thái tinh thần con người vượt mọi ràng buộc của thế giới nhục dục, là sự diệt hết mọi dục vọng hay dập tắt ngọn lửa dục vọng và đạt tới cảnh trí Niết bàn với cái Tâm tuyệt đối thanh tịnh, không vọng động, an lạc, bất sinh, bất diệt và tự do, tự tại bằng con đường tu luyện đạo đức, giữ nghiêm giới luật và tu luyện tri thức, thiền định, thực hiện tâm linh để đạt tới giác ngộ theo Tam học: Giới – Định – Tuệ
[3], Từ điển Phật học Hán Việt, Tr 597
[4], Đoàn Trung Còn Từ điển Phật học Tập 1 Tr597
Trang 27Trong Phật giáo, “giải thoát” là sự thoát khỏi những ràng buộc của phiền não như tham, sân, si, nghi, mạn, vọng động … và làm cho tâm thức trở nên trong sạch, thanh cao, thánh thiện và đi tới sự giác ngộ, hiểu rõ chân lý, có được cuộc sống an lạc, hạnh phúc trong thân tâm
b, Nội dung, vị trí tư tưởng giải thoát trong Phật giáo
Đối với Phật giáo thì tư tưởng giải thoát chính là một trong những nội dung quan trọng trong hệ thống giáo lý nhà Phật Tư tưởng giải thoát chính là sự khởi đầu của con đường tu đạo của Thích Ca Mâu Ni, nó cũng giữ vai trò chủ đạo xuyên suốt trong hệ thống giáo lý Phật giáo qua triết lý Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Bát Chính Đạo Trong Tứ Diệu Đế thì Khổ đế và Tập đế chỉ ra nguồn gốc và những nỗi khổ của con người, đây chính là động cơ, điểm xuất phát của tư tưởng giải thoát; Diệt đế là chính là mục mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của sự giải thoát; Đạo đế
là con đường, phương tiện và cách thức đi tới sự giải thoát thông qua việc tu tập thực hành Bát chính đạo, Ngũ giới, Lục độ
Thập Nhị Nhân Duyên chính là chuỗi liên hệ nhân quả và nguồn gốc sinh tử, luân hồi của mọi sự đau khổ của con người Trong đó Vô minh chính là điểm khởi đầu của chuỗi mắt xích nhân duyên, gây nên mọi khổ đau cho con người Muốn thoát khổ con người phải tu tập, thực hành Bát chính đạo, Ngũ giới, Lục độ để tu luyện đạo đức, trau dồi trí tuệ, thiền định Đó cũng chính là con đường Tam học “Giới – Định – Tuệ”
đi tới sự giải thoát cho con người
Trong tư tưởng Phật giáo thì “giải thoát” là một nội dung cơ bản nhất, đồng
thời cũng là mục tiêu của Phật giáo, để giúp con người thoát khổ và giác ngộ chân
lý, từ đó có được cuộc sống hạnh phúc Còn đối với các bậc tu hành thì đó là cuộc hành trình tu tập, trải nghiệm để thấu đạt chân lý, giác ngộ, có được cuộc sống an nhiên tự tại và tiến tới nhập vào cõi “Niết bàn” với Thường- Lạc- Ngã- Tịnh của các bậc Thánh
Niết Bàn theo tiếng Phạn là Nirvana, tiếng Pali là Nibbãna, được hiểu là thanh tịnh, trong sạch, không hôi tanh, không dơ bẩn Theo tiếng Hán là: Diệt,
Trang 28Diệt tận, Diệt độ, Tịnh diệt, Bất sinh, Viên tịch, Vô vi, Giải thoát, An lạc, có nghĩa là dập tắt ngọn lửa phiền não
Trong Phật giáo nguyên thủy Niết bàn được xem là đoạn triệt luân hồi, đó
là sự tận diệt gốc rễ của ba nghiệp bất thiện là tam độc Tham- Sân- Si, không còn chịu sự tác động của Nghiệp, của nhân duyên và đã đạt tới trạng thái vô vi, tịch tĩnh, an lạc, không còn khổ đau
Theo quan niệm của Phật giáo nguyên thủy thì Niết bàn có hai dạng: Hữu
dư Niết bàn và Vô dư niết bàn
Hữu dư niết bàn là một trạng thái giải thoát của các bậc thánh nhân đã giác ngộ không còn phiền lụy bởi khổ đau, phiền não, luân hồi, tái sinh Các vị này vẫn còn sống trên đời nên vẫn còn Ngũ uẩn, có thể trạng, nên gọi là Hữu dư Niết bàn Hữu dư đến niết bàn Vô dư có 4 quả vị tiểu thừa :
Tu đà hoàn: là những người đã thấu đạt chân lý, hiểu rõ tứ diệu đế, nên có thể nhập thánh lưu
Tư đà hàm: là những bậc còn một lần sinh vào cõi dục giới
Anahàm: là những bậc không trở về dục giới nhưng thân vẫn còn
Alahán: là bậc đã đạt quả vị trong hàng tiểu thừa Không còn sinh trong dục giới
Vô dư niết bàn có nghĩa là sự tận diệt không còn vướng mắc trong tái sinh luân hồi, các A-la-hán sau khi chết không còn tái sinh, đạt tới cảnh giới Đại bát niết bàn
Trong Phật giáo Tiểu thừa thì mục đích tối hậu của sự tu tập là tận diệt mọi khổ đau, diệt dục để đạt tới Vô dư niết bàn Vì vậy khuynh hướng chung của phái Tiểu thừa là xuất gia tu đạo, xa lánh cuộc sống trần tục, ly dục, coi trọng giới luật, kinh điển, thiền định
để thu nhiếp, an định thân tâm mong cầu giác ngộ, diệt trừ mọi khổ đau, chấm dứt mọi luân hồi sinh tử, giải thoát cá nhân đi tới nhập vào Vô dư niết bàn, thế giới của bậc Thánh, thế giới cực lạc, hạnh phúc tuyệt đối với Thường – Lạc – Ngã – Tịnh
Tư tưởng giải thoát Phật giáo tiểu thừa chính là hướng tới Vô dư niết bàn, nên coi trọng kinh sách và giới luật, coi đó là phương tiện cứu cánh của giải
Trang 29thoát cá nhân Vì vậy Tiểu thừa đã biến Phật giáo thành hệ tư tưởng có trình độ học vấn cao, mang tính bác học, uyên thâm, kinh viện, và chỉ dành cho những người có cơ duyên đặc biệt
Trong Phật giáo đại thừa do nhấn mạnh tích chất Bồ Tát trong việc cứu nhân độ thế nên Niết bàn mặc dù là mục đích cao nhất của sự giải thoát, nhưng
vì lòng từ bi thương xót chúng sinh mà các Bồ Tát đã phát lời thệ nguyện sẽ chỉ gia nhập Niết bàn khi mọi chúng sinh không còn chịu khổ đau Nên Phật giáo đại thừa phân biệt Niết bàn có Vô trụ Niết bàn và Thường trụ Niết bàn
Trong quan niệm Phật giáo Đại thừa thì mục tiêu tối hậu không chỉ là sự giải thoát khổ đau cá nhân mà còn phải cứu vớt chúng sinh ra khỏi bể khổ Đó cũng là con đường tu tập để tích phúc thiện và trải nghiệm cuộc sống để thấu hiểu những nỗi khổ của chúng sinh mà phát triển lòng từ bi, giác ngộ, thành Phật Nên chủ trương của Phật giáo Đại thừa là gắn đạo với đời, gắn cái riêng với cái chung, gắn lợi ích cá nhân con người với lợi ích chung của toàn xã hội, đất nước và dân tộc, rộng hơn nữa là toàn nhân loại cùng chúng sinh trong các cõi
Tư tưởng giải thoát của Phật giáo Đại thừa luôn gắn liền với lợi ích quần sinh, có tính tha nhân, phổ thông và quần chúng hơn Nên đã trở thành hệ tư tưởng có tác động lớn tới đời sống xã hội Giúp con người sống hòa nhập với cộng đồng và xây dựng nên cho mình đạo đức lý tưởng trong sáng, hoàn thiện nhân cách, phát huy được vai trò cá nhân trong hiện thực đời sống xã hội
Như vậy trong giáo lý Phật giáo Tiểu thừa thì tư tưởng giải thoát là mục tiêu
cơ bản, là nội dung quan trọng nhất để hướng con người tới Vô dư niết bàn, có tính chất cá nhân Còn tư tưởng giải thoát trong Phật giáo Đại thừa cũng được coi là một nội dung quan trọng trong giáo lý nhà Phật, nhưng sự giải thoát đó có tính tha nhân, gắn liền với lợi ích quần sinh, thể hiện cái hạnh của các vị Bồ Tát từ bi, cứu khổ, cứu nạn, phổ độ chúng sinh Vì vậy có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển xã hội Tuy nhiên dù dưới góc độ nào thì Phật giáo nói chung cũng đều coi
tư tưởng giải thoát đóng một vị trí quan trọng trong giáo lý của nhà Phật, bởi đó chính là mục tiêu con người hướng tới
Trang 30c Tư tưởng giải thoát thời Trần
Thời Trần Phật giáo đóng một vai trò quan trọng tới sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Tư tưởng giải thoát thời kỳ này cũng là một nội dung quan trọng trong Phật giáo thời Trần Các vua Trần với vai trò vị trí của một đấng quân vương có trách nhiệm lớn lao đối với dân tộc và đất nước, nên tư tưởng giải thoát của các vua Trần ở đây luôn gắn liền với lợi ích quốc gia dân tộc và làm cho quốc thái dân an Vì vậy tư tưởng giải thoát Phật giáo Việt Nam theo khuynh hướng Đại thừa Tuy nhiên tư tưởng giải thoát Phật giáo Việt Nam thời Trần có đặc điểm khác so với Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo Trung Hoa ở chỗ đó là sự dung hợp giữa tính kinh viện, bác học, hàn lâm của phái Phật giáo Tiểu thừa với tính đại chúng, tha nhân của Phật giáo Đại thừa, đưa Phật giáo phát triển lên một tầm cao mới về mặt hệ tư tưởng, gắn lý luận với thực tiễn, tạo nên đặc điểm riêng của Phật giáo Việt Nam
1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần
1.2.1 Cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội để hình thành tư tưởng giải thoát Phật giáo Việt Nam thời Trần
a, Cơ sở chính trị hình thành tư tưởng giải thoát Phật giáo Việt Nam thời Trần
Triều đại nhà Trần ( 1226-1400) với 174 năm thống trị, đã để lại những dấu
ấn lịch sử đậm nét trong lịch sử Việt Nam
Mở đầu triều đại nhà Trần bắt đầu từ niên hiệu Kiến Trung(1226), khi Trần Cảnh lên ngôi, hiệu là Trần Thái Tông
Dưới thời Trần, với bộ máy nhà nước mang tính trung ương tập quyền - quyền lực tập chung chủ yếu trong tay vua, vua giữ vị trí độc tôn và nắm giữ phần lớn tài sản của đất nước, lãnh đạo và quản lý mọi vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự bên cạnh vua là thái thượng hoàng nắm giữ vai trò “cố vấn” cho vị vua trẻ, song thực chất cũng là người quyết định mọi công việc quốc gia
Dưới vua là hệ thống quan lại với các vương hầu, công tôn thất, quý tộc thân thích, thân cận, gần gũi vua, nắm giữ các chức vụ trọng yếu, giúp vua cai trị đất nước, tạo nên hình thức cai trị chuyên chế dòng họ, một cơ chế phong kiến tập quyền với mối quan hệ vua- tôi, gắn bó trên quan hệ huyết thống trong bộ máy nhà
Trang 31nước, đã tạo ra một nền móng cho giai cấp thống trị nắm đặc quyền, đặc lợi Cơ sở chính trị dưới triều đại nhà Trần cũng đã góp phần tạo nên sự phân tầng giai cấp trong xã hội, qua đó xây dựng một thiết chế quyền lực vững mạnh
Nhà Trần chia nước thành 12 lộ trong đó có 16 phường Đặt chức An phủ, Trấn phủ, có hai viên chánh, phó để cai trị Các xã thì đặt chức đại, tiểu tư xã để quản lý Từ Ngũ phẩm trở lên là Đại tư xã, từ lục phẩm trở xuống là Tiểu tư xã Có người làm kiêm cả hai, ba, bốn xã, cùng xã chính, xã sử, xã giám gọi là xã quan.[5]
Để ổn định trật tự xã hội, năm Giáp Thìn(1244) vua Thái Tông đã chế định lại luật pháp Trong “ Lịch triều hiến chương” của Phan Huy Chú có viết, phép nhà Trần đặt ra là hễ những người phạm tội trộm cắp đều phải chặt tay, chặt chân, hay cho voi giầy, ngựa xéo để đảm bảo sự nghiêm minh trong xã hội
Về binh chế, khi Thái Tông lên ngôi vua thì việc binh lính được chỉnh đốn thêm Bao nhiêu trai tráng trong nước đều phải đi lính cả Các thân vương ai cũng
có quyền mộ tập quân lính Nên khi giặc Mông Cổ kéo sang, nước Nam ta đã có 20 vạn quân hùng mạnh để trống trọi với kẻ địch
Ngoài ra để củng cố quyền lực, nhà Trần còn cho kết hôn đồng tộc trong dòng họ, nhằm tạo ra cho quý tộc nhà Trần mối liên hệ chung về quyền lợi và địa vị gia tộc song hành với lợi ích quốc gia Nên cũng là một điều dễ hiểu về
sự đoàn kết chặt chẽ trong triều đình khi đứng trước vận mệnh của Tổ quốc
Để tạo nên sức mạnh dân tộc trong công cuộc bảo vệ đất nước, nhà Trần còn
thực hiện tư tưởng chính trị “ thân dân”, với quan niệm “ ý dân”, “lòng dân”, “khoan
thư sức dân” và biến nó thành Đạo trị nước, nên đã phát huy được sự đoàn kết dân tộc
và sự đồng lòng, đồng sức của nhân dân với triều đình khi vận nước lâm nguy
Trong đường lối ngoại giao, nhà Trần cũng thể hiện sự khôn khéo trong việc thiết lập các mối quan hệ bang giao dựa trên tình hòa ái, hữu hảo để giữ yên bờ cõi, tạo sự vững chắc nơi biên cương Việc vua Trần gả con gái yêu là công chúa Huyền Chân cho hoàng tử Chế Mân nước Xiêm, khiến vua Chiêm cảm động dâng Châu Ô
[ 5 ] Đại Việt Sử ký toàn thư, 1998, Sđd, , t1, tr267.
Trang 32và Châu Rí cho Đại Việt, góp phần mở rộng thêm lãnh thổ và thắt chặt mối quan hệ láng giềng giữa các quốc gia dân tộc
Đó chính là những cơ sở chính trị của tư tưởng giải thoát Phật giáo thời Trần
và nó cũng phản ánh sự vận dụng sáng tạo những triết lý Phật giáo trong việc trị nước của Vua tôi nhà Trần
Triều đại nhà Trần, với bộ máy nhà nước vững mạnh, đời sống kinh tế chínhtrị ổn định, bên cạnh đó vua, quan nhà Trần lại là những người sùng mộ Phật giáo, đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự ra đời và phát triển của Phật giáo
b, Cơ sở kinh tế hình thành tư tưởng giải thoát Phật giáo thời Trần
Với nhu cầu phát triển đất nước và xây dựng triều đại, đồng thời lại phải trống trọi với các thế lực xâm lược, bạo loạn của thù trong giặc ngoài, nên triều đại nhà Trần rất quan tâm tới phát triển kinh tế và chăm lo cho cuộc sống của nhân dân
Để phát triển kinh tế nông nghiệp, nhà Trần đặt ra chức quan “Hà đê sứ” để đắp đê trị thủy, chăm lo kinh tế theo từng vùng Năm Mâu thân (1244) Thái Tông sai quan ở các lộ để đắp đê ở hai bên bờ sông cái( Hoàng Hà), gọi là Đỉnh Nhĩ Đê, lại cử quan coi đê là Hà đê chánh sứ hai viên
Để củng cố ngân sách và nuôi sống bộ máy cai trị, phát huy vai trò trách nhiệm của nhân dân trong việc xây dựng đời sống kinh tế, nhà Trần đã đặt ra các loại thuế má như thuế thân, thuế ruộng, thuế muối, thuế trầu cau, tôm cá
Dưới triều đại nhà Trần, nhà nước định lệ cấp bổng cho các quan văn võ trong ngoài, sử dụng ruộng đất trong việc phong cấp cho quan lại, họ hàng công thần Chính sách ruộng đất thời Trần thể hiện tiêu biểu nhất là Thái ấp Việc ban cấp thái ấp là một chính sách kinh tế quan trọng nhằm tạo ra cơ sở xã hội cho chính quyền nhà Trần
Ngoài ra để mở diện tích canh tác và chủ trương xây dựng, củng cố thế lực của quý tộc nhà Trần, nhà nước chủ trương khai hoang, lập đồn điền, mở rộng phát triển chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất, củng cố cho quyền lực kinh tế cho giai cấp thống trị
Trang 33Nhà Trần với việc duy trì sự tồn tại song song hình thức công điền và tư điền
đã tập chung được toàn bộ của cải và nhân lực trong tay và thâu tóm được quyền lực kinh tế, chính trị, tạo nền móng vững chắc cho chế độ xã hội
Ngoài phát triển nông nghiệp, nhà nước còn chủ trương khuyến khích phát triển thủ công nghiệp, thương nghiệp, tạo nên sự sầm uất ở các đô thị, làm cho kinh
tế Đại Việt phát triển mạnh Đây cũng là điều kiện căn bản giúp Phật giáo ngày càng phát triển mạnh Tuy nhiên nạn giặc dã cũng tạo nên sự thăng trầm trong đời sống kinh tế, chính trị, khiến các vua Trần nhận thấy sự khổ hạnh tất yếu của con người trong kiếp sống nhân sinh nên quyết chí tu hành để tìm ra chân lý, mong cầu
sự giải thoát không chỉ cho cá nhân mà còn cho xã hội với mong muốn thiên hạ thái bình thịnh trị, qua đó xây dựng lên một lối sống tốt đời đẹp đạo trong nhân dân, đất nước cường thịnh
c, Cơ sở xã hội hình thành tư tưởng giải thoát Phật giáo thời Trần
Xã hội dưới triều đại Trần cũng phản ánh những mặt hết sức nổi bật với
sự phân tầng xã hội đã tạo nên cấu trúc giai cấp đặc thù, do mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước và hình thức sở hữu mang tính tư hữu về ruộng đất quy định Khiến cho trong xã hội nhà Trần hình thành ba đẳng cấp chính :
+ Đẳng cấp công tôn thất, quý tộc, quan lại trong bộ máy chính quyền,
+ Đẳng cấp những người bình dân
+ Đẳng cấp nô tỳ
Trong đó, bản thân trong nội bộ giai cấp thống trị cũng phân hóa thành hai tầng lớp với sự khác nhau về kinh tế và địa vị xã hội, như :
-Tầng lớp quý tộc, vương hầu, quan lại tôn thất nhà Trần ;
-Tầng lớp địa chủ quan liêu; cùng với đó là tầng lớp trung lưu thuộc về các nho sỹ, sư tăng, đạo sỹ
Bên cạnh đó tầng lớp bình dân bao gồm đông đảo những người nông dân sống trong các làng xã, có quan hệ mật thiết với địa chủ ; tầng lớp thợ thủ công, thương nhân chủ yếu sống ở các nơi đô thị, các làng nghề truyền thống Họ là lực lượng sản xuất chính của xã hội và thuộc về giai cấp bị trị, ghánh vác hầu
Trang 34hết các nghĩa vụ xã hội như nộp tô, thuế cho nhà nước, đắp đê trống lụt, bão, tham gia quân đội
Dưới nữa là tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội là tầng lớp nông nô, nô
tỳ, đây là một lực lượng khá đông đảo trong xã hội, được ra đời và hình thành
do nhu cầu phục vụ giai cấp thống trị Họ sống chủ yếu trong các điền trang, thái ấp của các vương công, tôn thất, địa chủ, trung thành tuyệt đối với chủ, sống chết với chủ, đồng thời có nghĩa vụ với nhà nước, đoàn kết với các giai cấp khác để tạo sức mạnh to lớn chiến thắng kẻ thù xâm lược, bảo vệ đất nước
Nhà Trần do nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp là trọng điểm, nên đại
bộ phận ruộng đất mang tính tư hữu dưới sự sở hữu của nhà nước mang tính công điền, đất công và tư điền thuộc về tay giai cấp địa chủ, quý tộc Năm 1254 nhà Trần còn cho phép bán công điền thành tư điền Năm 1266 triều đình lại cho phép đại quý tộc thành lập điền trang riên Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự phân hóa giai cấp trong xã hội Với chính sách “thân dân”, “gần dân”, nên trong xã hội mặc dù có sự phân hóa giai cấp giữa sang - hèn, quý - tiện giữa con người với con người nhưng trong xã hội không có sự đối kháng giai cấp Bên cạnh đó học thuyết nhân quả và khái niệm mệnh trời cũng ảnh hưởng trực tiếp tới tinh thần và ý thức con người, giúp con người tự điều chỉnh ý thức, hành động của mình, chính điều này cũng góp phần làm xã hội ổn định, đặt nền móng cho sự hưng thịnh Phật giáo thời Trần Với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, xã hội đã tạo ra một triều đại hưng thịnh nhà Trần, tạo đà cho sự phát triển tư tưởng văn hóa xã hội và sự ra đời Phật Giáo Việt Nam, cùng những tư tưởng giải thoát Phật giáo thời Trần
1.2.2 Cơ sở văn hóa, tư tưởng hình thành tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần
Một trong những cơ sở tư tưởng văn hóa đầu tiên có sự ảnh hưởng lớn tới Phật giáo thời Trần và góp phần hình thành tư tưởng giải thoát Phật giáo thời Trần chính là những giá trị văn hóa triều đại Lý Triều đại Lý với chín đời vua với hơn hai trăm năm thống trị (1010 – 1225) đã để lại cho dân tộc những giá trị văn hóa tiến bộ như chính sách thân dân, coi trọng Phật giáo, tư tưởng tam giáo đồng
Trang 35nguyên Đây là những tư tưởng mà sau này đã được triều đại nhà Trần kế thừa và phát triển lên tầm cao mới
Triều đại nhà Trần, các vua Trần có công lớn trong việc xây dựng hồi phục lại đất nước, đưa đất nước trở nên hưng thịnh, làm Phật giáo ngày càng phát triển
Phật giáo thời Trần là sự phát triển sáng tạo trên nền tảng văn hóa triều Lý cùng những giá trị tinh hoa của các triều đại trước, và trên cơ sở thực tiễn của lịch
sử xã hội Các vua Trần cùng với các thiền sư như Pháp Loa, Huyền Quang, Tuệ Trung Thượng Sỹ…chính là những người có công lớn trong việc xây dựng, phát triển Phật giáo, làm Phật giáo giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần văn hóa xã hội Trần Thái Tông chính là người đầu tiên xây dựng những nền móng vững chắc cho Phật giáo thời Trần qua cuộc đời, sự nghiệp tu thân, tu đạo Sau này Trần Nhân Tông đã xây dựng nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, tạo cơ sở cho sự ra đời của giáo hội Phật giáo Việt Nam
Dưới triều đại nhà Trần, những giá trị nhân sinh đã thấm đẫm trong tâm hồn thi sỹ của các vua Trần khi chứng kiến, trải nghiệm những sự khổ đau thăng trầm trong cuộc sống con người, qua đó hiểu rõ hơn triết lý nhà Phật “đời là bể khổ”, cuộc đời và sự nghiệp vua Trần Thái Tông cũng là một minh chứng của sự khảo nghiệm đó Những khổ đau ngang trái và uẩn ức trong tình yêu trong sự nghiệp, gia đình đã thức tỉnh vua nhận thấy sự vô thường của cuộc đời, mọi thứ đều chỉ ảo giả, cuộc sống phù hoa đầy giả dối, niềm vui, hạnh phúc chỉ trong thoáng chốc, nhân tình thế thái luôn đổi thay Vua đã từ bỏ tất cả để lên núi tu hành, nhưng thiền sư Trúc Lâm đã khuyên vua “trên núi vốn không có Phật”, vua đã trở về và tiếp tục sự nghiệp của đấng quân vương, biến những khổ đau, ngang trái ấy thành sức mạnh để lãnh đạo và xây dựng đất nước, phát triển đất nước
Văn hóa, tư tưởng dưới triều đại nhà Trần cũng hết sức phong phú và độc đáo Thời kỳ này Phật Giáo đã du nhập vào Việt Nam và trở thành một phần tất yếu trong đời sống tinh thần người Việt Nhưng bên cạnh Phật Giáo còn có sự du nhập của Nho giáo và Đạo giáo, tạo nên sự pha trộn giữa các hệ tư tưởng trong nền văn hóa Với tư tưởng “Phật giáo dĩ tâm, Nho giáo dĩ thế, Đạo giáo dĩ tư tưởng”, có
Trang 36nghĩa dùng Phật giáo để trị tâm, dùng Nho giáo trị thế, dùng Đạo giáo để giải thoát
tư tưởng, các vua Trần đã phát huy được vai trò và thế mạnh của cả Phật giáo và Nho giáo, Đạo giáo trong quá trình xây dựng và phát triển xã hội, đồng thời củng cố
sự vững mạnh cho vương triều, chế độ nhà Trần Dưới triều đại nhà Trần nếu như Phật giáo đóng vai trò là nền tảng đời sống tinh thần xã hội, thì Nho giáo đóng vai trò duy trì trật tự xã hội và phát triển văn hóa - giáo dục, bổ sung nhân tài cho bộ máy thống trị Nho giáo đã tác động trực tiếp trong việc hình thành đội ngũ tri thức dân tộc, và xây dựng nền tảng thế giới quan cho con người Những luận thuyết
“Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín” trong Nho giáo trở thành những quy
phạm và những chuẩn mực đạo đức con người Năm 1232 triều đình mở khoa thi Thái học sinh (thi Tiến sỹ) để tuyển dụng nhân tài Thái học sinh được chia làm thứ bậc, ba giáp để định cao thấp Năm 1247 lại đặt ra Tam khôi: trạng nguyên, bảng nhãn, thám khoa Năm thi này có nhà sử học Lê Văn Hưu đỗ bảng nhãn Năm đó cũng mở khoa thi tam giáo đồng nguyên: Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo Với sự phát triển Nho giáo đã dẫn tới sự ra đời của tầng lớp nho sinh đông đảo, tài giỏi có thể tham gia vào các vấn đề triều chính, giữ những vị trí quan trọng trong triều đình như Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Cư Nhân Họ đã đóng góp củng cố vững chắc hệ thống chính quyền nhà nước và làm cho nó mang đậm sắc quan liêu, chuyên chế Năm Quý Sửu(1253), vua cho lập Quốc học viện để giảng tứ thư ngũ kinh, và lập võ đường để luyện tập võ nghệ Điều này cho thấy vua và triều đình rất quan tâm tới sự phát triển văn hóa giáo dục đất nước và sự an ninh, cường thịnh của quốc gia dân tộc Nho giáo cũng ảnh hưởng lớn tới vấn đề trị quốc an dân của các vua Trần, góp phần ảnh hưởng tới tư tưởng nhập thế cứu đời của các vua Trần
Tóm lại, những yếu tố hoàn cảnh lịch sử tư tưởng, kinh tế, chính trị, văn hóa
xã hội là những cơ sở, nền tảng cho việc hình thành tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần Tuy nhiên trên bình diện khách quan, cũng cần phải xét dưới hai khía cạnh cá nhân con người và xã hội, với nhân tố chủ quan và yếu tố khách quan Vì đối với cá nhân các vua Trần, những người đứng đầu một quốc gia,
Trang 37dân tộc Đại diện cho tinh thần, ý chí của một đất nước, thì tầm ảnh hưởng đối với
xã hội rất lớn Chính những tư tưởng của các bậc thiền sư, các vua Trần đặt nền móng cho sự ra đời tư tưởng Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử, đồng thời cũng là sự phản ánh những đặc điểm cơ bản của triết lý Phật giáo Việt Nam thời Trần
Tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần còn xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử xã hội đất nước Nhân dân thì đói khổ, lầm than, triều đình rối loạn, đất nước thì rối ren Vai trò trách nhiệm của bậc làm vua phải làm cho quốc thái dân an, muôn dân hạnh phúc, đất nước thái bình thịnh trị, bởi vua là người gánh vác giang sơn, mang nặng trọng trách cùng đất nước Để trị nước an dân, xây dựng ổn định trật tự xã hội, ngoài sử dụng pháp trị thì người cầm quyền phải lấy đức trị, lấy chính bản thân làm tấm gương sáng cho quần thần và dân chúng noi theo nhằm xây dựng nền tảng đời sống tinh thần cho xã hội, phát triển, củng cố sự vững mạnh của chế độ xã hội đương thời và phát triển đất nước Đây cũng là một con đường mà các vua Trần đã thực hiện để vừa giúp ích cho dân, cho nước vừa giúp bản thân hoàn thành được tâm nguyện trên bước đường tu đời, tu đạo, gieo thiện duyên, gắn liền sự giải thoát cá nhân với lợi ích xã hội Xây dựng nên một thế giới đại đồng, an vui “một thế giới cực lạc nơi trần gian”
Tổng kết chương 1:
Phật giáo là một tôn giáo lớn, là hệ thống triết học có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với con người và xã hội Sự ra đời và phát triển của Phật giáo đã đánh dấu sự phát triển tư tưởng của lịch sử nhân loại, có tầm ảnh hưởng lớn tới các quốc gia, dân tộc trên thế giới Việt Nam chính là một trong những quốc gia có sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo Khi du nhập vào Việt Nam nó đã trở thành một
bộ phận quan trọng của đời sống tinh thần và văn hóa người Việt
Thời Trần trên cơ sở kế thừa những tinh hoa văn hóa của các triều đại trước
đó mà trước hết là triều đại nhà Lý đã khiến Phật giáo phát triển mạnh mẽ, đưa Phật giáo trở thành quốc giáo Bên cạnh đó những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội, văn hóa tư tưởng của triều đại nhà Trần cũng chính là cơ sở hình thành tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần
Trang 38Chương 2
NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT
CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI TRẦN
2.1 Nội dung tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần
2.1.1 Chủ thể, phương tiện, cách thức giải thoát
a,, Chủ thể giải thoát
Trong triết học Phật giáo nói chung và tư tưởng Phật giáo thời Trần nói riêng, đều quan niệm con người chính là chủ thể giải thoát Theo quan điểm của Phật giáo “đời là bể khổ”, nỗi khổ là nghiệp lực chi phối cuộc sống con người và đeo đẳng bám riết cuộc sống con người trong cả một chặng đường dài của sinh – tử, trong kiếp sống nhân sinh Nên con người không chỉ là chủ thể của kiếp sống luân hồi mà còn là chủ thể của nghiệp, tác nhân tạo nghiệp, đồng thời lại phải chịu sự tác động của nghiệp khiến đau khổ Vì đau khổ nên con người phải tìm cách thoát khổ
để giải thoát chính mình khỏi những nỗi khổ bởi tham, sân, si do những dục vọng và những cám dỗ, cạm bẫy của cuộc đời Nên trong tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần, chủ thể giải thoát ở đây chính là con người và mỗi cá nhân con người trong cuộc sống chính là một chủ thể giải thoát sống động trong quá trình tu thân, tu đạo, tu đời
Trong Phật giáo Việt Nam thời Trần, tư tưởng giải thoát luôn được thể hiện sinh động bằng những lý luận và thực tiễn của các nhà tư tưởng, các thiền sư Bản thân các vua Trần cũng chính là những nhà tư tưởng lớn, những thiền sư lỗi lạc, những nhà hoạt động chính trị xuất sắc
Tư tưởng giải thoát Phật giáo Việt Nam thời Trần thể hiện qua các tư tưởng tiêu biểu như: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Pháp Loa, Huyền Quang, và họ cũng chính là những chủ thể giải thoát hiện thực đầy sinh động
Trần Thái Tông là vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần, đồng thời cũng là người đặt nền móng cho sự phát triển Phật giáo mạnh mẽ dưới triều đại nhà Trần
Trang 39Ông sinh năm 1218, từ nhỏ vốn là người thông minh, hiếu học, trọng nghĩa khí và mến chuộng Phật giáo Ông kết duyên với Lý Chiêu Hoàng và lên ngôi lúc tám tuổi
Cuộc đời của ông cũng có nhiều biến động thăng trầm và ngang trái Năm ông 17 tuổi, ông đã bị buộc phải từ bỏ người vợ yêu quý của mình vì sự nghiệp chính trị, vì quốc gia, dòng tộc Do sau nhiều năm kết duyên cầm sắc mà Chiêu Hoàng vẫn chưa có con Lo cho sự nghiệp giang san không có người thừa tự, kế tục, nối dõi ảnh hưởng tới vận mệnh quốc gia, dân tộc, Trần Thủ Độ đã buộc phải ép Thái Tông bỏ tình riêng để cưới Thuận Thiên Nghịch cảnh đó gây ra một cú sốc tinh thần lớn tới ông, khiến ông từ bỏ ngai vàng tìm lên non cao Yên Tử, để tu cầu thành Phật Trần Thủ Độ thấy vậy đã lên tận Yên Tử đón ông về, ông từ chối Nhưng thiền sư Trúc Lâm đã giúp ông thức tỉnh về vai trò trách nhiệm của người làm vua đối với đất nước Nên ông đã trở về, tiếp tục ngôi vua trong 33 năm (1226- 1258)
Dưới triều đại của Trần Thái Tông, đất nước thịnh trị với những cải cách tiến
bộ trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng văn hóa xã hội Để bảo vệ và phát triển đất nước, ông cũng trực tiếp dẹp loạn ở biên cương do Chiêm Thành quấy rối,
và trực tiếp cầm quân xông pha nơi hòn tên mũi đạn đánh tan quân Mông Cổ Ông không chỉ là một nhà chính trị tài ba, một vị vua anh minh, nhân hậu mà còn là một nhà văn hóa, một nhà tư tưởng lớn Các tác phẩm ông viết đều có giá trị và tính triết
lý nhân văn sâu sắc, tiêu biểu như Khóa Hư Lục Một tác phẩm không chỉ có giá trị
về mặt văn học với những câu từ đẹp có tính nhân văn, hướng con người tới cái thiện;
nó còn là tác phẩm triết học với những triết lý nhân sinh sâu sắc; và là tác phẩm tôn giáo có tính định hướng tư tưởng cho con người trong hiện thực cuộc sống
Tư tưởng triết học của Trần Thái Tông được thể hiện rõ nét qua những áng thơ văn, ông quan niệm con người chính là chủ thể của nghiệp và là tác nhân của nghiệp đồng thời là sản phẩm của nghiệp lực Nỗi khổ của con người cũng đều do chính nghiệp lực của con người gây ra Nên con người vừa là đối tượng, vừa là chủ thể giải thoát
Nói tới chủ thể giải thoát, Tuệ Trung Thượng Sỹ cũng chính là một minh chứng sinh động với những tư tưởng giải thoát siêu việt mang tính phá chấp, viên
Trang 40dung, khoáng đạt Ông sinh năm 1230, mất năm 1291, tên thật là Trần Quốc Tung, con của An Sinh Vương Trần Liễu, là anh ruột của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Từ nhỏ ông đã sớm bộc lộ là người thông minh, bản lĩnh và có trí tuệ sâu sắc, tính tình thanh cao, thuần hậu, rất quan tâm tới Phật giáo, ông được Trần Nhân Tông ca ngợi là người có khí lượng thâm trầm, phong thần nhàn nhã Lớn lên ông theo học Thiền sư Tiêu Dao, tiếp thu được tinh thần cơ bản của Phật giáo Tư tưởng của ông được thể hiện trong tác phẩm Thượng Sỹ Ngữ Lục
Trong tư tưởng triết học của Tuệ Trung Thượng Sỹ, con người là chủ thể của giải thoát Nhưng do địa vị là một cư sỹ nên tư tưởng giải thoát có tính phóng khoáng hơn Ông lại là đệ tử của Thiền sư Tiêu Dao, người đã kết hợp nhánh Vô Ngôn Thông Thăng Long và Vô Ngôn Yên Tử vào cuối thời Lý, đầu thời Trần Nên ông được kế thừa những giá trị tinh hoa nhất của các dòng thiền và luôn gắn liền tư tưởng giải thoát vào hiện thực cuộc sống sinh động Với ông chủ thể giải thoát phải sống hòa vào thế tục, với tự nhiên, với cuộc đời thực tế Bởi đó chính là mảnh đất
để nuôi dưỡng tâm và trải nghiệm cuộc đời như trong lò lửa cũng nở hoa sen vàng Cuộc đời của ông chính là bức tranh thiền giải thoát sống động giữa cuộc đời thế tục đầy sắc mầu thi vị
Trần Nhân Tông, một vị vua anh minh, một nhà tư tưởng lớn, một nhà chính trị tài ba, một thiền sư đắc đạo Ông cũng là một chủ thế giải thoát tích cực trên con đường tu đời, tu đạo
Trần Nhân Tông tên thủa nhỏ là Khâm, con trưởng của Trần Thánh Tông, mẹ
là Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái Hậu Ông sinh ngày 11/11/1258 năm Nguyên Phong thứ 8 Ông trị vì 14 năm(1279-1293), nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, mất năm 1308 tại Ngọa Am Vân Yên Tử
Đối với Trần Nhân Tông, tư tưởng giải thoát của ông là phải gắn liền với ích nước, lợi dân, và phát huy được nhân tố con người để giúp ích cho đời Theo ông sống mà không giúp gì được cho đời là điều đáng hổ thẹn của kẻ trượng phu nên
ông viết “sinh vô bổ thế trượng phu tàm” Đây là quan niệm hết sức tiến bộ trong
triết học Phật giáo Với quan điểm này Phật giáo đã giúp con người nhìn lại chính mình và có được niềm tin vào bản thân để tự điều chỉnh chính mình trong hiện thực