1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

NHẬN THỨC về tác hại đối với sức KHỎE có LIÊN QUAN đến TRỒNG và CHẾ BIẾN THUỐC lá của NGƯỜI NÔNG dân TRỒNG THUỐC lá ở HUYỆN võ NHAI, THÁI NGUYÊN

4 310 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 337,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHậN THứC Về TáC HạI ĐốI VớI SứC KHỏE Có LIÊN QUAN ĐếN TRồNG Và CHế BIếN THUốC Lá CủA NGƯờI NÔNG DÂN TRồNG THUốC Lá ở HUYệN Võ NHAI, THáI NGUYÊN Hoàng Văn Minh, Kim Bảo Giang - Đại họ

Trang 1

Y học thực hành (762) - số 4/2011 96

ra kết luận là luyện tập có tác dụng cải thiện mức độ

đau và chức năng SHHN của bệnh nhân[2]

Sau 30 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân cải thiện

chức năng SHHN ở cả hai nhóm đều tăng lên rõ rệt

so với trước điều trị (p>0,05) Mức độ rất tốt của nhóm

nghiên cứu tăng từ 0% lên 53,3%, của nhóm chứng

tăng từ 0% lên 33,3% Mức độ tốt sau điều trị của

nhóm nghiên cứu là 26,7%, của nhóm chứng là

33,3% Vì vậy, sau điều trị mức độ tốt và rất tốt của

nhóm nghiên cứu là 80%, của nhóm chứng là 66,7%

Mức độ kém của cả hai nhóm đều giảm đến 0%

Kết quả của chúng tôi tương đương với Muphy DR

và CS (78% bệnh nhân tốt) [8] nhưng thấp hơn

Heckmann JG và CS (89,7% tốt) với thời gian theo

dõi trung bình 5,5 năm [1]

Trước điều trị chức năng SHHN trung bình của

nhóm chứng là 18,83 ± 6,1điểm, của nhóm nghiên

cứu 19,1 ± 6,2 điểm Sau 30 ngày điều trị mức độ đau

trung bình của nhóm chứng còn 8,37 ± 7,03 điểm

(giảm 10,43 ± 4,2 điểm), của nhóm nghiên cứu còn

4,57 ± 5,1 điểm (giảm 14,46 ± 4,2 điểm) Đánh giá

bằng test ANOVA chúng tôi nhận thấy rằng có sự

khác biệt của chức năng SHHN ở các thời điểm điều

trị và có sự liên quan giữa thời gian với hai phương

pháp điều trị là có ý nghĩa thống kê p < 0,05

Kết quả của chúng tôi cũng tương đương với Kuijper

B và CS (giảm 13,9 ± 10,5) [5] Tác giả Kjellman G và

CS cũng cho rằng bài tập Mc Kenzie có tác dụng cải

thiện chức năng sinh hoạt ở bệnh nhân đau cổ khi đánh

giá trên 23 bệnh nhân với mức giảm điểm trung bình từ

30 ± 12 điểm xuống 16 ± 12 điểm [4]

KếT LUậN

- Không có sự khác biệt không có ý nghĩa giữa nhóm chứng và nhóm nghiên cứu sau 15 ngày điều trị, tuy nhiên sau 30 ngày điều trị tỷ lệ bệnh nhân cải thiện chức năng SHHN của nhóm nghiên cứu (80%)

là cao hơn nhóm chứng (66,6%)

- Mức độ cải thiện chức năng SHHN của nhóm nghiên cứu (giảm 14,46±4,2 điểm) là cao hơn so với nhóm chứng (giảm 10,43±4,2 điểm) sau 30 ngày điều trị

TàI LIệU THAM KHảO

1 Heckmann JG, Lang CJ, Z#belein I (1999),

“Herniated cervical intervertebral discs with radiculopathy: an outcome study of conservatively or

surgically treated patients” Journal of spinal …, ncbi.nlm.nih.gov

2 Kay TM, Gross A, Goldsmith C (2005), “ Exercises

for mechanical neck disorders”, Cochrane Database Syst Rev, 20, 3, CD004250

3 Kelsey JL, Githens PB, Walter SD, Southwick

WO, …(1984), “An epidemiological study of acute

prolapsed cervical intervertebral disc”, The Journal of Bone and …, JBJS

4 Kjellman G, Oberg B (2002), “A randomized clinical trial comparing general exercise, McKenzie treatment and a control group in patients with neck

pain”,Journal of Rehabilitation Medicine,

informaworld.com

5 Kuijper B, Tans JT, Beelen A (2009), “Cervical collar or physiotherapy versus wait and see policy for recent onset cervical radiculopathy: randomised trial”,

BMJ 339:b3883

6 Mc Kenzie RA (1990), The cervical and thoracic spine mechanical diagnosis and thepary, Spinal publicatrions ltd

NHậN THứC Về TáC HạI ĐốI VớI SứC KHỏE Có LIÊN QUAN ĐếN TRồNG

Và CHế BIếN THUốC Lá CủA NGƯờI NÔNG DÂN TRồNG THUốC Lá

ở HUYệN Võ NHAI, THáI NGUYÊN

Hoàng Văn Minh, Kim Bảo Giang - Đại học Y Hà Nội

Tóm tắt

Để các chính sách kiểm soát thuốc lá ở Việt Nam

có hiệu lực, các thông tin chính xác về các nhận thức

của người dân liên quan đến trồng trọt thuốc lá là cấp

thiết cho những người vận động chính sách nói riêng

cũng như cho cả xã hội nói chung Mục tiêu: Tìm hiểu

nhận thức về tác động có hại đối với sức khỏe liên

quan đến trồng và chế biến thuốc lá của người nông

dân trồng thuốc lá ở một vùng nông thôn phía bắc

Việt Nam Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, định

tính Đối tượng: Lãnh đạo cộng đồng, đại diện trạm y

tế và người dân Kết quả: hầu hết nông dân không thể

biết có sự liên quan giữa các vấn đề sức khỏe của họ

với các công việc trồng thuốc lá Không có người

tham gia nghiên cứu nào đã biết về hội chứng nhiễm

độc thuốc lá xanh Chưa có chương trình can thiệp

nào để cải thiện kiến thức của người dân và nhận

thức về các tác hại của trồng thuốc lá Kết luận: Nhận

thức của người nông dân nhận thức về tác động có

hại đối với sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến

thuốc lá của người nông dân trồng thuốc lá ở một vùng nông thôn phía bắc Việt Nam còn rất hạn chế

Từ khóa: Trồng trọt thuốc lá, sức khỏe, nhận thức

Summary

In order to enforce the policies on tobacco control

in Vietnam, reliable information on Perception of health impacts of tobacco cultivation and processing among tobacco farmers are urgently needed by those with advocacy’s responsibility as well as for society in general However, even though the number of research on tobacco in Vietnam has recently increased, there remains too little information on this area Objective: To explore the perception of health impacts of tobacco cultivation and processing among tobacco farmers in Vo Nhai District, Thai Nguyen province Study subject: Community leaders, heads

of commune health center and people from the study locations Results: Our study found that tobacco farmers did notice some health problems during the times they grew tobacco or processed tobacco

Trang 2

Y học thực hành (762) - số 4/2011 97

products most farmers cannot well correlate their

health problems with tobacco farming works None of

the study participants did know about green tobacco

sickness there was still absence of intervention to

improve people awareness and perception of harmful

effects of tobacco farming Conclusion: The findings

from this study showed that that perception of health

impacts of tobacco cultivation and processing among

tobacco farmers in the study setting is still poor

Keywords: Tobacco cultivation, health impacts,

perception

ĐặT VấN Đề

Ngành công nghiệp thuốc lá quảng cáo việc trồng

cây thuốc lá như là một loại thuốc chữa mọi bệnh tật,

khẳng định rằng nó sẽ mang lại sự thịnh vượng chưa

từng có cho những người nông dân, cộng đồng và đất

nước của họ (1) Tuy nhiên, sự thật là trong khi ngành

công nghiệp này chưa chứng tỏ rằng trồng thuốc lá là

chỗ dựa chính của nền kinh tế nhiều nước thì những

tác động gây thiệt hại nghiêm trọng về môi trường và

sức khỏe do trồng thuốc lá đã rõ ràng ở nhiều nước

trên thế giới Ngay từ khi hạt thuốc lá được trồng cho

đến lúc cây thuốc lá trưởng thành được thu hoạch và

chế biến, sức khỏe của những người trồng thuốc lá

luôn bị đe dọa (1, 2)

Những mối nguy hiểm do trồng trọt thuốc lá làm

cho những người trồng thuốc lá tăng nguy cơ bị chấn

thương và bệnh tật Trẻ em và người trưởng thành,

mà chủ yếu là nữ làm việc với thuốc lá thường bị Hội

chứng nhiễm độc thuốc lá xanh (GTS), hội chứng gây

ra bởi nicotine ngấm vào da do tiếp xúc với lá thuốc lá

tươi GTS là hội chứng nhiễm độc nicotine cấp tính do

nicotine ngấm vào da từ nhựa của cây thuốc lá,

Nicotiana tabacum Các triệu chứng gồm hoa mắt

chóng mặt hoặc đau đầu và buồn nôn hoặc nôn,

nhưng có thể cũng bao gồm cả co thắt bụng, đau

đầu, mệt mỏi, khó thở, đau bụng, tiêu chảy và đôi khi

có những bất thường về huyết áp hoặc nhịp tim

Những người mắc Hội chứng nhiễm độc thuốc lá xanh

thường kéo dài tình trạng trong 2 hoặc 3 ngày rồi tự

khỏi Tuy nhiên, các triệu chứng thường nặng đủ để

gây hậu quả mất nước và cần chăm sóc y tế khẩn

cấp (3-5) Việc sử dụng thường xuyên và nhiều thuốc

trừ sâu để bảo vệ cây trồng khỏi sâu hại và bệnh tật

có thể gây ra nhiều thiệt hại cho con người như ngộ

độc, kích thích da và mắt và các rối loạn khác của hệ

thần kinh, hệ hô hấp cũng như tổn thương thận (6, 7)

Tuy nhiên người nông dân trồng trọt thuốc lá

thường ít có những nhận thức đúng đắn về tác hại nên

trên và rất nhiều người nông dân đã lựa chọn trồng

trọt thuốc lá bất chấp đến những tác động có hại đối

với họ Để các chính sách kiểm soát thuốc lá ở Việt

Nam có hiệu lực, các thông tin chính xác về các nhận

thức của người dân liên quan đến trồng trọt thuốc lá là

cấp thiết cho những người vận động chính sách nói

riêng cũng như cho cả xã hội nói chung Mục tiêu của

nghiên cứu này là tìm hiểu nhận thức về tác động có

hại đối với sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến

thuốc lá của người nông dân trồng thuốc lá ở một

vùng nông thôn phía bắc Việt Nam

ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

Thiết kế nghiên cứu:

Đây là nghiên cứu định tính có sử dung kỹ thuật phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

Địa điểm nghiên cứu

Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên được chọn là

địa bàn của nghiên cứu này Huyện Võ Nhai là một vùng nông thôn nằm ở miền Bắc Việt Nam, cách thủ

đô Hà Nội về phía Bắc 90 km Huyện này có 1 thị trấn

và 14 xã ở huyện Võ Nhai, 2 xã, một xã trồng thuôc lá và một xã không trồng thuốc lá mà có các điều kiện kinh tế xã hội và dân số học tương tự nhau được chọn vào nghiên cứu (Xã Lâu Thượng- xã trồng thuốc lá và xã Phú Thượng - xã không trồng thuốc lá)

Đối tượng nghiên cứu/ cỡ mẫu và cách chọn mẫu

Phỏng vấn sâu: Chủ tịch của hai xã và trưởng trạm y tế xã ở hai xã đã chọn được phỏng vấn về các lợi ích sức khỏe liên quan đến trồng thuốc lá

Thảo luận nhóm (TLN): ở mỗi xã, thực hiện hai cuộc TLN từ 8-10 người (1 TLN nam và 1 TLN nữ) Phương pháp chọn mẫu chủ đích được sử dụng để chọn những người tham gia các cuộc phỏng vấn sâu

và thảo luận nhóm (cả người nghèo và không nghèo

đều được lựa chọn)

Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu định tính được thu thập bởi nhóm nghiên cứu dựa trên hướng dẫn điều tra đã phát triển Các cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện chủ yếu

ở phòng làm việc của những người được phỏng vấn Mỗi cuộc thảo luận nhóm có hai nghiên cứu viên (Một người điều khiển và một người ghi chép) phụ trách thực hiện Các cuộc thảo luận nhóm chủ yếu thực hiện tại nhà văn hóa của xã

Các niềm tin sức khỏe của những người trồng thuốc lá được khảo sát theo Mô hình Niềm tin Sức khỏe (Health Belief Model HBM) Đây là một mô hình tâm lý học nhằm giải thích và dự đoán các hành vi sức khỏe Nó được thực hiện bằng cách tập trung vào thái độ và niềm tin của các cá nhân HBM đầu tiên

được phát triển vào thập niên 1950 bởi các nhà tâm lý xã hội Hochbaum, Rosenstock và Kegels đã làm việc

ở Các dịch vụ y tế công cộng ở Mỹ HBM bao gồm 5 khía cạnh định hướng hành vi của con người (1) Nhận thức về sự nhạy cảm với yếu tố nguy cơ; (2) Nhận thức về mức độ trầm trọng của bệnh tật hoặc các vấn

đề sức khỏe gây ra bởi yếu tố nguy cơ; (3) Nhận thức lợi ích của hành vi tốt cho sức khỏe; (4) Nhận thức các trở ngại đối với việc thực hiện các hành vi tốt cho sức khỏe; (5) Sự gợi ý hành động – Các chiến lược để sẵn sàng hành động; (6) Hiệu quả cá nhân – sự tự tin vào các khả năng của mình để đưa ra các hành động Các tiêu đề chính của phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm là:

Nhận thức về các tác hại liên quan đến trồng và chế biến thuốc lá

Nhận thức về sự nghiêm trọng của các vấn đề sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến thuốc lá

Nhận thức về các ích lợi của việc ngừng trồng thuốc lá

Trang 3

Y học thực hành (762) - số 4/2011 98

Nhận thức về các rào cản của việc ngừng trồng

thuốc lá

Các giải pháp có thể có để cải thiện tình trạng này

Phân tích số liệu

Tất cả các cuộc phỏng vấn sâu (4 cuộc) và thảo

luận nhóm (4 cuộc) được ghi chép lại để phân tích

Phân tích số liệu định tính sử dụng phương pháp phân

tích nội dung Số liệu được tổng hợp và mã hóa theo

các chủ đề chính

KếT QUả

1 Nhận thức về các tác động có hại liên quan

đến trồng và chế biến thuốc lá

Các cuộc thảo luận nhóm với những người nông

dân đã phát hiện ra rằng cả người trồng và không

trồng thuốc lá có thể nói được 2 vấn đề chính liên

quan đến trồng thuốc lá là: 1) Các cây trồng thuốc lá

phụ thuộc nhiều vào phân bón và thuốc trừ sâu; 2)

Các hoạt động trồng thuốc lá cần nhiều lao động

chuyên sâu hơn Một số người trồng thuốc lá đã kể

rằng phơi nhiễm với khói thuốc trong khi sấy khô lá

thuốc lá cũng có thể dẫn đến nhiều vấn đề sức khỏe

Những người trồng thuốc lá cũng báo cáo rằng họ

dường có nhiều vấn đề sức khỏe trong khi trồng thuốc

lá hơn so với trong khoảng thời gian họ trồng các cây

hoa màu khác Nữ giới tham gia trồng thuốc lá phàn

nàn về các vấn đề sức khỏe mắc phải trong các vụ

thuốc lá nhiều hơn nam Những người trồng thuốc lá

cũng nhận thấy rằng họ bị ốm đau nhiều hơn trong

khi họ bấm ngọn và thu hoạch lá thuốc lá và họ nghĩ

tiếp xúc với thuốc trừ sâu là nguyên nhân gây ra các

vấn đề sức khỏe Tuy nhiên, không có người nào có

thể nghĩ ốm đau có liên quan với nicotine trong lá

thuốc lá Họ chưa bao giờ nghe về Hội chứng nhiễm

độc thuốc lá xanh

Các cuộc phỏng vấn sâu với lãnh đạo xã cũng chỉ

ra rằng chính quyền địa phương không biết nhiều về

các tác động có hại của nhiễm độc nicotine đối với

những người trồng thuốc lá

Các trưởng trạm y tế xã đã báo cáo rằng các cán

bộ y tế địa phương có nhận biết về các tác động có

hại của trồng thuốc lá do họ phải cung cấp dịch vụ

chăm sóc y tế nhiều hơn cho những người nông dân

trong khi thu hoạch thuốc lá so với các khoảng thời

gian khác Các cán bộ y tế địa phương ở Lâu Thượng

(xã trồng thuốc lá) cũng biết về Hội chứng nhiễm độc

thuốc lá xanh trong khi tham gia điều tra thử của

chúng tôi năm 2007 (9)

2 Nhận thức về tính nghiêm trọng của các vấn

đề sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến

thuốc lá

Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng những

người trồng thuốc lá không quan tâm về tính nghiêm

trọng của các vấn đề sức khỏe họ bị trong khi trồng

thuốc lá Không người tham gia thảo luận nhóm nào

nói rằng họ đã từng lo lắng về các vấn đề sức khỏe

mà họ bị trong suốt thời gian trồng và chế biến thuốc

lá Họ cho rằng “các vấn đề sức khỏe không có gì

nghiêm trọng, chỉ đau đầu và chóng mặt”

Tương tự, lãnh đạo của xã Lâu Thượng cũng

không thấy lo lắng gì về hậu quả về sức khỏe của

những người trồng thuốc lá ở xã mình: “Những người trồng thuốc lá phải làm việc chăm chỉ để tăng thu nhập vì vậy họ có thể bị ốm đau nhiều hơn”

Các cuộc phỏng vấn sâu với các trạm trưởng trạm

y tế đã cho thấy rằng các cán bộ y tế có biết về các hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra do Hội chứng

nhiễm độc thuốc lá xanh “Hội chứng nhiễm độc thuốc lá xanh bình thường nhẹ và có thể tự khỏi trong một

đến hai ngày, nhưng nếu các triệu chứng nặng hơn thì cần phải điều trị y tế khẩn cấp”

3 Nhận thức về các lợi ích vủa việc ngừng trồng thuốc lá

Các cuộc thảo luận nhóm đã phát hiện ra rằng một số người nông dân phải ngừng hoặc giảm bớt trồng thuốc lá vì họ không thu được nhiều lợi ích kinh

tế “những vùng trồng thuốc lá đã giảm đi vì giá thuốc không ổn định trong suốt hai năm qua” Không có đối

tượng tham gia nghiên cứu nào báo cáo rằng họ phải ngừng trồng thuốc lá vì các vấn đề sức khỏe

Những người lãnh đạo xã và trạm trưởng trạm y tế

có cùng ý kiến rằng “nếu những người nông dân nhận thấy rằng trồng thuốc lá mang đến cho họ thu nhập nhiều hơn thì họ sẽ vấn tiếp tục trồng thuốc lá”

4 Nhận thức về các rào chắn để ngừng trồng thuốc lá

Các cuộc thảo luận nhóm đã chỉ ra rằng những người trồng thuốc lá không biết về lợi ích kinh tế của các cây hoa màu khác mà có thể thay thế cho cây

thuốc lá: “Chúng tôi không biết là gì, trồng gì, chúng tôi không có bất cứ công việc ổn định nào khác trừ một vài tháng chúng tôi trồng lúa và ngô ở đây”

Theo lãnh đạo xã, trước đây, những người nông dân không thành công với các cây hoa màu khác như hướng dương, cây cải dầu và khoai tây vì những vấn

đề với đất trồng hoặc tiêu thụ sản phẩm “Những người nông dân đã thử trồng cây hướng dương và cây cải dầu nhưng đất không thích hợp Họ quay sang trồng khoai tây nhưng không thể bán được”

Theo những người nông dân trồng thuốc lá và lãnh

đạo xã, công ty thuốc lá đã từng có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động trồng thuốc lá ở xã Lâu Thượng Công ty thuốc lá cung cấp các khóa huấn luyện về kỹ thuật trồng thuốc lá Họ bán hoặc cung cấp thuốc trừ sâu/phân bón cho người nông dân và

thu mua các sản phẩm thuốc lá “Giá thuốc đã giảm mạnh trong mấy năm qua, giá thuốc trước đây là

35000 - 40000 đồng/kg những bây giờ chỉ còn 4000 - 5000/kg”

5 Các hướng hành động

Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng cả những người nông dân và chính quyền địa phương đã không

có bất cứ chiến lược rõ rằng để tăng cường sinh kế của các hộ gia đình trong khi vẫn bảo vệ họ khỏi các mối nguy hiểm nghề nghiệp có thể xảy ra Họ chỉ nói

rằng “Nếu giá thuốc tăng lên chúng tôi sẽ mở rộng các vùng trồng thuốc lá vì chúng tôi không biết làm gì khác Tình trạng sức khỏe là quan trọng nhưng chúng tôi không có lựa chọn khác”

Các cán bộ y tế địa phương ở xã Lâu Thượng đã báo cáo rằng họ không có cơ hội nào để tổ chức một

Trang 4

Y học thực hành (762) - số 4/2011 99

chương trinh giáo dục sức khỏe chính thức về các tác

động có hại đến xã hội, môi trường và sức khỏe của

trồng thuốc lá “trong một số buổi họp xã, chúng tôi chỉ

có thể cảnh báo với những người nông dân trồng

thuốc lá rằng họ nên tự bảo vệ sức khỏe của bản thân

khỏi ốm đau trong khi làm việc trên đồng bằng cách

mặc quần áo bảo hộ” Các cán bộ y tế địa phương

cũng chỉ ra rằng họ sẵn sàng tham gia các chương

trình đào tạo về y tế trong tương lai để nâng cao kiến

thức và nhận thức của mọi người về các tác động có

hại của trồng thuốc lá

BàN LUậN

Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy rằng hầu

hết nông dân không thể biết có sự liên quan giữa các

vấn đề sức khỏe của họ với các công việc trồng thuốc

lá Không có người tham gia nghiên cứu nào đã biết

về Hội chứng nhiễm độc thuốc lá xanh Điều này

cũng nhất quán với các kết quả của nghiên cứu do

Quandt với các cộng sự thực hiện, 2001 [29] Nghiên

cứu khác cũng báo cáo tương tự rằng những người

nông dân trồng thuốc lá thường xác định sai nguyên

nhân gây bệnh nghề nghiệp của họ và giảm thiểu

mức độ của nó (11) Một trong số các lý do để giải

thích thực tế này là ở vùng này chưa có chương trình

can thiệp nào để cải thiện kiến thức của người dân và

nhận thức về các tác hại của trồng thuốc lá Rào cản

chính của việc dừng trồng thuốc lá là do những người

nông dân không tìm thấy loại cây trồng khác phù hợp

để thay thế cây thuốc lá

KếT LUậN

Nghiên cứu cho thấy nhận thức của người nông dân nhận thức về tác động có hại đối với sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến thuốc lá của người nông dân trồng thuốc lá ở một vùng nông thôn phía

bắc Việt Nam còn rất hạn chế Hiện nay vẫn chưa có

can thiệp nào để cải thiện kiến thức và nhận thức của người dân về các tác hại của trồng thuốc lá Những người nông dân trồng thuốc lá biết rằng trồng thuốc lá mang lại rất ít lợi ích kinh tế cho họ nhưng họ không biết về các loại cây trồng khác phù hợp để thay thế

cây thuốc lá

TàI LIệU THAM KHảO

1 Campaign for Tobacco Free Kids Golden leaf barren harvest, the costs of tobacco farming, 2001

2 Mackay, J & Eriksen, M The Tobacco Atlas

Geneva, World Health Organization, 2005

3 Ballard T et al Green tobacco sickness: occupational nicotine poisoning in tobacco workers

Archives of Environmental Health 50: 384-389 (1995)

4 Southeast Center Studies Ways To Prevent Green Tobacco Sickness NIOSH Agricultural Health & Safety Center News, 1996

5 Arcury TA et al High levels of transdermal nicotine exposure produce green tobacco sickness in

Latino farm workers Nicotine & Tobacco Research 5:

315-321 (2003)

6 Cox C 1,3—Dichloropropene Journal of

Pesticide Reform (1992)

NGHIÊN CứU ĐặC ĐIểM TổN THƯƠNG KHUYếT MI

DO CHấN THƯƠNG Và KếT QUả ĐIềU TRị

Đỗ Như Hơn - Bệnh viện Mắt TW

Nguyễn Thị Thanh Vân - Đại học Y Hà Nội

Tóm tắt

Mục tiêu: mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá

kết quả điều trị tổn thương khuyết mi do chấn thương

Đối tượng phương pháp: 38 mắt trên 38 bệnh

nhân bị chấn thương(CT) khuyết mi khám và điều trị

tại viện Mắt Trung Ương Nghiên cứu mô tả, tiến cứu

không có nhóm chứng Đánh giá đặc điểm tổn thương

khuyết mi do CT Đánh giá kết quả kết quả phục hồi

mi mắt về chức năng và giải phẫu

Kết quả: đa số bệnh nhân là tuổi lao động Nam

là 73,7%, nữ 26,3% Chấn thương đụng dập

(CTĐD) chiếm 23/38 mắt(60,5%), Vết thương

xuyên (VTX) chiếm 15/38 mắt(39,5%) Mất tổ chức

ở bề mặt mi gặp 15/38 mắt (39,5%) Tỷ lệ mất tổ chức

toàn bộ chiều dày mi gặp 23/38 mắt (60,5%), biến

dạng mi (100%) Có 22 mắt kèm đứt lệ quản (57,9%)

Đa số thị lực tương đối tốt >7/10 (55,3%) Kết quả

phục hồi về chức năng mi mắt: 3 tháng tốt 86,8%, 6

tháng 70,6% Kết quả thẩm mĩ: sau 3 tháng có 32

mắt đẹp chiếm 84,2%, 6 tháng 76,5% Tỷ lệ nối

được lệ quản (81,8%), chức năng tốt (88,9%) Biến

chứng hở mi và co kéo chiếm 13,16%

Kết luận: Tổn thương khuyết mi rất đa dạng, hay

gặp chủ yếu là tổn thương sâu, kích thước nhỏ < 1/4 chiều dài mi Kết quả phục hồi chức năng và thẩm mĩ

mi mắt tốt tương đối cao > 80%

Từ khóa: khuyết mi, chấn thương

SUMMARY

Objectives: to describe the clinical characteristics

and treatment outcome of traumatic eyelid defect

Patients and methods: 38 eyes with traumatic

eyelid defect who were treated in VNIO forms the basis of this study The design of study is descriptive, perspective without control group We describe the clinical characteristics of eyelid defects: location, depth, size, form Treatment result was evaluated functionally and anatomically

Results: 38 eyes from 38 patients Most of them

were in working age from 16 to 60 year old 73.7% were male and 26.3 were female 23/38 eyes suffered from a contusion (60.5%) the rest suffered from a penetrating injury (39.5%) Loss of superficial tissue of eyelid happened in 15 eyes (39.5%), the rest had full thickness tissue loss There were 22 eyes which also had lacrimal canal laceration (57.9%) A fair VA (>7/10)

Ngày đăng: 25/08/2015, 10:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w