NHậN THứC Về TáC HạI ĐốI VớI SứC KHỏE Có LIÊN QUAN ĐếN TRồNG Và CHế BIếN THUốC Lá CủA NGƯờI NÔNG DÂN TRồNG THUốC Lá ở HUYệN Võ NHAI, THáI NGUYÊN Hoàng Văn Minh, Kim Bảo Giang - Đại họ
Trang 1Y học thực hành (762) - số 4/2011 96
ra kết luận là luyện tập có tác dụng cải thiện mức độ
đau và chức năng SHHN của bệnh nhân[2]
Sau 30 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân cải thiện
chức năng SHHN ở cả hai nhóm đều tăng lên rõ rệt
so với trước điều trị (p>0,05) Mức độ rất tốt của nhóm
nghiên cứu tăng từ 0% lên 53,3%, của nhóm chứng
tăng từ 0% lên 33,3% Mức độ tốt sau điều trị của
nhóm nghiên cứu là 26,7%, của nhóm chứng là
33,3% Vì vậy, sau điều trị mức độ tốt và rất tốt của
nhóm nghiên cứu là 80%, của nhóm chứng là 66,7%
Mức độ kém của cả hai nhóm đều giảm đến 0%
Kết quả của chúng tôi tương đương với Muphy DR
và CS (78% bệnh nhân tốt) [8] nhưng thấp hơn
Heckmann JG và CS (89,7% tốt) với thời gian theo
dõi trung bình 5,5 năm [1]
Trước điều trị chức năng SHHN trung bình của
nhóm chứng là 18,83 ± 6,1điểm, của nhóm nghiên
cứu 19,1 ± 6,2 điểm Sau 30 ngày điều trị mức độ đau
trung bình của nhóm chứng còn 8,37 ± 7,03 điểm
(giảm 10,43 ± 4,2 điểm), của nhóm nghiên cứu còn
4,57 ± 5,1 điểm (giảm 14,46 ± 4,2 điểm) Đánh giá
bằng test ANOVA chúng tôi nhận thấy rằng có sự
khác biệt của chức năng SHHN ở các thời điểm điều
trị và có sự liên quan giữa thời gian với hai phương
pháp điều trị là có ý nghĩa thống kê p < 0,05
Kết quả của chúng tôi cũng tương đương với Kuijper
B và CS (giảm 13,9 ± 10,5) [5] Tác giả Kjellman G và
CS cũng cho rằng bài tập Mc Kenzie có tác dụng cải
thiện chức năng sinh hoạt ở bệnh nhân đau cổ khi đánh
giá trên 23 bệnh nhân với mức giảm điểm trung bình từ
30 ± 12 điểm xuống 16 ± 12 điểm [4]
KếT LUậN
- Không có sự khác biệt không có ý nghĩa giữa nhóm chứng và nhóm nghiên cứu sau 15 ngày điều trị, tuy nhiên sau 30 ngày điều trị tỷ lệ bệnh nhân cải thiện chức năng SHHN của nhóm nghiên cứu (80%)
là cao hơn nhóm chứng (66,6%)
- Mức độ cải thiện chức năng SHHN của nhóm nghiên cứu (giảm 14,46±4,2 điểm) là cao hơn so với nhóm chứng (giảm 10,43±4,2 điểm) sau 30 ngày điều trị
TàI LIệU THAM KHảO
1 Heckmann JG, Lang CJ, Z#belein I (1999),
“Herniated cervical intervertebral discs with radiculopathy: an outcome study of conservatively or
surgically treated patients” Journal of spinal …, ncbi.nlm.nih.gov
2 Kay TM, Gross A, Goldsmith C (2005), “ Exercises
for mechanical neck disorders”, Cochrane Database Syst Rev, 20, 3, CD004250
3 Kelsey JL, Githens PB, Walter SD, Southwick
WO, …(1984), “An epidemiological study of acute
prolapsed cervical intervertebral disc”, The Journal of Bone and …, JBJS
4 Kjellman G, Oberg B (2002), “A randomized clinical trial comparing general exercise, McKenzie treatment and a control group in patients with neck
pain”,Journal of Rehabilitation Medicine,
informaworld.com
5 Kuijper B, Tans JT, Beelen A (2009), “Cervical collar or physiotherapy versus wait and see policy for recent onset cervical radiculopathy: randomised trial”,
BMJ 339:b3883
6 Mc Kenzie RA (1990), The cervical and thoracic spine mechanical diagnosis and thepary, Spinal publicatrions ltd
NHậN THứC Về TáC HạI ĐốI VớI SứC KHỏE Có LIÊN QUAN ĐếN TRồNG
Và CHế BIếN THUốC Lá CủA NGƯờI NÔNG DÂN TRồNG THUốC Lá
ở HUYệN Võ NHAI, THáI NGUYÊN
Hoàng Văn Minh, Kim Bảo Giang - Đại học Y Hà Nội
Tóm tắt
Để các chính sách kiểm soát thuốc lá ở Việt Nam
có hiệu lực, các thông tin chính xác về các nhận thức
của người dân liên quan đến trồng trọt thuốc lá là cấp
thiết cho những người vận động chính sách nói riêng
cũng như cho cả xã hội nói chung Mục tiêu: Tìm hiểu
nhận thức về tác động có hại đối với sức khỏe liên
quan đến trồng và chế biến thuốc lá của người nông
dân trồng thuốc lá ở một vùng nông thôn phía bắc
Việt Nam Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, định
tính Đối tượng: Lãnh đạo cộng đồng, đại diện trạm y
tế và người dân Kết quả: hầu hết nông dân không thể
biết có sự liên quan giữa các vấn đề sức khỏe của họ
với các công việc trồng thuốc lá Không có người
tham gia nghiên cứu nào đã biết về hội chứng nhiễm
độc thuốc lá xanh Chưa có chương trình can thiệp
nào để cải thiện kiến thức của người dân và nhận
thức về các tác hại của trồng thuốc lá Kết luận: Nhận
thức của người nông dân nhận thức về tác động có
hại đối với sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến
thuốc lá của người nông dân trồng thuốc lá ở một vùng nông thôn phía bắc Việt Nam còn rất hạn chế
Từ khóa: Trồng trọt thuốc lá, sức khỏe, nhận thức
Summary
In order to enforce the policies on tobacco control
in Vietnam, reliable information on Perception of health impacts of tobacco cultivation and processing among tobacco farmers are urgently needed by those with advocacy’s responsibility as well as for society in general However, even though the number of research on tobacco in Vietnam has recently increased, there remains too little information on this area Objective: To explore the perception of health impacts of tobacco cultivation and processing among tobacco farmers in Vo Nhai District, Thai Nguyen province Study subject: Community leaders, heads
of commune health center and people from the study locations Results: Our study found that tobacco farmers did notice some health problems during the times they grew tobacco or processed tobacco
Trang 2Y học thực hành (762) - số 4/2011 97
products most farmers cannot well correlate their
health problems with tobacco farming works None of
the study participants did know about green tobacco
sickness there was still absence of intervention to
improve people awareness and perception of harmful
effects of tobacco farming Conclusion: The findings
from this study showed that that perception of health
impacts of tobacco cultivation and processing among
tobacco farmers in the study setting is still poor
Keywords: Tobacco cultivation, health impacts,
perception
ĐặT VấN Đề
Ngành công nghiệp thuốc lá quảng cáo việc trồng
cây thuốc lá như là một loại thuốc chữa mọi bệnh tật,
khẳng định rằng nó sẽ mang lại sự thịnh vượng chưa
từng có cho những người nông dân, cộng đồng và đất
nước của họ (1) Tuy nhiên, sự thật là trong khi ngành
công nghiệp này chưa chứng tỏ rằng trồng thuốc lá là
chỗ dựa chính của nền kinh tế nhiều nước thì những
tác động gây thiệt hại nghiêm trọng về môi trường và
sức khỏe do trồng thuốc lá đã rõ ràng ở nhiều nước
trên thế giới Ngay từ khi hạt thuốc lá được trồng cho
đến lúc cây thuốc lá trưởng thành được thu hoạch và
chế biến, sức khỏe của những người trồng thuốc lá
luôn bị đe dọa (1, 2)
Những mối nguy hiểm do trồng trọt thuốc lá làm
cho những người trồng thuốc lá tăng nguy cơ bị chấn
thương và bệnh tật Trẻ em và người trưởng thành,
mà chủ yếu là nữ làm việc với thuốc lá thường bị Hội
chứng nhiễm độc thuốc lá xanh (GTS), hội chứng gây
ra bởi nicotine ngấm vào da do tiếp xúc với lá thuốc lá
tươi GTS là hội chứng nhiễm độc nicotine cấp tính do
nicotine ngấm vào da từ nhựa của cây thuốc lá,
Nicotiana tabacum Các triệu chứng gồm hoa mắt
chóng mặt hoặc đau đầu và buồn nôn hoặc nôn,
nhưng có thể cũng bao gồm cả co thắt bụng, đau
đầu, mệt mỏi, khó thở, đau bụng, tiêu chảy và đôi khi
có những bất thường về huyết áp hoặc nhịp tim
Những người mắc Hội chứng nhiễm độc thuốc lá xanh
thường kéo dài tình trạng trong 2 hoặc 3 ngày rồi tự
khỏi Tuy nhiên, các triệu chứng thường nặng đủ để
gây hậu quả mất nước và cần chăm sóc y tế khẩn
cấp (3-5) Việc sử dụng thường xuyên và nhiều thuốc
trừ sâu để bảo vệ cây trồng khỏi sâu hại và bệnh tật
có thể gây ra nhiều thiệt hại cho con người như ngộ
độc, kích thích da và mắt và các rối loạn khác của hệ
thần kinh, hệ hô hấp cũng như tổn thương thận (6, 7)
Tuy nhiên người nông dân trồng trọt thuốc lá
thường ít có những nhận thức đúng đắn về tác hại nên
trên và rất nhiều người nông dân đã lựa chọn trồng
trọt thuốc lá bất chấp đến những tác động có hại đối
với họ Để các chính sách kiểm soát thuốc lá ở Việt
Nam có hiệu lực, các thông tin chính xác về các nhận
thức của người dân liên quan đến trồng trọt thuốc lá là
cấp thiết cho những người vận động chính sách nói
riêng cũng như cho cả xã hội nói chung Mục tiêu của
nghiên cứu này là tìm hiểu nhận thức về tác động có
hại đối với sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến
thuốc lá của người nông dân trồng thuốc lá ở một
vùng nông thôn phía bắc Việt Nam
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
Thiết kế nghiên cứu:
Đây là nghiên cứu định tính có sử dung kỹ thuật phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
Địa điểm nghiên cứu
Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên được chọn là
địa bàn của nghiên cứu này Huyện Võ Nhai là một vùng nông thôn nằm ở miền Bắc Việt Nam, cách thủ
đô Hà Nội về phía Bắc 90 km Huyện này có 1 thị trấn
và 14 xã ở huyện Võ Nhai, 2 xã, một xã trồng thuôc lá và một xã không trồng thuốc lá mà có các điều kiện kinh tế xã hội và dân số học tương tự nhau được chọn vào nghiên cứu (Xã Lâu Thượng- xã trồng thuốc lá và xã Phú Thượng - xã không trồng thuốc lá)
Đối tượng nghiên cứu/ cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Phỏng vấn sâu: Chủ tịch của hai xã và trưởng trạm y tế xã ở hai xã đã chọn được phỏng vấn về các lợi ích sức khỏe liên quan đến trồng thuốc lá
Thảo luận nhóm (TLN): ở mỗi xã, thực hiện hai cuộc TLN từ 8-10 người (1 TLN nam và 1 TLN nữ) Phương pháp chọn mẫu chủ đích được sử dụng để chọn những người tham gia các cuộc phỏng vấn sâu
và thảo luận nhóm (cả người nghèo và không nghèo
đều được lựa chọn)
Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu định tính được thu thập bởi nhóm nghiên cứu dựa trên hướng dẫn điều tra đã phát triển Các cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện chủ yếu
ở phòng làm việc của những người được phỏng vấn Mỗi cuộc thảo luận nhóm có hai nghiên cứu viên (Một người điều khiển và một người ghi chép) phụ trách thực hiện Các cuộc thảo luận nhóm chủ yếu thực hiện tại nhà văn hóa của xã
Các niềm tin sức khỏe của những người trồng thuốc lá được khảo sát theo Mô hình Niềm tin Sức khỏe (Health Belief Model HBM) Đây là một mô hình tâm lý học nhằm giải thích và dự đoán các hành vi sức khỏe Nó được thực hiện bằng cách tập trung vào thái độ và niềm tin của các cá nhân HBM đầu tiên
được phát triển vào thập niên 1950 bởi các nhà tâm lý xã hội Hochbaum, Rosenstock và Kegels đã làm việc
ở Các dịch vụ y tế công cộng ở Mỹ HBM bao gồm 5 khía cạnh định hướng hành vi của con người (1) Nhận thức về sự nhạy cảm với yếu tố nguy cơ; (2) Nhận thức về mức độ trầm trọng của bệnh tật hoặc các vấn
đề sức khỏe gây ra bởi yếu tố nguy cơ; (3) Nhận thức lợi ích của hành vi tốt cho sức khỏe; (4) Nhận thức các trở ngại đối với việc thực hiện các hành vi tốt cho sức khỏe; (5) Sự gợi ý hành động – Các chiến lược để sẵn sàng hành động; (6) Hiệu quả cá nhân – sự tự tin vào các khả năng của mình để đưa ra các hành động Các tiêu đề chính của phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm là:
Nhận thức về các tác hại liên quan đến trồng và chế biến thuốc lá
Nhận thức về sự nghiêm trọng của các vấn đề sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến thuốc lá
Nhận thức về các ích lợi của việc ngừng trồng thuốc lá
Trang 3Y học thực hành (762) - số 4/2011 98
Nhận thức về các rào cản của việc ngừng trồng
thuốc lá
Các giải pháp có thể có để cải thiện tình trạng này
Phân tích số liệu
Tất cả các cuộc phỏng vấn sâu (4 cuộc) và thảo
luận nhóm (4 cuộc) được ghi chép lại để phân tích
Phân tích số liệu định tính sử dụng phương pháp phân
tích nội dung Số liệu được tổng hợp và mã hóa theo
các chủ đề chính
KếT QUả
1 Nhận thức về các tác động có hại liên quan
đến trồng và chế biến thuốc lá
Các cuộc thảo luận nhóm với những người nông
dân đã phát hiện ra rằng cả người trồng và không
trồng thuốc lá có thể nói được 2 vấn đề chính liên
quan đến trồng thuốc lá là: 1) Các cây trồng thuốc lá
phụ thuộc nhiều vào phân bón và thuốc trừ sâu; 2)
Các hoạt động trồng thuốc lá cần nhiều lao động
chuyên sâu hơn Một số người trồng thuốc lá đã kể
rằng phơi nhiễm với khói thuốc trong khi sấy khô lá
thuốc lá cũng có thể dẫn đến nhiều vấn đề sức khỏe
Những người trồng thuốc lá cũng báo cáo rằng họ
dường có nhiều vấn đề sức khỏe trong khi trồng thuốc
lá hơn so với trong khoảng thời gian họ trồng các cây
hoa màu khác Nữ giới tham gia trồng thuốc lá phàn
nàn về các vấn đề sức khỏe mắc phải trong các vụ
thuốc lá nhiều hơn nam Những người trồng thuốc lá
cũng nhận thấy rằng họ bị ốm đau nhiều hơn trong
khi họ bấm ngọn và thu hoạch lá thuốc lá và họ nghĩ
tiếp xúc với thuốc trừ sâu là nguyên nhân gây ra các
vấn đề sức khỏe Tuy nhiên, không có người nào có
thể nghĩ ốm đau có liên quan với nicotine trong lá
thuốc lá Họ chưa bao giờ nghe về Hội chứng nhiễm
độc thuốc lá xanh
Các cuộc phỏng vấn sâu với lãnh đạo xã cũng chỉ
ra rằng chính quyền địa phương không biết nhiều về
các tác động có hại của nhiễm độc nicotine đối với
những người trồng thuốc lá
Các trưởng trạm y tế xã đã báo cáo rằng các cán
bộ y tế địa phương có nhận biết về các tác động có
hại của trồng thuốc lá do họ phải cung cấp dịch vụ
chăm sóc y tế nhiều hơn cho những người nông dân
trong khi thu hoạch thuốc lá so với các khoảng thời
gian khác Các cán bộ y tế địa phương ở Lâu Thượng
(xã trồng thuốc lá) cũng biết về Hội chứng nhiễm độc
thuốc lá xanh trong khi tham gia điều tra thử của
chúng tôi năm 2007 (9)
2 Nhận thức về tính nghiêm trọng của các vấn
đề sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến
thuốc lá
Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng những
người trồng thuốc lá không quan tâm về tính nghiêm
trọng của các vấn đề sức khỏe họ bị trong khi trồng
thuốc lá Không người tham gia thảo luận nhóm nào
nói rằng họ đã từng lo lắng về các vấn đề sức khỏe
mà họ bị trong suốt thời gian trồng và chế biến thuốc
lá Họ cho rằng “các vấn đề sức khỏe không có gì
nghiêm trọng, chỉ đau đầu và chóng mặt”
Tương tự, lãnh đạo của xã Lâu Thượng cũng
không thấy lo lắng gì về hậu quả về sức khỏe của
những người trồng thuốc lá ở xã mình: “Những người trồng thuốc lá phải làm việc chăm chỉ để tăng thu nhập vì vậy họ có thể bị ốm đau nhiều hơn”
Các cuộc phỏng vấn sâu với các trạm trưởng trạm
y tế đã cho thấy rằng các cán bộ y tế có biết về các hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra do Hội chứng
nhiễm độc thuốc lá xanh “Hội chứng nhiễm độc thuốc lá xanh bình thường nhẹ và có thể tự khỏi trong một
đến hai ngày, nhưng nếu các triệu chứng nặng hơn thì cần phải điều trị y tế khẩn cấp”
3 Nhận thức về các lợi ích vủa việc ngừng trồng thuốc lá
Các cuộc thảo luận nhóm đã phát hiện ra rằng một số người nông dân phải ngừng hoặc giảm bớt trồng thuốc lá vì họ không thu được nhiều lợi ích kinh
tế “những vùng trồng thuốc lá đã giảm đi vì giá thuốc không ổn định trong suốt hai năm qua” Không có đối
tượng tham gia nghiên cứu nào báo cáo rằng họ phải ngừng trồng thuốc lá vì các vấn đề sức khỏe
Những người lãnh đạo xã và trạm trưởng trạm y tế
có cùng ý kiến rằng “nếu những người nông dân nhận thấy rằng trồng thuốc lá mang đến cho họ thu nhập nhiều hơn thì họ sẽ vấn tiếp tục trồng thuốc lá”
4 Nhận thức về các rào chắn để ngừng trồng thuốc lá
Các cuộc thảo luận nhóm đã chỉ ra rằng những người trồng thuốc lá không biết về lợi ích kinh tế của các cây hoa màu khác mà có thể thay thế cho cây
thuốc lá: “Chúng tôi không biết là gì, trồng gì, chúng tôi không có bất cứ công việc ổn định nào khác trừ một vài tháng chúng tôi trồng lúa và ngô ở đây”
Theo lãnh đạo xã, trước đây, những người nông dân không thành công với các cây hoa màu khác như hướng dương, cây cải dầu và khoai tây vì những vấn
đề với đất trồng hoặc tiêu thụ sản phẩm “Những người nông dân đã thử trồng cây hướng dương và cây cải dầu nhưng đất không thích hợp Họ quay sang trồng khoai tây nhưng không thể bán được”
Theo những người nông dân trồng thuốc lá và lãnh
đạo xã, công ty thuốc lá đã từng có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động trồng thuốc lá ở xã Lâu Thượng Công ty thuốc lá cung cấp các khóa huấn luyện về kỹ thuật trồng thuốc lá Họ bán hoặc cung cấp thuốc trừ sâu/phân bón cho người nông dân và
thu mua các sản phẩm thuốc lá “Giá thuốc đã giảm mạnh trong mấy năm qua, giá thuốc trước đây là
35000 - 40000 đồng/kg những bây giờ chỉ còn 4000 - 5000/kg”
5 Các hướng hành động
Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng cả những người nông dân và chính quyền địa phương đã không
có bất cứ chiến lược rõ rằng để tăng cường sinh kế của các hộ gia đình trong khi vẫn bảo vệ họ khỏi các mối nguy hiểm nghề nghiệp có thể xảy ra Họ chỉ nói
rằng “Nếu giá thuốc tăng lên chúng tôi sẽ mở rộng các vùng trồng thuốc lá vì chúng tôi không biết làm gì khác Tình trạng sức khỏe là quan trọng nhưng chúng tôi không có lựa chọn khác”
Các cán bộ y tế địa phương ở xã Lâu Thượng đã báo cáo rằng họ không có cơ hội nào để tổ chức một
Trang 4Y học thực hành (762) - số 4/2011 99
chương trinh giáo dục sức khỏe chính thức về các tác
động có hại đến xã hội, môi trường và sức khỏe của
trồng thuốc lá “trong một số buổi họp xã, chúng tôi chỉ
có thể cảnh báo với những người nông dân trồng
thuốc lá rằng họ nên tự bảo vệ sức khỏe của bản thân
khỏi ốm đau trong khi làm việc trên đồng bằng cách
mặc quần áo bảo hộ” Các cán bộ y tế địa phương
cũng chỉ ra rằng họ sẵn sàng tham gia các chương
trình đào tạo về y tế trong tương lai để nâng cao kiến
thức và nhận thức của mọi người về các tác động có
hại của trồng thuốc lá
BàN LUậN
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy rằng hầu
hết nông dân không thể biết có sự liên quan giữa các
vấn đề sức khỏe của họ với các công việc trồng thuốc
lá Không có người tham gia nghiên cứu nào đã biết
về Hội chứng nhiễm độc thuốc lá xanh Điều này
cũng nhất quán với các kết quả của nghiên cứu do
Quandt với các cộng sự thực hiện, 2001 [29] Nghiên
cứu khác cũng báo cáo tương tự rằng những người
nông dân trồng thuốc lá thường xác định sai nguyên
nhân gây bệnh nghề nghiệp của họ và giảm thiểu
mức độ của nó (11) Một trong số các lý do để giải
thích thực tế này là ở vùng này chưa có chương trình
can thiệp nào để cải thiện kiến thức của người dân và
nhận thức về các tác hại của trồng thuốc lá Rào cản
chính của việc dừng trồng thuốc lá là do những người
nông dân không tìm thấy loại cây trồng khác phù hợp
để thay thế cây thuốc lá
KếT LUậN
Nghiên cứu cho thấy nhận thức của người nông dân nhận thức về tác động có hại đối với sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến thuốc lá của người nông dân trồng thuốc lá ở một vùng nông thôn phía
bắc Việt Nam còn rất hạn chế Hiện nay vẫn chưa có
can thiệp nào để cải thiện kiến thức và nhận thức của người dân về các tác hại của trồng thuốc lá Những người nông dân trồng thuốc lá biết rằng trồng thuốc lá mang lại rất ít lợi ích kinh tế cho họ nhưng họ không biết về các loại cây trồng khác phù hợp để thay thế
cây thuốc lá
TàI LIệU THAM KHảO
1 Campaign for Tobacco Free Kids Golden leaf barren harvest, the costs of tobacco farming, 2001
2 Mackay, J & Eriksen, M The Tobacco Atlas
Geneva, World Health Organization, 2005
3 Ballard T et al Green tobacco sickness: occupational nicotine poisoning in tobacco workers
Archives of Environmental Health 50: 384-389 (1995)
4 Southeast Center Studies Ways To Prevent Green Tobacco Sickness NIOSH Agricultural Health & Safety Center News, 1996
5 Arcury TA et al High levels of transdermal nicotine exposure produce green tobacco sickness in
Latino farm workers Nicotine & Tobacco Research 5:
315-321 (2003)
6 Cox C 1,3—Dichloropropene Journal of
Pesticide Reform (1992)
NGHIÊN CứU ĐặC ĐIểM TổN THƯƠNG KHUYếT MI
DO CHấN THƯƠNG Và KếT QUả ĐIềU TRị
Đỗ Như Hơn - Bệnh viện Mắt TW
Nguyễn Thị Thanh Vân - Đại học Y Hà Nội
Tóm tắt
Mục tiêu: mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá
kết quả điều trị tổn thương khuyết mi do chấn thương
Đối tượng phương pháp: 38 mắt trên 38 bệnh
nhân bị chấn thương(CT) khuyết mi khám và điều trị
tại viện Mắt Trung Ương Nghiên cứu mô tả, tiến cứu
không có nhóm chứng Đánh giá đặc điểm tổn thương
khuyết mi do CT Đánh giá kết quả kết quả phục hồi
mi mắt về chức năng và giải phẫu
Kết quả: đa số bệnh nhân là tuổi lao động Nam
là 73,7%, nữ 26,3% Chấn thương đụng dập
(CTĐD) chiếm 23/38 mắt(60,5%), Vết thương
xuyên (VTX) chiếm 15/38 mắt(39,5%) Mất tổ chức
ở bề mặt mi gặp 15/38 mắt (39,5%) Tỷ lệ mất tổ chức
toàn bộ chiều dày mi gặp 23/38 mắt (60,5%), biến
dạng mi (100%) Có 22 mắt kèm đứt lệ quản (57,9%)
Đa số thị lực tương đối tốt >7/10 (55,3%) Kết quả
phục hồi về chức năng mi mắt: 3 tháng tốt 86,8%, 6
tháng 70,6% Kết quả thẩm mĩ: sau 3 tháng có 32
mắt đẹp chiếm 84,2%, 6 tháng 76,5% Tỷ lệ nối
được lệ quản (81,8%), chức năng tốt (88,9%) Biến
chứng hở mi và co kéo chiếm 13,16%
Kết luận: Tổn thương khuyết mi rất đa dạng, hay
gặp chủ yếu là tổn thương sâu, kích thước nhỏ < 1/4 chiều dài mi Kết quả phục hồi chức năng và thẩm mĩ
mi mắt tốt tương đối cao > 80%
Từ khóa: khuyết mi, chấn thương
SUMMARY
Objectives: to describe the clinical characteristics
and treatment outcome of traumatic eyelid defect
Patients and methods: 38 eyes with traumatic
eyelid defect who were treated in VNIO forms the basis of this study The design of study is descriptive, perspective without control group We describe the clinical characteristics of eyelid defects: location, depth, size, form Treatment result was evaluated functionally and anatomically
Results: 38 eyes from 38 patients Most of them
were in working age from 16 to 60 year old 73.7% were male and 26.3 were female 23/38 eyes suffered from a contusion (60.5%) the rest suffered from a penetrating injury (39.5%) Loss of superficial tissue of eyelid happened in 15 eyes (39.5%), the rest had full thickness tissue loss There were 22 eyes which also had lacrimal canal laceration (57.9%) A fair VA (>7/10)