1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ của bài tập MC KENZIE đối với CHỨC NĂNG SINH HOẠT HÀNG NGÀY của BỆNH NHÂN THOÁT vị đĩa đệm cột SỐNG cổ

3 479 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 787,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KếT LUậN Qua nghiên cứu điều trị 268 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng 126 bệnh nhân được phong bế cạnh rễ thần kinhvà 126 bệnh nhân được tiêm ngoài màng cứng, kết quả điều

Trang 1

Y học thực hành (762) - số 4/2011 94

đánh giá, nhất là đối với nhóm kết quả rất tốt và tốt

Cách đánh giá theo thang điểm lâm sàng và theo

Macnab có kết quả tương đương nhau

+ Trong khi nghiên cứu không thấy có biểu hiện

tác dụng không mong muốn nào ở cả hai nhóm bệnh

nhân Điều đó cho thấy PBR thần kinh là một thủ

thuật nội khoa rất an toàn

KếT LUậN

Qua nghiên cứu điều trị 268 bệnh nhân thoát vị đĩa

đệm cột sống thắt lưng (126 bệnh nhân được phong bế

cạnh rễ thần kinhvà 126 bệnh nhân được tiêm ngoài

màng cứng), kết quả điều trị đạt được như sau:

- Phương pháp phong bế cạnh rễ thần kinh có thể

điều trị khỏi cho bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống

thắt lưng

- Tỷ lệ đạt kết quả rất tốt và tốt là 53,97%, tỷ lệ

này của phương pháp tiêm ngoài màng cứng làm đối

chứng là 69,02%

- Tỷ lệ bệnh nhân đạt mục đích điều trị (giảm bệnh

≥ 50%) là 88,32%, tỷ lệ này của phương pháp tiêm

ngoài màng cứng làm đối chứng là 91,56%

- Bệnh nhân thường đánh giá kết quả điều trị thấp

hơn kết quả do nhân viên y tế đánh giá

- Không có bệnh nhân có biểu hiện tác dụng

không mong muốn trong khi nghiên cứu

- Thủ thuật đơn giản dễ thực hiện ở tuyến trước

KIếN NGHị

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu chúng tôi có hai kiến nghị sau:

1 Nghiên cứu với mẫu lớn hơn, đánh giá hệ thống hơn

2 Nghiên cứu quy trình phổ cập kỹ thuật phong bế cạnh rễ thần kinh cho tuyến trước

Tài liệu tham khảo

1 Vũ Quang Bích, Nguyễn Xuân Thản, Ngô Thanh Hồi (1985), Đĩa đệm cột sống và phương pháp chụp đĩa

đệm, Học viện Quân y, tr 12 - 17

2 Nguyễn Văn Chương (2005), “Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng”, Thực hành lâm sàng thần kinh, Nxb Y học, Hà Nội, tr 320 -327

3 Nguyễn Văn Chương (2009): Kết quả điều trị 45 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng bằng phương pháp chọc hút đĩa đệm qua da

4 Trần Công Duyệt, Hà Viết Tiến (2003), “Giảm áp

đĩa đệm cột sống bằng Laser chọc qua da - một số kỹ thuật y tế cao lần đầu tiên được thực hiện thành công ở Việt Nam”, Tạp chí Y học thực hành, (1), tr 71 -74

5 Trần Công Duyệt, Hà Viết Tiến (2004), “Một số nhận xét về kết quả giảm áp đĩa đệm cột sống bằng Laser qua da theo độ tuổi”, Tạp chí Y học thực hành, (1),

tr 40 - 45

6 Hoàng Đức Kiệt (2004), “Các phương pháp chẩn

đoán hình ảnh bổ trợ về thần kinh”, Thần kinh học lâm sàng, Nxb Y học thành phố Hồ Chí Minh, tr 119 - 147

ĐáNH GIá HIệU QUả CủA BàI TậP Mc KENZIE ĐốI VớI CHứC NĂNG

SINH HOạT HàNG NGàY CủA BệNH NHÂN THOáT Vị ĐĩA ĐệM CộT SốNG Cổ

NGUYễN THàNH TUYÊN - Bệnh viện đa khoa Tuyên Quang

PHạM VĂN MINH - Trường Đại học Y Hà nội

TóM TắT

Hậu quả của thoát vị đĩa đệm cột sống cổ thường

kéo dài ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống và sinh hoạt

của người bệnh Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của bài

tập Mc Kenzie đối với chức năng sinh hoạt hàng ngày

của bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ Đối

tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu thuộc

loại nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có

đối chứng được tiến hành trên 60 bệnh nhân thoát vị

đĩa đệm được chia làm 2 nhóm Nhóm chứng được

dùng thuốc và các phương pháp vật lý trị liệu Nhóm

nghiên cứu được dùng thuốc, các phương pháp vật lý

trị liệu và bài tập cột sống cổ Mc Kenzie Kết quả được

đánh giá dựa vào bảng câu hỏi Northwick Park Neck

Pain Questionaire Kết quả và kết luận: Không có sự

khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm chứng và nhóm nghiên

cứu sau 15 ngày điều trị, tuy nhiên sau 30 ngày điều trị

tỷ lệ bệnh nhân cải thiện chức năng SHHN của nhóm

nghiên cứu (80%) là cao hơn nhóm chứng (66,6%)

Từ khóa: Bài tập cột sống cổ Mc Kenzie, Chức năng

sinh hoat hàng ngày, Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

SUMMARY

The consequence of cervical disc herniation

normally affect on the daily living function of patients

Objective: to evaluate the effectiveness of Mc Kenzie

exercises on daily living function of patients with

cervical disc herniation Materials and method: A

prospective controlled study carried out on 60 patients with cervical disc herniation These patients were divided into two groups: the controlled group was treated by medication and physiotherapy, the research group was treated by Mc Kenzie exercises, medication and physiotherapy The results were assessed by Northwick Park Neck Pain Questionaire

Results and conclusion: There was no significant

difference between the research group and the controlled group after 15 days of treatment However, after 30 days of treatment, the patients’ daily living functions improved in the research group was higher than the controlled group (80% compared to 66,6%)

Key words: Mc Kenzie exercises for cervical

spine, daily living function, cervical disc herniation

ĐặT VấN Đề

Cùng với sự phát triển của xã hội, sự chuyên môn hoá trong nghề nghiệp ngày càng cao đòi hỏi đầu và

cổ phải chịu đựng một tư thế bắt buộc kéo dài, không sinh lý dẫn đến các quá trình biến đổi nhanh chóng sinh bệnh lý của cột sống cổ

Mặt khác tuổi thọ của con người ngày càng được nâng cao, đi kèm với nó là rất nhiều bệnh do giảm sút các hoạt động chức năng của cơ thể trong đó có TVĐĐ cột sống cổ Theo các nghiên cứu của Kelsey JL [3]

Trang 2

Y học thực hành (762) - số 4/2011 95

cho thấy tỷ lệ TVĐĐ cột sống cổ khoảng 5,5

người/100.000 dân

Bài tập Mc Kenzie là một trong những phương

pháp tập luyện phục hồi chức năng TVĐĐ cột sống

cổ đã được áp dụng nhiều nơi trên thế giới trong điều

trị bảo tồn và đạt được những kết quả rất khả quan

[6],[7] Tuy nhiên các bài tập này chưa được áp dụng

ở Việt Nam Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu

áp dụng bài tập Mc Kenzie cho bệnh nhân TVĐĐ cột

sống cổ nhằm mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của bài

tập Mc Kenzie đối với chức năng sinh hoạt hàng

ngày của bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

1 Đối tượng nghiên cứu

Gồm 60 bệnh nhân được chẩn đoán thoát vị đĩa

đệm cột sống cổ và điều trị tại Trung tâm phục hồi

chức năng Bệnh viện Bạch mai trong khoảng thời

gian từ 01/10/2009 đến 30/10/2010

2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tiến cứu thuộc loại nghiên

cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng

Dựa vào bảng phân bố ngẫu nhiên bệnh nhân

được chia thành 2 nhóm - Nhóm chứng (n= 30):

Dùng thuốc và các phương pháp Vật lý trị liệu

- Nhóm nghiên cứu (n= 30): Dùng thuốc, các phương

pháp Vật lý trị liệu và Bài tập cột sống cổ Mc Kenzie

3 Kỹ thuật can thiệp trong nghiên cứu

- Dùng thuốc: Chống viêm giảm đau không

Steroid, thuốc giãn cơ, vitamin nhóm B

- Vật lý trị liệu: Hồng ngoại, điện phân, kéo giãn

cột sống cổ

- Bài tập Mc Kenzie bao gồm 10 động tác (7 động

tác ở tư thế ngồi và 3 động tác ở tư thế nằm) được tập

3 lần trong ngày (sáng, chiều và tối) Mỗi động tác tập

từ 10-15 lần [6],[7]

4 Hình thức đánh giá

Bệnh nhân được đánh giá trước điều trị, sau 15

ngày và sau 30 ngày điều trị

5 Các chỉ tiêu nghiên cứu

Dựa vào bảng câu hỏi NPQ (Northwick Park Neck

Pain Questionaire) Bảng NPQ gồm 8 câu hỏi đánh

giá về mức độ đau, dị cảm, thời gian kéo dài triệu

chứng, ảnh hưởng trên giấc ngủ, khả năng mang

xách đồ vật, khả năng ngồi đọc sách báo hoặc xem

tivi, các công việc sinh hoạt tại nhà và khả năng ra

ngoài làm các công việc xã hội

Số điểm càng cao tương ứng ảnh hưởng chức

năng càng nhiều Điểm tối đa cho phần này là 32

điểm: Không ảnh hưởng: 0-2 điểm, ảnh hưởng ít: 3-8

điểm, ảnh hưởng trung bình: 9-16 điểm, ảnh hưởng

nhiều: 17-24 điểm, ảnh hưởng rất nhiều: 25-32 điểm

KếT QUả NGHIÊN CứU

Bảng 1 Đánh giá cải thiện chức năng SHHN sau

15 ngày

Nhóm

Mức

độ n % n % p1 n % n % p 2 p

Rất tốt 0 0 0 0 0 0 0 0

Tốt 0 0 8 26,7 0 0 11 36,7

Khá 12 40 16 53,3

<

0,05

10 33,3 14 46,7

<

0,05

>

0,05

Trung bình 14 46,7 6 20 14 46,7 5 16,6 Kém 4 13,3 0 0 6 20 0 0 Sau 15 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân cải thiện chức năng SHHN ở cả hai nhóm đều tăng so với trước

điều trị (p<0,05) Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa nhóm chứng và nhóm nghiên cứu với p>0,05

Bảng 2 Đánh giá cải thiện chức năng SHHN sau

30 ngày

Nhóm Mức

độ n % n % p1 n % n % p 2 p Rất tốt 0 0 10 33,3 0 0 16 53,3 Tốt 0 0 10 33,3 0 0 8 26,7 Khá 12 40 7 23,3 10 33,3 5 16,7 Trung

bình 14 46,7 3 10 14 46,7 1 3,3 Kém 4 13,3 0 0

<

0,05

6 30,2 0 0

< 0,05

< 0,05

Sau 30 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân cải thiện chức năng SHHN ở cả hai nhóm đều tăng lên rõ rệt

so với trước điều trị (p < 0,05) Sự cải thiện về chức năng SHHN của nhóm nghiên cứu là cao hơn rõ rệt

so với nhóm chứng Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

4.57

8.37 11.2

19.1

13.3 18.8

0 10 20 30

lỳc vào 15 ngày 30 ngày

Nhúm NC Nhúm chứng

Biểu đồ 1 Mức độ cải thiện chức năng SHHN qua các thời điểm điều trị

Chức năng SHHN của hai nhóm đều cải thiện rất

rõ rệt qua các thời điểm 15 ngày và 30 ngày sau điều trị Cả hai phương pháp đều có hiệu quả điều trị, sự khác biệt giữa nhóm nghiên cứu với nhóm chứng là có

ý nghĩa thống kê với p < 0,05

BàN LUậN

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng bảng câu hỏi NPQ để đánh giá mức độ ảnh hưởng của TVĐĐ cột sống cổ đến chức năng sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân Phương pháp đánh giá đơn giản, sử dụng thuận tiện trong lâm sàng và là một công cụ có độ tin cậy và hiệu quả cao khi đánh giá các triệu chứng [9] Trước điều trị, các chức năng SHHN của nhóm nghiên cứu và nhóm chứng là tương đương (p > 0,05) Sau 15 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân cải thiện chức năng SHHN ở cả hai nhóm đều tăng lên rõ rệt so với trước điều trị Mức độ kém và trung bình của nhóm nghiên cứu giảm từ 66,7% xuống 16,7%, của nhóm chứng giảm từ 60% xuống còn 20% Tỷ lệ % của hai nhóm có mức độ tốt và khá tăng lên rõ rệt so với trước

điều trị Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai nhóm không

có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Năm 2005, Kay TM và CS khảo sát ngẫu nhiên

31 nghiên cứu về tập vận động trong đau cổ đã đưa

Trang 3

Y học thực hành (762) - số 4/2011 96

ra kết luận là luyện tập có tác dụng cải thiện mức độ

đau và chức năng SHHN của bệnh nhân[2]

Sau 30 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân cải thiện

chức năng SHHN ở cả hai nhóm đều tăng lên rõ rệt

so với trước điều trị (p>0,05) Mức độ rất tốt của nhóm

nghiên cứu tăng từ 0% lên 53,3%, của nhóm chứng

tăng từ 0% lên 33,3% Mức độ tốt sau điều trị của

nhóm nghiên cứu là 26,7%, của nhóm chứng là

33,3% Vì vậy, sau điều trị mức độ tốt và rất tốt của

nhóm nghiên cứu là 80%, của nhóm chứng là 66,7%

Mức độ kém của cả hai nhóm đều giảm đến 0%

Kết quả của chúng tôi tương đương với Muphy DR

và CS (78% bệnh nhân tốt) [8] nhưng thấp hơn

Heckmann JG và CS (89,7% tốt) với thời gian theo

dõi trung bình 5,5 năm [1]

Trước điều trị chức năng SHHN trung bình của

nhóm chứng là 18,83 ± 6,1điểm, của nhóm nghiên

cứu 19,1 ± 6,2 điểm Sau 30 ngày điều trị mức độ đau

trung bình của nhóm chứng còn 8,37 ± 7,03 điểm

(giảm 10,43 ± 4,2 điểm), của nhóm nghiên cứu còn

4,57 ± 5,1 điểm (giảm 14,46 ± 4,2 điểm) Đánh giá

bằng test ANOVA chúng tôi nhận thấy rằng có sự

khác biệt của chức năng SHHN ở các thời điểm điều

trị và có sự liên quan giữa thời gian với hai phương

pháp điều trị là có ý nghĩa thống kê p < 0,05

Kết quả của chúng tôi cũng tương đương với Kuijper

B và CS (giảm 13,9 ± 10,5) [5] Tác giả Kjellman G và

CS cũng cho rằng bài tập Mc Kenzie có tác dụng cải

thiện chức năng sinh hoạt ở bệnh nhân đau cổ khi đánh

giá trên 23 bệnh nhân với mức giảm điểm trung bình từ

30 ± 12 điểm xuống 16 ± 12 điểm [4]

KếT LUậN

- Không có sự khác biệt không có ý nghĩa giữa nhóm chứng và nhóm nghiên cứu sau 15 ngày điều trị, tuy nhiên sau 30 ngày điều trị tỷ lệ bệnh nhân cải thiện chức năng SHHN của nhóm nghiên cứu (80%)

là cao hơn nhóm chứng (66,6%)

- Mức độ cải thiện chức năng SHHN của nhóm nghiên cứu (giảm 14,46±4,2 điểm) là cao hơn so với nhóm chứng (giảm 10,43±4,2 điểm) sau 30 ngày điều trị

TàI LIệU THAM KHảO

1 Heckmann JG, Lang CJ, Z#belein I (1999),

“Herniated cervical intervertebral discs with radiculopathy: an outcome study of conservatively or

surgically treated patients” Journal of spinal …, ncbi.nlm.nih.gov

2 Kay TM, Gross A, Goldsmith C (2005), “ Exercises

for mechanical neck disorders”, Cochrane Database Syst Rev, 20, 3, CD004250

3 Kelsey JL, Githens PB, Walter SD, Southwick

WO, …(1984), “An epidemiological study of acute

prolapsed cervical intervertebral disc”, The Journal of Bone and …, JBJS

4 Kjellman G, Oberg B (2002), “A randomized clinical trial comparing general exercise, McKenzie treatment and a control group in patients with neck

pain”,Journal of Rehabilitation Medicine,

informaworld.com

5 Kuijper B, Tans JT, Beelen A (2009), “Cervical collar or physiotherapy versus wait and see policy for recent onset cervical radiculopathy: randomised trial”,

BMJ 339:b3883

6 Mc Kenzie RA (1990), The cervical and thoracic spine mechanical diagnosis and thepary, Spinal publicatrions ltd

NHậN THứC Về TáC HạI ĐốI VớI SứC KHỏE Có LIÊN QUAN ĐếN TRồNG

Và CHế BIếN THUốC Lá CủA NGƯờI NÔNG DÂN TRồNG THUốC Lá

ở HUYệN Võ NHAI, THáI NGUYÊN

Hoàng Văn Minh, Kim Bảo Giang - Đại học Y Hà Nội

Tóm tắt

Để các chính sách kiểm soát thuốc lá ở Việt Nam

có hiệu lực, các thông tin chính xác về các nhận thức

của người dân liên quan đến trồng trọt thuốc lá là cấp

thiết cho những người vận động chính sách nói riêng

cũng như cho cả xã hội nói chung Mục tiêu: Tìm hiểu

nhận thức về tác động có hại đối với sức khỏe liên

quan đến trồng và chế biến thuốc lá của người nông

dân trồng thuốc lá ở một vùng nông thôn phía bắc

Việt Nam Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, định

tính Đối tượng: Lãnh đạo cộng đồng, đại diện trạm y

tế và người dân Kết quả: hầu hết nông dân không thể

biết có sự liên quan giữa các vấn đề sức khỏe của họ

với các công việc trồng thuốc lá Không có người

tham gia nghiên cứu nào đã biết về hội chứng nhiễm

độc thuốc lá xanh Chưa có chương trình can thiệp

nào để cải thiện kiến thức của người dân và nhận

thức về các tác hại của trồng thuốc lá Kết luận: Nhận

thức của người nông dân nhận thức về tác động có

hại đối với sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến

thuốc lá của người nông dân trồng thuốc lá ở một vùng nông thôn phía bắc Việt Nam còn rất hạn chế

Từ khóa: Trồng trọt thuốc lá, sức khỏe, nhận thức

Summary

In order to enforce the policies on tobacco control

in Vietnam, reliable information on Perception of health impacts of tobacco cultivation and processing among tobacco farmers are urgently needed by those with advocacy’s responsibility as well as for society in general However, even though the number of research on tobacco in Vietnam has recently increased, there remains too little information on this area Objective: To explore the perception of health impacts of tobacco cultivation and processing among tobacco farmers in Vo Nhai District, Thai Nguyen province Study subject: Community leaders, heads

of commune health center and people from the study locations Results: Our study found that tobacco farmers did notice some health problems during the times they grew tobacco or processed tobacco

Ngày đăng: 25/08/2015, 10:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Đánh  giá cải  thiện  chức năng  SHHN sau - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ của bài tập MC KENZIE đối với CHỨC NĂNG SINH HOẠT HÀNG NGÀY của BỆNH NHÂN THOÁT vị đĩa đệm cột SỐNG cổ
Bảng 2. Đánh giá cải thiện chức năng SHHN sau (Trang 2)
Bảng 1. Đánh giá cải thiện chức năng SHHN sau - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ của bài tập MC KENZIE đối với CHỨC NĂNG SINH HOẠT HÀNG NGÀY của BỆNH NHÂN THOÁT vị đĩa đệm cột SỐNG cổ
Bảng 1. Đánh giá cải thiện chức năng SHHN sau (Trang 2)
4. Hình thức đánh giá - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ của bài tập MC KENZIE đối với CHỨC NĂNG SINH HOẠT HÀNG NGÀY của BỆNH NHÂN THOÁT vị đĩa đệm cột SỐNG cổ
4. Hình thức đánh giá (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w