Bệnh viện Da liễu Trung ương là trung tâm chuyên sâu về các bệnh da vì vậy hầu hết các trường hợp bệnh nhân đến khám và điều trị thường ở thể nặng, sau một thời gian tự điều trị hoặc đượ
Trang 1Y học thực hành (762) - số 4/2011 117
chấn là điều kiện thuật lợi cho virus HPV thâm nhập và
gây bệnh Trong nghiên cứu của Lê Thị Anh Thư có
24.8% bệnh nhân bị hạt cơm do lây nhiễm từ bể bơi
hoặc nhà tắm công cộng đây là môi trường có rất nhiều
virus, sau khi ngâm tắm lâu da lòng bàn chân mềm,
mủn, dễ bị sang chấn nhất là vùng tỳ đè là yếu tố rất
thuận lợi cho virus xâm nhập vào cơ thể [2]
Đánh giá mức độ bệnh giúp cho thầy thuốc quyết
định phương pháp phù hợp để đạt hiệu quả cao nhất, ít
biến chứng, giảm tỷ lệ tái phát.Cho đến nay việc phân
chia mức độ bệnh khác nhau tùy từng tác giả Kết quả
nghiên cứu cho thấy 30.1% Bn bị bệnh ở mức độ nhẹ
có dưới 5 thương tổn, 41.3% Bn bị bệnh ở mức độ
nặng có trên 10 thương tổn và 28.6% Bn bị bệnh ở
mức độ vừa có từ 5 đến 10 thương (bảng 6) Kết quả
của chúng tôi cũng tương đồng với kết quả của Đặng
Văn Em cho thấy tỷ lệ bệnh nhân mắc HCLBC thể sâu
ở mức độ nặng là 64.7% [1] Bệnh viện Da liễu Trung
ương là trung tâm chuyên sâu về các bệnh da vì vậy
hầu hết các trường hợp bệnh nhân đến khám và điều
trị thường ở thể nặng, sau một thời gian tự điều trị hoặc
được điều trị ở tuyến dưới không khỏi mới đến khám
Triệu chứng đau trong HCLBC là một triệu chứng
thường gặp và là nguyên nhân làm bệnh nhân phải đi
khám và điều trị sớm Nghiên cứu cho thấy rằng 95%
bệnh nhân có triệu chứng đau Mức độ đau khác
nhau tùy từng trường hợp có những bệnh nhân chỉ
đau nhẹ nhưng có những trường hợp đau rất nhiều có
cảm giác như giẫm phải bàn chông Triệu chứng đau
thường tăng lên khi đi lại, chạy nhảy, va chạm Kết
quả của chúng tôi và các tác giả khác đều cho thấy
đau là một triệu chứng điển hình của bệnh HCLBC
Ngứa mặc dù ít gặp hơn triệu chứng đau nhưng
cũng là một dấu hiệu tương đối thường gặp ở bệnh
nhân HCLBC Nghiên cứu cho thấy 16.7% bệnh
nhân có triệu chứng ngứa Đây là một trong những
triêụ chứng khiến bệnh nhân phải gãi làm tăng nguy
cơ tự lây nhiễm HPV sang vùng da khác
KếT LUậN
Khảo sát đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan trên 63 bệnh nhân bị hạt cơm lòng bàn chân, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- Hạt cơm lòng bàn chân gặp ở cả hai giới, chủ yếu ở người trẻ, trong đó 52.4% bệnh nhân từ 20 đến
29 tuổi
- 39.7% bệnh nhân là học sinh sinh viên, 25.4% bệnh nhân là cán bộ công chức
- Thương tổn chủ yếu khu trú ở vùng tỳ đè, do vậy thương tổn thường bằng phẳng với mặt da
- 95% trường hợp có triệu chứng đau, 20.6% trường hợp có ngứa đây là hai triệu chứng chính khiến phần lớn bệnh nhân phải đi khám và điều trị sớm
TàI LIệU THAM KHảO
1 Đặng Văn Em (2005), "Kết quả bước đầu điều trị hạt cơm lòng bàn chân thể sâu bằng laser CO2 kết hợp băng ép tinh thể thuốc tím (KMnO4) tại Khoa Da liễu –
BVTWQĐ108", Tạp chí Y Dược học Quân sự, Học viện
Quân Y, Hà Nội, 33(6), tr 114-118
2 Lê Thị Anh Thư (2008), Tình hình đặc điểm lâm sàng của bệnh hạt cơm thông thường tại viện Da liễu Quốc gia, Luận văn bác sỹ chuyên khoa II, Trường Đại học Y Hà Nội
3 Lương Đức Diễn (2007), Nghiên cứu tình hình đặc
điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị bệnh hạt cơm lòng bàn chân bằng laser CO2 và siêu cao tần, Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ, Học Viện Quân Y
4 Nguyễn Đức Long (2007), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị bệnh hạt cơm lòng bàn chân bằng phương pháp áp nitơ lỏng”, Luận án tốt bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội
5 Douglas R.L., Elliot S.A (2003), “ Warts”, Fitzpatric’s Dermatology in general medicine, McGraw- Hill, 2, pp 2119-2131
6 Sterling J.C., and Kurtz J.B (1998), “Viral infection In: Champion R.H, Burton J.L, Burns D.A and Breathnach S.M Ed.s.", Texbook of dermatology, 6th edn Oxford: Blacwell science, pp 995-1096
ĐáNH GIá HIệU QUả CHốNG OXY HóA CủA BELAF
ở ĐộNG VậT GÂY NHIễM ĐộC TRINITROTOLUEN BáN MạN TíNH
Nguyễn Bá Vượng, Nguyễn Liễu, Nguyễn Hoàng Thanh Tóm tắt
Đánh giá hiệu quả chống oxy hóa Belaf ở máu thỏ
sau nhiễm độc TNT bán mạn tính chúng tôi nhận thấy:
* ở nhóm uống TNT:
- Hoạt độ enzym SOD là 1187,99 54,1 U/gHb
cao hơn nhóm chứng một cách rõ rệt với p<0.05
- Hoạt độ enzym GPx là 50,03 1,38 U/gHb thấp
hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng với p <0.05
- Trạng thái chống oxy hoá toàn phần của cơ thể
(TAS): 1,26 0,02mmol/l, giảm hơn TAS nhóm
chứng một cách có ý nghĩa với p <0,05
* ở nhóm uống TNT và BELAF
- Hoạt độ enzym SOD là 989,93 36,1 U/gHb và
GPx là 55,8 1,83 U/gHb cao hơn nhóm chứng một
cách rõ rệt với p<0.05
- Trạng thái chống oxy hoá toàn phần của cơ thể (TAS): 1,38 0,03 mmol/l, giảm hơn TAS nhóm chứng một cách có ý nghĩa với p <0,05
Từ khóa: belaf, TNT
Summary
To evaluate the effectiveness of antioxidant belaf in rabbit blood after sub- chronic poisoning TNT, found:
* In the group poison TNT:
- Activities of SOD enzyme is 1187,99 54,1 U/gHb higher than a group with p <0.05
- Activities of GPx enzyme is 50,03 1,38 U/gHb lower significance compared with control group p <0.05
- Status antioxidants all parts of the body (TAS): 1,26 0,02mmol/l, decreased TAS than control group with p <0.05
Trang 2Y học thực hành (762) - số 4/2011 118
* In group poison TNT and drinking BELAF
- Activities of SOD enzyme is 989,93 36,1
U/gHb and GPx là 55,8 1,83 U/gHb higher than a
distinct group with p <0.05
- Status antioxidants all parts of the body (TAS):
1,38 0,03 mmol/l, decreased TAS than control
group with p <0.05
Keywords: belaf, TNT
Đặt vấn đề
Ngày nay, thuốc nổ Trinitrotoluen(TNT) đang được
sử dụng rộng rãi ở Việt Nam trong nhiều ngành như
quốc phòng, xây dựng, công nghiệp khai thác mỏ Do
công nghệ chế biến, bảo quản và sử dụng còn lạc
hậu nên tác hại của TNT đối với người tiếp xúc là
không thể tránh khỏi Một biện pháp nào đó nhằm
hạn chế tác hại không mong muốn của chất nổ này
đối với người tiếp xúc TNT ở nước ta đó là điều mà
nhiều nhà khoa học quan tâm
Đến nay, người ta cho rằng có nhiều cơ chế gây
nhiễm độc của TNT khi vào cơ thể nhất là động vật
máu nóng, một trong những cơ chế đó là chúng
chuyển hóa và tạo gốc tự do(free radical) làm tổn
thương cơ thể đang được đề cập[13] Gốc tự do có hoạt
tính sinh học rất mạnh, khi gốc tự do tăng cao trong cơ
thể sẽ tác động vào màng nhân, màng tế bào… làm
tổn thương Vì vậy người ta thấy rằng tổn thương do
TNT là da dạng không có tổn thương đặc hiệu[4]
Nghiên cứu và đưa vào sử dụng các thuốc chống
oxy hóa Belaf nhằm hạn chế đến mức thấp nhất do
TNT gây ra là rất cần thiết Vì vậy mục đích của đề tài
này là đánh giá hiệu quả chống oxy hóa của belaf ở
máu thỏ sau nhiễm độc TNT bán mạn tính
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- 30 thỏ đực, thuần chủng, khỏe mạnh, trưởng
thành 12 tuần tuổi có trọng lượng 2000 ± 200g do
ban chăn nuôi động vật - Học viện Quân y cung cấp
Thỏ được nuôi trong cùng một điều kiện chế độ ăn và
nước uống, mỗi con được nhốt trong 1 lồng
- Trinitrotoluen do trung tâm độc - Học viện Quân
y cung cấp
- Thuốc Belaf sản xuất bởi InTerphamar Hạn sử
dụng tháng 9/2011
- 30 thỏ được chia làm 3 nhóm: nhóm I gồm 10
con, được sử dụng làm nhóm chứng, nhóm II gồm 10
con được gây độc bởi uống TNT, nhóm III gồm 10
con được gây độc như nhóm II và uống Belaf
2 Phương pháp gây độc
- Hàng ngày thỏ ở nhóm I được uống 2ml dầu
vừng vào buổi sáng
- Thỏ nhóm II uống dung dịch TNT và dầu vừng
tương ứng 50mg/kg trọng lượng, thời gian uống buổi
sáng[5,6]
- Thỏ nhóm III uống dung dịch TNT và dầu vừng
giống như thở ở nhóm II, sau đó 9h sáng uống belaf liều
sử dụng gấp 5 lần trên người( caroten 1,5mg; acid
ascorbic 50mg; selen 5mg; DL tocopherol 40 UI)
3 Phương pháp nghiên cứu
Dung dịch Belaf, dung dịch dầu vừng có TNT và
dầu vừng, sử dụng kim đầu tù đưa vào miệng để bơm
vào dạ dày thỏ
Mỗi ngày uống dầu vừng và dung dịch TNT vào 8h đến 9h, uống Belaf vào 9h đến 10h hàng ngày trong 9 tuần liên tục
Lấy máu vành tai thỏ vào buổi sáng, thời điểm trước uống belaf và sau 9 tuần uống belaf nghiên cứu
để định lượng SOD, GPx, TAS Các xét nghiệm sử dụng kit Randox-Ransod UK
Các số liệu thống kê sử dụng phầm mềm SPSS 11.5 và so sánh 2 số trung bình
Kết quả nghiên cứu
Bảng 1 Thay đổi hoạt độ của SOD
Trước uống belaf Sau uống belaf Lô thỏ
XSD XSD P(T-S) Nhóm 1 (n=10) 845.45 27.6 846.92 23.3 P > 0.05 Nhóm 2 (n=10) 844.92 23.1 1187.99 54.1 P < 0.05 Nhóm 3 (n=10) 845.67 15.5 989.93 36.1 P < 0.05
P
P 1.2 > 0.05
P1.3 > 0.05
P2.3 > 0.05
P1.2 < 0.05
P1.3 < 0.05
P2.3 < 0.05
* nhóm 1: nhóm chứng; nhóm 2: uống TNT; nhóm 3: uống TNT và Belaf
Kết quả ở bảng trên cho thấy, hoạt độ SOD ở thời điểm trước uống belaf không có sự khác biệt giữa các nhóm (P>0,05); ở thời điểm sau uống belaf hoạt độ SOD ở các nhóm nghiên cứu có sự khác biệt rõ với P<0,05
Hoạt độ SOD ở nhóm 2 tăng hơn nhóm 3 thời
điểm trước và sau uống belaf, so sánh có ý nghĩa thống kê với P<0.05
Bảng 2: Thay đổi hoạt độ GPx
Trước uống belaf Sau uống belaf Lô thỏ
XSD XSD P(T-S) Nhóm 1 (n=10) 65.41 2.8 66.07 2.05 >0.05 Nhóm 2 (n=10) 65.82 2.9 50.03 1.38 <0.05 Nhóm 3 (n=10) 66.84 1.7 55.8 1.83 <0.05
P
P1.2 > 0.05
P1.3 > 0.05
P2.3 > 0.05
P1.2 < 0.05
P1.3 < 0.05
P2.3 < 0.05
* nhóm 1: nhóm chứng; nhóm 2: uống TNT; nhóm 3: uống TNT và Belaf
Từ bảng 2 ta thấy: ở thời điểm sau uống belaf, hoạt độ GPx của nhóm 2 giảm có ý nghĩa thống kê so với nhóm 1 với P<0,05 Hoạt độ GPx của nhóm 3 tăng có ý nghĩa thống kê so với nhóm 2 với P<0,05 và nhỏ hơn nhóm 1 có ý nghĩa thống kê với P<0,05 Mặt khác, hoạt độ GPx trong cùng một lô giữa hai thời điểm làm xét nghiệm ở nhóm 2 và nhóm 3 thời
điểm sau uống belaf giảm so với thời điểm T1 có ý nghĩa thống kê với P<0.05
Bảng 3: Thay đổi hoạt độ TAS
Trước uống belaf Sau uống belaf Lô thỏ
XSD XSD P(T-S) Nhóm 1 (n=10) 1.58 0.03 1.49 0.04 >0.05 Nhóm 2 (n=10) 1.56 0.03 1.26 0.02 <0.05 Nhóm 3 (n=10) 1.60 0.03 1.38 0.03 <0.05
P
P 1.2 > 0.05
P1.3 > 0.05
P2.3 > 0.05
P1.2 < 0.05
P1.3 < 0.05
P2.3 < 0.05
* nhóm 1: nhóm chứng; nhóm 2: uống TNT; nhóm 3: uống TNT và Belaf
Trang 3Y học thực hành (762) - số 4/2011 119
ở bảng 3, thời điểm sau uống belaf ta thấy, có sự
giảm rõ rệt trạng thái chống oxy hóa toàn phần của
nhóm 2 và nhóm 3 so với nhóm 1 có ý nghĩa thống kê
với P<0.05 và sự tăng lên của chỉ số trạng thái chống
oxy hóa của nhóm 3 so với nhóm 2 có ý nghĩa thống
kê với P<0.05
Mặt khác, cũng có sự khác biệt về trạng thái chống
oxy hóa toàn phần trong cùng một lô thời điểm sau so
với trước uống belaf ở nhóm 2 và nhóm 3 với P<0.05
Bàn luận
1 Enzym chống oxy hoá SOD
SOD là enzym chống oxy hoá quan trọng nhất
của cơ thể, vì superoxit là chất đứng đầu dãy sinh ra
đầu tiên trong ở các dạng oxy hoạt động[3]
Hoạt độ SOD trong hồng cầu của nhóm chứng
trong nghiên cứu của chúng tôi là 845,4527,6 U/gHb
ở nhóm 2 khi thỏ uống TNT hoạt độ của enzym
SOD là 1187,99 54,1/gHb cao hơn hẳn nhóm chứng
với p<0.05
Sự tăng hoạt độ enzym SOD ở nhóm 2 và nhóm 3
uống TNT đã chứng tỏ rằng: TNT trong cơ thể chuyển
hóa theo cơ chế tạo gốc tự do là sinh ra O enzym
SOD có cơ chất
2
O , mặt khác enzym là chất có hoạt tính sinh học thì hoạt độ enzym phụ thuộc tuyến tính
vào nồng độ cơ chất[4] Khi TNT xâm nhập vào cơ
thể từ từ (mạn tính) thì
2
O cũng tăng lên kéo theo tăng hoạt độ enzym SOD Điều này là phù hợp với
nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa (2000)[2] về ảnh
hưởng của hỗn hợp padan và acephate trên thỏ với
liền nhỏ, cho uống một liều duy nhất và thấy hoạt độ
enzym SOD hồng cầu bị giảm và ngược lại, hoạt độ
enzym SOD lại tăng rõ rệt ở nhóm thỏ gây độc hàng
ngày bằng liều nhỏ dài ngày
Hoạt độ enzym SOD ở nhóm uống TNT tăng
cao hơn nhóm chứng là sự phản ứng cơ thể nhằm thu
dọn các gốc tự do gây nên bởi chất xenobiotic(TNT)
Hoạt độ enzym SOD ở nhóm 3 tăng ít hơn nhóm 2
theo chúng tôi là do Belaf với tác dụng chống oxy hoá
tổng hợp của õ- carotene, vitamin A, vitamin C và
selen, đặc biệt là vai trò to lớn của â – carotene
Vitamin C loại bỏ các gốc tự do superoxyd (O2
._), gốc hydroxyl (.
OH), chặn đứng các phản ứng dây chuyền
theo cơ chế gốc tự do[1,2,8,9,10]
2 Enzym chống oxy hoá GPx
GPx là enzym chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong
hệ thống chống oxy hoá tế bào sau SOD
GPx chủ yếu ở mô xúc tác phân huỷ peroxyd
hydro loại bỏ H2O2 được hình thành do phản ứng
phân huỷ superoxid của enzym SOD[3]
Kết quả ở nhóm chứng là 65,412,8U/g Hb Còn ở
nhóm 2 uống TNT là 50,03 1,38U/g Hb Như vậy, ở
nhóm chứng cao hơn so với nhóm 2 và nhóm 3 uống
TNT với p <0.05 Như đã nên ở trên, enzym SOD xúc
tác quá trình biến đổi các superoxid (O2) thành
H2O2, quá trình tiếp xúc với TNT có thể làm tăng sinh
một lượng lớn H2O2 trong cơ thể do hoạt độ SOD cao
hơn bình thường Một điều đáng chú ý là khi nồng độ
H2O2 tăng cao sẽ ức chế GPx nên khi đó
Catalaza(CAT) tham gia vào phản ứng nhằm loại bỏ
H2O2, giảm GPx ở nhóm 2 và nhóm 3 uống TNT có
lẽ là sự thích nghi của hồng cầu chống lại sự tăng các sản phẩm của các phản ứng oxy làm tăng các gốc superoxyd và hydrogen peroxyd
Mặt khác Hoạt độ enzym GPx ở nhóm3 tăng hơn
so với nhóm 2 uống TNT có ý nghĩa thống kê với P< 0.05 Có tình trạng này là do belaf với các thành phần của thuốc vừa thu dọn lượng lớn H2O2, vừa cung cấp selen nguyên liệu tổng hợp GPx[8]:
Mặt khác, vitamin E là chất chống các gốc tự do đặc
biệt là loại bỏ gốc lipoperoxyd LOO. và H2O2 giúp duy trì
độ bền, sự nguyên vẹn của màng tế bào và DNA
3 Trạng thái chống chống oxy hoá toàn phần TAS
TAS ở nhóm 3 uống (TNT + Belaf) là 1,38 0,03 tăng so với nhóm 2 uống TNT có ý nghĩa thống kê với P< 0.05 Điều này có được là do belaf có công dụng tăng cường khả năng giải độc, chống oxy hóa, bảo vệ
tế bào chống lại các tác hại
Theo chúng tôi, TAS giảm ở nhóm 2 giảm là do những nguyên nhân khi TNT xâm nhập vào cơ thể sẽ chuyển hoá và tạo gốc tự do: do lượng lớn gốc tự do tăng lên cơ thể huy động toàn bộ hệ thống chống oxy hóa, bao gồm cả các enzym chống oxy hóa và các chất chống oxy hóa không phải enzym như các vitamin E, A, C, glutathion để làm giảm các gốc tự
do vì vậy TAS giảm Vì thếTAS của nhóm uống belaf cao hơn nhom uống TNT đơn thuần
KếT LUậN
* ở nhóm thỏ gây nhiễm độc bán mạn tính uống TNT:
- Hoạt độ enzym SOD là 1187,99 54,1 U/gHb cao hơn nhóm chứng một cách rõ rệt với p<0.05
- Hoạt độ enzym GPx là 50,03 1,38 U/gHb thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng với p <0.05
- Chỉ số trạng thái chống oxy hoá toàn phần của cơ thể (TAS): 1,26 0,02mmol/l, giảm hơn TAS nhóm chứng một cách có ý nghĩa với p <0,05
- Cũng có sự khác biệt giữa các chỉ số SOD, GPx
và TAS ở thời điểm T2 so với thời điểm T1 có ý nghĩa thống kê P < 0.05
* ở nhóm thỏ gây nhiễm độc bán mạn tính uống TNT và BELAF
- Hoạt độ enzym SOD là 989,93 36,1 U/gHb cao hơn nhóm chứng một cách rõ rệt với p<0.05
- Hoạt độ enzym GPx là 55,8 1,83 U/gHb cao hơn nhóm chứng một cách rõ rệt với p<0.05
- Chỉ số trạng thái chống oxy hoá toàn phần của cơ thể (TAS): 1,38 0,03 mmol/l, giảm hơn TAS nhóm chứng một cách có ý nghĩa với p <0,05
- Cũng có sự khác biệt giữa các chỉ số SOD, GPx
và TAS ở thời điểm T2 so với thời điểm T1 có ý nghĩa thống kê P < 0,05
Chúng tôi hy vọng rằng bước đầu nghiên cứu về các enzym chống oxy hoá và tình trạng chống oxy hoá toàn phần ở thỏ thực nghiệm uống TNT từ đó dùng thuốc chống oxy hóa có thể giúp ích phòng ngừa được một số ảnh hưởng độ hại cho công nhân tiếp xúc trực tiếp với TNT
Trang 4Y học thực hành (762) - số 4/2011 120
Tài liệu tham khảo
1 Bùi Tuấn Anh (2005) ảnh hưởng của hoá chất
trừ sâu phospho hữu cơ trên hệ thống enzym chống
oxy hoá ở người và thỏ Luận án tiến sỹ y học, Đại học
Y Hà Nội- 2005
2 Nguyễn Thị Hoa (2002) Nghiên cứu ảnh hưởng
của hỗn hợp pedan và acephate trên hệ thống enzym
chống oxy hoá ở thỏ thực nghiêm Luận văn thạc sỹ y
học, Đại học Y Hà Nội-2002
3 Nguyễn Quang Thường (1998) Gốc tự do của oxy
gây đột biến trong phát sinh ưng thư Tạp chí dược hoc,
Số 6, Hà Nội, tr 24-26
4 Nguyễn Bá Vượng(2007) Nghiên cứu sự hoạt độ
một số enzym chống oxy hóa ở công nhân tiếp xúc nghề nghiệp với TNT Luận văn cao học – Học viện
quân y, 2007
5 Brooks L.R., Jacobson R.W., Warren S.H et al
(1997) Mutagenicity of HPLC-fractionated urinary
metabolites from 2,4,6- trinitrotoluene Treated Fischer
344 rats, Mol Mutagen., 30 (3), pp 298-302
6 Coombs M., Schillack V (1998) Determination of
trinitrotoluene and metabolites in urine by means of gas- Chromatography with mass detection Int Arch Occup
Environ Health, 71(suppl.), pp S22-S25
ĐáNH GIá HIệU QUả MộT Số GIảI PHáP CAN THIệP TĂNG CƯờNG KIểM SOáT CúM A
TạI CáC BệNH VIệN HUYệN CủA TỉNH QUảNG NINH
Vũ Thị Thu Thuỷ Tóm tắt
Phòng chống cúm đại dịch đòi hỏi không những
kiến thức về bệnh, về chẩn đoán, điều trị mà còn đòi
hỏi việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật tốt Một nhóm
bệnh viện của tỉnh Quảng Ninh được tập huấn trang
bị kiến thức, cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm nâng cao
khả năng ứng phó với cúm đại dịch Nghiên cứu nhằm
đánh giá hiệu quả của quá trình can thiệp Kết quả:
nhóm can thiệp đã có hiểu biết sâu hơn về chẩn đoán
và điều trị, được trang bị cơ sở vật chất tốt hơn, như
vậy khả năng ứng phó với cúm đại dịch cũng tốt hơn
Từ khóa: kiến thức, cơ sở vật chất kỹ thuật, cúm
Summary
requires not only understanding of the factors
influencing behavious changes but also have enough
instruments A group of Quang Ninh province district-
hospitals were interfered for the purposes of
improving the ability for diagnosing and treating
patients with influenza A We aim to determine the
effectiveness of the interferences Results: the
interfered group have deeper knowledge, attitudes
and practices and instruments for diagnosing and
treating patients with influenza A
Keywords: knowledge, pandemic influenza
Đặt vấn đề
Theo thống kê của Bộ Y tế - Viện VSDT Trung
ương, dịch cúm gia cầm xuất hiện đầu tiên ở khu vực
phía Bắc Việt Nam (tỉnh Hà Tây cũ), số ca mắc cúm
gia cầm ở các tỉnh ở khu vực phía Bắc nhìn chung
nhiều hơn các ca mắc ở các tỉnh phía Nam Hiện nay
dịch vẫn tồn tại và nhiều nguy cơ bùng phát trên diện
rộng với mức độ nguy hiểm cao hơn Hiện tại bệnh
chưa có thuốc chữa trị đặc hiệu, vắc xin phòng bệnh
mới được sản xuất còn nhiều bất cập, giá thành đắt
và số lượng còn hạn chế Kiến thức, thực hành phòng
chống bệnh cúm của cán bộ y tế, cũng như năng lực
ứng phó của hệ thống bệnh viện các tuyến, nhất là
tuyến huyện đối với đại dịch cúm là vấn đề quan
trọng hàng đầu trong phòng chống cúm đại dịch
Các bệnh viện tuyến huyện của tỉnh Quảng Ninh
đã được can thiệp một số giải pháp tăng cường kiểm
soát lây nhiễm cúm A Nghiên cứu can thiệp từ
3/2010 đến 8/2010 bằng các biện pháp tăng cường cơ sở vật chất chẩn đoán và điều trị cúm A, được tăng cường tập huấn và tổ chức các buổi hội thảo về kiến thức chẩn đoán và điều trị cúm A cho cán bộ y tế trực tiếp điều trị cúm A Đánh giá kết quả sau can thiệp cũng là một vấn đề quan trọng xác định hiệu quả của quá trình can thiệp, từ đó nghiên cứu mở rộng việc can thiệp cho các bệnh viện khác trong toàn tỉnh Sau quá trình can thiệp, chúng tôi nghiên cứu đề tài với mục tiêu sau đây:
“Đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp tăng cường kiểm soát cúm A tại các bệnh viện huyện của tỉnh Quảng Ninh”
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai tại 6 bệnh viện tuyến huyện đại diện cho các vùng miền đặc trưng của tỉnh Quảng Ninh gồm: khu vực thành thị: Bệnh viện đa khoa khu vực Bãi Cháy, Bệnh viện đa khoa thị xã Cẩm Phả; khu vực nông thôn: Bệnh viện đa khoa huyện
Đông Triều, Bệnh viện đa khoa huyện Yên Hưng, khu vực miền núi, hải đảo: Bệnh viện đa khoa huyện Vân
Đồn, Bệnh viện đa khoa khu vực Tiên Yên
Đối tượng nghiên cứu là 152 Bác sỹ và điều dưỡng viên trực tiếp điều trị cúm A tại 06 khoa của bệnh viện
có liên quan đến người bệnh gồm : Khoa Hồi sức cấp cứu, Khoa Nội nhi, Khoa Truyền nhiễm, Khoa Khám bệnh, Khoa Xét nghiệm, Khoa Chống nhiễm khuẩn
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Đây là nghiên cứu điều tra sau can thiệp: là một nghiên cứu mô tả có phân tích qua một cuộc điều tra cắt ngang sau quá trình can thiệp
06 bệnh viện được chia thành 2 nhóm A và B, điều tra kiến thức và thực hành của cán bộ nhân viên y tế trong 06 khoa
2.2 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu:
Các giải pháp can thiệp gồm:
- Cơ sở vật chất chẩn đoán và điều trị cúm A: phòng điều trị, phòng cách ly, dụng cụ, trang thiết bị phòng chống dịch, thuốc thiết yếu, hóa chất khử trùng