1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm môi trường trầm tích và lịch sử phát triển địa chất holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông cửu long

152 474 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 10,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VŨ VĂN HÀ ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT HOLOXEN VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN CỦA HỆ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

VŨ VĂN HÀ

ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH VÀ LỊCH

SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT HOLOXEN VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN CỦA HỆ THỐNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

VŨ VĂN HÀ

ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH VÀ LỊCH

SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT HOLOXEN VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN CỦA HỆ THỐNG SÔNG CỬU LONG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả

Vũ Văn Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án được thực hiện tại Phòng Địa chất Đệ tứ, Viện Địa chất – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam dưới sự hướng dẫn của PGS.TSKH Nguyễn Địch Dỹ và TS Đinh Văn Thuận

Trong quá trình thực hiện luận án NCS đã được Lãnh đạo Phòng Địa chất Đệ tứ và Lãnh đạo Viện tạo điều kiện tốt nhất để tập trung hoàn thành luận án Dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của các thầy hướng dẫn NCS

đã hình thành được bản luận án

NCS cũng nhận được nhiều sự giúp đỡ và góp ý sâu sắc trong quá trình thực hiện luận án và tại Hội thảo luận án của các nhà khoa học như: PGS.TS Doãn Đình Lâm, PGS.TS Phạm Huy Tiến, GS.TS Trần Nghi, TS Nguyễn Xuân Huyên, GS.TSKH Lê Đức An, PGS.TS Nguyễn Xuân Khiển, TS Mai Thành Tân, TS Ngô Quang Toàn, TS Vũ Quang Lân, TS Phan Đông Pha,

TS Đinh Xuân Thành

Nhân dịp này, NCS xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy hướng dẫn, các nhà khoa học và các đồng nghiệp trong và ngoài cơ quan đã giúp đỡ

và góp ý kiến để NCS hoàn thành bản luận án này

NCS xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Viện Địa chất và Phòng Địa chất Đệ tứ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho NCS trong suốt thời gian làm luận án

Tác giả luận án

Vũ Văn Hà

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu 7

1.2 Hệ phương pháp nghiên cứu 22

1.2.1 Phương pháp luận 22

1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu 23

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO – ĐỊA CHẤT VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN HỆ THỐNG SÔNG CỬU LONG 29

2.1 Đặc điểm địa mạo 29

2.1.1 Địa hình nguồn gốc sông 29

2.1.2 Địa hình nguồn gốc hỗn hợp sông – biển 32

2.1.3 Địa hình nguồn gốc biển 33

2.2 Đặc điểm địa chất 36

2.2.1 Địa tầng 36

2.2.2 Kiến tạo 53

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TƯỚNG TRẦM TÍCH HOLOXEN VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN CỦA HỆ THỐNG SÔNG CỬU LONG 61

3.1 Cơ sở lý luận 61

3.1.1 Khái niệm về châu thổ (Delta) 61

3.1.2 Khái niệm về estuary 62

3.1.3 Khái niệm về thung lũng cắt xẻ 63

3.1.4 Định nghĩa về tướng trầm tích 63

3.1.5 Tổ hợp tướng trầm tích 64

3.1.6 Định luật Walther 64

3.2 Nhóm tướng bồi lấp thung lũng cắt xẻ 65

3.2.1 Tướng cát sạn sỏi lòng sông 65

3.2.2 Tướng bột cát đê tự nhiên 66

3.2.3 Tướng sét bột đầm lầy nước ngọt 67

3.2.4 Tướng bột sét đồng bằng ngập lụt 68

Trang 6

3.2.5 Tướng bột sét trên triều 69

3.3 Nhóm tướng trầm tích estuary – vũng vịnh 73

3.3.1 Tướng sét bột cát bãi triều 73

3.3.2 Tướng cát bột lạch triều 74

3.3.3 Tướng sét bột vũng vịnh 74

3.3.4 Tướng bar cát chắn cửa vịnh 76

3.3.5 Tướng cát bột sét sau bờ 77

3.3.6 Tướng cát bột sét tiền bờ 79

3.4 Nhóm tướng trầm tích châu thổ 84

3.4.1 Tướng sét bột chân châu thổ 84

3.4.2 Tướng bột sét tiền châu thổ 85

3.4.3 Tướng cát bột cửa phân lưu 86

3.4.4 Tướng cát bột lòng phân lưu 87

3.4.5 Tướng bột sét vụng gian lưu 88

3.4.6 Tướng cát-bột-sét đới gian triều 89

3.4.7 Tướng cát bột lạch triều 91

3.4.8 Tướng bột sét đới trên triều 93

3.4.9 Tướng cồn cát ven biển 94

CHƯƠNG 4: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT HOLOXEN VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN CỦA HỆ THỐNG SÔNG CỬU LONG 105

4.1 Giai đoạn bồi lấp thung lũng cắt xẻ 106

4.2 Giai đoạn estuary – vũng vịnh 115

4.3 Giai đoạn châu thổ 120

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 129

CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 132

TÀI LIỆU THAM KHẢO 134

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG Bảng 1.1 Tuổi tuyệt đối các bậc thềm biển trên đảo ở Việt Nam 13Bảng 2.1 Bảng liên hệ địa tầng Holoxen vùng đồng bằng sông Cửu Long 40Bảng 3.1 Đặc điểm thạch học, khoáng vật nhóm tướng bồi lấp thung lũng cắt

xẻ 71Bảng 3.2 Đặc điểm cổ sinh và hóa – lý môi trường nhóm tướng bồi lấp thung lũng cắt xẻ 72Bảng 3.3 Đặc điểm thạch học, khoáng vật nhóm tướng estuary – vũng vịnh82Bảng 3.4 Đặc điểm cổ sinh và hóa – lý môi trường nhóm tướng estuary - vũng vịnh 83Bảng 3.5 Đặc điểm thạch học, khoáng vật nhóm tướng châu thổ 96Bảng 3.6 Đặc điểm cổ sinh và hóa – lý môi trường nhóm tướng châu thổ 97

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 1 Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu……… 6 Hình 1.1 Phân loại châu thổ (theo Galloway, 1975) 8Hình 1.2 Dao động mực nước biển trong Holoxen (Nguyễn Ngọc và Nguyễn Thế Tiệp, 1998) 13Hình 1.3 Cấu tạo độ hạt mịn dần (graded bedding) 24Hình 2.1 Sơ đồ địa mạo vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông Cửu Long 35Hình 2.2 Cột địa tầng tổng hợp Holoxen vùng nghiên cứu 51Hình 2.3 Sơ đồ địa chất Holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông Cửu Long 52Hình 2.4 Sơ đồ tân kiến tạo và địa động lực hiện đại vùng nghiên cứu và khu vực lân cận 59Hình 3.1 Mặt cắt phân chia các vùng biển (theo Reading H.G 1996) 79

Trang 8

Hình 3.2 Mặt cắt tướng trầm tích lỗ khoan Sóc Trăng (LKST) 98

Hình 3.3 Mặt cắt tướng trầm tích lỗ khoanTrà Vinh (LKTV) 99

Hình 3.4 Mặt cắt tướng trầm tích lỗ khoan Bến Tre 1 (LKBT1) 100

Hình 3.5 Mặt cắt tướng trầm tích lỗ khoan Bến Tre 2 (LKBT2) 101

Hình 3.6 Mặt cắt tướng trầm tích lỗ khoan Bến Tre 3 (LKBT3) 102

Hình 3.7 Mặt cắt tướng đá cổ địa lý Holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông Cửu Long 103

Hình 4.1 Sơ đồ dao động mực nước biển trong Holoxen tại thềm Sunda Hanebuth và nnk (2000) 108

Hình 4.2 Mặt cắt địa chấn nông phân giải cao tuyến cửa Đại - cửa Hàm Luông 111

Hình 4.3 Mặt cắt địa tầng phân tập – tướng trầm tích Holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông Cửu Long 112

Hình 4.4 Mặt cắt 3D địa tầng phân tập Holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông Cửu Long 113

Hình 4.5 Sơ đồ tướng đá cổ địa lý thời kỳ giữa Holoxen sớm 114

Hình 4.6 Sơ đồ dao động mực nước biển trong Holoxen (Lê Đức An, 1996) 115

Hình 4.7 Estuary do sóng thống trị (Gary Nichol, 2009) 116

Hình 4.8 Sơ đồ tướng đá cổ địa lý thời kỳ đầu Holoxen giữa 119

Hình 4.9 Sơ đồ dịch chuyển đường bờ giai đoạn biển lùi Holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông Cửu Long 126

Hình 4.10 Sơ đồ tướng đá cổ địa lý thời kỳ cuối Holoxen muộn 127

DANH MỤC ẢNH Ảnh 3.1 Trầm tích cát sạn sỏi lòng sông trong lỗ khoan LKBT2 66

Ảnh 3.2 Trầm tích cát bột đê tự nhiên trong lỗ khoan LKBT2 67

Trang 9

Ảnh 3.3 Trầm tích sét bột đầm lầy nước ngọt 68

Ảnh 3.4 Trầm tích bột sét đồng bằng ngập lụt tại lỗ khoan LKBT3 69

Ảnh 3.5 Trầm tích bột sét đới trên triều trong lỗ khoan LKBT2 70

Ảnh 3.6 Trầm tích cát bột sét bãi triều trong lỗ khoan LKBT2 73

Ảnh 3.7 Trầm tích cát bột lạch triều tại lỗ khoan LKBT3 74

Ảnh 3.8 Trầm tích sét bột estuary – vũng vịnh trong lỗ khoan LKBT3 76

Ảnh 3.9 Trầm tích bar cát chắn cửa vịnh trong lỗ khoan LKBT2 77

Ảnh 3.10 Trầm tích cát bột sét sau bờ tại lỗ khoan LKTV 78

Ảnh 3.11 Trầm tích cát bột tiền bờ (phần cao) tại lỗ khoan LKTV 80

Ảnh 3.12 Trầm tích cát bột sét tiền bờ (phần thấp) trong lỗ khoan LKTV 81

Ảnh 3.13 Trầm tích sét bột chân châu thổ trong lỗ khoan LKBT1 84

Ảnh 3.14 Trầm tích sét bột tiền châu thổ trong lỗ khoan LKBT1 85

Ảnh 3.15 Trầm tích cát bột cửa phân lưu tại lỗ khoan Trà Vinh 86

Ảnh 3.16 Trầm tích cát bột lòng phân lưu tại lỗ khoan LKBT1 88

Ảnh 3.17 Trầm tích bột sét vụng gian lưu trong lỗ khoan LKBT3 89

Ảnh 3.18 Trầm tích cát bột sét đới gian triều trong lỗ khoan LKBT2 91

Ảnh 3.19 Trầm tích cồn cát ven biển trong lỗ khoan LKTV 95

Trang 10

HST : Highstand systems tract - Hệ thống trầm tích biển cao

LST : Lowstand systems tract - Hệ thống trầm tích biển thấp

NCS : Nghiên cứu sinh

Trang 11

MỞ ĐẦU

Sông Cửu Long là phần hạ lưu của sông Mekong chảy trên lãnh thổ Việt Nam Sông Mekong là một trong những con sông lớn nhất thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra biển Đông ở Việt Nam

Trong giai đoạn Holoxen – hiện đại, quá trình bồi đắp của sông Cửu Long đã hình thành nên châu thổ sông Cửu Long, châu thổ có diện tích lớn nhất nước ta chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú như thủy hải sản, nông sản và tài nguyên khoáng sản Châu thổ sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất nước ta, sản lượng hàng năm chiếm hơn 50% tổng sản lượng lúa và đóng góp khoảng 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước Vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng là một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước, tập chung nhiều thành phố lớn, có mạng lưới giao thông phát triển cả về đường bộ và đường thủy, nơi giao thương của các nước trong khu vực và quốc tế

Bên cạnh sự ưu đãi về tài nguyên vị thế, vùng châu thổ sông Cửu Long cũng chịu nhiều tác động do thiên nhiên gây ra như lũ lụt, hạn hán, hoạt động của thủy triều… Trong những thập niên gần đây, biến đổi khí hậu đang là vấn

đề nóng bỏng trên toàn cầu, nhiều tác động xấu được dự báo có thể xảy ra như hiện tượng nước biển dâng kéo theo quá trình ngập úng, xói lở, sạt lở gây tác động nghiêm trọng đến vùng cửa sông ven biển Vùng cửa sông ven biển của

hệ thống sông Cửu Long cũng được dự báo là vùng chịu ảnh hưởng nặng nhất của châu thổ sông Cửu Long

Những lợi thế về tài nguyên thiên nhiên hay những tác động tiêu cực do thiên nhiên gây ra có liên quan trực tiếp tới môi trường trầm tích Holoxen, do vậy nghiên cứu môi trường trầm tích Holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ

Trang 12

thống sông Cửu Long thực sự cần thiết cho việc định hướng việc sử dụng hợp

lý tài nguyên thiên nhiên và phòng chống thiên tai

Mặt khác, môi trường trầm tích là hướng nghiên cứu quan trọng trong trầm tích học, đặc biệt là các đối tượng châu thổ hiện đại, có liên quan đến đợt biển tiến gần đây nhất xảy ra trong Holoxen

1 Mục tiêu của luận án: Làm sáng tỏ môi trường trầm tích Holoxen

và thiết lập các giai đoạn phát triển địa chất trong Holoxen vùng nghiên cứu

2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Chính xác hóa các phân vị địa tầng Holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông Cửu Long

- Phân chia tướng trầm tích Holoxen xác lập điều kiện môi trường trầm tích Holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông Cửu Long

- Thiết lập lịch sử phát triển địa chất Holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông Cửu Long

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là các trầm tích Holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông Cửu Long trong phạm vi 15-20 km từ bờ biển vào đất liền (hình 1)

4 Cơ sở tài liệu:

+ Tài liệu khảo sát thực địa

Trong quá trình thực hiện các đề tài liên quan đến luận án, NCS đã tiến hành các đợt khảo sát thực địa tại vùng nghiên cứu của đề tài luận án:

- Đợt 1, khảo sát thực địa năm 2009, tham gia là thành viên chính của

đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích

Trang 13

Holoxen-hi ện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long, phục vụ phát triển

b ền vững kinh tế-xã hội”, mã số KC09.06/06-10

- Đợt 2 (năm 2011), khảo sát và lấy mẫu tại khu vực cửa Tiểu, cửa Đại với tư cách là thành viên chính thực hiện đề tài cơ bản “Nghiên cứu quá trình hấp phụ các kim loại nặng của trầm tích tầng mặt khu vực cửa sông ven biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu Lấy ví dụ cửa Tiểu, sông Tiền” mã số 105.99-2010.17

+ Số liệu, tài liệu

Là thành viên chính của đề tài KC09.06/06-10, NCS đã trực tiếp xử lý các tài liệu, số liệu của đề tài và trực tiếp viết các báo cáo chuyên đề về địa tầng, chuyên đề tướng trầm tích và tham gia viết báo cáo tổng kết của đề tài

- Thu thập và xử lý: 300 mẫu độ hạt; 20 mẫu khoáng vật sét; 150 mẫu

vi cổ sinh; 150 mẫu bào tử phấn hoa; 70 mẫu tảo Diatomeaee; 150 mẫu foraminifera và 30 mẫu tuổi tuyệt đối phân tích bằng phương pháp 14C thuộc

đề tài KC09/06-06.10

- NCS trực tiếp mô tả, lấy mẫu và phân tích cấu tạo 300m khoan của 5

lỗ khoan vùng nghiên cứu

- Mẫu do NCS phân tích bổ sung gồm: 70 mẫu độ hạt, 50 mẫu khoáng vật sét bằng phương pháp nhiệt - rơnghen, 40 mẫu lát mỏng thạch học, 50 mẫu địa hóa môi trường, 30 mẫu bào tử phấn hoa và 20 mẫu tảo Diatomeaee

5 Luận điểm bảo vệ:

Luận điểm 1: Môi trường trầm tích Holoxen vùng nghiên cứu được

phản ánh qua 20 tướng trầm tích thuộc ba nhóm tướng đặc trưng cho môi trường trầm tích châu thổ và trước khi hình thành châu thổ:

- Nhóm tướng bồi lấp thung lũng cắt xẻ gồm 5 tướng trầm tích

Trang 14

- Nhóm tướng estuary – vũng vịnh gồm 6 tướng trầm tích

- Nhóm tướng châu thổ gồm 9 tướng trầm tích

Luận điểm 2: Lịch sử phát triển địa chất Holoxen vùng cửa sông ven

biển hệ thống sông Cửu Long trải qua ba giai đoạn phát triển địa chất (1) Giai đoạn bồi lấp thung lũng cắt xẻ diễn ra vào cuối Pleistoxen muộn -Holoxen sớm, (2) giai đoạn estuary - vũng vịnh diễn ra trong Holoxen giữa, (3) giai đoạn châu thổ diễn ra trong Holoxen giữa – muộn

6 Những điểm mới của luận án

- Một số kiểu nguồn gốc trầm tích mới được xác định gồm: trầm tích nguồn gốc sông-đầm lầy thuộc hệ tầng Bình Đại; trầm tích nguồn gốc sông-biển-đầm lầy thuộc hệ tầng Hậu Giang

- Xác định 20 tướng trầm tích thuộc ba nhóm tướng (nhóm tướng bồi lấp thung lũng cắt xẻ, nhóm tướng estuary vũng vịnh và nhóm tướng châu thổ) đặc trưng cho môi trường trầm tích Holoxen vùng cửa sông ven biển của

hệ thống sông Cửu Long

- Xác lập 3 giai đoạn phát triển địa chất trong Holoxen vùng cửa sông ven biển hệ thống sông Cửu Long

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

+ Ý nghĩa khoa học: Kết quả của luận án làm sáng tỏ môi trường trầm

tích và lịch sử phát triển địa chất Holoxen và góp phần hoàn thiện địa tầng Holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông Cửu Long

+ Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của luận án là bộ dữ liệu cơ sở cho những

nghiên cứu về tai biến thiên nhiên vùng cửa sông ven biển, định hướng cho

việc quy hoạch và khai thác tài nguyên khoáng sản

Trang 15

8 Bố cục của luận án

Mở đầu

- Chương 1: Lịch sử nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

- Chương 2: Đặc điểm địa mạo – địa chất vùng cửa sông ven biển của

hệ thống sông Cửu Long

- Chương 3: Đặc điểm tướng trầm tích vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông Cửu Long

- Chương 4: Lịch sử phát triển địa chất vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông Cửu Long

Kết luận

Trang 16

Hình 1 Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu

Trang 17

CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử nghiên cứu

a Nghiên cứu về châu thổ

Vùng nghiên cứu thuộc một phần của châu thổ sông Cửu Long do vậy vùng nghiên cứu sẽ có những nét chung về đặc điểm môi trường trầm tích hay lịch sử phát triển địa chất của một châu thổ cũng như những cơ sở lý luận về châu thổ Vấn đề nghiên cứu châu thổ là hướng nghiên cứu được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm từ rất sớm Dưới đây là những kết quả nghiên cứu trên thế giới và trong nước về châu thổ

+ Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Các nghiên cứu về châu thổ tập trung nhiều trong khoảng 50-60 năm trở lại đây với rất nhiều công trình nghiên cứu địa chất trên các châu thổ như châu thổ Mississippi, Nile, Hoàng Hà, Trường Giang, Hằng, Bramaputra,… Đại diện cho những nhà khoa học đi sâu vào nghiên cứu châu thổ là Coleman

và Wright Trên cơ sở thu thập dữ liệu của 34 châu thổ hiện đại Coleman và Wright (1975) đã đưa ra hệ thống phân loại châu thổ gồm 6 bậc Tiếp theo Galloway (1975) đã đưa ra bảng phân loại được sử dụng phổ biến hiện nay dựa trên cơ sở sự thống trị của các quá trình động lực gồm sông, sóng và thủy triều (Hình 1.1)

1) Châu thổ do động lực sông ưu thế, như châu thổ Mississippi (Mỹ), Hoàng Hà (Trung Quốc), và Po (Italia): châu thổ loại này có dạng chân chim, lưỡi xẻng Thành phần giàu bùn, phổ biến các doi cát cửa sông, cát lòng sông

và cát rìa châu thổ

2) Châu thổ do động lực sóng ưu thế như châu thổ sông Nile và sông Danube Châu thổ có hình dạng mũi tên, dạng xẻng, thành phần chủ yếu là cát tạo nên các doi cát

Trang 18

3) Châu thổ triều ưu thế như Amazon, sông Dương Tử và sông Fly Galloway (1975) Châu thổ có hạng hình phễu (estuary) đến phân nhánh

Sự tiến hóa của một hệ thống châu thổ là một quá trình không ổn định và thường được đặc trưng bởi sự dịch chuyển của thùy châu thổ, chẳng hạn như ở sông Mississippi (Roberts, 1997, 1998) và châu thổ Po (Correggiari và nnk., 2005)

Hình 1.1 Phân loại châu thổ (theo Galloway, 1975) Vào những năm đầu thế kỷ 20 đã có nhiều công trình nghiên cứu về trầm tích Holoxen của các châu thổ lớn trên thế giới, đặc biệt đối với vùng ven biển các châu thổ Những công trình nghiên cứu kinh điển về châu thổ Mississippi của Barrell (1912, 1914), Johnstons (1921, 1922), Trowbridge (1930), Russell (1936), Fisk (1944) Những công trình này đã đặt nền móng cho các công trình tiếp theo của Coleman & Gagliano (1964), Wright & Coleman (1973, 1975), Galloway (1975), David R.A (1978), Reading H.G (1986, 1996), Elliott (1965, 1986)…

Trang 19

Cấu trúc châu thổ, đặc điểm tướng trầm tích và tiến hóa các thành tạo Holoxen vùng cửa sông ven biển các châu thổ lớn trên thế giới như: châu thổ sông Rhôn, châu thổ sông Niger, châu thổ sông Mahakam, châu thổ sông Hoàng Hà….đã được đề cập đến trong các công trình của Fisk & Mc Farlan

và nnk (1954), Fisk (1955, 1961), Oomkens (1967, 1974), Weber (1971), Elliott (1974, 1986), Reading H.G, (1965, 1986)….Đó là những công trình mang tính kinh điển về quá trình tiến hóa cửa sông ven biển của các châu thổ trong Holoxen Elliott (1986) trong công trình “Châu thổ” đã phân tích quá trình dịch chuyển các thùy châu thổ liên quan tới quá trình phát triển cửa sông ven biển của châu thổ sông Mississippi

Công trình nghiên cứu của Elliott (1986) về “Đường bờ lục nguyên” đã phân tích chi tiết quá trình thành tạo và tiến hóa các đê cát, giồng cát ven biển (beach sand ridges) trong các đồng bằng cát ven biển (chenier plain) Các thành tạo này có nhiều điểm chung với các thành tạo cát ven biển của châu thổ sông Cửu Long

+ David R.A (1978) đã phân tích tỉ mỉ điều kiện sinh thái và quá trình phát sinh phát triển của vùng đầm lầy ven biển cửa sông (salt marshes) Đây

là một trong các công trình tiêu biểu về hệ thống đầm lầy cửa sông ven biển

+ Tình hình nghiên cứu trong nước

Các nhà khoa học trong nước như Trần Nghi, Doãn Đình Lâm, Trần Đức Thạnh, Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Ngô Quang Toàn, Vũ Quang Lân, Nguyễn Biểu có nhiều công trình nghiên cứu khá chi tiết về địa chất Đệ

tứ của các châu thổ Sông Hồng, châu thổ sông Cửu Long và các đồng bằng

ven biển miền Trung [3,8-17,23-26,29-31]

Nghiên cứu về châu thổ Sông Hồng, Doãn Đình Lâm (2001, 2002, 2003) đã thiết lập 3 giai đoạn tiến hóa của châu thổ Sông Hồng trong Holoxen: giai đoạn estuary-vũng vịnh, giai đoạn châu thổ và giai đoạn aluvi [23,24]

Trần Đức Thạnh (1993), trong luận án Tiến sĩ về tiến hoá địa chất vùng cửa sông Bạch Đằng trong Holoxen, đã phân chia quá trình tiến hoá vùng cửa

Trang 20

sông Bạch Đằng trong Holoxen thành các giai đoạn và xác lập các đơn vị tướng trầm tích Holoxen cho vùng cửa sông Bạch Đằng

Trong chương trình hợp tác giữa Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam

và Cục Địa chất Nhật Bản các nhà khoa học đã quan tâm đến các thành tạo Holoxen của châu thổ Sông Hồng Các kết quả nghiên cứu của các tác giả như: Tanabe S (2004), Saito Y (2004), Ngô Quang Toàn (2004), Vũ Quang Lân (2004)…đã nêu lên được quá trình tiến hoá các trầm tích Holoxen cũng như dao động đường bờ trong Holoxen của châu thổ Sông Hồng

b Kết quả nghiên cứu về dao động mực nước biển

+ Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu được công bố về vấn đề dao động mực nước biển, điển hình là các công trình như: công trình của Van Straaten (1959), Baeteman C (1984,1992), Pirazzoli (1987), David (1987), Tooley (1979, 1987), Morner (1984, 1985), Shennan (1983), Jelgersma (1966, 1986), Kidson (1982), Zhao Shongling (1986), Huang Zhenguo (1984, 1987)….Trong các công trình nêu trên, biến động và tiến hóa môi trường trầm tích Holoxen vùng cửa sông ven biển có mối quan hệ mật thiết với sự thay đổi mực nước biển trong Holoxen

Biển tiến sau băng hà cuối cùng hay còn gọi là biển tiến Flandrian có vai trò quyết định với việc hình thành các châu thổ và đới bờ hiện tại, do vậy các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu khá tỷ mỉ về đợt biển tiến này, kết quả tuổi tuyệt đối cũng phong phú hơn nhiều, chính vì thế có nhiều tác giả đã nghiên cứu và đưa ra các kết luận khá chi tiết về đợt biển tiến này

Theo Kaplin P A, biển tiến Flandrian là do sự tan băng gần đây nhất (băng hà Valdai, Vurm, Vikosin) bắt đầu từ 18-17 ngàn năm trước đây Người

ta còn gọi là biển tiến sau băng hà muộn, Dubois(1924)

Trang 21

Rất nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến các đặc điểm của biển tiến sau băng hà bao gồm : thời gian biển tiến, cường độ (tốc độ ) và sự dao động của mực nước biển

Về mực biển trước biển tiến, Menard, (1964) cho rằng nó ở thấp hơn hiện đại -90m còn Kuenen (1954) lại cho là -100 đến -120m

Về thời gian bắt đầu nâng lên của biển tiến có nhiều ý kiến khác nhau, Ericson (1964) cho là 18-11 ngàn năm, Markov và Verlicko (1967) cho là 18 ngàn năm, Menard (1964) cho là 30-40 ngàn năm

Về tốc độ nâng của mực biển sau băng hà Menard cho rằng mức dao động trong thời kỳ tan và rút lui của băng cuối cùng ở châu Âu và châu Mỹ đã nâng lên với tốc độ 9m/1000năm

Stride (1963) và Donovan (1962) cho rằng sự dâng lên nhanh chóng của mực nước từ -120m bắt đầu từ 20 ngàn năm BP, trong thời kỳ đầu mực biển nâng lên với tốc độ 9 mm/năm, sau đó độ chậm lại chỉ còn 1mm/năm Nhìn chung có rất nhiều kết luận về biển tiến sau băng hà nhưng nhiều nhà nghiên cứu (Kaplin P.A, Troiski S.L, Kulakov A.I) đồng ý với nhau rằng tồn tại ba trường phái lớn về đặc điểm biển tiến sau băng hà (biển tiến Flandrian) mà đại diện là Fairbrige P, Fisk H và Shepard F

Fairbrige và Shepard đã thống nhất với nhau về một đặc điểm quan trọng đó là biển tiến sau băng hà cuối cùng đã phát triển rất mạnh mẽ trong thời kỳ đầu cho đến 5.000 – 6.000 năm BP, tốc độ dâng của mực biển bắt đầu giảm mạnh Sự bất đồng cơ bản giữa họ là Fairbrige cho rằng trong 6.000 năm qua mực biển cao hơn hiện đại, còn Shepard cho rằng biển tiến trong thời

kỳ sau băng hà không bao giờ đạt đến mực biển hiện nay

Trang 22

Những kết luận của Fairbrige về sự dao động tương đối của mực đại dương trong 6000 năm qua được xác định bởi các số liệu trầm tích biển bởi phương pháp Cacbon phóng xạ ở các vùng khác nhau trên Trái đất ( Úc, vịnh Mexico, các đảo Thái Bình Dương ) Các tài liệu này cho phép ông chia ra một vài giai đoạn dâng lên của mực biển trong 6000 năm trở lại đây Mực biển 5,0 và 3,7 ngàn năm vượt quá hiện đại đến 3-4m

Shepard cho rằng trong sự nâng lên của mực biển 6000 năm qua tồn tại

sự dừng lại hoặc hạ thấp trong thời gian ngắn với quy mô không lớn, điều đó được gây ra do sự dao động của rìa băng

Quan điểm thứ ba được Fisk đưa ra (Fisk 1994, Fisk và Mc Farlan 1961) là biển tiến sau băng hà đã kết thúc khoảng 5.000 năm trước, từ đó mực biển dừng lại Le Blane và Bernard (1954) đã chứng minh quan điểm của Fisk khi nhận thấy những thành tạo bờ cổ và trẻ có độ cao tương tự ở dải bờ biển Mexico trong 5000 năm qua

+ Tình hình nghiên cứu trong nước

Về vấn đề dao động mực nước đại dương ở Việt Nam đã được các tác giả như: Lê Đức An (1996), Trần Nghi (1996, 2001, 2004), Trần Đức Thạnh (1993, 1996), Doãn Đình Lâm, W.Boyd (2001), Nguyễn Thế Tiệp, Nguyễn Ngọc (1993), Nguyễn Ngọc Thụy (1993), Nguyễn Thế Tiệp (1998), Nguyễn Địch Dỹ (1987), đề cập đến trong hàng loạt các công trình công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước Qua đó, những kết quả về dao động mực nước biển trong Holoxen ở Việt Nam của các thời kỳ 8000-7000 năm, 7000-4000 năm, 4000-3000 năm, 3000-2000 năm và 2000 năm cách ngày nay đã được làm sáng tỏ Các tác giả cũng đã xây dựng chi tiết sơ đồ dao động mực nước biển trong thời kỳ Holoxen ở Việt Nam gồm: 1 đợt biển tiến với quy mô lớn vào thời kỳ 6000-5000 năm, 2 đợt biển tiến nhỏ trong giai đoạn 3000-2000 năm và từ 1000 năm tới ngày nay

Trang 23

Theo tác giả Nguyễn Ngọc và Nguyễn Thế Tiệp (Hình 1.2), trong mỗi thời kỳ biển tiến mực nước không ổn định trong quá trình tồn tại của chúng

mà có sự dao động liên tục tạo nên bức tranh biển lúc lên lúc xuống, nhưng những lần mực biển hạ thấp nhất cũng không vượt ra khỏi phạm vi đất liền hiện đại

Hình 1.2 Dao động mực nước biển trong Holoxen (Nguyễn Ngọc và Nguyễn

Thế Tiệp, 1998) Nguyễn Địch Dỹ và nnk, trong báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài:

“Địa chất Đệ tứ và đánh giá tiềm năng khoáng sản liên quan” (KT 01-07) đưa

ra bức tranh khá chi tiết về các mực thềm biển trên dải ven biển Việt Nam Trong đó, thềm biển, thềm sông ven biển đồng bằng sông Cửu Long có các mực: 2m ; 4m ; 5-15m ; 25-40m ; 50-70m và 80-100m Trong đó, mực thềm biển ở độ cao 2m, 4m được xếp vào các thềm biển của biển tiến Flandrian [7] Trên các đảo ven bờ A.M Korofki đã đưa ra khá nhiều số liệu phân tích tuổi tuyệt đối từ các mẫu lấy được trong đợt khảo sát Việt Xô trên tàu Nesmeanov (1987-1989)

Bảng 1.1 Tuổi tuyệt đối các bậc thềm biển trên đảo ở Việt Nam

Đảo Cô Tô - Thềm LaGun (0,5m) 7520 ±120 và 7680 ±165

Đảo Hòn Tre

- Thềm biển ( 3-4m ) -Thềm biển (3-3,5m )

Trang 24

Côn Đảo - Thềm Lagun ( 4m ) 4395 ±145 và 5065 ±193

Đảo Bảy Cạnh - Thềm biển (5m ) 2260 ± 60 ; 3790 ± 90 4830 ± 60 ; 6200 ± 70

6700 ± 90 Đảo Thổ Chu -Thềm biển ( 3-4m)

- Thềm biển (2m) 4090 ± 60 2170 ± 90

(Ngu ồn: A.M Korofki,1987-1989)

Kết quả phân tích phản ánh vị trí lấy mẫu và hoàn cảnh phát triển từng khu vực trong đó phát triển các bậc thềm

Hầu hết các tác giả đều công nhận biển tiến cuối cùng Flandrian mà kết quả của nó là thành tạo nên các bậc thềm trong Holoxen trung (1-3m và 3-6m) và các dấu vết (ngấn nước) trên lục địa và thềm lục địa

Nhìn chung các kết quả nghiên cứu về dao động mực biển được đưa ra đều dựa trên cơ sở nghiên cứu các bậc thềm và các dấu vết tồn tại của mực biển trên lục địa cũng như trên thềm lục địa

Một số dựa trên cơ sở phương pháp trầm tích so sánh với các thời kỳ thành tạo các tập trầm tích biển hay trong các bồn trũng lớn (bồn trũng sông Hồng, sông Cửu Long và các bồn trũng khác) Các số liệu nghiên cứu xác định tuổi tuyệt đối còn rất ít và rời rạc Việc xác định độ cao các bậc thềm chủ yếu là ước lượng nên không tránh khỏi sai số và sự khác nhau giữa các tài liệu

về độ cao bậc thềm trên cùng một khu vực, thậm chí nhầm lẫn cả về tuổi các bậc thềm

c, Tình hình nghiên cứu địa chất Đệ tứ vùng nghiên cứu và lân cận

Trước năm 1975 việc tiến hành đo vẽ bản đồ địa chất nói chung và các công trình nghiên cứu về địa chất Đệ tứ nói riêng, ít được thực hiện Giai đoạn này công tác địa chất ở nước ta chủ yếu do người Pháp tiến hành Trong số các công trình đi sâu về địa chất Đệ tứ phải kể đến công trình của Saurin E (1937) [60], ông đã đưa ra khái niệm về “phù sa cổ” và “phù sa trẻ” để phân chia các thành tạo bở rời Kainozoi ở phần nam Đông Dương và ý nghĩa khoa

Trang 25

học của nó được thừa nhận ở chỗ đã xác định được giữa phù sa cổ và phù sa trẻ là ranh giới giữa Pleistoxen và Holoxen

Theo Saurin E (1973), phù sa cổ có tuổi khác nhau và tạo nên hai mức địa hình: 50-70m và 10-25m Trong phù sa cổ có nhiều laterit và thường gặp tectit ở mức địa hình 50-70m Ông còn cho rằng phù sa trẻ phần lớn thành tạo sau phun trào bazan [60]

Trong giai đoạn này còn có một số công trình của các nhà địa chất Việt Nam như các nghiên cứu về trầm tích ở lưu vực sông Đồng Nai của Trần Kim Thạch (1970), về kiến tạo của Trần Kim Thạch, Đinh Thị Kim Phụng (1972) Liên quan đến việc đo vẽ bản đồ địa chất đồng bằng Nam Bộ có công trình

“Bản đồ địa chất 1:25 000 các tờ Phú Cường, Biên Hoà, Thủ Đức, Sài Gòn và Nhà Bè của Fontaine H và Hoàng Thị Thân (1971), trong công trình này các tác giả có đề cập đến hai thành tạo phù sa cổ và trẻ tương tự như cách phân chia của Saurin E

Sau năm 1975, ngành địa chất Việt Nam tiến hành công tác đo vẽ bản đồ địa chất và khoáng sản phần Miền Nam Việt Nam ở các tỷ lệ khác nhau Tiêu biểu là bản đồ địa chất-khoáng sản, tỷ lệ 1/500.000 Miền Nam do Nguyễn Xuân Bao, Trần Đức Lương chủ biên (1981); bản đồ địa chất -khoáng sản nhóm tờ ĐBNB tỷ lệ 1/200.000 do Nguyễn Ngọc Hoa chủ biên (1990-1991), loạt bản đồ địa chất - khoáng sản tỷ lệ 1/200.000 (hiệu đính) trong đó có diện tích vùng ĐBNB do Nguyễn Xuân Bao chủ biên (1994)

Trong công trình “Bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1: 200.000 loạt tờ đồng bằng Nam Bộ” Nguyễn Ngọc Hoa và nnk (1991) [20,21] đã thiết lập các

hệ tầng: Hậu Giang, Cửu Long, Bình Chánh, U Minh, Cần Giờ,…Các hệ tầng này được thiết lập dựa vào vùng phân bố của chúng theo cách phân chia đồng bằng Nam Bộ thành 3 hợp phần: Đông Bắc (ĐB), trung tâm và Tây Nam

Trang 26

(TN) Các thành tạo trầm tích Holoxen ít được quan tâm trong công tác đo vẽ bản đồ địa chất và khoáng sản Song những kết quả đo vẽ thể hiện trên bản đồ cho phép nhận biết quy luật phát triển và phân bố các thành tạo trầm tích Holoxen

Ngoài những kết quả đo vẽ địa chất còn có các đề tài khoa học công nghệ các cấp, các luận án, đề án, chuyên đề nghiên cứu cũng đề cập và tập trung nghiên cứu địa tầng Holoxen thuộc vùng đồng bằng Nam Bộ

Các đề tài nghiên cứu về trầm tích Đệ tứ trên phạm vi cả nước đã đề cập đến một số vấn đề địa tầng các trầm tích Đệ tứ trên diện tích đồng bằng Nam Bộ Tiêu biểu là các công trình “Cổ địa lý các đồng bằng ven biển Việt Nam trong kỷ Đệ tứ” đề tài cấp Bộ do Nguyễn Địch Dỹ và Nguyễn Trọng Yêm làm chủ nhiệm, 1986 “Bản đồ địa chất Đệ tứ Việt Nam”, tỷ lệ 1/500.000 (Nguyễn Đức Tâm và Đỗ Tuyết đồng chủ biên, 1994), “Địa chất

Đệ tứ và đánh giá tiềm năng khoáng sản liên quan” (đề tài KT 01-07, Nguyễn Địch Dỹ chủ nhiệm, 1996), “Bản đồ vỏ phong hóa và trầm tích Đệ tứ Việt Nam”, tỷ lệ 1/1.000.000 (Ngô Quang Toàn chủ biên, 2000)…

Đinh Văn Thuận, Nguyễn Địch Dỹ (2002, 2004, 2005) đã có nhiều công

bố về cổ sinh địa tầng, cổ địa lý đồng bằng Nam Bộ trong kỷ Đệ tứ Trong luận án tiến sĩ của Đinh Văn Thuận (2005) đã tổng hợp những tư liệu về cổ sinh, đặc biệt đã xây dựng được các phức hệ sinh thái bào tử phấn hoa và ý nghĩa địa tầng của chúng tại vùng Đồng bằng Nam Bộ

Nguyễn Ngọc, Nguyễn Hữu Cử (1997), đã công bố các phức hệ Foraminifera trong các thành tạo trầm tích Holoxen đồng bằng Nam Bộ Những phức hệ này là cơ sở để nghiên cứu, phân chia địa tầng các thành tạo trầm tích Holoxen - hiện đại vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long

Trang 27

Các công trình nghiên cứu địa chất thềm lục địa Việt Nam của Phạm Huy Tiến, Trần Nghi (1999); Trần Nghi (1995 – 2000), đã xây dựng các bản

đồ địa chất Đệ tứ và bản đồ tướng đá cổ địa lý thềm lục địa Những tài liệu này có thể liên hệ với trầm tích trên đất liền, góp phần làm sáng tỏ quá trình thành tạo các đồng bằng châu thổ

Trong công trình công bố của Trần Nghi (2005) “Quy luật chuyển tướng

lòng sông c ổ của trầm tích Neogen muộn - Đệ tứ trong mối quan hệ với hoạt động kiến tạo vùng đồng bằng Nam Bộ” đi từ nghiên cứu trầm tích dưới góc độ

tướng đá để nhìn nhận hoạt động địa động lực cũng như mối quan hệ của chúng trong phạm vi sông Hậu, sông Tiền

Nguyễn Địch Dỹ, Vũ Cao Minh (1996) đã thực hiện đề tài nhánh:

“Nghiên cứu các chuyển động tương đối giữa đất liền và biển dọc bờ biển

Vi ệt Nam” thuộc dự án “Nghiên cứu hiện tượng nước biển dâng”, các tác giả

đã sử dụng phương pháp phân tích xu thế diễn biến đường bờ biển và vùng cửa sông trong Holoxen, phương pháp tính tốc độ sụt lún dựa trên chiều dày trầm tích, phương pháp phân tích đặc điểm trầm tích bãi biển hiện đại Kết quả đã phác họa những nét cơ bản về lịch sử thay đổi đường bờ biển trong Holoxen như sau: Khoảng 7000 năm đến 4000-4500 năm trước đây, biển tiến khá sâu vào khu vực đồng bằng Bắc Bộ và hầu như toàn bộ đồng bằng Nam

Bộ bị ngập chìm dưới mực nước biển Khoảng 2000 năm trước đây, đợt biển tiến trở lại xâm nhập chủ yếu ở vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ Từ khoảng 1000 năm trở lại đây xu hướng biến lấn lại được tiếp tục tới ngày nay

Trong công trình “Vài đặc điểm về các trầm tích trẻ nam Việt Nam”, Lê Đức An và các cộng sự (1982) đã đề cập tới những đặc điểm của các thành tạo trầm tích trẻ ở nam Việt Nam, đặc biệt về các giồng cát phân bố ở vùng

Trang 28

ven biển đồng bằng sông Cửu Long Chúng được phân tích dưới góc độ của mối tương quan giữa địa mạo và trầm tích trẻ Năm 1999, Nguyễn Công Mẫn

và các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu đề tài “Đặc điểm địa chất một số giồng Holoxen vùng đồng bằng sông Cửu Long’’, đề tài đã thực hiện một số

lỗ khoan tại các giồng cát và phân tích các yếu tố địa hình, địa mạo, cấu trúc, thạch học, cổ sinh và tuổi tuyệt đối Kết quả phân tích tuổi tuyệt đối cho thấy các giồng có tuổi từ Holoxen giữa trở lại đây

Về ranh giới Neogen - Đệ tứ ở đồng bằng Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Hoa (1991) và Hà Quang Hải (1994) lấy ranh giới là tầng trầm tích lót đáy của các

hệ tầng Đất Cuốc, Mỹ Tho, Cà Mau, Trảng Bom có tuổi Pleistoxen sớm nằm

phủ trực tiếp trên đất đá có tuổi Plioxen hoặc cổ hơn

Ranh giới Pleistoxen và Holoxen ở đồng bằng Nam Bộ, trước năm

2010 các nhà địa chất Đệ tứ Việt Nam gần như thống nhất với mốc 10.000 năm Theo thang địa tầng quốc tế (2008) ghi nhận mốc này vào 11.700 năm BP Đến năm 2010, trong quá trình thực hiện đề tài KC09.06/06-10, Nguyễn Địch

Dỹ và các cộng sự lấy mốc 11.700 năm BP và chọn các trầm tích lót đáy của 3

hệ tầng (hệ tầng Bình Đại, hệ tầng Hậu Giang và hệ tầng Bình Chánh) làm ranh giới Pleistoxen – Hololoxen Ranh giới này cũng được hầu hết các nhà địa chất

sử dụng đối với vùng đồng bằng Nam Bộ

d, Tình hình nghiên cứu môi trường địa chất vùng nghiên cứu của luận án

Vấn đề môi trường địa chất vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long

đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu và tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau

Trong luận án tiến sĩ của Đinh Văn Thuận (2005) trên cở sở phân chia các phức hệ bào tử phấn hoa trong trầm tích Đệ tứ, đã làm nổi bật ý nghĩa địa tầng

Trang 29

của các phức hệ bào tử phấn hoa (BTPH) và từ đó thiết lập 04 sơ đồ cổ địa lý trong kỷ Đệ tứ, trong đó có sơ đồ cổ địa lý thời kỳ Holoxen sớm –giữa [36]

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holoxen

- hi ện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững

kinh t ế-xã hội”, mã số KC09.06/06-10 do Nguyễn Địch Dỹ làm chủ nhiệm đã

có những đóng góp mới về địa tầng Holoxen vùng châu thổ sông Cửu Long như xác lập hệ tầng Bình Đại, sắp xếp lại thang địa tầng Holoxen vùng nghiên cứu gồm: Hệ tầng Bình Đại tuổi Holoxen sớm (Q21b đ), hệ tầng Hậu Giang tuổi

Holoxen giữa (Q22hg) và hệ tầng Cửu Long tuổi Holoxen muộn (Q23cl) bên cạnh đó xây dựng hàng loạt bản đồ như: Bản đồ tướng đá cổ địa lý, loạt bản đồ địa mạo vùng biển, bản đồ biến động đường bờ và bản đồ biến động môi trường trầm tích Các kết quả của đề tài đã phác họa những nét chấm phá về địa tầng và biến động môi trường trầm tích Holoxen vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long tạo điều kiện cho những nghiên cứu chi tiết hơn về địa tầng, chẳng hạn như các kiểu nguồn gốc trong các hệ tầng có thể xác định chi tiết hơn nếu được đầu tư nghiên cứu hơn nữa, hay môi trường trầm tích cũng có thể xác định một cách tỷ mỉ hơn, gắn lý luận khoa học với nghiên cứu thực tiễn nhằm làm sáng tỏ quá trình tiến hóa môi trường trầm tích Holoxen vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long cũng như toàn bộ châu thổ

Các công trình đi sâu vào nghiên cứu môi trường trầm tích Holoxen vùng châu thổ sông Cửu Long dưới góc độ cổ sinh thái phải kể đến các công trình của Nguyễn Văn Lập, Tạ Thị Kim Oanh, Phân Viện Địa lý – Viện Hàn lâm Khoa học và Công Nghệ Việt Nam

Bên cạnh đó nhiều nhà khoa học nước ngoài cũng quan tâm nghiên cứu và

đã công bố nhiều công trình về môi trường trầm tích Holoxen vùng châu thổ sông Cửu Long Trong đó đông đảo nhất là các nhà địa chất Nhật Bản như Yoshiki

Trang 30

Saito, Toru Tamura, Dan Matsumoto đến từ Cục Địa chất Nhật Bản; Masaaki Tateishi, Iwao Kobayashi, Susumu Tanabe – Khoa Địa chất, đại học Niigata, Nhật Bản; Shota Yamashita - Khoa các khoa học trái đất, đại học Chiba, Nhật Bản; Toshio Nakamura - Trung tâm nghiên cứu Địa khảo cổ, Đại học Nagoya, Nhật Bản và Fumio Akiba cán bộ Phòng Lab AKBA, Saitama, Nhật Bản

Các nhà khoa học Cộng hòa Liên Bang Đức cũng đã tiến hành khảo sát

và công bố các công trình về trầm tích Holoxen vùng châu thổ sông Cửu Long như Ulrike Proske, Till J.J Hanebuth Jens Gröger thuộc Đại học Bremen, CHLB Đức và Hermann Behling đến từ Đại học Göttinggen, CHLB Đức Một số nhà khoa học thuộc khoa Hải dương học, Khoa học trái đất và khí quyển; Đại học North Carolina State, Hoa Kỳ như Zuo Xue, Paul Liu J, Dave DeMaster đã tiến hành khảo sát địa chấn nông phân giải cao và phân tích mẫu trầm tích tầng mặt tại vùng châu thổ ngầm sông Cửu Long

Nhà khoa học Mark D Bateman đến từ trường Đại học Vương quốc Anh (University of Sheffield) cũng tham gia cùng các nhà địa chất Nhật Bản và Việt Nam tiến hành nghiên cứu trầm tích Holoxen vùng châu thổ sông Cửu Long

Những thống kê trên cho thấy trầm tích Holoxen vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long được rất nhiều các nhà địa chất trong nước và quốc tế quan tâm nghiên cứu

Khoảng thời gian trước năm 2000, Nguyễn Văn Lập và Tạ Thị Kim Oanh cùng với các nhà địa chất Nhật Bản tiến hành một loạt lỗ khoan trong Holoxen vùng Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp…và có một loạt các công trình công bố gồm:

Kết quả nghiên cứu một loạt các lỗ khoan ở Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long và Đồng Tháp của Tạ Thị Kim Oanh và Nguyễn Văn Lập kết hợp với các nhà địa chất Nhật Bản (vào các năm 2001, 2002, 2006, 2008, 2010,

Trang 31

2012…) đã xác định trong trầm tích Holoxen vùng đồng bằng sông Cửu Long

có 41 loài và 54 giống Diatomeae và chia thành 5 đới, biển trôi nổi, mặn-lợ,

lợ, ngọt, ngọt-lợ và ngọt Bên cạnh đó, xác định được 71 loài Foraminifera thuộc 39 giống và chia thành 7 nhóm Trên cơ sở phân chia tảo Diatomeae, Foraminifera, cấu trúc trầm tích và thành phần độ hạt, các tác giả đã xác định

9 tướng trầm tích trong các thành tạo Holoxen gồm: tướng cát bột lạch triều estuary, tướng đồng bằng bột sét và đầm lầy ngập mặn, tướng bột cát biển estuary, tướng cát bột vùng chuyển tiếp, tướng bột sét vịnh mở, tướng bột sét chân châu thổ, tướng bột cát tiền châu thổ, tướng cát bột dưới triều đến gian triều và tướng đồng bằng châu thổ ngầm [27,33,34,50,52]

Các kết quả phân chia tướng trầm tích nêu trên đã được các giả tiếp cận theo hướng cổ sinh thái, do vậy các hóa thạch cổ sinh trong trầm tích Holoxen của các lỗ khoan vùng châu thổ sông Cửu Long được phân chia khá chi tiết Bên cạnh đó các mẫu tuổi tuyệt đối phân tích bằng phương pháp 14C và phương pháp OSL được lấy trong lỗ khoan với mật độ khá dày và được phân tích ở các phòng thí nghiệm hiện đại trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ…

Kết quả luận án của Nguyễn Thị Thu Cúc vừa bảo vệ thành công tháng 1/2015 về “Địa tầng và môi trường trầm tích vùng ven biển sông Tiền”, trên

cơ sở nghiên cứu Tảo Diatomeae, tác giả đã xác định 4 nhóm sinh thái trong các trầm tích Holoxen vùng nghiên cứu chúng tương ứng với ba kiểu môi trường trầm tích, môi trường sông – sông biển ở giai đoạn Holoxen sớm – đầu Holoxen giữa; môi trường Estuary vũng vịnh trong giai đoạn Holoxen giữa và môi trường châu thổ trong Holoxen giữa - muộn Luận án đã đia sâu vào nghiên cứu đặc điểm hóa thạch tảo Diatomeae trong trầm tích Holoxen từ đó phân chia các đới sinh thái, đây là nguồn dữ liệu rất quan trọng và chi tiết để luận giải cho các kết quả nghiên cứu địa tầng và môi trường trầm tích [5] Những nghiên cứu kể trên đã phác họa những nét chính về môi trường trầm tích, đã xây dựng được nguồn số liệu rất có giá trị trong nghiên cứu môi trường trầm tích Holoxen cũng như lịch sử tiến hóa của châu thổ Tuy nhiên

để phân chia tướng và luận giải môi trường trầm tích một cách chi tiết và tỉ mỉ

Trang 32

cần tiếp cận theo hướng phân tích tổng hợp các đặc điểm về trầm tích như đặc điểm môi trường địa hóa, khoáng vật, thạch học, cổ sinh…đó cũng là nội dung mà luận án thực hiện để giải quyết mục tiêu đề ra của đề tài luận án

1.2 Hệ phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Phương pháp luận

Môi trường trầm tích (depositional environment) là điều kiện lắng đọng trầm tích của từng đá trầm tích cụ thể và có đặc điểm riêng về thông số vật lý, hóa học và sinh học của trầm tích [56] Do đó, có nhiều cách tiếp cận trong nghiên cứu môi trường trầm tích và đánh giá môi trường trầm tích ở nhiều khía cạnh khác nhau

Chẳng hạn như tiếp cận theo hướng cổ sinh thái để giải quyết vấn đề môi trường trầm tích cũng thường được các nhà địa chất áp dụng Theo cách này, các kết quả phân tích cổ sinh được tổng hợp và phân chia thành thành các phức

hệ sinh thái như các phức hệ Bào tử phấn hay các phức hệ Tảo Diatomeaee Mỗi kiểu phức hệ đặc trưng cho một môi trường lắng đọng trầm tích, như môi trường sông, hồ trên lục địa, môi trường bãi triều, môi trường đầm lầy, môi trường biển nông ven bờ… Bên cạnh đó, các hướng tiếp cận theo đặc điểm hóa-lý, nghiên cứu thành phần khoáng vật sét, khoáng vật tạo đá hay đặc điểm thành phần thạch học… cũng là những tiêu chí xác định môi trường trầm tích

Mỗi một cách tiếp cận khác nhau sẽ cho những kết quả nghiên cứu về môi trường khác nhau Do vậy, để nghiên cứu một cách đầy đủ về môi trường trầm tích, đặc biệt là môi trường trầm tích trong quá khứ cần nghiên cứu một cách tổng hợp, tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau Reading H.G (1996) cho rằng xác định môi trường trầm tích trong quá khứ cần áp dụng tổng hợp

Trang 33

các phương pháp nghiên cứu về tướng trầm tích (lithofacies) và tổ hợp tướng trầm tích (facies associations) [56]

Theo Rukhin (1962), khái niệm tướng trầm tích bao hàm “đặc điểm trầm tích” và “điều kiện thành tạo trầm tích” [59]

Từ những khái niệm về môi trường trầm tích và tướng trầm tích cho thấy rằng, phân tích tướng trầm tích để làm sáng tỏ môi trường trầm tích trong quá khứ là cách tiếp cận khá đầy đủ Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của luận án, NCS sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu

1.2.2.1 Phương pháp phân tích cấu tạo

Phân tích cấu tạo là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu tướng trầm tích được thực hiện bằng việc mô tả các vết lộ trên thực địa hoặc lát cắt

lỗ khoan Phương pháp phân tích cấu tạo có thể phân tích trên ảnh X-ray, ảnh

có độ phân giải cao giúp cho việc xác định các yếu tố cấu trúc trong lát cắt trầm tích có độ chính xác cao

Có nhiều dạng cấu tạo rất đặc trưng cho môi trường trầm tích, ví dụ như ở vùng gian triều thường gặp các cấu tạo dạng phân lớp xen kẹp (heterolithic) giữa cát, bột sét Tùy theo tỷ lệ giữa cát và bột sét trong trầm tích, cấu tạo xen kẹp này gồm có 3 dạng sau: (1) dạng xiên sóng (flaser bedding), thành phần chủ yếu là cát có xen các lớp mỏng bột, sét; (2) dạng phân lớp gợn sóng (wavy bedding), thành phần cát và bột sét tương đương nhau phân lớp xen kẹp; (3) cấu tạo dạng hạt đậu (lenticular), thành phần chủ yếu là sét bột có chứa các thấu kính cát Cấu tạo dạng xen kẹp được hình thành do sự hoạt động lên xuống của thủy triều

Cấu tạo phân lớp xiên chéo dạng lòng máng (trough cross bedding) thường gặp trong trầm tích lòng sông (aluvi channel), lòng phân lưu (distributary channel) hay lạch triều (tidal channel) Cấu trúc theo cấp độ hạt

Trang 34

mịn dần (Graded bedding) (Hình 1.3) hoặc thô dần (inverse graded bedding) thường gặp ở bar cát chắn cửa phân lưu… và rất nhiều các dạng cấu tạo khác đặc trưng cho các kiểu môi trường khác nhau

Hình 1.3 Cấu tạo độ hạt mịn dần (graded bedding)

1.2.2.2 Phương pháp phân tích thành phần độ hạt

Phân tích độ hạt là nhằm xác định tỷ lệ phần trăm (%) các cấp hạt khác nhau của vật liệu trầm tích và các thông số độ hạt như kích thước hạt trung bình (Md), độ chọn lọc (So), hệ số bất đối xứng (Sk) Nguyên tắc cơ bản là phân chia các cấp hạt bằng bộ rây tiêu chuẩn và phương pháp pipet Thông thường sử dụng bộ rây tiêu chuẩn 2 hay 10 10 Kết quả phân tích độ hạt được biểu diễn dưới dạng đường cong tích luỹ trên sơ đồ phân bố cấp hạt logarit Trên đường cong tích luỹ này sẽ xác định được giá trị Q1- cấp hạt tương ứng 25%, Md-tương ứng cấp hạt chiếm 50% và Q3 -cấp hạt tương ứng 75% Các thông số được tính theo công thức:

Trang 35

1.2.2.3 Phương pháp phân tích thạch học

Phương pháp này phân tích các mẫu lát mỏng thạch học trên kính hiển

vi phân cực, các mẫu lát mỏng thạch học được chế tạo từ trầm tích bở rời Bằng phương pháp này cho phép xác định các hình thái, kích thước và mức

độ biến đổi của thành phần hạt vụn và thành phần khoáng vật vụn cơ học như thạch anh feldspat, mica, các mảnh đá… Bên cạnh đó, sử dụng phương pháp này còn xác định thêm các thông số trầm tích như độ mài tròn, độ cầu, độ chọn lọc của trầm tích

1.2.2.4 Phương pháp phân tích cổ sinh

Các dạng Bào tử phấn hoa, tảo Diatomeaee hay các giống loài vi cổ sinh chứa trong trầm tích là các chỉ tiêu quan trọng phản ánh môi trường trầm tích

- Phân tích Bào tử phấn hoa nhằm xác định các giống loài thực vật ngập mặn tồn tại và phát triển trong giai đoạn lắng đọng trầm tích Kết quả phân tích Bào tử phấn cho phép xác định môi trường lắng đọng trầm tích, điều kiện cổ địa lý, cổ khí hậu thông qua thành phần các phức hệ Bào tử phấn hoa của các mẫu được phân tích như bào tử, phức hệ hạt trần, phức hệ hạt kín, thực vật nước ngọt, thực vật nước lợ, thực vật nước mặn, thực vật ưa ẩm, ưa khô, cận nhiệt, nhiệt đới…

- Diatomeaee là một ngành của thực vật bậc thấp Đây là loại tảo đơn bào có kích thước từ vài micron đến vài trăm micron và có vỏ bọc bằng silic Khuê tảo sống trong môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn Chúng được chia thành hai lớp: tảo trung tâm (Centrophyceae) và tảo lông chim (Pennatrophyceae) Diatomeaee rất nhạy cảm với môi trường sống nên có thể dựa vào các tập hợp Diatomeaee để xác định môi trường và nguồn gốc các tập trầm tích chứa chúng

Trang 36

- Hóa thạch trùng lỗ đa số sống trong môi trường biển Chúng gồm hai nhóm: nhóm trôi nổi (planton) và nhóm bám đáy (benton)ở gần bờ Sự phân

bố của Foraminifera phụ thuộc vào độ sâu, độ muối, nhiệt độ, chế độ sóng

Do vậy kết quả phân tích Foraminifera sẽ cho phép chúng ta nêu được những đặc điểm sinh thái đáng tin cậy Phương pháp này phát huy tốt cho trầm tích

biển

Kết quả nghiên cứu bào tử phấn hoa, tảo Diatomeaee, trùng lỗ và mollucs cho những dấu hiệu chỉ thị môi trường trầm tích giúp cho việc xác lập địa tầng trầm tích cũng như đặc điểm môi trường trầm tích

1.2.2.5 Phương pháp phân tích hóa – lý môi trường

Một số chỉ tiêu hoá - lý môi trường có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định môi trường trầm tích như độ pH, Eh, Kt, Fe2+S/Corg., Trong đó Kt

là chỉ số kation trao đổi được tính theo công thức của Grim (1974) như sau:

Kt=Na++K+/Ca2++Mg2+

Chỉ số Kt dao động trong khoảng từ 0,1 đến 1-2 Trong đó môi trường lục địa có giá trị Kt nhỏ hơn 0,5; môi trường chuyển tiếp có giá trị Kt từ 0,5 đến 1,0 và môi trường biển có giá trị Kt lớn hơn 1

Chỉ số Fe2+S/Corg. là chỉ số biểu thị tỷ số giữa hàm lượng sắt hoá trị hai trong sulfua với hàm lượng cacbon hữu cơ Chỉ số này dao động từ 0,02 đến 0,4-0,5 Môi trường lục địa có giá trị Fe2+S/Corg nhỏ hơn 0,06 Môi trường chuyển tiếp sông-biển có giá trị Fe2+S/Corg từ 0,06 đến 0,2 và môi trường biển thực thụ giá trị này lớn hơn 0,2 Các chỉ số pH và Eh trong môi trường đầm lầy đều có giá trị thấp, độ pH dao động từ 4 đến 6, Eh dao động từ -100 đến 10-20mV [32]

1.2.2.6 Phương pháp phân tích thành phần khoáng vật sét

Phân tích thành phần khoáng vật sét trong trầm tích bở rời hiện nay thường áp dụng phương pháp phân tích nhiệt - rơnghen, xác định phần trăm

Trang 37

các khoáng vật sét cơ bản trong trầm tích như montmorinolit, hydromica, kaolinit… tổ hợp các khoáng vật sét có sự biến đổi tương quan ở các môi trường khác nhau, ví dụ trong môi trường axit hàm lượng kaolinit thường cao hơn trong môi trường kiềm còn đối với montmorinolit thì có sự biến đổi ngược lại

1.2.2.7 Phương pháp phân tích tuổi tuyệt đối

Xác định tuổi tuyệt đối bằng phương pháp 14C là một trong những phương pháp thường được áp dụng trong nghiên cứu trầm tích Đệ tứ Phương pháp này cho kết quả với độ chính xác cao đối với các trầm tích có khoảng thời gian định tuổi dưới 40.000 năm Phương pháp 14C dựa trên nguyên tắc bán phân rã của Cacbon 14 trong tự nhiên, thông thường áp dụng chu kỳ bán phân rã 14C là 5.785 năm Mẫu vật dùng cho phân tích 14C là các mảnh vỏ sò

ốc hay các di tích thực vật trong trầm tích

1.2.2.8 Phương pháp thành lập bản đồ tướng đá – cổ địa lý

Bản đồ tướng đá - cổ địa lý là loại bản đồ tổng hợp, trên đó thể hiện những đặc điểm môi trường trầm tích (điều kiện địa lý tự nhiên thành tạo trầm tích), phương vận chuyển của vật liệu vụn, vùng xâm thực bóc mòn, ranh giới phân bố các bể trầm tích và đặc điểm tướng đá của chúng [32]

1.2.2.9 Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp phân tích tổng hợp là phương pháp không thể thiếu trong các công trình nghiên cứu khoa học, đặc biệt đối với những nghiên cứu sâu, rộng, có nhiều mối liên quan mật thiết với nhau Để nghiên cứu lịch sử phát triển địa chất vùng nghiên cứu, cần có những nghiên cứu phân tích tổng hợp như về địa tầng, kiến tạo, địa mạo, môi trường trầm tích, quá trình dao động mực nước biển…

Trang 38

Tiểu kết chương 1:

Từ những kết quả nghiên cứu tổng hợp về lịch sử nghiên cứu trong nước và quốc tế cho thấy những thành tựu khoa học đã đạt được về nghiên cứu châu thổ trên thế giới trong nhiều thập kỷ trở lại đây, đã xây dựng thành những lý luận khoa học cơ bản Những cơ sở lý luận trên đang được áp dụng vào các nghiên cứu các châu thổ trên toàn thế giới

Vấn đề địa tầng Đệ tứ nói chung hay địa tầng Holoxen nói riêng đã được thực hiện trên phạm vi toàn đồng bằng Nam Bộ, tuy nhiên vẫn còn những tồn tại trong việc phân chia địa tầng như ranh giới địa tầng hay các phân vị địa tầng đến nay vẫn chưa được thống nhất Chẳng hạn như hệ tầng Hậu Giang vẫn đang tồn tại với hai quan điểm là Q21-2 và Q22 Cũng tương tự vậy hệ tầng Cửu Long cũng chưa được thống nhất Vấn đề này được làm sáng

tỏ trong chương 2 của luận án

Về môi trường trầm tích Holoxen đồng bằng sông Cửu Long cũng được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu, tuy nhiên mỗi tác giả tiếp cận nghiên cứu bằng những phương pháp khác nhau do vậy cũng cho những kết quả khác nhau

Để giải quyết vấn đề về môi trường trầm tích Holoxen vùng nghiên cứu, NCS dựa trên phương pháp luận nghiên cứu và áp dụng hệ phương pháp nghiên cứu để phân tích tướng trầm tích làm sáng tỏ môi trường trầm tích trong chương 3 và xác lập lịch sử phát triển địa chất trong chương 4 của luận án

Trang 39

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO – ĐỊA CHẤT VÙNG CỬA

SÔNG VEN BIỂN HỆ THỐNG SÔNG CỬU LONG

2.1 Đặc điểm địa mạo

Vùng nghiên cứu thuộc phần cửa sông ven biển của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long có độ cao từ 0,5m đến 2m, không bị ngập hoặc bị ngập nước cục bộ, ngập không thường xuyên do triều hoặc do lũ Trên đồng bằng phân

bố các hệ thống giồng cát, chạy liên tục theo hình vòng cung và song song với

bờ biển Càng về phía biển, các giồng này càng cao và càng lớn Do sự chia cắt bởi các giồng và hệ thống trục lộ, kênh rạch chằng chịt nên địa hình khá phức tạp Các vùng trũng xen kẹp với các giồng cao, xu thế dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng

Trên đồng bằng có hệ thống sông, kênh rạch và các lạch triều phát triển Giữa lòng sông thường phát triển các cù lao có kích thước lớn có chiều dài đến hàng chục km và rộng đến vài km

Phần ven biển phát triển các bãi triều lầy ở gần cửa sông và đuôi các cù lao Những khu vực bờ biển chịu tác động mạnh của sóng và thủy triều, hình thành các bãi cát ven biển

Nhìn chung các dạng địa hình này về cơ bản đã ổn định, có tuổi Holoxen muộn, tuy nhiên các dạng địa hình giồng cát lại đang chịu tác động mạnh mẽ

từ chính con người [15]

2.1.1 Địa hình nguồn gốc sông

Địa hình nguồn gốc sông bao gồm sông và các cù lao dọc sông Các cù lao nằm giữa lòng sông thuộc một phần của địa hình sông

Sông Hậu: về phía cửa sông, lòng sông mở rộng dần, cù lao có kích

thước lớn dần, lớn nhất là tổ hợp cù lao Dung, dài 37 km, rộng 5-10km Tổ

Trang 40

hợp này gồm 3 cù lao kề liền, gần như song song với nhau: cù lao Dung, cù lao Cồn Cộc và cù lao Tròn Cù lao Dung ở trung tâm có diện tích lớn nhất,

cù lao Cồn Cộc nằm ở phía ĐB cù lao Dung, dài 16 km, rộng 1,5km, cù lao này bị ngăn cách với cù lao Dung bởi Khem Bang Co, rộng 200-400m Cù lao Tròn ở phía TN; dài 22,5 km, rộng 1,5-2,5 km bị ngăn cách với cù lao Dung bởi lạch rộng 20-350m, sâu cạn không đều Ở những đoạn lạch hẹp, cạn, cù lao Tròn đang ghép nối với cù lao Dung

Khi hình thành cù lao Dung, tại đới sông phân nhánh (gồm cả dòng chảy

và cù lao) có bề rộng 8-18 km, rộng dần về phía cửa sông

Sông Tiền: chảy gần như song song với sông Hậu trên chiều dài khoảng

85km Tới Vĩnh Long, sông Tiền phân thành 2 nhánh: sông Cổ Chiên và sông

Mỹ Tho Sông Mỹ Tho sau khi đổi hướng đột ngột 2 lần trên chiều dài khoảng 20km, đến Châu Thành đã phân thành 3 nhánh sông: sông Mỹ Tho, sông Ba Lai và sông Hàm Luông Các sông này, sau khoảng 10-17 km chảy theo hướng đông, lại gần như đột ngột đổi sang hướng đông nam (ĐN) Từ Châu Thành, sau khi chảy tiếp 25 km, đến An Cư, sông Mỹ Tho lại phân thành 2 nhánh chảy theo hướng đông: sông Cửa Tiểu và sông Mỹ Tho (đoạn

đổ ra Cửa Đại)

Sông Mỹ Tho (đoạn An Cư-Cửa Đại): chảy hướng đông - ĐN, Trước khi

phân nhánh, sông rộng 1,2km Giữa 2 nhánh là tổ hợp cù lao Hòa Đông, dài

33 km, rộng 2,8-5,3km Trong tổ hợp này, cù lao Hòa Đông là cù lao lớn nhất cù lao Tảo và cù lao Nở nhỏ hơn (dài 7-15 km, rộng 0,5-1km ) phát triển ở phía Nam cù lao Hòa Đông Hai cù lao này ngăn cách với cù lao Hòa Đông bởi nhánh sông Cửa Đại nhỏ, chiều rộng 150-400m, sâu 1-3m So với chiều ngang và độ sâu của sông Mỹ Tho thì nhánh sông Cửa Đại nông và nhỏ hơn

Ngày đăng: 25/08/2015, 10:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Đức An, và nnk (1982), "Bản đồ địa mạo Việt Nam tỷ lệ 1/500.000", Tổng cục địa chất Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ địa mạo Việt Nam tỷ lệ 1/500.000
Tác giả: Lê Đức An, và nnk
Năm: 1982
3. Nguyễn Biểu và nnk (2000), "Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn biển ven bờ Việt Nam (0 - 30m nước) tỉ lệ 1/500.000", Lưu trữ tại Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn biển ven bờ Việt Nam (0 - 30m nước) tỉ lệ 1/500.000
Tác giả: Nguyễn Biểu và nnk
Năm: 2000
4. Nguyễn Thị Thu Cúc, Đào Thị Miên, Vũ Văn Hà (2010), "Diatomeae và ý nghĩa cổ sinh thái trong trầm tích Holocen – hiện đại vùng cửa sông ven biển sông Tiền". Tạp chí Khoa học và Công nghệ. Tập 48, số 2A, tr856-866, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diatomeae và ý nghĩa cổ sinh thái trong trầm tích Holocen – hiện đại vùng cửa sông ven biển sông Tiền
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Cúc, Đào Thị Miên, Vũ Văn Hà
Năm: 2010
5. Nguyễn Thị Thu Cúc (2015), “Địa tầng và môi trường trầm tích Holocen vùng ven biển sông Tiền” Luận án tiến sĩ, Đại học Khoa học và Tự Nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa tầng và môi trường trầm tích Holocen vùng ven biển sông Tiền” "Lu"ậ"n án ti"ế"n s
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Cúc
Năm: 2015
6. Nguyễn Huy Dũng, Ngô Quang Toàn và nnk (2004), "Địa tầng trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng Nam Bộ", Tuyển tập Địa tầng hệ Đệ tứ các châu thổ ở Việt Nam. Hội thảo khoa học tại Hà Nội.2/2004.Tr.133-148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa tầng trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Huy Dũng, Ngô Quang Toàn và nnk
Năm: 2004
7. Nguyễn Địch Dỹ, và nnk (1995), "Địa chất Đệ tứ và đánh giá tiềm năng khoáng sản liên quan", Đề tài cấp nhà nước KT01-07, Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất Đệ tứ và đánh giá tiềm năng khoáng sản liên quan
Tác giả: Nguyễn Địch Dỹ, và nnk
Năm: 1995
8. Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận (2004), "Các giai đoạn phát triển của thực vật ngập mặn với các đợt biển tiến, biển thoái trong kỷ Đệ tứ ở đồng bằng Sông Cửu Long", Tạp chí Các khoa học về Trái đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giai đoạn phát triển của thực vật ngập mặn với các đợt biển tiến, biển thoái trong kỷ Đệ tứ ở đồng bằng Sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận
Năm: 2004
9. Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận (2005), "Những nét chính về cổ địa lý kỷ Đệ tứ ở đồng bằng Nam Bộ", Tạp chí Các khoa học về Trái đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nét chính về cổ địa lý kỷ Đệ tứ ở đồng bằng Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận
Năm: 2005
10. Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Vũ Văn Hà, Nguyễn Trọng Tấn, Lê Đức Lương, Nguyễn Công Quân (2008), “Khái quát về cổ địa lý trong kỷ Đệ tứ ở đồng bằng Nam Bộ”. Tạp chí Các Khoa học về Trái đất. T30, Vol. 4, tr438-444, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về cổ địa lý trong kỷ Đệ tứ ở đồng bằng Nam Bộ”. "T"ạ"p chí Các Khoa h"ọ"c v"ề" Trái "đấ"t
Tác giả: Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Vũ Văn Hà, Nguyễn Trọng Tấn, Lê Đức Lương, Nguyễn Công Quân
Năm: 2008
11. Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Nguyễn Trọng Tấn, Mai Thành Tân, Vũ Văn Hà, Nguyễn Văn Tạo (2009), “Dao Động mực nước biển trong Holocen hiện đại vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long”. Hội thảo khoa học Địa chất và Công trình biển. Chương trình trọng điểm khoa học cấp Nhà nước KC09/06.10, tr327-338. Hòa Bình 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dao Động mực nước biển trong Holocen hiện đại vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Nguyễn Trọng Tấn, Mai Thành Tân, Vũ Văn Hà, Nguyễn Văn Tạo
Nhà XB: Hội thảo khoa học Địa chất và Công trình biển
Năm: 2009
12. Nguyễn Địch Dỹ, Doãn Đình Lâm, Vũ Văn Hà, Nguyễn Trọng Tấn, Đặng Minh Tuấn, Nguyễn Minh Quảng (2010), “Vị thế và dự báo xu thế phát triển vùng cửa sông châu thổ sông Cửu Long”. Tạp chí Các Khoa học về Trái đất. T32, Vol. 2, tr122-127, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thế và dự báo xu thế phát triển vùng cửa sông châu thổ sông Cửu Long”. "T"ạ"p chí Các Khoa h"ọ"c v"ề" Trái "đấ"t
Tác giả: Nguyễn Địch Dỹ, Doãn Đình Lâm, Vũ Văn Hà, Nguyễn Trọng Tấn, Đặng Minh Tuấn, Nguyễn Minh Quảng
Năm: 2010
13. Nguyễn Địch Dỹ, Doãn Đình Lâm, Phạm Quang Sơn, Vũ Văn Hà, Vũ Văn Vĩnh, Nguyễn Công Quân, Đặng Minh Tuấn (2010), “Nghiên cứu biến động bờ biển vùng châu thổ Cửu Long”. Tạp chí Các Khoa học về Trái đất. T32, Vol. 3, tr211-218, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biến động bờ biển vùng châu thổ Cửu Long”. "T"ạ"p chí Các Khoa h"ọ"c v"ề" Trái "đấ"t
Tác giả: Nguyễn Địch Dỹ, Doãn Đình Lâm, Phạm Quang Sơn, Vũ Văn Hà, Vũ Văn Vĩnh, Nguyễn Công Quân, Đặng Minh Tuấn
Năm: 2010
14. Nguyễn Địch Dỹ, Doãn Đình Lâm, Vũ Văn Hà, Nguyễn Trọng Tấn, Đặng Minh Tuấn, Nguyễn Minh Quảng, Nguyễn Thị Thu Cúc (2010),“Phân vị địa tầng mới – hệ tầng Bình Đại, tuổi Holoxen sớm vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long”. Tạp chí Các Khoa học về Trái đất. T32, Vol. 4, tr335-342, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vị địa tầng mới – hệ tầng Bình Đại, tuổi Holoxen sớm vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long”. "T"ạ"p chí Các Khoa h"ọ"c v"ề" Trái "đấ"t
Tác giả: Nguyễn Địch Dỹ, Doãn Đình Lâm, Vũ Văn Hà, Nguyễn Trọng Tấn, Đặng Minh Tuấn, Nguyễn Minh Quảng, Nguyễn Thị Thu Cúc
Năm: 2010
15. Nguyễn Địch Dỹ, và nnk (2010), "Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen – hiện đại vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội", mã số KC09.06/06-10.Bộ Khoa học và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen – hiện đại vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả: Nguyễn Địch Dỹ, và nnk
Năm: 2010
16. Nguyễn Địch Dỹ, Doãn Đình Lâm, Phạm Quang Sơn, Vũ Văn Vĩnh, Vũ Văn Hà, Nguyễn Trọng Tấn, Đặng Minh Tuấn (2012), “Biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holoxen – hiện đại vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long”. Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, 242tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holoxen – hiện đại vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Địch Dỹ, Doãn Đình Lâm, Phạm Quang Sơn, Vũ Văn Vĩnh, Vũ Văn Hà, Nguyễn Trọng Tấn, Đặng Minh Tuấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2012
17. Vũ Văn Hà, Nguyễn Địch Dỹ, Doãn Đình Lâm, Nguyễn Trọng Tấn, Nguyễn Thị Thu Cúc (2009), “Đặc điểm tướng đá – cổ địa lý Holocen hiện đại vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long. Hội thảo khoa học Địa chất và Công trình biển”. Chương trình trọng điểm khoa học cấp Nhà nước KC09/06.10, tr313-326. Hòa Bình 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tướng đá – cổ địa lý Holocen hiện đại vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long. "H"ộ"i th"ả"o khoa h"ọ"c "Đị"a ch"ấ"t và Công trình bi"ể"n”
Tác giả: Vũ Văn Hà, Nguyễn Địch Dỹ, Doãn Đình Lâm, Nguyễn Trọng Tấn, Nguyễn Thị Thu Cúc
Năm: 2009
18. Nguyễn Tiến Hải, Statteger (2005), "Tiến hóa đới ven biển, dao động mực nước và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong Holocen thềm lục địa ven biển giữa châu thổ sông MeKong và Nha Trang ĐN Việt Nam", Viện Địa chất và Địa vật lý biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến hóa đới ven biển, dao động mực nước và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong Holocen thềm lục địa ven biển giữa châu thổ sông MeKong và Nha Trang ĐN Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Hải, Statteger
Nhà XB: Viện Địa chất và Địa vật lý biển
Năm: 2005
19. Trịnh Thế Hiếu (2003), "Trầm tích Đệ tứ thềm lục địa Việt Nam", Tuyển tập báo cáo HNKH Công trình và Địa chất Biển, tập III, tr 169 – 185, 23-26/702003, tr265-276, Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trầm tích Đệ tứ thềm lục địa Việt Nam
Tác giả: Trịnh Thế Hiếu
Nhà XB: Tuyển tập báo cáo HNKH Công trình và Địa chất Biển
Năm: 2003
20. Nguyễn Ngọc Hoa, (chủ Biên). (1991), "Bản đồ và thuyết minh bản đồ địa chất tờ Mỹ Tho tỷ lệ 1/200.000", Cục Địa chất Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ và thuyết minh bản đồ địa chất tờ Mỹ Tho tỷ lệ 1/200.000
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoa, (chủ Biên)
Năm: 1991
21. Nguyễn Ngọc Hoa, Nguyễn Huy Dũng và nnk (1991), "Báo cáo kết quả đo vẽ địa chất và tìm kiếm khoáng sản đồng bằng Nam Bộ", Tổng cục địa chất Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả đo vẽ địa chất và tìm kiếm khoáng sản đồng bằng Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoa, Nguyễn Huy Dũng và nnk
Năm: 1991

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Phân loại châu thổ (theo Galloway, 1975) - Đặc điểm môi trường trầm tích và lịch sử phát triển địa chất holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông cửu long
Hình 1.1. Phân loại châu thổ (theo Galloway, 1975) (Trang 18)
Hình 1.2. Dao động mực nước biển trong Holoxen (Nguyễn Ngọc và Nguyễn - Đặc điểm môi trường trầm tích và lịch sử phát triển địa chất holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông cửu long
Hình 1.2. Dao động mực nước biển trong Holoxen (Nguyễn Ngọc và Nguyễn (Trang 23)
Bảng 1.1. Tuổi tuyệt đối các bậc thềm biển trên đảo ở Việt Nam - Đặc điểm môi trường trầm tích và lịch sử phát triển địa chất holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông cửu long
Bảng 1.1. Tuổi tuyệt đối các bậc thềm biển trên đảo ở Việt Nam (Trang 23)
Hình 1.3. Cấu tạo độ hạt mịn dần (graded bedding) - Đặc điểm môi trường trầm tích và lịch sử phát triển địa chất holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông cửu long
Hình 1.3. Cấu tạo độ hạt mịn dần (graded bedding) (Trang 34)
Bảng 2.1. Bảng liên hệ địa tầng Holoxen vùng đồng bằng sông Cửu Long - Đặc điểm môi trường trầm tích và lịch sử phát triển địa chất holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông cửu long
Bảng 2.1. Bảng liên hệ địa tầng Holoxen vùng đồng bằng sông Cửu Long (Trang 50)
Hình 3.1. Mặt cắt phân chia các vùng biển (theo Reading H.G. 1996) - Đặc điểm môi trường trầm tích và lịch sử phát triển địa chất holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông cửu long
Hình 3.1. Mặt cắt phân chia các vùng biển (theo Reading H.G. 1996) (Trang 89)
Hình 4.1. Sơ đồ dao động mực nước biển trong Holoxen tại thềm Sunda - Đặc điểm môi trường trầm tích và lịch sử phát triển địa chất holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông cửu long
Hình 4.1. Sơ đồ dao động mực nước biển trong Holoxen tại thềm Sunda (Trang 118)
Hình 4.2. Mặt cắt địa chấn nông phân giải cao tuyến cửa Đại - cửa Hàm - Đặc điểm môi trường trầm tích và lịch sử phát triển địa chất holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông cửu long
Hình 4.2. Mặt cắt địa chấn nông phân giải cao tuyến cửa Đại - cửa Hàm (Trang 121)
Hình 4.4. Mặt cắt 3D địa tầng phân tập Holoxen vùng cửa sông ven biển của - Đặc điểm môi trường trầm tích và lịch sử phát triển địa chất holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông cửu long
Hình 4.4. Mặt cắt 3D địa tầng phân tập Holoxen vùng cửa sông ven biển của (Trang 123)
Hình 4.6. Sơ đồ dao động mực nước biển trong Holoxen (Lê Đức An, 1996) - Đặc điểm môi trường trầm tích và lịch sử phát triển địa chất holoxen vùng cửa sông ven biển của hệ thống sông cửu long
Hình 4.6. Sơ đồ dao động mực nước biển trong Holoxen (Lê Đức An, 1996) (Trang 125)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w