1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán cho học sinh yếu kém lớp 10 tỉnh lào cai

122 605 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào ph

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN MINH HOÀNG

ÁP DỤNG MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN CHO HỌC SINH YẾU KÉM LỚP 10 TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN, 2014

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN MINH HOÀNG

ÁP DỤNG MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN CHO HỌC SINH YẾU KÉM LỚP 10 TỈNH LÀO CAI

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Toán

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS VŨ THỊ THÁI

THÁI NGUYÊN, 2014

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Minh Hoàng

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các GV tổ Toán, HS khối 10 trường THPT số 2 Mường Khương – Lào Cai đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập

Dù đã rất cố gắng, song Luận văn cũng không tránh khỏi những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Minh Hoàng

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

iii

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn iv

Danh mục biểu đồ và đề kiểm tra v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Giả thuyết khoa học 3

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1.Quan niệm về dạy học môn toán theo định hướng tích cực 5

1.1.1 Quan niệm về học và dạy cách học 5

1.1.2 Quan niệm về dạy học tích cực 7

1.1.3 Quan niệm về dạy học môn Toán theo định hướng tích cực 8

1.2 Một số phương pháp dạy học tích cực 9

1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học 9

1.2.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trung học phổ thông 10

1.2.3 Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán 14

1.2.3.1 Mô hình quan điểm dạy học - phương pháp dạy học - kĩ thuật dạy học 14

1.2.3.2 Các phương pháp dạy học tích cực 16

1.2.3.3 Một số kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh 21

1.3 Thực trạng áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong việc giúp đỡ HSYK học tốt môn Toán ở trường THPT tỉnh Lào Cai 29

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

iv

1.3.1 Thực trạng dạy – học môn Toán đối với học sinh yếu kém lớp 10 THPT ở Lào Cai 29

1.3.2 Thực trạng áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong việc giúp đỡ HSYK học tốt môn Toán ở trường THPT tỉnh Lào Cai 31

1.4 Khái quát về Chương trình sách giáo khoa và chuẩn kiến thức môn Toán lớp 10 THPT 37

1.4.1 Đặc điểm chương trình sách giáo khoa lớp 10 37

1.4.2.Về nội dụng chương trình, mục tiêu dạy học môn Toán 10 (cơ bản) Trung học phổ thông 38

Kết luận chương 1 39

Chương 2 : MỘT SỐ BIỆN PHÁP ÁP DỤNG CÁC KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG VIỆC GIÚP ĐỠ HSYK HỌC TỐT MÔN TOÁN LỚP 10 THPT 40

2.1 Nguyên tắc xây dựng và thực hiện các biện pháp 40

2.1.1.Nguyên tắc 1 Tôn trọng cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 40

2.1.2.Nguyên tắc 2 Bám sát nội dung, chương trình sách giáo khoa toán 10 40

2.1.3.Nguyên tắc 3 Phù hợp với nhu cầu và khả năng học tập của học sinh 40

2.1.4.Nguyên tắc 4 Đảm bảo tính thực tiễn 40

2.1.5.Nguyên tắc 5 Đảm bảo tính khả thi 40

2.2 Một số biện pháp áp dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong việc giúp đỡ HSYK học tốt môn Toán lớp 10 41

2.2.1 Biện pháp 1: Tìm hiểu, phân loại và tiến hành dạy học bám sát đối tượng, lựa chọn một số kĩ thuật dạy học tích cực phù hợp với nội dung học tập và đối tượng là học sinh yếu kém tỉnh Lào Cai 41

2.2.2 Biện pháp 2: Sử dụng một số kĩ thuật dạy học hợp tác kết hợp với các ví dụ và tình huống thực tế để tăng cường tổ chức các hoạt động học tập nhằm gây hứng thú cho học sinh 50

2.2.3 Biện pháp 3:Lựa chọn các KTDH tích cực giúp khâu gợi đồng cơ, tổ chức cho học sinh học tập và luyện tập vừa sức Từ đó quan tâm phát hiện và sửa chữa sai lầm thường gặp cho học sinh yếu kém 58

2.2.4 Biện pháp 4: Sử dụng hệ thống câu hỏi đàm thoại, gợi mở nhằm tái hiện kiến thức cũ, phát hiện và lấp lỗ hổng kiến thức của học sinh thông qua những tình huống có vấn đề 73

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

v

2.2.5 Biện pháp 5: Áp dụng các KTDHTC giúp tổ chức học nhóm tự học để học sinh khá giỏi giúp đỡ học sinh yếu kém nhằm hình thành và nâng cao kĩ năng tự học cho

học sinh yếu kém 81

2.2.6 Biện pháp 6: Sử dụng KT lược đồ tư duy, hoạt động ngôn ngữ, các phương tiện hỗ trợ dạy học nhằm giúp học sinh yếu kém nắm vững hệ thống kiến thức, có cái nhìn tổng quan về một chủ đề 86

Kết luận chương 2 92

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 94

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 94

3.2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 94

3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 95

3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 106

3.4.1 Đánh giá về mặt định tính 106

3.4.2 Đánh giá về mặt định lượng 107

Kết luận chương 3 110

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 :Kết quả thi đầu vào hai môn Văn, Toán trong 3 năm gần đây 29

Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra khảo sát đầu năm lớp 10 môn Toán lớp 10 của học sinh hai lớp 10A1 và 10A3 trường THPT số 2 Mường Khương 94

Bảng 3.2: Kết quả tổng hợp của bài kiểm tra 45 phút theo đề số 1 107

Bảng 3.3: Kết quả tổng hợp của bài kiểm tra 45 phút theo đề số 2 108

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỀ KIỂM TRA Hình 3.1: Tỷ lệ phần trăm kết quả khảo sát môn Toán ở lớp 10 của học sinh hai lớp 10A1 và 10A3 trường THPT số 2 Mường Khương 95

Đề kiểm tra thực nghiệm số 1 ( Hình học 10) 96

Đề kiểm tra thực nghiệm số 2 ( Đại số 10) 101

Hình 3.2: Biểu đồ kết quả bài kiểm tra số 1 của hai lớp thực nghiệm và đối chứng 108

Hình 3.3: Biểu đồ kết quả bài kiểm tra số 1 của hai lớp thực nghiệm và đối chứng 109

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh

là yêu cầu tất yếu và cấp bách của Giáo dục Việt Nam Những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trên con đường tiến vào thế kỷ XXI bằng cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi phải đổi mới giáo dục Trong đó có việc đổi mới căn bản về phương pháp dạy và học, sớm tiếp cận trình độ giáo dục Phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên Thế giới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới, phục vụ các yêu cầu đa dạng của nền Kinh tế – Xã hội đang là vấn đề được xã hội hết sức quan tâm

Luật Giáo dục (2005), [8 ] trong điều 28, đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông

phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo cho học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS

Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội Vì vậy, hình thành và phát triển TTC trong học tập là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục Tính tích cực học tập - về thực chất

là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức TTC nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú

là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2

"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động

Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng PPDH tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao Thực tiễn giảng dạy nhiều năm tại trường THPT số 2 Mường Khương cho thấy: Đầu vào của phần lớn học sinh là học lực yếu đặc biệt là môn toán Với môn học này, còn nhiều em bị “rỗng” kiến thức, kĩ năng tính toán cơ bản rất yếu dẫn đến các em rất sợ học toán

Bên cạnh đó, do đặc trưng vùng miền, là một tỉnh miền núi vùng cao đồng bào ở nơi đây đa phần là dân tộc thiểu số, ít người, trình độ dân trí còn hạn chế, kinh tế còn nhiều khó khăn, dẫn đến họ chưa quan tâm nhiều đến con em mình HS phần lớn lại là lao động chính trong gia đình nên thời gian và điều kiện học hành còn thiếu thốn

Do hệ quả của phổ cập THCS, bệnh thành tích nên tỉ lệ học sinh ngồi nhầm chỗ là rất phổ biến Nhiều trường hợp học sinh vào THPT còn chưa đọc thông viết thạo, nhiều phép toán cộng, trừ, nhân, chia còn chưa thông thạo dẫn đến rất khó khăn cho việc tiếp cận kiến thức mới

Trước những thực trạng trên, chúng tôi nhận thấy: Cần có những kĩ thuật dạy học hợp lí để lấp “ lỗ hổng” kiến thức, trang bị kiến thức mới nhằm tạo sự tự tin cho

học sinh trong học tập môn toán và chúng tôi đã lựa chọn thực hiện đề tài: “Áp

dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán cho học sinh yếu kém lớp 10 tỉnh Lào Cai”

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3 Giả thuyết khoa học

Nếu xác định được rõ nguyên nhân dẫn đến học yếu kém môn Toán của học sinh và áp dụng hợp lí những kĩ thuật dạy học tích cực thì sẽ nâng cao được chất lượng học tập môn Toán của học sinh

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Toán 10 THPT

4.2 Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong việc giúp đỡ HSYK miền núi học tốt môn Toán lớp 10 THPT

4.3 Phạm vi nghiên cứu: Học sinh yếu kém môn Toán 10 THPT ở tỉnh miền núi Lao Cai

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu lý luận về Phương pháp dạy học tích cực và kĩ thuật dạy học tích cực

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc khắc phục tình trạng HSYK môn Toán THPT

- Điều tra hồ sơ, nhu cầu học tập môn toán của học sinh lớp 10 Khảo sát việc học môn Toán của HSYK lớp 10, các nguyên nhân học yếu kém Toán của HS và thực trạng giúp đỡ học sinh yếu kém môn Toán của các trường vùng núi tỉnh Lao Cai

- Đề xuất một số biện pháp sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực, góp phần giúp học sinh yếu kém tỉnh Lào Cai học tốt môn toán lớp 10

- Thiết kế một số giáo án minh họa cho việc sử dụng những kĩ thuật dạy học tích cực đã đề xuất

- Thực nghiệm sư phạm tại trường THPT số 2 Mường Khương nhằm kiểm nghiệm giả thuyết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu

- PP nghiên cứu lý luận : Tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu về các vấn đề liên

quan đến đề tài của luận văn

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

4

- PP quan sát, điều tra: Điều tra quan sát và phỏng vấn để tìm hiểu hồ sơ cá

nhân học sinh, thực trạng dạy và học toán THPT ở Lào Cai

-PP thực nghiệm sư phạm: Tiến hành dạy thực nghiệm và sử dụng pp thống kê

toán học để sử lí, đánh giá các số liệu thu được trong điều tra và thực nghiệm sư phạm

- PP nghiên cứu trường hợp: Tiến hành theo dõi và phân tích quá trình tiến

bộ của những trường hợp cụ thể, góp phần khẳng định tính hiệu quả của những biện pháp sư phạm đã đề xuất

- PP thống kê Toán học:Xử lí, đánh giá các số liệu thu được trong điều tra và

thử nghiệm sư phạm

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Một số biện pháp áp dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong việc giúp

đỡ HSYK học tốt môn toán lớp 10 thpt

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

5

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1.Quan niệm về dạy học môn toán theo định hướng tích cực

1.1.1 Quan niệm về học và dạy học

Học và dạy học là một vấn đề cơ bản của bất cứ nền giáo dục nào Một đất nước được gọi là nước có nền giáo dục phát triển phụ thuộc rất nhiều vào cách học

và dạy học trong tất cả các nhà trường, đặc biệt là ở nhà trường phổ thông Do đó, việc hiểu đúng bản chất của quá trình dạy học có ý nghĩa quan trọng trong định hướng cho sự phát triển nền giáo dục nước nhà Chính vì thế, điều trước tiên cho mỗi giáo viên là cần phải có những hiểu biết nhất định về dạy và học

Qua nghiên cứu, chúng ta thấy: dạy học có từ thời cổ đại Hy Lạp (tức là thế kỷ thứ V trước công nguyên) Người mở trường dạy học có bài bản đầu tiên là Platon (427- 347 trước CN) Ông mở trường tại khu rừng gần thành Aten Đây là khu rừng nhân dân Hy Lạp trồng để tưởng niệm thần Acađem, nên trường có tên là Acađêmi, về sau các viện Hàn lâm của các nước trên thế giới đều lấy tên là Acađêmic

Trước kia, Platon cho rằng: “Dạy học là một cách kích thích linh hồn” Quan niệm này xuất phát từ cơ sở triết học coi con người có hai phần: phần Thể xác (do tình yêu giữa cha và mẹ tạo ra) và phần Linh hồn (do Trời phái nhập vào) Linh hồn đầu tiên ở với thượng đế cho nên linh hồn am hiểu mọi chuyện Nhưng khi nhập vào thân xác dưới hạ giới, linh hồn quên hết Nhiệm vụ của người thầy là kích thích linh hồn đó nhớ lại những điều hiểu biết sâu sắc ngay từ kiếp trước Với quan niệm đó, người ta sinh ra ai cũng có thể giỏi được Họ không giỏi được là do thầy giáo chưa biết cách kích thích linh hồn họ Ảnh hưởng của quan niệm này đã dẫn đến nhiều ý kiến cho rằng: “Thầy nào, trò nấy!”

Càng ngày khoa học càng phát triển, con người càng chú ý nhiều đến năng lực nhận thức của bản thân mỗi cá nhân Khoa học đã chứng minh rằng, ngoài các yếu tố sinh học, chỉ số gen thông minh đã ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập của mỗi cá nhân Từ đó, cũng xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về dạy và học:

Quan niệm truyền thống cho rằng: Dạy là Thầy truyền thụ kiến thức cho Trò; còn Học là Trò lĩnh hội kiến thức của Thầy Quan niệm này đã theo suốt quá trình dạy học trong nhà trường phổ thông ở nước ta nhiều năm trước đây và càng ngày bộc

lộ nhược điểm của nó

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

6

Ngoài quan niệm truyền thống ở trên, còn có rất nhiều ý kiến khác nhau của các nhà khoa học về vấn đề này Xin đơn cử một số ý kiến:

* Ý kiến của GS Nguyễn Ngọc Quang- Trường ĐHSP I Hà Nội

- Học là hoạt động với đối tượng, trong đó học sinh là chủ thể, khái niệm khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh Học là quá trình tự giác tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên

- Dạy là điều khiển tối ưu hóa quá trình học sinh chiếm lĩnh khái niệm khoa học và bằng cách đó, phát triển hình thành nhân cách…

* Ý kiến của GS.TSKH Lâm Quang Thiệp

- Học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách chọn nhập và xử lý thông tin lấy từ môi trường xung quanh

- Dạy là việc giúp cho người học tự mình chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng

và hình thành hoặc làm biến đổi tình cảm, thái độ

* Quan điểm của thầy Lưu Xuân Mới

Trong sách Lý luận dạy học của chính tác giả viết: “Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức của học sinh, sinh viên”

Các quan điểm trên, tuy được trình bày dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều muốn khẳng định rằng, quá trình dạy học là một hệ vẹn toàn bao gồm nhiều thành tố luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng giữa hai hoạt động, của hai chủ thể Thầy

và Trò thông qua quá trình chuyển giao và tiếp nhận kiến thức

Các quan điểm trên đều có xu hướng muốn vượt qua quan điểm dạy học truyền thống,

vì cách dạy và học truyền thống không thể theo kịp trình độ và công nghệ dạy học thời đại

Với cách dạy học truyền thống thì trung tâm của quá trình giáo dục lại là người thầy Thầy cứ dạy những cái mà thầy có, thầy tâm đắc; còn người học trò lĩnh hội tri thức một cách thụ động nhờ đọc- chép- học thuộc lòng những bài thầy đã chuẩn bị như một mẫu có sẵn, nhiều lúc không cập nhật với thực tại đang sôi nổi diễn ra từng giờ, từng phút trong cuộc sống

Với cách học truyền thống, kiến thức người học thu nhận được không vững chắc nên dẫn đến khả năng vận dụng kiến thức của người học kém, ít linh hoạt và không sáng tạo

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

7

1.1.2 Quan niệm về dạy học tích cực

Theo TS Đặng Thành Hưng [15] “dạy học tích cực hay còn gọi là dạy học hướng vào người học, lấy chủ thể học sinh làm trung tâm được coi là thành tựu hiện đại của Âu- Mỹ” Thực ra, cách dạy học hướng vào người học đã có từ thời kỳ cổ đại Hy Lạp được thầy và trò Arixtốt thực hiện ở trường Acađêmi Phương pháp dạy học này được các ông gọi là “Vấn đáp pháp” Các ông rất ít khi tập trung sinh viên ở giảng đường lớn, mà thường dẫn từng tốp chuyên đề vừa đi dạo vừa đàm đạo theo cách: Thầy đặt câu hỏi, Trò đáp và ngược lại Cứ thế sôi nổi không bao giờ dứt, mọi vấn đề tranh luận đều được người học thấu hiểu một cách cặn kẽ Người đời gọi trường phái này là “Trường phái Tiêu dao” Nhờ phương pháp này mà thầy Platon

đã đào tạo ra trò Arixtốt- người được Mác gọi là: “Bộ óc bách khoa toàn thư của nhân loại thời cổ đại” Khi trở thành thầy, Arixtốt đã dạy học cho Alếchxăng Đại đế- một vị vua lừng danh thời cổ đại

Như thế, phương pháp dạy học tích cực có nguồn gốc từ thời xa xưa, bản thân

nó không phải là sản phẩm riêng của Âu- Mỹ mà là sản phẩm của nhân loại Chỉ có điều, khi đô thị phát triển, xã hội công nghiệp đòi hỏi đào tạo hàng loạt các trí thức cũng theo kiểu công nghiệp Việc mở trường ồ ạt vào thời Phục Hưng người ta đã quên mất cách dạy học theo kiểu của người xưa Ngày nay, nhờ có sự phát triển của công nghệ thông tin, người ta lại có điều kiện để tác động vào từng thành viên, người học hay còn gọi là “phương pháp cá biệt hóa người học” Như vậy, việc xem xét tường tận lịch sử sư phạm cho phép ta có cái nhìn biện chứng để tiếp thu có kế thừa mà không rơi vào phủ định sạch trơn những giá trị tốt đẹp của truyền thống và cũng tránh được thiếu sót kiểu

“cũ người mới ta”, tự nhận một phát kiến không phải của mình Xét toàn cục ta thấy, bản chất của dạy học tích cực là một quá trình người thầy biết tổ chức, điều khiển học sinh tự biến đổi những kinh nghiệm bên ngoài thành kinh nghiệm bên trong của các em, kèm theo khả năng biết vận dụng, sáng tạo

Nói một cách khác, chúng ta có thể coi: Dạy học tích cực là kiểu dạy học nhằm biến đổi chất lượng tư duy của người học theo hai hướng:

Từ tư duy đơn tuyến, sang đa tuyến (Complexus) theo chiều sâu

Từ tư duy thụ động, sang tư duy chủ động sáng tạo không ngừng

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

8

Muốn biến đổi chất lượng tư duy của người học theo hai hướng trên còn phụ thuộc vào tính chất và đặc điểm của từng môn học cụ thể Cho nên, giáo viên cần biết vận dụng linh hoạt trong dạy môn mình phụ trách

1.1.3 Quan niệm về dạy học môn Toán theo định hướng tích cực

Môn Toán là một khoa học được mệnh danh “nữ hoàng của trí tuệ”; vì thế dạy học Toán ở nhà trường phổ thông theo định hướng tích cực không còn đơn thuần là cung cấp kiến thức Toán học cho học sinh đã được quy định trong chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mà phải làm cho các em phát triển năng lực tư duy đặc trưng của Toán học

Đi vào cụ thể ta thấy: một tiết dạy học tích cực trong môn Toán là một tiết dạy phải cuốn hút được sự chú ý, say mê học tập của học sinh Thông qua tổ chức hoạt động Toán học, học sinh có thể chủ động khám phá bản chất của các khái niệm, định lý, tính chất Toán học dưới sự hướng dẫn của thầy cô để chuyển thành kiến thức của chính mình; từ đó tự hình thành năng lực và phẩm chất Toán học cho bản thân Quá trình này được tiến hành theo từng bước sau:

- Học sinh đóng vai trò chủ động tự mình khám phá và xây dựng kiến thức lý thuyết mới

- Biết vận dụng kiến thức Toán học vào tự giải bài tập, các tình huống thực tiễn liên quan đến Toán học

- Biết sắp xếp các kiến thức Toán đã được học thành một hệ thống

- Thông qua hoạt động giải toán, học sinh có thể tự mình tổng kết các dạng bài tập và phương pháp giải cho từng dạng toán

- Có khả năng hợp tác làm việc nhóm, biết phân tích, tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của mình và của các bạn cùng lớp

Ngoài ra, để thực thi một tiết dạy học Toán theo định hướng tích cực, người giáo viên còn phải biết vận dụng những thành quả của công nghệ thông tin vào bài giảng của mình một cách hợp lý Có rất nhiều công cụ, phần mềm hỗ trợ trong việc giảng dạy Toán như sketchpad, cabri…Nếu giáo viên biết sử dụng, khai thác hiệu quả trong bài dạy thì sẽ kích thích rất tốt tư duy trực quan hình tượng, khắc sâu kiến thức cho học sinh, tăng hiệu quả bài dạy

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

9

1.2 Một số phương pháp dạy học tích cực

1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Chất lượng dạy học phụ thuộc vào nhiều thành tố trong một hệ thống bao gồm: Mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, PPDH, thầy và hoạt động của thầy, trò và hoạt động của trò, môi trường giáo dục… Trong đó PPDH là thành tố trung tâm, giáo viên phải am hiểu sâu sắc nội dung dạy học, làm chủ kiến thức, biết chế biến nó theo ý đồ sư phạm và biết cách truyền tải nó đến với học sinh Mặt khác học sinh là chủ thể trong học tập và tu dưỡng Chủ thể phải tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo trong quá trình học tập

Đổi mới PPDH cần phải được xác định như một trách nhiệm cụ thể của toàn thể giáo viên, học sinh, cán bộ quản lý và cán bộ phục vụ giáo dục trong nhà trường, chứ không phải chỉ là việc riêng của giáo viên đứng lớp, mặc cho họ là những người trực tiếp

tổ chức tiến hành và điều khiển từng bài học, tiết học, lớp học với học sinh của mình

Việc đổi mới PPDH rất nên coi trọng, tuy nhiên không vì thế mà luôn bị ám ảnh dẫn đến nặng nề trong công tác chuyên môn và đời sống thường ngày ở trường,

ở tổ chuyên môn Đổi mới PPDH với mục tiêu gần gũi là chuyển học sinh từ học thụ động sang học chủ động, tích cực là một quá trình đòi hỏi sự nỗ lực, kiên trì và cả sự dũng cảm của mỗi cán bộ, giáo viên Không vì chạy theo thành tích mà làm vội, làm

ẩu, nhìn vào đổi mới để làm những công việc không đáng phải làm Việc đổi mới vừa có thể diễn ra đồng loạt, vừa có thể bắt đầu trọng điểm từ những yếu tố cốt lõi, tiền đề, có thể diễn ra trong toàn thể giáo viên, nhưng cũng có thể bắt đầu từ một số giáo viên có năng lực và kinh nghiệm dạy học, sau đó mở rộng dần

Việc sử dụng công nghệ thông tin chỉ là một trong những biện pháp đổi mới PPDH Công nghệ thông tin cũng chỉ là một loại phương tiện dạy học Việc sử dụng chúng đạt hiệu quả hay không, có tác dụng thiết thực đến đổi mới PPDH hay không tùy thuộc vào cách dạy của từng giáo viên cụ thể Nếu sử dụng loại phương tiện hiện đại này để thuyết trình bài học, thay cho việc ghi bảng của giáo viên thì vẫn là cách dạy cũ làm cho học sinh thụ động trong học tập Việc sử dụng công nghệ thông tin

để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập, thông qua tổ chức hợp lý hoạt động nhận thức của học sinh là biện pháp đẩy nhanh việc đổi mới PPDH

ở trường phổ thông, nâng cao chất lượng bài học

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

10

Đổi mới PPDH là nhu cầu tất yếu của giáo viên, bởi vì đổi mới là sự cải tiến, nâng cao chất lượng PPDH đang sử dụng để đóng góp nâng cao chất lượng hiệu quả của việc dạy học, là sự bổ sung, phối hợp nhiều PPDH để khắc phục mặt hạn chế của phương pháp đã và đang sử dụng nhằm đạt mục tiêu dạy học, là thay đổi phương pháp đã và đang sử dụng bằng phương pháp ưu việt hơn, đem lại hiệu quả dạy học cao hơn Vì thế, đổi mới PPDH được xác định trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chỉ đạo triển khai nhằm đáp ứng yêu cầu của mục tiêu và nội dung giáo dục mới

1.2.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trung học phổ thông

Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII (01/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (12/1996), được thể chế hoá trong Luật Giáo dục, được cụ thể hoá trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4 - 1999)

PPDH hiện nay không thể tiếp tục truyền thụ theo kiểu áp đặt một chiều từ người dạy mà phải sử dụng phương pháp dạy tích cực, phát huy tính tích cực của học sinh Đó là đổi mới PPDH còn được gọi là “Dạy học hướng vào người học” hay “Dạy lấy người học làm trung tâm”

“Dạy học hướng vào người học” là cụm từ được dùng để xác định sự đổi mới của PPDH hiện nay trong nhà trường Đó là tư tưởng, là sự định hướng cho dạy và học, phương pháp mới này khuyến khích học sinh tự học hỏi, tự phát hiện kiến thức, giáo viên đóng vai trò hướng dẫn

* Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học

a) Cải tiến các PPDH truyền thống

Các PPDH truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập luôn là những phương pháp quan trọng trong dạy học Đổi mới PPDH không có nghĩa là loại bỏ các PPDH truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Để nâng cao hiệu quả của các PPDH này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dung thành thạo các kĩ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, chẳng hạn như kĩ thuật mở bài, kĩ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kĩ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kĩ thuật làm mẫu trong

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

11

luyện tập Tuy nhiên, các PPDH truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các PPDH truyền thống cần kết hợp sử dụng các PPDH mới, đặc biệt là những phương pháp và kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh Chẳng hạn có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề

b) Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học

Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung dạy học Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhựơc điểm

và giới hạn sử dụng riêng Vì vậy việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học

c) Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề (hay còn là dạy học nêu vấn đề; dạy học nhận biết

và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề Học sinh được đặt trong một tình huống có vấn

đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn

đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức Dạy học giải quyết vấn đềlà con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh,

có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh

d) Vận dụng dạy học theo tình huống

Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống

và nghề nghiệp Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối tương tác xã hội của việc học tập

e) Vận dụng dạy học định hướng hành động

Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau Trong quá trình học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động,

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

12

có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân Đây là một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội

f) Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin trong dạy học

Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới PPDH, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học Việc sử dụng các phương tiện dạy học cần phù hợp với mối quan hệ giữa phương tiện dạy học và PPDH, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường học được tăng cường Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự tạo của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy

g) Sử dụng các kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo

Kĩ thuật dạy học là những cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các KTDH là những đơn vị nhỏ nhất của PPDH Có những KTDH chung,

có những kĩ thuật đặc thù của từng PPDH, ví dụ kĩ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các KTDH phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”, “viết tích cực”,

"khăn phủ bàn", “3 lần 3”

h) Tăng cường các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn

Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học Vì vậy bên cạnh những phương pháp chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn khác nhau thì việc sử dụng các PPDH đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn Các PPDH đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn Ví dụ các PPDH học trong dạy học kĩ thuật như trình diễn vật phẩm kĩ thuật, làm mẫu thao tác, phân tích sản phẩm kĩ thuật, thiết kế kĩ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án trong dạy học kĩ thuật Thí nghiệm là một PPDH đặc thù quan trọng của các môn khoa học

tự nhiên Dạy Giải bài tập là PPDH đặc thù của bộ môn Toán

i) Bồi dưỡng phương pháp học tập cho học sinh

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

13

Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh Có những phương pháp nhận thức chung như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập trong bộ môn

j) Cải tiến việc kiểm tra đánh giá

Đổi mới PPDH cần gắn liền với đổi mới về đánh giá quá trình dạy học cũng như đổi mới việc kiểm tra và đánh giá thành tích học tập của học sinh Cần bồi dưỡng cho học sinh những kĩ thuật thông tin phản hồi nhằm tạo điều kiện cho học sinh tham gia đánh giá và cải tiến quá trình dạy học

Định hướng chung về đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, tự học, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo hứng thú học tập cho học sinh, tận dụng được công nghệ mới nhất; khắc phục lối dạy truyền thống truyền thụ một chiều các kiến thức có sẵn Rất cần phát huy cao năng lực tự học, học tập suốt đời trong thời đại bùng nổ thông tin Tăng cường học tập cá thể phối hợp với hợp tác Định hướng vào người học được coi là quan điểm định hướng chung trong đổi mới PPDH Quan điểm định hướng chung cần được cụ thể hoá thông qua những quan điểm dạy học khác, như dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo tình huống, dạy học định hướng hành động cũng như các phương pháp, kĩ thuật dạy học cụ thể, nhằm tăng cường hơn nữa việc gắn

lí thuyết với thực tiễn, tư duy với hành động, nhà trường với xã hội Đổi mới PPDH được thực hiện theo các định hướng sau: Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông; phù hợp với nội dung dạy học cụ thể; phù hợp với lứa tuổi học sinh; phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy học của nhà trường; phù hợp với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy - học; kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các PPDH truyền thống; tăng cường sử

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Mô hình:

- Bình diện vĩ mô là quan điểm về PPDH Ví dụ: Dạy học hướng vào người

học, dạy học phát huy tính tích cực của HS,…

Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, những cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của GV và HS trong quá trình dạy học Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của PPDH

- Bình diện trung gian là PPDH cụ thể Ví dụ: phương pháp vấn đáp, phương pháp dạy học và giải quyết vấn đề, thảo luận, nghiên cứu trường hợp điển hình, xử lí tình huống, trò chơi, …

Ở bình diện này khái niệm PPDH được hiểu với nghĩa hẹp, là những hình thức, cách thức hành động của GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể

PPDH cụ thể quy định những mô hình hành động của GV và HS

KTDH PPDH(nghĩa hẹp)

QĐDH

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

15

Trong mô hình này thường không có sự phân biệt giữa PPDH và hình thức dạy học (HTDH) Các hình thức tổ chức hay hình thức xã hội (như dạy học theo nhóm) cũng được gọi là các PPDH

- Bình diện vi mô là Kĩ thuật dạy học Ví dụ: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật các mảnh ghép, kĩ thuật hỏi chuyên gia, kĩ thuật hoàn tất một nhiệm vụ,

Kĩ thuật dạy học (KTDH) là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học

Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH

Ví dụ, trong phương pháp thảo luận nhóm có các kĩ thuật dạy học như: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật các mảnh ghép,

Tóm lại, quan điểm dạy học là khái niệm rộng, định hướng cho việc lựa chọn

các PPDH cụ thể Các PPDH là khái niệm hẹp hơn, đưa ra mô hình hành động KTDH là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện các tình huống hành động

Một số lưu ý:

- Mỗi quan điểm dạy học có những PPDH cụ thể phù hợp với nó; mỗi PPDH

cụ thể có các KTDH đặc thù Tuy nhiên, có những PPDH cụ thể phù hợp với nhiều quan điểm dạy học, cũng như có những KTDH được sử dụng trong nhiều PPDH khác nhau (Ví dụ: kĩ thuật đặt câu hỏi được dùng cho cả phương pháp đàm thoại và phương pháp thảo luận)

- Việc phân biệt giữa PPDH và KTDH chỉ mang tính tương đối, nhiều khi

không rõ ràng Ví dụ, động não (Brainstorming) có trường hợp được coi là phương

pháp, có trường hợp lại được coi là một KTDH

- Có những PPDH chung cho nhiều môn học, nhưng có những PPDH đặc thù của từng môn học hoặc nhóm môn học

- Có thể có nhiều tên gọi khác nhau cho một PPDH hoặc KTDH Ví dụ:

Brainstorming có người gọi là động não, có người gọi là công não hoặc tấn công não,

Dưới đây chúng tôi xin trình bày một số PPDH và KTDH có ưu thế trong việc phát huy tính tích cực học tập của HS (kể cả HSYK, thường gọi tắt là PPDH , KTDH

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:

- Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức

đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Vấn đáp tái hiện không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học

- Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào

đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn

- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của sự

trình bày và đánh giá trước toàn lớp

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

17

Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của HS

* Quy trình thực hiện

Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành 3 giai đoạn cơ bản:

a Làm việc toàn lớp : Nhập đề và giao nhiệm vụ

- Thoả thuận quy tắc làm việc

- Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ

- Chuẩn bị báo cáo kết quả

c Làm việc toàn lớp: Trình bày kết quả, đánh giá

- Các nhóm trình bày kết quả

- Đánh giá kết quả

* Một số lưu ý

Có rất nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên áp

dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học Số lượng HS/1 nhóm nên từ 4- 6 HS

Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau, hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ

khác nhau, là các phần trong một chủ đề chung

Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, luyện tập, củng cố một chủ đề đã

học hoặc cũng có thể tìm hiểu một chủ đề mới

Các câu hỏi kiểm tra dùng cho việc chuẩn bị dạy học nhóm:

- Chủ đề có hợp với dạy học nhóm không?

- Các nhóm làm việc với nhiệm vụ giống hay khác nhau?

- HS đã có đủ kiến thức điều kiện cho công việc nhóm chưa?

- Cần trình bày nhiệm vụ làm việc nhóm như thế nào?

- Cần chia nhóm theo tiêu chí nào?

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

18

- Cần tổ chức phòng làm việc, kê bàn ghế như thế nào?

c Phương pháp giải quyết vấn đề

* Bản chất

Dạy học (DH) phát hiện và giải quyết vấn đề (GQVĐ) là PPDH đặt ra trước HS các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tình huống có vấn đề , kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề

* Quy trình thực hiện

- Xác định, nhận dạng vấn đề/tình huống;

- Thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề/tình huống đặt ra;

- Liệt kê các cách giải quyết có thể có ;

- Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết ( tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị);

- So sánh kết quả các cách giải quyết ;

- Lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất;

- Thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn;

- Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác

* Một số lưu ý

+ Các vấn đề/ tình huống đưa ra để HS xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầu sau:

- Phù hợp với chủ đề bài học

- Phù hợp với trình độ nhận thức của HS

- Vấn đề/ tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của HS

- Vấn đề/ tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp

cả hai kênh chữ và kênh hình hay qua tiểu phẩm đóng vai của HS

- Vấn đề/ tình huống cần có độ dài vừa phải

- Vấn đề/ tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề

+Tổ chức cho HS giải quyết, xử lí vấn đề/ tình huống cần chú ý:

- Các nhóm HS có thể giải quyết cùng một vấn đề/ tình huống hoặc các vấn đề/ tình huống khác nhau, tuỳ theo mục đích của hoạt động

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

19

- HS cần xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giải quyết vấn đề

- Cần sử dụng phương pháp động não để HS liệt kê các cách giải quyết có thể có

- Cách giải quyết tối ưu đối với mỗi HS có thể giống hoặc khác nhau

d Phương pháp trò chơi

* Bản chất

Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề hay thể

nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi nào đó

*Quy trình thực hiện

- GV phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi cho HS

- Chơi thử ( nếu cần thiết)

- HS tiến hành chơi

- Đánh giá sau trò chơi

- Thảo luận về ý nghĩa giáo dục của trò chơi

* Một số lưu ý

- Trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, phải phù hợp với chủ đề bài học, với đặc điểm và trình độ HS, với quỹ thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của lớp học, đồng thời phải không gây nguy hiểm cho HS

- HS phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi

- Phải quy định rõ thời gian, địa điểm chơi

- Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện cho HS tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu: từ chuẩn bị, tiến hành trò chơi và đánh giá sau khi chơi

- Trò chơi phải được luân phiên, thay đổi một cách hợp lí để không gây nhàm chán cho HS

- Sau khi chơi, giáo viên cần cho HS thảo luận để nhận ra ý nghĩa giáo dục của trò chơi

e Dạy học theo dự án ( Phương pháp dự án)

* Bản chất

nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

20

đến việc thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện dự án Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm Kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được

+ Thu thập thông tin

+ Thực hiện điều tra

+ Thảo luận với các thành viên khác

+ Tham vấn giáo viên hướng dẫn

Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của HS

HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân

Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp

Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm

- Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt

- Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to, không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp

-Phân loại ý kiến

- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý

1.2.3.3 Một số kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh KT1: Kĩ thuật chia nhóm

Khi tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm, GV nên sử dụng nhiều cách chia nhóm khác nhau để gây hứng thú cho HS, đồng thời tạo cơ hội cho các em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp Dưới đây là một số cách chia nhóm:

* Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm,…:

- GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6 (tùy theo số nhóm GV muốn có là 4,5 hay 6 nhóm, ); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng, ); hoặc điểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc, ); hay điểm danh theo các mùa (xuân,

hạ, thu, đông, )

- Yêu cầu các HS có cùng một số điểm danh hoặc cùng một mầu/cùng một loài hoa/cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm

* Chia nhóm theo hình ghép

- GV cắt một số bức hình ra thành 3/4/5 mảnh khác nhau, tùy theo số HS muốn

có là 3/4/5 HS trong mỗi nhóm Lưu ý là số bức hình cần tương ứng với số nhóm

mà GV muốn có

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

22

- HS bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt

- HS phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm hình hoàn chỉnh

- Những HS có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm

* Chia nhóm theo sở thích

GV có thể chia HS thành các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới các hình thức phù hợp với sở trường của các em Ví dụ: Nhóm Họa sĩ, Nhóm Nhà thơ, Nhóm Hùng biện,

* Chia nhóm theo tháng sinh: Các HS có cùng tháng sinh sẽ làm thành một nhóm Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: nhóm cùng trình độ, nhóm hỗn hợp, nhóm theo giới tính,

KT2: Kĩ thuật giao nhiệm vụ

- Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:

+ Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?

+ Nhiệm vụ là gì?

+ Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?

+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?

+ Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?

+ Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?

+ Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?

- Nhiệm vụ phải phù hợp với: mục tiêu hoạt động, trình độ HS, thời gian, không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị

KT3: Kĩ thuật đặt câu hỏi

mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết quả học tập của HS; HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS khác về những ND bài học chưa sáng tỏ

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

23

Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS - GV và HS -

HS Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học tập tích cực hơn

Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để:

- Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo đ/k cho HS tham gia vào quá trình dạy học

- Kiểm tra, đánh giá KT, KN của HS và sự quan tâm, hứng thú của các em đối với

ND học tập

- Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức

Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học

- Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu

- Đúng lúc, đúng chỗ

- Phù hợp với trình độ HS

- Kích thích suy nghĩ của HS

- Phù hợp với thời gian thực tế

- Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

- Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xính

- Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc

KT4: Kĩ thuật khăn trải bàn

- HS được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Mỗi nhóm sẽ có một tờ giấy A0 đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn

- Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của nhóm ( 4 hoặc 6 người.)

- Mỗi thành viên sẽ suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình ( về một vấn đề nào đó

mà GV yêu cầu) vào phần cạnh “khăn trải bàn” trước mặt mình Sau đó thảo luận nhóm, tìm ra những ý tưởng chung và viết vào phần chính giữa “khăn trải bàn”

KT5: Kĩ thuật phòng tranh

Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm

- GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

24

- Mỗi thành viên ( hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh

- HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung

- Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương

án tối ưu

KT6: Kĩ thuật công đoạn

- HS được chia thành các nhóm, mỗi nhóm được giao giải quyết một nhiệm vụ khác nhau Ví dụ: nhóm 1- thảo luận câu A, nhóm 2- thảo luận câu B, nhóm 3- thảo luận câu C, nhóm 4- thảo luận câu D,…

- Sau khi các nhóm thảo luận và ghi kết quả thảo luận vào giấy A0 xong, các nhóm sẽ luân chuyển giáy AO ghi kết quả thảo luận cho nhau Cụ thể là: Nhóm 1 chuyển cho nhóm 2, Nhóm 2 chuyển cho nhóm 3, Nhóm 3 chuyển cho nhóm 4, Nhóm 4 chuyển cho nhóm 1

- Các nhóm đọc và góp ý kiến bổ sung cho nhóm bạn Sau đó lại tiếp tục luân chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác để góp ý

- Cứ như vậy cho đến khi các nhóm đã nhận lại được tờ giấy A0 của nhóm mình cùng với các ý kiến góp ý của các nhóm khác Từng nhóm sẽ xem và xử lí các ý kiến của các bạn để hoàn thiện lại kết quả thảo luận của nhóm Sau khi hoàn thiện xong, nhóm sẽ treo kết quả thảo luận lên tường lớp học

KT7: Kĩ thuật các mảnh ghép

- HS được phân thành các nhóm, sau đó GV phân công cho mỗi nhóm thảo

luận, tìm hiểu sâu về một vấn đề của bài học Chẳng hạn: nhóm 1- thảo luận vấn đề

A, nhóm 2- thảo luận vấn đề B, nhóm 3- thảo luận vấn đề C, nhóm 4- thảo luận thảo luận vấn đề D,…

- HS thảo luận nhóm về vấn đề đã được phân công

- Sau đó, mỗi thành viên của các nhóm này sẽ tập hợp lại thành các nhóm mới, như vậy trong mỗi nhóm mới sẽ có đủ các “chuyên gia” về vấn đề A, B, C, D, và mỗi “ chuyên gia” về từng vấn đề sẽ có trách nhiệm trao đổi lại với cả nhóm về vấn

đề mà em đã có cơ hội tìm hiểu sâu ở nhóm cũ

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

25

KT8: Kĩ thuật động não

Động não là kĩ thuật giúp cho HS trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng ( nhằm tạo ra cơn lốc các ý tưởng)

Động não thường được:

- Dùng trong giai đoạn giới thiệu vào một chủ đề

- Sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn đề

- Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau

Động não có thể tiến hành theo các bước sau :

- Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề ( có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm

- Khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt

- Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp

- Phân loại các ý kiến

Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:

- Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn

đề gì là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?

- HS suy nghĩ và viết ra giấy Các câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình thức khác nhau

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- GV nêu chủ đề cần thảo luận

- Chia HS thành các nhóm 3 người và yêu cầu HS thảo luận trong vòng 10 phút về những gì mà các em biết về chủ đề này

- HS thảo luận nhóm và chọn ra 3 điểm quan trọng nhất để trình bày với cả lớp

- Mỗi nhóm sẽ cử một đại diện lên trình bày về cả 3 điểm nói trên

KT11: Kĩ thuật “ Hỏi và trả lời”

Đây là KTDH giúp cho HS có thể củng cố, khắc sâu các kiến thức đã học thông qua việc hỏi và trả lời các câu hỏi

Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:

KT12: Kĩ thuật “Hỏi Chuyên gia”

- HS xung phong (hoặc theo sự phân công của GV) tạo thành các nhóm

“chuyên gia” về một chủ đề nhất định

- Các ”chuyên gia” nghiên cứu và thảo luận với nhau về những tư liệu có liên quan đến chủ đề mình được phân công

- Nhóm ”chuyên gia” lên ngồi phía trên lớp học

- Một em trưởng nhóm ”chuyên gia” (hoặc GV) sẽ điều khiển buổi “tư vấn”, mời các bạn HS trong lớp đặt câu hỏi rồi mời ”chuyên gia” giải đáp, trả lời

KT13: Kĩ thuật “Lược đồ Tư duy”

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

27

hay kết quả làm việc của cá nhân/ nhóm về một chủ đề

- Viết tên chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm

- Từ chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm, vẽ các nhánh chính, trên mỗi nhánh chính viết một nội dung lớn của chủ đề hoặc các ý tưởng có liên quan xoay quanh ý tưởng trung tâm nói trên

- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó

- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo

KT14: Kĩ thuật ”Hoàn tất một nhiệm vụ”

- GV đưa ra một câu chuyện/một vấn đề/một bức tranh/một thông điệp/ mới chỉ được giải quyết một phần và yêu cầu HS/nhóm HS hoàn tất nốt phần còn lại

- HS/nhóm HS thực hiện nhiệm vụ được giao

- HS/ nhóm HS trình bày sản phẩm

- GV hướng dẫn cả lớp cùng bình luận, đánh giá

Lưu ý: GV cần hướng dẫn HS cẩn thận và cụ thể để các em hiểu được nhiệm vụ của

mình Đây là một hoạt động tốt giúp các em đọc lại những tài liệu đã học hoặc đọc các tài liệu theo yêu cầu của giáo viên

KT15: Kĩ thuật “Viết tích cực”

- Trong quá trình thuyết trình, GV đặt câu hỏi và dành thời gian cho HS tự do viết câu trả lời GV cũng có thể yêu cầu HS liệt kê ngắn gọn những gì các em biết về chủ đề đang học trong khoảng thời gian nhất định

- GV yêu cầu một vài HS chia sẻ nội dung mà các em đã viết trước lớp

Kĩ thuật này cũng có thể sử dụng sau tiết học để tóm tắt nội dung đã học, để phản hồi cho GV về việc nắm kiến thức của HS và những chỗ các em còn hiểu sai

KT16: Kĩ thuật ”đọc hợp tác” (còn gọi là đọc tích cực)

Kĩ thuật này nhằm giúp HS tăng cường khả năng tự học và giúp GV tiết kiệm thời gian đối với những bài học/phần đọc có nhiều nội dung nhưng không quá khó đối với HS

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

28

Cách tiến hành như sau:

- GV nêu câu hỏi/yêu cầu định hướng HS đọc bài/phần đọc

- HS làm việc cá nhân:

+ Đoán trước khi đọc: Để làm việc này, HS cần đọc lướt qua bài đọc/phần đọc

để tìm ra những gợi ý từ hình ảnh, tựa đề, từ/cụm từ quan trọng

+ Đọc và đoán nội dung : HS đọc bài/phần đọc và biết liên tưởng tới những gì mình đã biết và đoán nội dung khi đọc những từ hay khái niệm mà các em phải tìm ra

+ Tìm ý chính: HS tìm ra ý chính của bài/phần đọc qua việc tập trung vào các

ý quan trọng theo cách hiểu của mình

+ Tóm tắt ý chính

- HS chia sẻ kết quả đọc của mình theo nhóm 2, hoặc 4 và giải thích cho nhau thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau ý chính của bài/phần đọc đọc

- HS nêu câu hỏi để GV giải đáp (nếu có)

Lưu ý: Một số câu hỏi GV thường dùng để giúp HS tóm tắt ý chính:

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sống trên 1 thành phố và 8 huyện Lào cai có 25 dân tộc, trong đó người kinh chiếm

tỉ lệ ít còn đại đa số là người dân tộc thiểu số

Với điều kiện kinh tế khó khăn, ngân sách đầu tư cho giáo dục còn hạn chế nên chất lượng giáo dục còn thấp Về hệ thống các trường THPT, Lào Cai

có 24 trường THPT, 01 trường Chuyên, 02 trường THPT Dân tộc nội trú

Một số trường có cơ sở vật chất và số lượng GV tương đối đầy đủ, còn đa số các trường thiếu về cơ sở vật chất, đội ngũ GV thiếu về số lượng và chất lượng chưa cao Chất lượng HS còn thấp và chưa đồng đều giữa các huyện

Thống kê chất lượng thi đầu vào lớp 10 toàn tỉnh Lào Cai trong 3 năm gần đây chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 1.1 :Kết quả thi đầu vào hai môn Văn, Toán trong 3 năm gần đây

bài

Số bài trên trung bình

Tỉ lệ (%)

Số bài bị điểm liệt (0 điểm)

Tỉ lệ (%)

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

30

Qua số liệu thi đầu vào hai môn Văn, Toán của 3 năm học cho thấy: Chất lượng đầu vào của các trường THPT tỉnh Lào Cai là rất thấp, tỉ lệ HS đạt điểm yếu, kém là trên 70%, hơn nữa số bài bị điểm 0 chiếm tỉ lệ rất cao nhất là trong 2 năm gần đây Thực tế trên đòi hỏi ngành giáo dục tỉnh Lào Cai cần nỗ lực hết sức để nâng cao chất lượng giáo dục THPT

Qua phiếu điều tra khảo sát và thực tiễn dạy học của bản thân cho thấy, chất lượng đại trà của HS còn yếu Số HS tự mình tiếp thu và giải được các bài toán không nhiều, hầu hết HS còn yếu các kĩ năng kiến tạo kiến thức (yếu về định hướng giải toán, yếu về kĩ năng chuyển đổi bài toán, kĩ năng chuyển đổi ngôn ngữ, kĩ năng phát hiện vấn đề để giải quyết vấn đề, ) Đa số HS chưa biết phương pháp học, nên hiệu quả học tập trong nhà trường là chưa cao Kỹ năng ghi chép và nhớ còn “ngự trị”, “lấn át” những kỹ năng khác như: Tự đọc, tự suy nghĩ, tìm tòi, tự tóm lược, … Điều này ảnh hưởng rất lớn tới việc học ở những bậc học cao hơn Có đến 80% HS chỉ học thuộc lòng những gì GV cho ghi trong vở và những định nghĩa

ở SGK, chỉ khoảng 10% HS tự giác làm bài tập ở sách bài tập và sách tham khảo, 70% HS chỉ làm những bài tập dễ ở SGK, 20% HS hầu như không làm bài tập ở nhà

HS còn lười suy nghĩ, chưa tích cực tư duy hoạt động trí não tìm tòi phát hiện vấn đề

và giải quyết vấn đề, tiếp thu kiến thức một cách thụ động nên dễ quên, không vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào giải toán HS chưa có thói quen tư duy tìm tòi, sáng tạo, khai thác các vấn đề mới từ những cái đã biết, đã học Có khoảng 30% HS chú ý nghe giảng, suy nghĩ, tích cực phát biểu, xây dựng bài, 55% chủ yếu chỉ nghe giảng và ít khi phát biểu, 15% không chú ý nghe giảng

Đa số HS (70%) cho rằng Toán học là môn học trừu tượng, khó hiểu, phải học

là do bắt buộc nên không hứng thú học tập

Bên cạnh đó một bộ phận GV còn chưa cố gắng đổi mới phương pháp, chưa thực sự yêu nghề và tâm huyết với nghề Chưa xây dựng được hứng thú học tập cho

HS, chưa biết cách tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp với các đối tượng HS

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

31

1.3.2 Thực trạng áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong việc giúp đỡ HSYK học tốt môn Toán ở trường THPT tỉnh Lào Cai

1.3.2.1 Về tình hình và nguyên nhân yếu kém môn toán ở trường phổ thông

Qua tìm hiểu thực tế việc giảng dạy môn Toán ở THPT, thông qua hình thức

dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp, Chúng tôi có một số nhận xét như sau:

Giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc lựa chọn phương pháp dạy học chủ đạo trong mỗi tình huống điển hình (sử dụng phương pháp thuyết trình để dạy khái niệm, tìm tòi nêu vấn đề để dạy định lí, )

Tuy nhiên, cũng còn phổ biến tình trạng giáo viên chưa chú trọng khai thác

và sử dụng những phương pháp dạy học tích cực để lôi cuốn đông đảo học sinh có trình độ khác nhau vào quá trình dạy học Đặc biệt là chưa khuyến khích và giúp đỡ được học sinh yếu kém, chưa khai thác được những tri thức và những kỹ năng riêng biệt của từng học sinh, phân bậc chưa tốt nhiệm vụ, bài tập về nhà cho chưa phù hợp với từng đối tượng học sinh,

Mặc dù tri thức toán, tri thức phương pháp được hình thành và tích luỹ ở người học trong thời gian dài theo cung bậc từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Nhưng sự tích luỹ này lại không đồng đều cho từng đối tượng học sinh Chính

vì vậy, những học sinh yếu kém về tri thức Toán, tri thức phương pháp rất cần đến

sự dẫn dắt, chỉ bảo của người giáo viên để các em dần dần xoá đi những lực cản trong quá trình tiếp thu kiến thức Toán của các em chúng tôi đã tìm hiểu thực tế giảng dạy Toán ở THPT thông qua hình thức dự giờ thăm lớp; trao đổi với đồng nghiệp trong tổ, nhóm chuyên môn; rộng hơn nữa là qua những lần tham gia các cuộc hội thảo, các lớp bồi dưỡng chuyên môn do các cấp (Sở Giáo dục và đào tạo,

Bộ Giáo dục và Đào tạo) tổ chức, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng học sinh yếu kém toán

Có thể xem xét các nguyên nhân từ một số khía cạnh như sau:

- Về điều kiện xã hội

Tình hình kinh tế xã hội ở nước ta có nhiều biến đổi dẫn đến nhu cầu về vật chất, tinh thần của mỗi người ngày một cao Bên cạnh mặt tích cực chiếm ưu thế thì hiện tượng tiêu cực vẫn còn len lỏi đâu đó trong cuộc sống của mỗi người, trong đó

có học sinh THPT ở lứa tuổi vị thành niên, HS tuy rất nhạy bén ưa chuộng cái mới,

Ngày đăng: 25/08/2015, 10:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức A - Áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán cho học sinh yếu kém lớp 10 tỉnh lào cai
Hình th ức A (Trang 64)
Hình 2.3. Quỹ đạo quả bóng - Áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán cho học sinh yếu kém lớp 10 tỉnh lào cai
Hình 2.3. Quỹ đạo quả bóng (Trang 66)
Hình 3.4. Quỹ đạo tàu vũ trụ - Áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán cho học sinh yếu kém lớp 10 tỉnh lào cai
Hình 3.4. Quỹ đạo tàu vũ trụ (Trang 67)
Hình 3.5. Nửa đường tròn đơn vị - Áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán cho học sinh yếu kém lớp 10 tỉnh lào cai
Hình 3.5. Nửa đường tròn đơn vị (Trang 73)
Bảng 1: Bảng kế hoạch học tập mẫu - Áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán cho học sinh yếu kém lớp 10 tỉnh lào cai
Bảng 1 Bảng kế hoạch học tập mẫu (Trang 93)
Hình 2.6: Bản đồ tƣ duy bài “Vec tơ” - Áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán cho học sinh yếu kém lớp 10 tỉnh lào cai
Hình 2.6 Bản đồ tƣ duy bài “Vec tơ” (Trang 98)
Hình 2.7: Bản đồ tƣ duy bài “Phép đồng dạng” - Áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán cho học sinh yếu kém lớp 10 tỉnh lào cai
Hình 2.7 Bản đồ tƣ duy bài “Phép đồng dạng” (Trang 100)
Hình 2.9: Bản đồ tƣ duy: “Minh họa việc tìm lời giải bài toán” - Áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán cho học sinh yếu kém lớp 10 tỉnh lào cai
Hình 2.9 Bản đồ tƣ duy: “Minh họa việc tìm lời giải bài toán” (Trang 101)
Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra khảo sát đầu năm lớp 10  môn Toán  lớp 10   của học sinh hai lớp 10A1 và 10A3  trường THPT số 2 Mường Khương - Áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán cho học sinh yếu kém lớp 10 tỉnh lào cai
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra khảo sát đầu năm lớp 10 môn Toán lớp 10 của học sinh hai lớp 10A1 và 10A3 trường THPT số 2 Mường Khương (Trang 103)
Hình 3.1: Tỷ lệ phần trăm kết quả khảo sát môn Toán ở lớp 10 - Áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán cho học sinh yếu kém lớp 10 tỉnh lào cai
Hình 3.1 Tỷ lệ phần trăm kết quả khảo sát môn Toán ở lớp 10 (Trang 104)
Hình 3.2:  Biểu đồ  kết quả bài kiểm tra số 1 của hai lớp thực nghiệm và đối chứng - Áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán cho học sinh yếu kém lớp 10 tỉnh lào cai
Hình 3.2 Biểu đồ kết quả bài kiểm tra số 1 của hai lớp thực nghiệm và đối chứng (Trang 117)
Hình 3.3:  Biểu đồ  kết quả bài kiểm tra số 1 của hai lớp thực nghiệm và đối chứng. - Áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn toán cho học sinh yếu kém lớp 10 tỉnh lào cai
Hình 3.3 Biểu đồ kết quả bài kiểm tra số 1 của hai lớp thực nghiệm và đối chứng (Trang 118)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w