Tóm lại, tuỳ theo từng bệnh nhân, có thể sử dụng có hiệu quả phác đồ EAC 10 ngày hoặc phác đồ EBTM 14 ngày để tiệt trừ Hp lần hai sau thất bại lần đầu.. Các phác đồ 3 thuốc chứa thuốc
Trang 1Y học thực hành (760) - số 4/2011 23
nhân, giúp cho bệnh nhân có huyết động ổn định và
bù lại lượng máu đã mất và dĩ nhiên là bệnh nhân sẽ
phục hồi sức khoẻ nhanh chóng sau phẫu thuật, giảm
các biến chứng sau này
Chúng tôi thấy rằng những bệnh nhân bị RTĐ có
SMĐC có 2 vết mổ đẻ cũ trở lên có nguy cơ cắt tử
cung tăng 7,35 lần những bệnh nhân có một vết sẹo
mổ đẻ cũ (OR = 7,35; 95%CI = 2,3522,96; p < 0,01)
Theo Phạm Thị Phương Lan thì nguy cơ cắt tử
cung ở RTĐ được mổ lấy thai từ 2 lần trở lên nguy cơ
cắt tử cung tăng 7,79 lần so với nhóm chỉ MLT 1 lần
(OR = 7,79; 95% CI = 1,9931,54; p < 0,01)
Trong 109 thai phụ bị RTĐ có SMĐC có 2 ca vừa
cắt TCBPT kèm theo thắt ĐMHV chiếm 1,8% So
sánh với tác giả Phạm Thi Phương Lan (2002–2006)
tỷ lệ thắt ĐMHV chiếm 1,7%, tỷ lệ thắt ĐMHV trên
bệnh nhân bị RTĐ có SMĐC là 4,9% Tỷ lệ thắt
ĐMHV của nhóm có sẹo mổ tử cung cao hơn nhóm
không có sẹo mổ tử cung 5,33 lần (OR= 5,33; 95% CI
= 1,73±16,57; p < 0,01)
KếT LUậN
Tỷ lệ mổ đẻ bệnh nhân bị RTĐ có SMĐC là 99%
trong đó mổ chủ động chiếm 64,2% và mổ cấp cứu
chiếm 35,8% Truyền máu trung bình 4,3 ± 2,5 đơn vị
Tỷ lệ phải truyền máu là 25,4%, trong đó số trường
hợp RTĐTT phải truyền trên 2 đơn vị máu chiếm tỷ lệ
85,8% Tỷ lệ phải truyền máu của phương pháp cầm
máu cắt TCBPT là 75%
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Thị Phương Chi (2004), Nhận xét lâm sàng, cận lâm sàng, xử trí RTĐ tại bện viện phụ sản Trung ương năm 2003 Luận văn tốt nghiệp bác sỹ y khoa khoá 1999 – 2004 Hà Nội năm 2004
2 Nguyễn Đức Hinh (1999),'' So sánh mổ lấy thai vì RTĐ ở 2 giai đoạn 1989-1990 và 1993-1994 tại viện BVBMTSS", Tạp chí thông tin y dược, Số đặc biệt chuyên đề Sản phụ khoa(12/1999), tr.107-111
3 Phạm Thị Phương Lan (2007) Biến chứng của rau tiền đạo ở những sản phụ có sẹo mổ tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trưng ương từ tháng 1/2002 – 12/2006 Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ, Trường Đại học Y
Hà Nội
4 Lê Thị Mai Phương (2003), Bệnh cảnh lâm sàng
và một số yếu tố liên quan đến rau tiền đạo tại Bệnh viện phụ sản Trung ương trong 2 năm 2001 – 2002, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ y khoa khoá 1997 – 2003,
Hà Nội 2003
5 Nguyễn Hồng Phương (2000), Nghiên cứu tình hình RTĐ và các yếu tố liên quan tại viện BVBMTSS trong 3 năm 1997-2000, Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ, Trường Đại học Y Hà Nội
6 Bonner, SM, Haynes, SR, Ryall, D The anaesthetic management of Caesarean section for placenta praevia: a questionnaire survey Anaesthesia 1995; 50:992
NGHIÊN CứU HIệU QUả ĐIềU TRị DIệT HELICOBACTER PYLORI LầN HAI
CủA PHáC Đồ EAC Và EBTM
Nguyễn Thuý Vinh TóM TắT
Đây là một nghiên cứu mở, thể hiện đúng kết quả
điều trị trên thực tế lâm sàng Tất cả 76 bệnh nhân
được chia làm hai nhóm điều trị theo lựa chọn: bệnh
nhân lần đầu sử dụng PPI-AM được phân vào nhóm
EAC (mục đích tránh dùng lại metronidazole) và bệnh
nhân lần đầu sử dụng PPI-AC và PPI-MC được phân
vào nhóm EBTM (mục đích tránh dùng lại
clarithromycin) Nghiên cứu đã cho thấy kết quả điều
trị diệt Hp lần thứ hai sau điều trị thất bại lần đầu như
sau: 1,Tỷ lệ tiệt trừ H pylori thành công của phác đồ
EAC 80,7% và EBTM là 86,7% 2, Cả hai phác đồ
EAC và EBTM đều giúp cải thiện triệu chứng lâm
sàng và nội soi tốt như nhau sau 45 ngày điều trị Tuy
nhiên phác đồ EBTM có tỷ lệ tác dụng phụ cao hơn
phác đồ EAC (46,7% so với 16,1%) Tóm lại, tuỳ
theo từng bệnh nhân, có thể sử dụng có hiệu quả
phác đồ EAC 10 ngày hoặc phác đồ EBTM 14 ngày
để tiệt trừ Hp lần hai sau thất bại lần đầu
Từ khóa: Điều trị; Phác đồ điều trị 3 thuốc PPI-
AC, PPI-AM, PPI-MC, Helicobacter pylori; Phác đồ
EAC; Phác đồ 4 thuốc EBTM;.Điều trị lần hai
summary
This is an open-labled study to assess H.pylori
eradication rate of EAC and EBTM regiments in
clinical practice Total of 76 patients after first line treatment failure were selected to the study Patients after PPI-AM and PPI- AC; PPI-MC were divited to EAC and EBTM treatment group respectively in order
to avoid the previously used antibiotics such as metronidazole or clarithromycin The results of second line H.pylori eradication therapies were:1,Succesfull H pylori eradication rate of EAC and EBTM regiments were 80,7% and 86,7% respectively 2, Both of regiments EAC and EBTM equally improved clinical symptoms and endoscopic mucosal damages after 45 day treatment However, EBTM regiment had higher advert event rate than EAC with 46,7% and 16,1% respectively In sums: EAC - 10 day and EBTM - 14 day regiments were good therapies for second line H.pylori eradication
Keywords: Treatment; Triple therapy PPI- AC,
PPI-AM, PPI-MC, Helicobacter pylori; EAC regiment; Quadruple therapy EBTM; Second line therapy
ĐặT VấN Đề
Vai trò của Helicobacter pylori (Hp) trong các
bệnh lý dạ dày, tá tràng như viêm, loét, ung thư đã
được khẳng định qua nhiều hội nghị đồng thuận trên thế giới Cho tới nay, có sự đồng thuận cao cho rằng những bệnh nhân có nhiễm Hp sau khi được chẩn
Trang 2Y học thực hành (760) - số 4/2011 24
đoán bằng các phương pháp tin cậy có chỉ định điều
trị tiệt trừ Hp Các phác đồ 3 thuốc chứa thuốc ức chế
bơm proton kết hợp với hai kháng sinh (amoxycillin
với metronidazole hoặc với clarithromycin) từ 7 đến
10 ngày được sử dụng để tiệt trừ Hp lần đầu Kết quả
điều trị của các phác đồ diệt Hp lần đầu này nhìn
chung dao động nhiều trong các nghiên cứu trên thế
giới và phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ kháng thuốc ở các
vùng địa lý khác nhau ở Việt nam, tỷ lệ kháng
metronidazole, clarithromycin và amoxycillin dao động
tương ứng từ 38,1% đến 85,7%; 0 đến 38,6% và 0 đến
18,1% (3;5;6) do vậy có tỷ lệ nhất định bệnh nhân sau
điều trị diệt Hp lần đầu phải điều trị tiếp lần thứ hai
Chiến lược lựa chọn phác đồ nào cho nhóm bệnh nhân
này là vấn đề còn chưa rõ ràng và còn ít được nghiên
cứu Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm
đánh giá hiệu quả điều trị diệt Hp của hai phác đồ EAC
và EBTM sau điều trị thất bại lần đầu
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1 Đối tượng
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Tuổi từ 18 đến 80,
được chẩn đoán viêm, loét dạ dày, tá tràng vẫn còn
nhiễm H pylori theo tiêu chuẩn cả hai phương pháp
ureasse nhanh và mô bệnh học dương tính) và đã
điều trị tiệt trừ H pylori lần đầu bằng 1 trong các phác
đồ như PPI- AC, PPI- AM, PPI- MC
Tiêu chuẩn loại bệnh nhân: Bệnh nhân đang dùng
kháng sinh hoặc ngừng thuốc chưa được một tháng
tính đến thời điểm soi; đang dùng thuốc ức chế bơm
proton hoặc bỏ thuốc này chưa được một tuần tính đến
thời điểm soi; có tiền sử cắt một phần hay toàn bộ dạ
dày; có ung thư dạ dày hoặc ổ loét to >3 cm và có
nghi K; có chống chỉ định với soi dạ dày như nhồi máu
cơ tim cấp, suy tim, suy hô hấp nặng v v.; xuất huyết
tiêu hoá nặng, có hẹp môn vị, bệnh nặng như suy thận
nặng, xơ gan giai đoạn Child-pugh B hoặc đa ổ loét
nhỏ cấp tính, nghi do dùng thuốc hoặc ngộ độc
2 Phương pháp: Đây là nghiên cứu mở, theo
thiết kế song song Tất cả 76 bệnh nhân được chia
làm hai nhóm điều trị theo lựa chọn: bệnh nhân lần
đầu sử dụng PPI-AM được phân vào nhóm EAC (mục
đích tránh dùng lại metronidazole) và bệnh nhân lần
đầu sử dụng PPI-AC và PPI-MC được phân vào nhóm
EBTM (mục đích tránh dùng lại clarithromycin)
Nhóm 1: EAC (Esomeprazole 20 mg, 1viênX2
lần/ngày; Amoxycillin 500 mg, 2 viênX2 lần/ngày;
Clarithromycin 500 mg, 1 viênX2 lần/ngày) trong 10 ngày
Nhóm 2: EBTM (Esomeprazole 20 mg, 1viênX2
lần/ngày; Bismuth 120mg, 2 viênX3 lần/ngày;
Metronidazole 250 mg, 2 viênX3 lần/ngày; Tetracyclin
250 mg, 2 viên X 3 lần / ngày) trong 14 ngày
Bệnh nhân được đánh giá thuyên giảm triệu
chứng, tác dụng phụ, tuân thủ thuốc bằng cách hẹn
khám và nội soi lại sau 45 ngày Phân tích thống kê
sử dụng máy tính với phần mềm thống kê SPSS 18.0
KếT QUả
1 Đặc điểm nhóm nghiên cứu
Tổng số 76 bệnh nhân (nữ: 25, nam: 51, tuổi từ 20
đến 78, tuổi trung bình : 52,9 ± 12,4, được chẩn đoán
viêm, loét dạ dày (LDD) và loét tá tràng (LTT), đáp
ứng các tiêu chuẩn chọn lựa và loại trừ được chọn vào nghiên cứu
Triệu chứng lâm sàng trước điều trị
Triệu chứng lâm sàng
Nhóm EAC
n = 31 (%)
Nhóm EBTM
n = 45 (%)
Tổng số
n = 76 (%)
Đau tức vùng thượng vị 28 (90,3) 42 (93,3) 70 (92,2)
ợ hơi 20 (64,5) 32 (71,1) 52 (68,4 )
ợ chua 11 (35,4) 17 (37,8) 28 (36,8) Nôn, buồn nôn 15(48,4) 24 (53,3) 39 (51,3) Rối loạn tiêu hóa 12 (38,7) 19 (42,2) 31 (40,8) Nhận xét: Các triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất
là đau tức vùng thượng vị với trên 90%, sau đó đến ợ hơi khoảng 70%, các triệu chứng khác gặp ít hơn Sự khác biệt giữa hai nhóm điều trị không có ý nghĩa thống kê p > 0,05
Chẩn đoán nội soi trước điều trị
Chẩn đoán nội soi Nhóm EAC
n = 31 (%)
Nhóm EBTM
n = 45 (%)
Tổng số
n = 76 (%) Viêm thực quản
trào ngược 1 (3,2) 2 (4,4) 3 (3,9) Viêm dạ dày 25 (80,6) 33 (73,3) 58 (76,3) Loét dạ dày 1 (3,2) 3 (6,7) 4 (5,3) Loét tá tràng 3 (9,6) 4(8,9) 7 (9,2) Loét dạ dày-tá
tràng 1(3,2) 3 (6,7) 4 (5,3) Nhận xét: Sau điều trị diệt Hp lần đầu, bệnh lý hay gặp nhất là viêm dạ dày (76,3%), tỷ lệ loét là khoảng 20% Sự khác biệt giữa hai phác đồ không có ý nghĩa thống kê p > 0,05
2 Kết quả điều trị của hai phác đồ EAC và EBTM
Hiệu quả điều trị tiệt trừ H pylori lần thứ hai
Phác đồ điều trị Hiệu quả điều trị tiệt
trừ H pylori EAC n = 31 (%) EBTM n = 45 (%)
H pylori (-) 25 (80,7) 39 (86,7)
H pylori (+) 6 (19,3) 6 (13,3)
Nhận xét: Hiệu quả điều trị tiệt trừ H pylori thành
công của phác đồ EBTM (86,7 %) có xu hướng cao hơn phác đồ EAC (80,7 %) sau điều trị thất bại lần
đầu tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Đánh giá tiến bộ về triệu chứng lâm sàng sau điều trị
Triệu chứng lâm sàng Phác đồ
điều trị Không thay đổi
n (%)
Giảm >50 %
n (%)
Hết
n (%) EAC (n=31) 1 (3,2) 8 (25,8) 22 (71,0) EBTM
(n=45) 3 (6,6) 12 (26,7) 30 (66,7) Nhận xét: Sau 45 ngày điều trị, có khoảng 70% bệnh nhân hết triệu chứng lâm sàng và không có sự khác biệt giữa hai phác đồ với p > 0,05
Kết quả nội soi sau điều trị
Chẩn đoán nội soi Nhóm EAC
n = 31 (%)
Nhóm EBTM
n = 45 (%)
Tổng số
n = 76 (%) Viêm thực quản trào
ngược 0 (0) 1 (2,2) 1 (1,3) Viêm dạ dày 10 (32,3) 15 (33,3) 25 (32,9) Loét dạ dày 1 (3,2) 1 (2,2) 2 (2,6) Loét tá tràng 0 (0) 0(0) 0 (0) Loét dạ dày-tá tràng 1(3,2) 0 (0) 1 (1,3)
Trang 3Y học thực hành (760) - số 4/2011 25
Nhận xét: Sau 45 ngày điều trị, có khoảng 30%
bệnh nhân vẫn còn hình ảnh viêm dạ dày trên nội soi,
còn 3 bệnh nhân chưa liền sẹo ổ loét và không có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai phác đồ với
p>0,05
3 Tác dụng phụ của thuốc và tuân thủ điều trị
của bệnh nhân
Tác dụng phụ của thuốc
Tác dụng phụ EAC n = 31 (%) EBTM n=45 (%) p
Không có 26 (83,9) 24 (53,3)
Có tác dụng phụ 5 (16,1) 21 (46,7) < 0,05
Nhận xét: Tác dụng phụ của phác đồ 4 thuốc
EBTM (46,7%) nhiều hơn so với phác đồ EAC (16,1%)
và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Đánh giá sự tuân thủ thuốc của hai phác đồ điều trị
Tuân thủ thuốc Phác đồ điều trị
< 50% < 80% 100%
Nhận xét: Sự tuân thủ thuốc của phác đồ EBTM
(84,4%) có xu hướng thấp hơn so với phác đồ EAC
(96,8%), tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p > 0,05
D BàN LUậN
1 Hiệu quả điều trị diệt Hp lần thứ hai của hai
phác đồ EAC và EBTM
Đối với bệnh nhân điều trị thất bại lần đầu, chúng
tôi phân vào hai phác đồ điều trị: EAC (10 ngày) và
EBTM (14 ngày) Bệnh nhân lần đầu sử dụng PPI-AM
(7 ngày) được phân vào nhóm OAC để tránh sử dụng
metronidazole lần thứ hai với phỏng đoán rằng do tỷ
lệ kháng metronidazole cao, điều trị thất bại chủ yếu
là do kháng metronidazole Bệnh nhân lần đầu sử
dụng PPI- AC và PPI- MC (7 ngày) được phân vào
nhóm EBTM (14 ngày và liều Metronidazole cao gấp
rưỡi) để tránh dùng lại clarithromycin lần thứ hai (do tỷ
lệ kháng thứ phát rất cao trên 70%) Nghiên cứu của
chúng tôi đã cho thấy hiệu quả điều trị tiệt trừ H
pylori thành công của phác đồ EAC là 80,7% và
EBTM là 86,7% sau điều trị thất bại lần đầu Tỷ lệ
điều trị diệt Hp thành công của hai phác đồ này khác
nhau không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05, tuy
nhiên đây không phải là thử nghiệm lâm sàng ngẫu
nhiên Theo Georgopoulos và cs, tiến hành thử nghiệm
lâm sàng ngẫu nhiên trên 95 bệnh nhân điều trị thất
bại sau OAC, chia làm hai nhóm điều trị OBTM và
OBTC với kết quả điều trị thành công là 92,7% và 59%
tương ứng Tác giả kết luận rằng phác đồ OBTM tốt
hơn OBTC sau điều trị thất bại OAC [1] Điều này cũng
phù hợp với kết quả của một nghiên cứu mở của chúng
tôi tại úc cũng cho thấy rằng clarithromycin do tỷ lệ
kháng thứ phát cao nên ít tác dụng khi điều trị nhắc lại
Sau điều trị thất bại diệt trừ H pylori lần đầu, lý
tưởng nhất là làm được kháng sinh đồ để lựa chọn
kháng sinh cho điều trị lần thứ hai Tuy nhiên, như nghiên cứu của chúng tôi đã chứng minh, kháng
thuốc in vitro không hoàn toàn giống như kháng thuốc
in vivo Hơn thế nữa, nuôi cấy và làm kháng sinh đồ
là một công việc phức tạp, đòi hỏi nhiều công sức, tốn kém và không phải bệnh viện nào cũng làm được Có
bốn cách để điều trị diệt H pylori lần thứ hai sau điều
trị thất bại lần đầu Thứ nhất, có thể dùng phác đồ đó nhưng kéo dài hơn thời gian điều trị (ví dụ từ 7 ngày kéo dài thành 10 – 14 ngày) Thứ hai, có thể dùng phác đồ đó nhưng tăng liều các thuốc trong phác đồ Thứ ba, thay đổi kháng sinh đã dùng trong phác đồ lần đầu Thứ tư là thay đổi cách sử dụng thuốc như phối hợp các phác đồ liên tiếp nhau Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng, khi lựa chọn phác đồ điều trị lần thứ hai, tốt nhất là không nên dùng lại kháng sinh
đã sử dụng do tỷ lệ kháng thứ phát thường là rất cao
Ví dụ, khi đã dùng PPI-AM thất bại, nên chuyển sang dùng PPI-AC, khi đã dùng PPI-AC thất bại có thể chuyển sang dùng PPI-AM hoặc phác đồ 4 thuốc như PPI-BTM với thời gian kéo dài hơn và liều thuốc cao
hơn Sau điều trị diệt H pylori lần thứ hai thất bại,
việc lựa chọn phác đồ điều trị lần thứ ba còn phức tạp hơn Xác định độ nhạy cảm với kháng sinh có lẽ là giải pháp Một hướng khác là áp dụng phương pháp PCR để có thể xác định tính kháng thuốc trực tiếp từ mẩu sinh thiết dạ dày, không cần qua nuôi cấy và làm kháng sinh đồ như thông thường ở úc, chúng tôi đã
gặp 3 trường hợp điều trị tiệt trừ H pylori lần thứ 4
thất bại ở bệnh viện Hữu nghị, chúng tôi cũng gặp một số bệnh nhân tương tự
Theo Báo cáo đồng thuận Maastricht III về Helicobacter pylori năm 2006 (4) đã chỉ ra rằng điều trị lần đầu vẫn nên sử dụng phác đồ phối hợp 3 thuốc (ức chế bơm proton kết hợp với amoxycillin và clarithromycin hoặc với metronidazole khi kháng clarithromycin < 15-20% và khi kháng metronidazole
< 40% Điều trị lần hai sau thất bại lần đầu khuyến cáo nên dùng phác đồ 4 thuốc có chứa bismuth hoặc nếu không có bismuth thì dùng phác đồ ba thuốc PPI-
AM hoặc PPI- TM Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng trên thực tế lâm sàng, điều trị lần hai có thể sử dụng EAC -10 ngày (nếu lần đầu dùng metronidazole
và chưa dùng clarithromycin) hoặc EBTM -14 ngày (nếu lần đầu đã dùng metronidazole và clarithromycin) cho kết quả diệt Hp trên 80%
2 So sánh hiệu quả lâm sàng, nội soi, tác dụng phụ và tuân thủ thuốc của hai phác đồ EAC
và EBTM
Nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng cả hai phác
đồ EAC và EBTM đều giúp cho bệnh nhân tiến bộ rõ ràng về lâm sàng và hình ảnh nội soi và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy rằng, mặc dù phác đồ EBTM có xu hướng cho tỷ lệ diệt Hp thành công cao hơn so với phác đồ EAC, nhưng lại có tỷ lệ tác dụng phụ cao hơn phác đồ EAC (46,7% so với 16,1% của phác đồ EAC) và có thể dẫn đến tỷ lệ tuân thủ thuốc thấp hơn (84,4% so với 96,8%) Kết quả
Trang 4Y học thực hành (760) - số 4/2011 26
của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu khác trong
nước và ngoài nước (2;7)
Tóm lại, do kháng kháng sinh của H.pylori là
nguyên nhân chính dẫn đến điều trị thất bại nên lựa
chọn phác đồ điều trị có hiệu quả lần thứ hai là vấn
đề quan trọng và khó khăn đối với bác sỹ lâm sàng
khi không có kháng sinh đồ Thay thế metronidazole
bằng kháng sinh có hiệu quả hơn, ít kháng hơn như
clarithromycin hoặc không sử dụng lại các kháng
sinh đã dùng trong phác đồ lần đầu nhất là
clarithromycin, bước đầu cho kết quả điều trị tốt
Phác đồ EAC 10 ngày và EBTM 14 ngày có thể cho
kết quả điều trị tốt cho các bệnh nhân sau thất bại
điều trị tiệt trừ Hp lần đầu
KếT LUậN
Đây là một nghiên cứu mở, thể hiện đúng thực tế
lâm sàng đã cho thấy kết quả điều trị diệt Hp lần thứ
hai sau điều trị thất bại lần đầu như sau:
1 Tỷ lệ diệt Hp thành công của phác đồ EAC là
80,7% và EBTM là 86,7%
2 Cả hai phác đồ EAC và EBTM đều giúp cải thiện
triệu chứng lâm sàng và nội soi tốt như nhau sau 45
ngày điều trị Tuy nhiên phác đồ EBTM có tỷ lệ tác dụng
phụ cao hơn phác đồ EAC (46,7% so với 16,1%)
Tuỳ theo từng bệnh nhân, có thể sử dụng có hiệu
quả phác đồ EAC 10 ngày hoặc phác đồ EBTM 14
ngày để tiệt trừ Hp lần hai sau thất bại lần đầu
TàI LIệU THAM KHảO
1 Georgopoulos S.D, Ladas S.D, Karatapanis S, Triantafyllou K, Spiliadi C, Mentis A, Artikis V and Raptis
S A (2002), "Effectiveness of two quadruple, tetracycline - or clarithromycin-containing, second-line,
Helocobacter pylori eradication therapies", Aliment Pharmacol Ther, 16 (3), pp 569
2 Gisbert GP, Gisbert GL, Marcos S, et al Empirical rescue therapy after Helicobacter pylori treatment failure:
a 10-year single-centre study of 500 patients Aliment Pharmacol Ther 2008, 27: 346-354
3 Lê Đình Minh Nhân, Võ Thị Chi Mai Kháng kháng sinh của Helicobacter pylori trong điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng Kỷ yếu các công trình nghiên cứu khoa học của Hội khoa học tiêu hóa Việt nam, 2003;32-35
4 Malfertheiner P, Megraud F, C O’Morain, F Bazzoli, E El-Omar, D Graham, R Hunt, Consensus Report Helicobacter pylori infection: the Maastricht III
Gut 2007;56;772-781
5 Nguyễn Thúy Vinh, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Hoàng Tuấn Anh, Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, Lê Băng Sơn,
Hà Văn Mạo Vấn đề kháng clarithromycin, amoxicillin và
metronidazole của vi khuẩn Helicobacter pylori trong 3 năm (2000-2002) Y học Việt nam 2003; 4: 45-51
6 Phan Quốc Hoàn, Tạ Long, Ngô Vi Hùng, Trịnh Tuấn Dũng Kháng kháng sinh của Helicobacter pylori trong điều trị bệnh loét tá tràng Nội khoa 2000; 1: 8-11
Nhận xét hình thái lâm sàng bệnh nhân lệch lạc khớp cắn loại II xương neo chặn với Microimplant điều trị tại Bệnh Viện RHMTW Hà Nội
Võ Thị Thúy Hồng Tóm tắt
Lệch lạc khớp cắn loại II có nhiều hình thái lâm
sàng khác nhau và việc chọn lựa phương pháp điều
trị phụ thuộc vào các đặc điểm lâm sàng của bệnh
nhân Nghiên cứu hình thái lâm sàng các bệnh nhân
lệch lạc khớp cắn loại II được tiến hành trên 50 bệnh
nhân được điều trị nắn chỉnh răng tại Bệnh Viện
RHMTW HN từ năm 2007 đến nay Các bệnh nhân
được chẩn đoán lệch lạc khớp cắn loại II xương, điều
trị nhổ răng kéo lùi khối răng cửa ra sau và neo chặn
bằng hai phương pháp: neo chặn theo phương pháp
truyền thống với TPA hoặc Nance và neo chặn với
Microimplant Các đặc điểm lâm sàng của các bệnh
nhân được mô tả để giúp cho chẩn đoán và chọn lựa
phương pháp điều trị được chính xác: độ cắn chìa, độ
cắn phủ, mức độ lệch lạc khớp cắn được tính theo chỉ
số PAR, các số đo đặc trưng trên phim Ceph được đo
theo Steiner, Wits, Ricketts
Từ khóa: khớp cắn loại I, lâm sàng, Microimplant
summary
Treatment for class II malocclusion depends on
characteristics of malocclusions Characteristics of
class II malocclusion in Vietnamese patients need to
be described for diagnosis and treatment planning 50
patients have been diagnosed skeletal class II
malocclusion and have been treated in Orthodontic
Odonto-Stomatology since 2007 These patients have been extracted premolars and have been retracted en-mass incisors One group uses anchorage with TPA and Nance and the others with microimplants Characteristics of class II malocclusion in these
malocclusion by PAR, and cephalometric analysis by Steiner, Wits, Ricketts… are described
Keywords: class II malocclusion, microimplants
ĐặT VấN Đề
Tỉ lệ lệch lạc khớp cắn loại II chiếm tỉ lệ cao trong dân số bệnh nhân đến khám và điều trị, theo thống
kê của khoa Nắn Chỉnh Răng Bệnh Viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội năm 2009 tỉ lệ này là >28% Lệch lạc khớp cắn loại II có nhiều hình thái lâm sàng, việc chọn lựa khí cụ cũng như phương pháp điều trị phụ thuộc vào hình thái lâm sàng của từng bệnh nhân Lệch lạc khớp cắn loại II xương là vấn đề khó trong điều trị đặc biệt ở các bệnh nhân đã qua giai
đoạn phát triển để giải quyết sự mất cân xứng giữa xương hàm trên và xương hàm dưới Sự ra đời của Microimplant đã giải quyết được nhiều vấn đề mà trước đây không giải quyết được như tạo được sự neo chặn tuyệt đối trong đóng khoảng nhổ răng, đánh lún khối răng cửa giải quyết được vấn đề khớp cắn sâu