ĐáNH GIá MộT Số XéT NGHIệM MIễN DịCH TRONG CHẩN ĐOáN BệNH NHÂN LUPUS BAN Đỏ ĐIềU TRị TạI BệNH VIệN HữU NGHị VIệT TIệP HảI PHòNG Bùi Thị Hà, Kê Thị Lan Anh Tóm tắt Qua nghiên cứu xét n
Trang 1Y học thực hành (760) - số 4/2011 144
giường bệnh nội trú Sở Y tế TP.HCM và một số bệnh
viện đang từng bước phát triển mô hình bác sỹ gia
đình (BV Đa khoa Khánh Hoà, BV Nông nghiệp, BV
Trường ĐH Y Hải Phòng v.v)
9 Tăng cường chỉ đạo tuyến: Đào tạo chuyển
giao kỹ thuật nâng cao năng lực tuyến dưới các BV
tuyến trên tăng cường gửi công văn rút kinh nghiệm
chuyên môn xuống các BV tuyến dưới;
Năm 2009, song song với việc triển khai Đề án
1816, các bệnh viện đã cử 20,6 nghìn lượt cán bộ đi
chỉ đạo tuyến chuyên môn kỹ thuật cho tuyến dưới,
tăng 24,6% so với 2008 (bao gồm cả số liệu các BV
tuyến huyện hỗ trợ các phòng khám đa khoa khu vực
hoặc trạm y tế xã) Chuyển giao được 10,2 nghìn lượt
kỹ thuật lâm sàng, tăng 33,4%; chuyển giao 2,9 nghìn
lượt kỹ thuật cận lâm sàng tăng 71%; Tập huấn cho
120,8 nghìn lượt cán bộ y tế tuyến dưới, tăng 11,3%
so với 2008
- Phát triển và nhân rộng mô hình dự án vệ tinh:
Từ thành công của dự án bệnh viện vệ tinh của Bệnh
viện Việt Đức, một số bệnh viện tuyến cuối đang
nghiên cứu nhân rộng mô hình bệnh viện vệ tinh
Triển khai thực hiện thí điểm Đề án BV vệ tinh của BV
Bạch Mai; Xây dựng dự án BV Vệ tinh Phụ sản TW tại
10 tỉnh miền Bắc; Xây dựng mô hình bệnh viện vệ
tinh của BV Nhi Trung ương tại 6 tỉnh;
10 Liên thông bệnh viện: triển khai một số mô
hình liên thông giữa bệnh viện công lập với bệnh viện
công lập (BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương và Bệnh viện
Thanh Nhàn giải quyết tình trạng quá tải trong vụ dịch
cúm A (H1N1) và Sốt Dengue/Sốt Xuất huyết Dengue
KếT LUậN
Sau 2 năm thực hiện chỉ thị 06 về chống quá tải bệnh viện, kết quả nghiên cứu cho thấy các bệnh viện trên cả nước đã đạt được một số kết quả bước đầu trong việc giảm tải bệnh viện như tăng chỉ tiêu giường bệnh kế hoạch; Xây dựng thêm cơ sở khám chữa bệnh,
mở rộng quy mô bệnh viện; Tăng cường điều trị ngoại trú; Giảm ngày điều trị nội trú hợp lý; Cải cách thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho người bệnh;Tăng số phòng khám, giảm tải khoa khám bệnh; Tăng ca, tăng giờ làm việc; Triển khai một số mô hình dịch vụ mới trong khám chữa bệnh; Tăng cường công tác chỉ
đạo tuyến
TàI LIệU THAM KHảO
1 Bộ Y tế (2007), Chỉ thị số 06/2007/CT-BYT ngày 7/12/2007 của Bộ Trưởng Bộ Y tế về việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân
2 Thủ tướng chỉnh phủ (2008), Quyết định số 30/2008/QĐ-TTg ngày 22/2/2008 của Thủ tướng Chính Phủ về Phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020
3 Thủ tướng chỉnh phủ (2008), Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg ngày 02/4/2008 của Thủ tướng Chính phê duyệt Đề án “Xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện và bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ và các nguồn vốn hợp pháp khác giai đoạn 2008-2010”
4 Thủ tướng chỉnh phủ (2009), Quyết định 930/2009/QĐ-TTg ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính
về việc phê duyệt Đề án "Đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp các bệnh viện chuyên khoa lao, tâm thần, ung bướu, chuyên khoa nhi và một số bệnh viện đa khoa tỉnh thuộc vùng miền núi, khó khăn sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ
và các nguồn vốn hợp pháp khác giai đoạn 2009 - 2013"
ĐáNH GIá MộT Số XéT NGHIệM MIễN DịCH TRONG CHẩN ĐOáN BệNH NHÂN LUPUS BAN Đỏ ĐIềU TRị TạI BệNH VIệN HữU NGHị VIệT TIệP HảI PHòNG
Bùi Thị Hà, Kê Thị Lan Anh
Tóm tắt
Qua nghiên cứu xét nghiệm miễn dịch của 73
bệnh nhân lupus ban đỏ điều trị nội trú tại các khoa
hệ Nội và khoa Da Liễu Bệnh viện Việt Tiệp - Hải
Phòng từ tháng 04/2009 đến tháng 09/2010 chúng tôi
rút ra kết luận sau:
- Tế bào Hargraves: tỷ lệ dương tính 71,21% Trong
đó nhóm 2 (48,48%) gặp nhiều hơn nhóm 1 (22,73%)
Bệnh nhân lupus ban đỏ có tế bào Hargraves dương
tính có nguy cơ bị tổn thương nội tạng gấp 8,4 lần so
với tổn thương da
- Kháng thể kháng DNA: tỷ lệ dương tính 76,9%,
nhóm 2 (56,39%) gặp nhiều hơn nhóm 1 (20,51%)
- Kháng thể kháng nhân: tỷ lệ dương tính 60,6%
Nhóm 2 là 48,48%, nhóm 1 là 12,12% Không thấy có
mối liên quan giữa bệnh nhân lupus ban đỏ có tổn
thương nội tạng với tỷ lệ xuất hiện kháng thể kháng
nhân trong máu
summary
By studying the immunological tests of 73 patients with systemic lupus erythematosus patient heve treated at the internal department and Dermatology department in Vietnam- Czech friendship Hospital at Hai Phong City from April- 2009 to September – 2010,
we draw conclusions follows:
- Cellular Hargraves: a positive rate was 71.21% In the second group (48.48%) met more than group 1 (22.73%) Lupus erythematosus patients with positive cells Hargraves risk of organ damage than 8.4 times the skin
- Anti - DNA antibodies: positive rate of 76.9%, group 2 (56.39%) met more than group 1 (20.51%)
- Anti - DNA antibodies: positive rate of 60.6% Group 2 was 48.48%, group 1 was 12.12% There was
no correlation between patients with lupus erythematosus with organ injury rates appear Anti - DNA antibodies in the blood
Trang 2Y học thực hành (760) - số 4/2011 145
ĐặT VấN Đề
Bệnh luput ban đỏ hệ thống là bệnh tự miễn, phát
hiện kháng thể kháng nhân là xét nghiệm tin cậy để
chẩn đoán bệnh Điều này đóng vai trò to lớn trong
việc định hướng và đưa ra phác đồ điều trị chuẩn
bằng các loại Glucocorticoid, các thuốc ức chế miễn
dịch và các thuốc điều hòa miễn dịch làm cho bệnh
nhân có thể khỏi hẳn và không để lại những biến
chứng đe doạ đến tính mạng bệnh nhân
Để góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, giảm tỷ lệ
tử vong cũng như kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân
lupus ban đỏ ở Hải Phòng chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài này với mục tiêu: Đánh giá một số xét
nghiệm miễn dịch trong chẩn đoán bệnh với biến
chứng của bệnh nhân luput ban đỏ được điều trị tại
bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp - Hải Phòng
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân được chẩn đoán lupus ban đỏ điều trị
tại các khoa hệ Nội và khoa Da Liễu Bệnh viện Việt
Tiệp - Hải Phòng từ tháng 04/2009 đến tháng
09/2010
* Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh lupus ban đỏ
- Theo tiêu chuẩn chẩn đoán lupus ban đỏ của Hội
Thấp học Hoa Kỳ năm 1997 (ARA) [1], [2]: ≥ 4 trong 11
tiêu chuẩn là chẩn đoán xác định
- Bệnh nhân lupus ban đỏ nghiên cứu được phân
thành 2 nhóm:
+ Nhóm 1: lupus ban đỏ tổn thương da đơn thuần
+ Nhóm 2: lupus ban đỏ tổn thương nội tạng
(máu và bạch huyết; thận; gan; tim mạch; phổi; thần
kinh - tâm thần)
* Loại khỏi nghiên cứu
- Các bệnh nhân không đủ số liệu nghiên cứu
- Các bệnh nhân không đồng ý hợp tác
- Không lặp bệnh nhân (mỗi bệnh nhân chỉ lấy 1
lần)
2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
2.2.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu và cách thu thập:
Mỗi bệnh nhân được lập 1 bệnh án thống nhất
theo mẫu và đều được là xét nghiệm miễn dịch đặc
hiệu tại Bệnh viện Việt Tiệp và bệnh viện Đại học Y
Hải Phòng
- Kháng thể kháng nhân
- Anti - ds DNA
- Tế bào Hargraves
KếT QUả NGHIÊN CứU
1 Kết quả tế bào Hargraves ở 2 nhóm bệnh
nhân lupus ban đỏ
Bảng 1: Tế bào Hargraves ở 2 nhóm bệnh nhân
lupus ban đỏ (n = 66)
Dương tính Âm tính
Hargraves
KQNC n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
p Nhóm 1 15 22,73(1) 1 1,51
Nhóm 2 32 48,48(2) 18 27,28
Tổng 47 71,21 19 28,79
p(1:2)<0,05
Kết quả bảng 1 cho thấy có 66 BN lupus ban
đỏ làm XN tế bào Hargraves thì tỷ lệ dương tính là
71,21% Nhóm 2 gặp 48,48% dương tính cao hơn
so với nhóm 1 (22,73%) với p < 0,05
Bảng 2: Tỷ lệ xuất hiện tổn thương nội tạng ở các bệnh nhân có tế bào Hargraves dương tính
Hargraves dương tính (n = 32)
Tổn thương
Kết quả bảng 2 cho thấy trong số 32 BN lupus ban đỏ có tế bào Hargraves dương tính gặp nhiều nhất là tổn thương máu 65,62%, sau đó là tổn thương thận 62,5%, tổn thương tim 43,75%, tổn thương khớp 40,62%
Bảng 3 Mối liên quan giữa tế bào Hargraves với 2 nhóm bệnh nhân lupus ban đỏ (n = 66)
Nhóm 1 Nhóm 2 KQNC
Hargraves n Tỷ lệ % n Tỷ lệ % p Dương tính 15 31,9 32 68,1
Âm tính 1 5,3 18 94,7 < 0,05
OR = 8,4 (1,1 – 69,2)
Kết quả bảng 3 cho thấy những bệnh nhân lupus
có tế bào Hargraves dương tính có nguy cơ bị tổn thương nội tạng gấp 8,4 lần so với tổn thương da (p < 0,05)
2 Kết quả kháng thể kháng nhân của bệnh nhân lupus
Bảng 4: Anti - ds DNA ở 2 nhóm bệnh nhân lupus ban đỏ (n = 39)
Dương tính Âm tính Anti – ds DNA
KQNC n Tỷ lệ % n Tỷ lệ % p Nhóm 1 8 20,51(1) 3 7,7 Nhóm 2 22 56,39(2) 6 15,4 Tổng 30 76,9 9 23,1
p(1:2)< 0,05
Kết quả bảng 4 cho thấy 39 BN được làm kháng thể kháng DNA thì tỷ lệ dương tính là 76,9%, trong đó nhóm 2 là 56,39% cao hơn so với nhóm 1 (20,51%) (p < 0,05)
Bảng 5: Tỷ lệ tổn thương nội tạng ở các BN có anti
- ds DNA dương tính
Anti - ds DNA dương tính ( n = 30) Tổn thương
Kết quả bảng 5 cho thấy BN lupus ban đỏ có anti-ds DNA dương tính gặp nhiều nhất là tổn thương cơ quan tạo máu: 66,67%, sau đó đến khớp 53,33% Bảng 6: Kháng thể kháng nhân ở 2 nhóm bệnh nhân lupus ban đỏ (n = 66)
KTKN (+) KTKN (-) KTKN
KQNC n Tỷ lệ % n Tỷ lệ % p Nhóm 1 8 12,12(1) 8 12,12
Nhóm 2 32 48,48(2) 18 27,28 Tổng 40 60,6 26 39,4
p(1:2)
<0,05
Trang 3Y học thực hành (760) - số 4/2011 146
Kết quả bảng 6 thấy 60,6% bệnh nhân lupus ban
đỏ có kháng thể kháng nhân dương tính trong đó nhóm
2 là 48,48% cao hơn so với nhóm 1 (12,12%) Sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Bảng 6:Tỷ lệ tổn thương nội tạng ở các BN có
kháng thể kháng nhân dương tính
KTKN dương tính ( n = 40) Tổn thương
n Tỷ lệ %
Kết quả bảng 6 cho thấy 40 BN lupus ban đỏ có
kháng thể kháng nhân dương tính thì gặp nhiều nhất
là tổn thương cơ quan tạo máu (70,37%), sau đó đến
tổn thương thận 62,96%, tổn thương khớp 51,85%
Bảng 7: Mối liên quan giữa kháng thể kháng nhân
với 2 nhóm BN lupus ban đỏ
Nhóm 1 Nhóm 2 KQNC
KTKN n Tỷ lệ % n Tỷ lệ % p
Dương tính 8 20,00 32 80,00
Âm tính 8 30,77 18 69,23 > 0,05
OR = 0,56 (0,16 - 2,02)
Kết quả bảng 7 cho thấy không có mối liên quan
giữa tỷ lệ xuất hiện kháng thể kháng nhân trong máu
với tổn thương nội tạng và tổn thương da trên bệnh
nhân lupus ban đỏ (OR = 0,56)
BàN LUậN
1 Tế bào Hargraves
Trong 73 BN lupus ban đỏ có 66 BN được làm XN
tế bào Hargraves Kết quả tế bào Hargraves dương
tính chiếm tỷ lệ cao 71,21% Nhóm BN tổn thương nội
tạng gặp 48,48% dương tính cao hơn so với nhóm tổn
thương da đơn thuần (22,73%) Nghiên cứu của
chúng tôi phù hợp với nghiên cứu Nguyễn Xuân Sơn
68% [5], và một số tác giả nước ngoài như Ni JD ,
Wang F tỷ lệ dương tính là 69% [7], [9]
Trong số 32 bệnh nhân lupus ban đỏ có tế bào
Hargraves dương tính gặp nhiều nhất là tổn thương cơ
quan tạo máu 65,62%, thấp hơn một chút là tổn
thương thận 62,5%, tổn thương tim 43,75%, tổn
thương khớp là 40,62%
Khi nghiên cứu về mối liên quan giữa tỷ lệ dương
tính của tế bào Hargraves với bệnh nhân lupus ban
đỏ thì chúng tôi thấy: Những người có tế bào
Hargraves dương tính có nguy cơ bị tổn thương nội
tạng gấp 8,4 lần so với những người bị tổn thương da
với OR = 9,6 p < 0,05
Như vậy có thể thấy mặc dù xét nghiệm tế bào
Hargraves không phải là đặc hiệu cho bệnh lupus
ban đỏ nhưng nó vẫn giúp cho quá trình sàng lọc
bệnh nhân một cách có hiệu quả
2 Anti ds DNA
Anti - ds DNA được coi là “marer” của bệnh lupus
ban đỏ Nhưng rất tiếc trong nghiên cứu của chúng tôi
chỉ có 39/73 bệnh nhân được làm xét nghiệm này Bởi vì một số lý do sau:
Xét nghiệm này chúng tôi phải gửi bệnh phẩm đến Bệnh viện trường Đại học Y Hải Phòng cho nên một
số bệnh nhân bị thất lạc kết quả
Giá thành tương đối cao nên một số bệnh nhân đã
đủ tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh chúng tôi không cho làm nữa
Xét nghiệm cho tỷ lệ dương tính cao trong những
đợt cấp của bệnh, vì vậy một số bệnh nhân vào viện giai đoạn ổn định chúng tôi cũng không cho làm Điều này đã được chứng minh bởi nhiều tác giả [1], [9]
Có 39 BN trong nhóm nghiên cứu được làm kháng thể kháng DNA, tỷ lệ dương tính cao 76,9%, trong đó nhóm tổn thương nội tạng là 56,39% Như vậy có thể thấy mặc dù số lượng bệnh nhân được làm xét nghiệm này không nhiều nhưng lại cho tỷ lệ dương tính cao Điều này cho thấy kháng thể kháng DNA có vai trò quan trọng và là yếu tố miễn dịch đặc trưng cho bệnh lupus ban đỏ
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Lê Văn Don tỷ lệ anti - ds DNA dương tính là 76,19% [3], Nguyễn Thị Mai Lương (74,19%) [4], Phạm Thị ánh Xuân (78,13%) [6] Và một số tác giả nước ngoài Kosaraju K và cộng sự (89,36%) [7], [9]
Bệnh nhân có anti - ds DNA dương tính gặp nhiều nhất cũng là tổn thương cơ quan tạo máu: 66,67%, sau đó đến khớp 53,33%, tổn thương tim gặp 36,67%, rồi đến tổn thương gan 33,33%, tổn thương thận và phổi chiếm tỷ lệ bằng nhau thấp hơn một chút 30% Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Lương anti - ds DNA dương tính trong tổn thương máu là 86,96%, tổn thương phổi 30,43% [4]
3 Kháng thể kháng nhân
Nghiên cứu cho thấy có 66/73 bệnh nhân làm kháng thể kháng nhân, gặp 60,6% bệnh nhân lupus ban đỏ có kháng thể kháng nhân dương tính trong đó nhóm tổn thương nội tạng là 48,48% cao hơn so với nhóm tổn thương da đơn thuần (12,12%)
Tham khảo một số kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước như Nguyễn Thị Mai Lương tỷ lệ này là 100% [4], Phạm Thị ánh Xuân (90%) [6] cao hơn tỷ lệ của chúng tôi rất nhiều Nhưng theo một số tác giả nước ngoài Kosaraju K, hoặc Mittoo S, Gelber AC thì tỷ lệ này chỉ có 64% [7], [8]
Nghiên cứu thấy trong các bệnh nhân lupus ban
đỏ có kháng thể kháng nhân dương tính thì gặp nhiều nhất là tổn thương cơ quan tạo máu (70,37%), sau đó
đến tổn thương thận 62,96%, rồi đến tổn thương khớp 51,85%
Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Lương tổn thương thận và tổn thương máu có kháng thể kháng nhân dương tính là 83,87%, tổn thương khớp là 67,74% [4] Trong nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy mối liên quan giữa kháng thể kháng nhân với biểu
Trang 4Y học thực hành (760) - số 4/2011 147
hiện tổn thương da hay tổn thương nội tạng ở bệnh
lupus ban đỏ với OR = 0,56; p > 0,05
Điều đó cho thấy kháng thể kháng nhân là không
đặc hiệu trong bệnh lupus ban đỏ, có thể gặp dương
tính ở một số bệnh hệ thống khác như xơ cứng bì, viêm
da cơ [7], [9] Chính vì vậy mà cần phải thêm các xét
nghiệm miễn dịch trong một số trường hợp lâm sàng
nghi ngờ lupus để kết hợp chẩn đoán bệnh cho chính
xác tránh chẩn đoán nhầm hay bỏ sót chẩn đoán
So sánh giữa nhóm có tổn thương da đơn thuần và
nhóm tổn thương nội tạng thì thấy tỷ lệ dương tính của
các xét nghiệm miễn dịch trong nhóm tổn thương nội
tạng cao hơn so với nhóm tổn thương da đơn thuần Sự
khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Trong những xét nghiệm miễn dịch dương tính thì
thấy tổn thương thận, máu, khớp chiếm tỷ lệ rất cao
hơn hẳn những nội tạng khác như vậy có thể thấy đây
là những tổn thương hay gặp và mang lại hậu quả
nặng nề cho người bệnh, trên lâm sàng lại hay bị bỏ
sót và chẩn đoán nhầm, vì vậy trước bệnh nhân lupus
cần chú ý tìm thật kỹ các tổn thương nội tạng để điều trị
kịp thời góp phần kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân
KếT LUậN
Qua nghiên cứu xét nghiệm miễn dịch của 73
bệnh nhân lupus ban đỏ điều trị nội trú tại các khoa
hệ Nội và khoa Da Liễu Bệnh viện Việt Tiệp - Hải
Phòng từ tháng 04/2009 đến tháng 09/2010 chúng tôi
rút ra kết luận sau:
Tế bào Hargraves dương tính chiếm tỷ lệ cao
71,21% Trong đó nhóm 2 (48,48%), gặp nhiều hơn
nhóm 1 (22,73%) Bệnh nhân lupus ban đỏ có tế bào
Hargraves dương tính có nguy cơ bị tổn thương nội tạng gấp 8,4 lần so với tổn thương da
Kháng thể kháng DNA: tỷ lệ dương tính 76,9%, nhóm 2 (56,39%) gặp nhiều hơn nhóm 1 (20,51%) Kháng thể kháng nhân: tỷ lệ dương tính 60,6% Nhóm 2 là 48,48%, nhóm 1 là 12,12% Không thấy có mối liên quan giữa bệnh nhân lupus ban đỏ có tổn thương nội tạng với tỷ lệ xuất hiện kháng thể kháng nhân trong máu
TàI LIệU THAM KHảO
1 Trần Ngọc Ân (1998): “ Lupus ban đỏ” Bệnh học Nội khoa tập 2 NXB Y học Hà Nội Tr 293 – 299
2 David B.Hellmann, Trần Ngọc Ân, Nguyễn Đình
Khoa (2001) “Chẩn đoán và điều trị y học hiện đại” Tập
1 Nhà xuất bản y học Hà Nội Tr 1193 – 1200
3 Lê Văn Don (2010): “Giá trị của xét nghiệm ANA,
ds – DNA trong bệnh lupus ban đỏ” Y dược lâm sàng
108 Năm 2010, số 1, tập 5 Tr 71 – 74
4 Nguyễn Thị Mai Lương (2007): “ Khảo sát tỷ lệ
kháng thể kháng nhân và kháng thể kháng chuỗi kép ADN ở bệnh nhân Lupus ban đỏ và các bệnh tự miễn khác” Luận văn tốt nghiệp bác sĩ y khoa
5 Nguyễn Xuân Sơn (1995): “Nghiên cứu lâm sàng
và điều trị bệnh Lupus ban đỏ tại Bệnh viện đa khoa Việt Tiệp Hải Phòng từ năm 1975 – 1994” Luận án phó tiến
sĩ khoa học Y dược Trường đại học Y Hà Nội 1995
6 Phạm Thị ánh Xuân (2001): “ Khảo sát tỷ lệ kháng
thể kháng nhân và kháng thể kháng chuỗi kép DNA trong huyết thanh bệnh nhân Lupus ban đỏ” Luận văn
tốt nghiệp bác sĩ y khoa
U TạO MáU NGOàI TủY XƯƠNG TRONG KHOANG NGOàI MàNG CứNG ốNG SốNG NGựC
Bùi Văn Lệnh, Đoàn Tiến Lưu TểM TẮT
Mục tiờu: Giới thiệu kinh nghiệm chẩn đoỏn cộng
hưởng từ u tạo mỏu trong khoang ngoài màng cứng Đối
tượng và phương phỏp nghiờn cứu: là một bệnh nhõn 24
tuổi cú cơ địa thiếu mỏu mạn tớnh nhập viện với cỏc dấu
hiệu chốn ộp tủy ngực Kết quả: Chụp cộng hưởng từ là
phương phỏp chẩn đoỏn tối ưu Kết luận: Bệnh nhõn cú
cơ địa thiếu mỏu mạn tớnh cú biểu hiện chốn ộp tủy
ngoài những nguyờn nhõn thường gặp khụng nờn loại
trừ u tạo mỏu ngoài tủy xương
Từ khúa: u tạo mỏu ngoài tủy xương, Cộng hưởng
từ, thiếu mỏu mạn tớnh
Summary
Aim: to introduce our experiences how to diagnose
extramedullary hematopoiesis presenting as a thoracic
spinal cord compressive lesion on MR images Method: a
case study Object: a 24-year-old man with chronic
anemia was admitted to hospital because of weakness
and dysesthesia in his legs Result: MR imaging can
describe extramedullary hematopoiesis in the spinal
extradural space clearly Conclusion: if a chronic-anemia
patient presents a spinal cord compression, don’t forget
that the cause may be extramedullary hematopoiesis
Keywords: thoracic extramedullary hematopoiesis,
MRI, chronic anemia
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chốn ộp tủy do cỏc khối tạo mỏu ngoài tủy xương (extramedullary hematopoiesis) đó được bỏo cỏo trong một số ớt tài liệu y học [1] Hầu hết cỏc trường hợp khối tạo mỏu nằm trong khoang mỡ ngoài màng cứng ống sống, một số rất hiếm trường hợp tổn thương nằm trong
u khỏc gõy chốn ộp tủy sống như trong u nguyờn bào nội mạch (hemangioma), u màng nóo (meningioma), u
tế bào sao thể nang lụng (pilocytic astrocytoma) [1, 5] Bệnh nhõn thường cú biểu hiện thiếu mỏu mạn tớnh do mắc cỏc bệnh như u bạch cầu cấp, xơ húa tủy, và cỏc hội chứng loạn sản tủy khỏc hoặc cỏc bệnh thiếu mỏu di truyền thalassemia [2, 3, 5] Trước những bệnh nhõn trong bệnh cảnh thiếu mỏu mạn tớnh cú tổn thương chốn
ộp tủy thỡ một trong những nguyờn nhõn được đặt ra là
do cỏc khối tạo mỏu ngoài tủy xương [1, 5]
GIỚI THIỆU BỆNH ÁN
Bệnh nhõn nam, 24 tuổi, vào viện với lý do: yếu hai chõn Tiền sử chưa phỏt hiện bệnh gỡ đặc biệt
Diễn biến lõm sàng từ 3 thỏng nay, tờ bỡ hai chõn, hai