1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

CẮT tá TRÀNG bảo tồn đầu tụy TRONG CHẤN THƯƠNG tá TRÀNG

4 601 7

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại bệnh viện Việt Đức ngày 26/01/2011 chúng tôi đã thực hiện phẫu thuật cắt toàn bộ tá tràng bảo tồn đầu tụy cho một trường hợp bệnh nhân chấn thương tá tràng rộng.. Chúng tôi viết thôn

Trang 1

Y học thực hành (759) – số 4/2011 83

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Bảng 1: Phõn bố cỏc trường hợp theo tuổi, giới

Anti HCV(+)

Anti

< 20 30 270 300

Tuổi

P<0,05

Giới

p>0,05

Qua nghiờn cứu cho thấy tỷ lệ anti - HCV (+) ở nhúm

học sinh - sinh viờn cú độ tuổi < 20 gặp gấp đụi so với

độ tuổi từ 20 - 25 cú ý nghĩa thống kờ với P < 0,05

Nghiờn cứu này cũng phự hợp với nghiờn cứu của một

số tỏc giả nước ngoài và trong nước [2], [5]

Tỷ lệ nam nữ cú anti - HCV (+) là xấp xỉ như nhau

Bảng 2: Phõn bố genotype HCV của cỏc đối tượng

nghiờn cứu

Genotypes n(%) RNA HCV (copies/ml) ATL (U/L)

Genotype HCV gặp nhiều nhất là 1b (51,8%) và 6a

(24,2%), cỏc genotype khỏc 1, 1a, 2a, 3 chiếm tỷ lệ

thấp Khụng cú sự khỏc nhau về nồng độ RNA HCV và

men ALT trong mỏu giữa cỏc genotype

Cỏc genotype HCV cũng cú sự phõn bố khỏc nhau

tựy theo khu vực Genotype phổ biến tại chõu Âu là 1a

và 3a, chõu Mỹ là 1 và 3, chõu Á là 1a, 3a, 3b, Việt Nam

1a, 1b, 6a tương tự như nghiờn cứu của chỳng tụi Hầu

hết cỏc nghiờn cứu đều cho thấy khụng cú mối liờn quan

giữa cỏc genotype với nồng độ virus và men gan trong

mỏu tương tự như nghiờn cứu của chỳng tụi(6)

KẾT LUẬN

- Quần thể những người < 20 tuổi cú tỷ lệ nhiễm

HCV cao hơn so với độ tuổi từ 20- 25

- Genotype HCV gặp chủ yếu trờn những người trẻ

tuổi là 1b (51,8%) và 6a (24,2%)

Summary

Prevalence rate of hepatitis C virus in medical

students in Thai Nguyen Medical College By Nguyen

Giang Nam

Objective: To evaluate the prevalence rate of anti-

HCV (+) in serum in students in Thai Nguyen Medical

College

Subjects and method: 408 medical student aged <

25 years are selected into study A cross – sectional descriptive study used in this study

Results: Prevalence rate of hepatitis C virus in

students in age group <20 was 2 times higher than that

in students in age group of 20 -25 Genotype of HCV was mainly seen in young adult of 1b (51.8%) and of 6a (24.2%)

Keywords: hepatitis C virus

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Beld M., Penning M., McMorrow M., Gorgels J., Van Den Hoek A., Goudsmit J (1998) “Different Hepatitis C virus (HCV) RNA load profiles following seroconversion among Injecting drug users without correlation with HCV genotype and serum alanine

aminotransferase levels”, Journal Clinical Microbiol,

1998, April, 36(4): 872-878

2 Cao Minh Nga, Nguyễn Ngọc Lan, Cao Mỹ Hà (2005) “Tỡnh trạng nhiễm HCV, HIV, HBV và Lao trờn

cỏc đối tượng nghiện ma tỳy” Y học Thành phố Hồ Chớ Minh, Tập 9, phụ bản của số 1 Tr.: 73-78

3 Europing Monitoring Centre for Drugs and Drug

Addiction Statistical buletin (2006) Prevalence of HCV antibody among injecting drug users in the EU, URL:

Leung N., Chu C M.C., Tam J.S (2006) “Viral Hepatitis

C in HongKong”, Intervirology; 49:23-27

4 Oliveira M.L.A., Bastos F.I., Telles P.R., Yoshida C.F.T., Shatzmayr H.G., Paetzold U., Pauli G and Shreier E (1999) ” Prevalence and risk factors for HBV, HCV and HDV infections among injecting drug users

from Rio de Janeiro, Brazil”, Brazillian Journal of Medical and Biological Reseach, Sep 1999, Volume 32(9)

1107-1114

5 Pallas JR., Farinas-Alvarez, Prieto D., Delgado-Rodrigues (1999) “Coinfections by HIV, Hepatitis B and

Hepatitis C in imprisoned Injecting Drug Use”, European Journal of Epidemiology, Vol 15, No 8 (Sep., 1999), pp

699-704

Thorpe LE., Lawrence et al (1999) “Hepatitis C Virus Infection: Prevalence, Risk Factors, and Prevention Opportunities among Young Injection Drug Users in Chicago, 1997-1999”, The Journal of Infectious Diseases 2000; 182:1588-94

Cắt tá tràng bảo tồn đầu tụy trong chấn thương tá tràng

Trịnh Hồng Sơn, Nguyễn Thành Khiêm, Nguyễn Hàm Hội,

Quách Văn Kiên, Trần Hà Phương, Bùi Trung Nghĩa, Hoàng Minh Thắng

đặt vấn đề

Chấn thương tá tràng vẫn là một thách thức lớn

đối với các phẫu thuật viên Kết quả điều trị phụ thuộc

vào lựa chọn phương pháp xử lý thương tổn [6] Có rất

nhiều phương pháp điều trị chấn thương tá tràng như

khâu kín, phẫu thuật Jordan, làm Patch, cắt khối tá

tụy, cắt tá tràng bảo tồn đầu tụy [5]… So với phẫu

thuật cắt khối tá tụy, cắt tá tràng bảo tồn đầu tụy có rất nhiều ưu điểm trong xử lý các tổn thương tá tràng rộng Mặc dù vậy phẫu thuật vẫn chưa được phổ biến ngay cả trên thế giới với chỉ 53 ca được thông báo cho đến 2009; ở Việt Nam chúng tôi chưa tìm thấy thông báo nào về phẫu thuật này Tuy nhiên đã có một số thông báo của Trịnh Hồng Sơn về xử lý một số

Trang 2

Y học thực hành (759) – số 4/2011 84

tổn thương vùng tá tràng đầu tụy [1], [2], [3], [4]

Tại bệnh viện Việt Đức ngày 26/01/2011 chúng tôi

đã thực hiện phẫu thuật cắt toàn bộ tá tràng bảo tồn

đầu tụy cho một trường hợp bệnh nhân chấn thương

tá tràng rộng Chúng tôi viết thông báo trường hợp

này để ghi nhận một trường hợp phẫu thuật cắt tá

tràng bảo tồn đầu tụy đầu tiên tại bệnh viện Việt Đức

qua đó điểm lại y văn về chỉ định và kỹ thuật thực

hiện phương pháp này

Thông báo lâm sàng

Bệnh nhân Nguyễn Thị Hương Q, nữ, 9 tuổi, địa

chỉ Quảng Châu, Việt Yên, Bắc Giang Bệnh án có số

vào viện 02264 Ngày vào viện 25/01/2011, ngày mổ

26/01/2011, ngày ra viện 18/2/2011 Bệnh nhân vào

viện vì đau bụng sau tai nạn ngã

Bệnh sử: trẻ chơi đùa với bạn bị đập bụng vào

tường thấp trước vào viện 3 ngày Sau tai nạn trẻ đau

bụng từng cơn, đau nhiều hạ sườn phải Trẻ có nôn

và bí trung đại tiện

Khám lâm sàng: bệnh nhân tỉnh, sốt 38 độ, da

niêm mạc hồng, mạch 110 lần/phút, huyết áp 100/60

Bụng chướng, ấn đau nhiều hạ sườn phải, có phản

ứng thành bụng, 2 hố chậu mềm

Các xét nghiệm sinh hoá và huyết học: hồng cầu

4.92 triệu, hematocrit 40%, bạch cầu 21000, ure 35,

creatinin 148, GOT 54UI/L, GPT 33UI/, các chỉ số

khác trong giới hạn bình thường

Chẩn đoán hình ảnh: Xquang phổi và bụng không

chuẩn bị không thấy gì đặc biệt Siêu âm ổ bụng thấy

hình ảnh khối giảm âm vị trí quanh rốn kích thước

7x9cm bên trong có nhiều vách Khối nằm trước tĩnh

mạch chủ và động mạch chủ, không thấy liên quan gì

với thận, gan và đầu tụy Chụp cắt lớp vi tính thấy

hình ảnh dạ dày giãn to chứa dịch đồng nhất ở vị trí

D1, D2, D3 tá tràng có khối ranh giới rõ, kích thước 76

x 46 mm, tăng tỷ trọng tự nhiên dạng máu tụ, có vài

bóng khí bao quanh khối vị trí D2

Chẩn đoán trước mổ: Chấn thương tá tràng

Khi mở bụng: ổ bụng có ít dịch máu loãng, gan 2

thùy hồng đẹp, không thấy đường vỡ Dạ dày, ruột

non, đại trực tràng không thấy tổn thương, khối máu

tụ lớn dọc tĩnh mạch chủ dưới lan toàn bộ sau phúc

mạc bên phải Giải phóng khối tá tràng đầu tụy, mở tá

tràng kiểm tra thấy toàn bộ thành tá tràng đụng dập,

lóc thành, tụ máu Nhú tá lớn, nhú tá bé và phần tá

tràng dính vào đầu tụy còn bình thường Đầu tụy mềm

mại không thấy đường vỡ, không thấy đụng dập

Bệnh nhân đã được cắt toàn bộ phần tự do của

D1, D2, D3; cắt D4 và đoạn hỗng tràng đầu tiên, bảo

tồn nhú tá bé, nhú tá lớn Môn vị, phần tá tràng còn

lại và đầu tụy được nối với hỗng tràng trên một quai

biệt lập 2 lớp Lớp thứ nhất tận dụng phần tá tràng nối

với hỗng tràng còn lại bằng đường khâu vắt, lớp thứ 2

khâu tụy và dạ dày với hỗng tràng các mũi rời Đầu

tận của hỗng tràng được nối với dạ dày qua mạc treo

đại tràng ngang

Hậu phẫu ổn định: sau mổ số lượng nước tiểu tốt,

ure và creatinin nhanh trở vể chỉ số bình thường

Bệnh nhân trung tiện ngày thứ 6, bụng mềm, vết mổ liền tốt, cho ăn qua mở thông hỗng tràng ngày thứ 7

Ra viện trong tình trạng không sốt, vết mổ khô, bụng mềm, đã rút hết các dẫn lưu, đi lại ăn uống, đại tiểu tiện bình thường

Bàn luận

Cắt tá tràng bảo tồn đầu tụy được Chung và cộng

sự mô tả đầu tiên năm 1995 [5] Phẫu thuật bao gồm cắt toàn bộ đoạn tá tràng và để lại toàn bộ phần đầu tụy còn lại Thay đổi kỹ thuật cắt không toàn bộ tá tràng (ví dụ như cắt D3, D4 cũng có thể gọi với thuật ngữ trên [9], [12]) hoặc cắt gần toàn bộ tá tràng bảo tồn đầu tụy (Pancreas- sparing subtotal duodenectomy), thuật ngữ này mô tả chính xác hơn cách thức phẫu thuật [11] Như vậy trường hợp của chúng tôi cũng có thể gọi là phẫu thuật cắt tá tràng bảo tồn đầu tụy mặc dù để lại một phần tá tràng dính vào tụy, bảo tồn nhú tá lớn và nhú tá bé

Về chỉ định của phẫu thuật [7]: phẫu thuật có được

áp dụng trong các trường hợp chấn thương tá tràng, tuy nhiên chỉ định chính của phẫu thuật vẫn là những khối u hay tổn thương tiền ung thư lan tỏa ở tá tràng nhưng chỉ giới hạn ở lớp niêm mạc mà không có nguy cơ di căn theo đường bạch huyết quanh tá tràng Chỉ định tốt nhất là bệnh đa polyp tuyến ở tá tràng

có tính chất gia đình Một chỉ định tốt khác là u tuyến

đơn độc dạng nhung mao, đáy rộng ở phần dưới của bóng Vater Rất nhiều tác giả [7], [8], [10] cũng đã khẳng định đây là một kỹ thuật tốt, có thể thay thế cắt khối tá tụy trong những bệnh lý trên

Trong chấn thương tá tràng phẫu thuật rất hữu ích cho những tổn thương tá tràng phức tạp mà không có tổn thương đầu tụy kèm theo [8]

Về kỹ thuật : những nét đáng chú ý của phẫu thuật cắt toàn bộ tá tràng bảo tồn đầu tụy kinh điển có thể tóm tắt trong các bước như sau [7]:

- Bước 1: Phẫu tích tách rời ranh giới giữa tá tràng

và đầu tụy Các mạch máu giữa 2 cơ quan được thắt một cách tỷ mỷ Phẫu tích được thực hiện ở phía dưới bóng Vater trước cho đến giới hạn dưới của nhú tá lớn

- Bước 2: Bóc giữa thành tá tràng (intramural duodenal plane) ở phía trên bóng Vater theo hướng từ trên xuống dưới và trước ra sau cho đến khi thấy nhú tá tràng Nhú tá bé được phẫu tích và thắt Lớp ngoài của thành tá tràng được để lại dính vào đầu tụy

- Bước 3: Nối hỗng tràng với môn vị dạ dày

- Bước 4: Nối bóng Vater với ruột non

Để thực hiện thuận lợi những bước trên làm động tác Kocher để di động toàn bộ khối tá tràng đầu tụy là bắt buộc

Tuy nhiên, có rất nhiều thay đổi kỹ thuật trong phẫu thuật này nhất là đối với những trường hợp chấn thương khi chỉ cần loại bỏ những vùng có tổn thương của tá tràng Năm 2009 Wig và cộng sự [8] thông báo

2 trường hợp chấn thương tá tràng Trong cả 2 trường hợp này tác giả đều cắt toàn bộ tá tràng vì tổn thương

đụng dập toàn bộ tá tràng Trong 5 bệnh nhân chấn

Trang 3

Y học thực hành (759) – số 4/2011 85

thương tá tràng của Paluszkiewicz và cộng sự [12] có

3 bệnh nhân được cắt D3, D4 và để lại 1cm tá tràng

D2 dưới bóng Vater, 2 trường hợp còn lại toàn bộ D2

tá tràng và hành tá tràng được lấy bỏ Bệnh nhân của

chúng tôi được cắt toàn bộ D3, D4, một phần D1, D2

và còn giữ lại thành tá tràng D1 phía trong và D2 dính

với tá tràng Theo chúng tôi trong chấn thương nếu

phần dính vào đầu tụy của tá tràng không tổn thương

có thể giữ lại phần này để làm lớp thứ nhất miệng nối

đầu tụy- hỗng tràng và bảo tồn được cả 2 nhú tá

tràng Trong bệnh lý, khi chắc chắn tổn thương khu

trú và không có nguy cơ lan tràn cũng có thể để lại

một phần tá tràng [11]

Cách lập lại lưu thông miệng nối tiêu hóa cũng có

nhiều thay đổi Phẫu thuật kinh điển nối môn vị với

hỗng tràng và nối bóng Vater với hỗng tràng Wig và

cộng sự [8] nối đầu tận của hỗng tràng với đầu tụy,

bóng Vater nằm trong miệng nối trên và nối dạ dày-

hỗng tràng tận bên trong cả 2 trường hợp chấn

thương tá tràng Paluszkiewicz và cộng sự [12] nối

môn vị và tá tràng tận tận như kinh điển 2 trường hợp

cắt toàn bộ tá tràng của tác giả, bóng Vater được nối

với cùng một quai hỗng tràng lên nối với môn vị

Chúng tôi nối tụy và môn vị với hỗng tràng trên một

quai ruột biệt lập, đầu tận còn lại của hỗng tràng được

nối với dạ dày Nói chung chưa có sự thống nhất về

cách lập lại lưu thông tiêu hóa trong phẫu thuật cắt tá

tràng bảo tổn đầu tụy, kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào

thói quen của phẫu thuật viên Chưa có một nghiên

cứu lớn nào chỉ ra biến chứng, ưu nhược điểm của

các phương pháp

Các thủ thuật giảm áp miệng nối thường được làm

như dẫn lưu đường mật, có thể dẫn lưu túi mật [8]

hoặc dẫn lưu ống mật chủ [12] Bệnh nhân của chúng

tôi không dẫn lưu đường mật giảm áp, sonde dạ dày

được đặt qua miệng nối tụy ruột hút liên tục, dịch dạ

dày có thể xuống theo quai hỗng tràng lên nối với

môn vị và đầu tụy hoặc quai hỗng tràng nối với dạ

dày Hầu hết các trường hợp đều được mở thông

hỗng tràng nuôi ăn [7], [8], [12] Theo chúng tôi đây là

một thủ thuật cần thiết và quan trọng có thể tránh

phẫu thuật lại trong những trường hợp rò miệng nối

Bệnh nhân của chúng tôi được làm thêm miệng

nối vị tràng với quai chữ Y, và trên quai chữ Y này

được mở thông hỗng tràng Miệng nối này cũng có

thể không cần thiết ? Tuy nhiên miệng nối này làm

dẫn lưu lưu thông dạ dày tốt hơn vừa qua đây để

xuống ruột, vừa qua môn vị xuống ruột non

Về ưu nhược điểm của phương pháp phẫu thuật:

ưu điểm của cắt tá tràng bảo tồn đầu tụy so với cắt

khối tá tụy trong bệnh lý tá tràng đã được khẳng định

Muller và cộng sự [10] so sánh 23 bệnh nhân đa u

tuyến tá tràng được thực hiện phẫu thuật này với 16

trường hợp cắt khối tá tụy cho thấy lượng máu mất

trong mổ giảm hơn đáng kể so với cắt khối tá tụy,

không có bệnh nhân nào phải dùng men tụy hỗ trợ so

với 12 trường hợp sau cắt khối tá tụy Các tác giả kết

luận cắt tá tràng đầu tụy là một phẫu thuật an toàn,

đem lại chất lượng cuộc sống tốt hơn cho những bệnh nhân đa u tuyến tá tràng so với phẫu thuật Whipple Tsiotos và Sarr [7] cho rằng khi chỉ định đúng cắt tá tràng bảo tồn đầu tụy có rất nhiều ưu điểm hơn so với cắt khối tá tụy: thứ nhất phẫu thuật này chỉ lấy đi phần tá tràng giữ lại nhiều hơn chức năng bình thường phần ống tiêu hóa trên; thứ 2 phẫu thuật giảm được

số lượng các miệng nối, giảm được nguy cơ miệng nối hỗng tràng với đường mật không giãn và miệng nối hỗng tràng với ống tụy nhỏ trong nhu mô tụy; thứ 3 phẫu thuật ít xâm lấn hơn với thời gian thực hiện phẫu thuật ngắn hơn; thứ 4 phẫu thuật vẫn cho phép thăm khám được toàn bộ hệ tiêu hóa sau mổ

Trong khi ưu điểm của cắt đầu tụy bảo tồn tá tràng

đã rõ ràng trong các trường hợp bệnh lý thì chưa có nghiên cứu nào khẳng đinh giá trị của phẫu thuật này trong chấn thương Hiệu quả của phương pháp mới chỉ được trình bày trên các thông báo một số ít trường hợp

Một tổng hợp các thông báo lâm sàng về phẫu thuật này ở các bệnh nhân chấn thương hoặc vết thương tá tràng [12] cho thấy trong 10 ca của các tác giả Châu á không có trường hợp nào tử vong, có 4 biến chứng sau mổ trong đó có 3 trường hợp nhiễm trùng vết mổ và 1 trường hợp chảy máu sau mổ Trong 43 ca được thực hiện bởi các tác giả Châu Âu

có 7 trường hợp biến chứng (1 áp xe tồn dư và 6 rò tá tràng) 2 trong số các bệnh nhân rò tá tràng tử vong Như vậy trong 53 trường hợp lâm sàng được thông báo tỷ lệ tử vong nhỏ hơn 4% Tuy chưa có một nghiên cứu hệ thống nhưng hầu hết các tác giả thống nhất rằng đây là phẫu thuật hữu ích cho chấn thương tá tràng phức tạp [8], [7], [12]

Cắt tá tràng bảo tồn đầu tụy dù có nhiều ưu điểm tuy nhiên kỹ thuật đòi hỏi sự tỷ mỷ tinh tế và hiểu biết sâu về giải phẫu khối tá tràng đầu tụy do đó vẫn còn

là một phẫu thuật khó đối với phẫu thuật viên [8] Theo chúng tôi những biến đổi về kỹ thuật đặc biệt trong chấn thương cho phép để lại phần tá tràng còn lành sẽ giúp phẫu thuật viên thực hiện phẫu thuật này

dễ dàng hơn

Kết luận

Cắt tá tràng bảo tồn đầu tụy là một phẫu thuật tốt cho những trường hợp chấn thương tá tràng phức tạp nhất là những trường hợp tổn thương tá tràng lan rộng

mà không có tổn thương đầu tụy Nắm vững kỹ thuật này giúp cho phẫu thuật viên có thể thực hiện trong một số bệnh lý tá tràng không phải cắt khối tá tụy, mang lại lợi ích cho người bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trịnh Hồng Sơn, Phạm Hoàng Hà Kết quả bước đầu cắt u bóng Vater tạo hình ống mật

và ống tụy qua đường mở D2 tá tràng Y học thực hành,

2005, 4 : 35-37

2 Trịnh Hồng Sơn, Nguyễn Hoàng Một cách xử trí trường hợp không đóng được mỏm tá tràng do ung thư dạ dày xâm lấn tá tràng đầu tụy trong phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư

Y học thực hành, 2009, 3 (650) : 34- 36

Trang 4

Y học thực hành (759) – số 4/2011 86

3 Trịnh Hồng Sơn

Một số kỹ thuật trong mổ tiêu hóa

Y học thực hành, 2009, 8 (670) : 53- 57

4 Trịnh Hồng Sơn, Phạm Quốc Đạt, Nguyễn Trường

Giang, Bùi Trung Nghĩa, Nguyễn Thành Khiêm

Xử lý viêm phúc mạc sau dẫn lưu mỏm tá tràng

không hiệu quả

Y học thực hành, 2011, 1 (748) : 60 – 63

5 Chung RS, Church JM, van Stolk R:

Pancreas-sparing duodenectomy: Indications,

surgical technique, and results Surgery 1995; 117: 254–

259

6 Degiannis E, Boffard K

Duodenal Injury

Bristish Journal of Surgery, 2000, 87, 1473- 1479

7 Gregory G Tsiotos, Michael G Sarr

Pancreas- Preserving Total Duodenectomy

Dig Surg 1998;15: 398–403

8 Jai Dev Wig, Ashwinikumar Kudari, Thakur Deen

Yadav, Rudra Prasad Doley, Kishore Gurumoorthy,

Subramanya Bharathy, Naveen Kalra

Pancreas Preserving Total Duodenectomy for

Complex Duodenal Injury

JOP J Pancreas (Online) 2009 Jul 6; 10(4):

425-428

9 Maher MM, Yeo CJ, Lillemoe KD, Roberts JR, Cameron JL

Pancreas-sparing duodenectomy for infra-ampullary duodenal pathology

Am J Surg 1996; 171:62–67

10 Michael W Mỹller, Rolf Dahmen, Jửrg Kửninger,

Helmut Friess

Is there an advantage in performing a

adenomatosis?

The American Journal of Surgery 2008, Volume

195, 6: 741-748

11 Poves I, Burdio F, Alonso S, Seoane A

Laparoscopic pancreas-sparing subtotal duodenectomy

JOP 2011 Jan 5;12(1):62-5

12 Piotr Paluszkiewicz, Wojciech Dudek, Kathryn Lowery, Colin A Hart

Pancreas sparing duodenectomy as an emergency procedure

World Journal of Emergency Surgery 2009, 4: 19 CHI PHí ĐIềU TRị MộT Số BệNH LIÊN QUAN ĐếN Sử DụNG THUốC Lá

ở VIệT NAM NĂM 2007

Lương Ngọc Khuê, Bộ Y tế

TểM TẮT:

Tại Việt Nam, thuốc lỏ là nguyờn nhõn gõy ra 4.000

trường hợp tử vong hàng năm, gấp 4 lần số tử vong do

tai nạn giao thụng Việc thu thập và đưa ra cỏc bằng

chứng về tỏc động kinh tế và sức khỏe của hỳt thuốc lỏ

là hết sức cần thiết vỡ vậy nghiờn cứu này được thực

hiện với mục tiờu: ước tớnh cập nhật về chi phớ điều trị 3

bệnh (ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn món tớnh và

bệnh tim do thiếu mỏu cục bộ), bao gồm cả cỏc chi phớ

điều trị nội trỳ, điều ngoại trỳ và tự điều trị Phương

phỏp nghiờn cứu: Mụ tả cắt ngang Kết quả: Tổng chi

phớ điều trị COPD là 2.007.794.507.841 VND (US$

105.673.395 $US)/năm, tiếp theo là nhồi mỏu cơ tim

(NMCT) (164.629.836.378 VND hoặc 8.664.728 $US) và

ung thư phổi (132.061.155.335 VND, hoặc 6.950.587

$US) Kết luận: Kết quả từ nghiờn cứu này khẳng định

một thực tế là hỳt thuốc đó gõy ra những tổn thất kinh tế

đỏng kể cho Việt Nam

Từ khúa: Chi phớ điều trị, Sử dụng thuốc lỏ, Việt

Nam

UPDATE ESTIMATE OF TREATMENT COSTS FOR

THREE TOBACCO-RELATED DISEASES IN VIETNAM,

2007

Summary:

In Viet Nam, tobacco use is responsible for 40,000

deaths each year, four times the number of people that

die on the country’s roads each year Objective: to

estimate treatment costs of three tobacco-related

diseases (i.e lung cancer, respiratory chronic

obstructive diseases and ischemic heart diseases),

including inpatient costs, outpatient costs and

self-treatment costs Design: Cross-sectional study

Results: Annual treatment costs of lung cancer, COPO

and IDH are VND 2,007,794,507,841 ($US 105,673,395) per year, followed by ischemic disease (VND 164,629,836,378, or $US 8,664,728) and then lung cancer ($VN 132,061,155,335, or $US 6,950,587)

Conclusion: The findings from this study confirm the

fact that smoking has caused significant losses for Vietnam

Keywords: Treatment cost, smoking, Vietnam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là một trong những nước cú tỷ lệ hỳt thuốc

lỏ cao nhất trờn thế giới Tỷ lệ hỳt thuốc của những người từ 15 tuổi trở lờn năm 2002 là 56,1% ở nam giới

và 1,8% ở nữ giới [4] ở Việt Nam, thuốc lỏ là nguyờn nhõn gõy ra 4.000 trường hợp tử vong hàng năm, gấp 4 lần số tử vong do tai nạn giao thụng Tỏc động về kinh

tế của hỳt thuốc lỏ cũng rất lớn Năm 2002, người dõn Việt nam đó chi tới 10.400 tỷ đồng cho cỏc sản phẩm thuốc lỏ Một nghiờn cứu gần đõy cho thấy, Việt nam cũng đó phải chi tới trờn 1.160 tỷ đồng cho điều trị ung thư phổi, bệnh nhồi mỏu cơ tim và cỏc bệnh phổi tắc nghẽn món tớnh, đõy mới chỉ là 3 trong số 25 bệnh do hỳt thuốc lỏ gõy ra [7]

Việc thu thập và đưa ra cỏc bằng chứng về tỏc động kinh tế và sức khỏe của hỳt thuốc lỏ là hết sức cần thiết Rose và cộng sự đó thực hiện một nghiờn cứu về ước lượng chi phớ bệnh viện của 3 bệnh liờn quan đến thuốc

lỏ (ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn món tớnh và nhồi mỏu cơ tim) vào năm 2005 [7] Tuy nhiờn, nghiờn cứu trước đõy chỉ tớnh đến chi phớ điều trị nội trỳ của cỏc

Ngày đăng: 25/08/2015, 09:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm