1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thị trường khoa học và công nghệ ở việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

33 648 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 830,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về thị trường Khoa học và công nghệ KH&CN, các tiêu chí đánh giá và các yếu tố tác động tới phát triển thị trường KH&CN trong tiến trình Hội nhập

Trang 1

Thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam

trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Nguyễn Mạnh Hùng

Trung tâm đào tạo bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị

Luận án TS ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 62.31.01.01 Người hướng dẫn: GS TS Vũ Văn Hiền; TS Đặng Đình Thanh

Năm bảo vệ: 2012

Abstract Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về thị trường Khoa học và công

nghệ (KH&CN), các tiêu chí đánh giá và các yếu tố tác động tới phát triển thị trường KH&CN trong tiến trình Hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) Nêu bật kinh nghiệm xây dựng và phát triển thị trường KH&CN ở một số quốc gia trong tiến trình HNKTQT Phân tích và đánh giá quá trình phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong tiến trình

HNKTQT theo những nội dung và các tiêu chí đã đề xuất

Keywords Kinh tế chính trị; Khoa học công nghệ; Thị trường; Hội nhập quốc tế; Việt Nam

Content

Trang 2

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 20

1.1 Những vấn đề chung về thị trường khoa học và công nghệ trong

1.1.2 Những yếu tố tác động đến phát triển thị trường khoa học và công nghệ 33 1.2 Khái niệm, nội dung và tiêu chí đánh giá phát triển thị trường khoa

học và công nghệ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 38

1.2.1 Khái niệm phát triển thị trường khoa học và công nghệ 38 1.2.2 Nội dung, tiêu chí đánh giá sự phát triển của thị trường khoa học và

công nghệ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 40 1.3 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triển thị trường

1.3.1 Những xu hướng chính trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế tác

động tới phát triển thị trường khoa học và công nghệ 48 1.3.2 Cơ hội và thách thức đối với phát triển thị trường khoa học và công

nghệ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 51

1.4 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trường khoa học và công

nghệ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 59

1.4.1 Kinh nghiệm về hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển thị trường

1.4.4 Kinh nghiệm về tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức trong tiến trình

hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển thị trường khoa học và công nghệ 70

Chương 2 : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Ở VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 79

2.1 Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và chính sách phát triển thị

trường khoa học và công nghệ của Việt Nam 79

2.1.1 Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực thị

Trang 3

2.1.2 Chính sách phát triển thị trường khoa học và công nghệ của Việt Nam

2.1.3 Đánh giá về chính sách phát triển thị trường khoa học và công nghệ của

Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 93 2.2 Thực tiễn phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam

trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 99

2.2.1 Quy mô và tốc độ phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt

2.2.2 Chất lượng phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam 111 2.2.3 Đánh giá thực tiễn phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt

Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 124

Chương 3 : QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 136

3.1 Bối cảnh mới và quan điểm phát triển thị trường khoa học và công

3.1.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến phát triển thị trường khoa

học và công nghệ ở Việt Nam trong thời gian tới 136 3.1.2 Quan điểm phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam

trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thời gian tới 145 3.2 Những giải pháp chủ yếu để phát triển thị trường khoa học và công

nghệ ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 151

3.2.1 Hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển thị trường khoa học và công

3.2.2 Nâng cao vai trò quản lý của nhà nước đối với phát triển thị trường

3.2.3 Phát triển các yếu tố cấu thành thị trường khoa học và công nghệ ở Việt

3.2.4 Nâng cao năng lực các chủ thể tham gia thị trường khoa học và công

nghệ ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 170 3.2.5 Tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức trong tiến trình hội nhập kinh tế

quốc tế để phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam 176

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 186

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong tiến trình HNKTQT là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo Nhiệm vụ này gắn với việc phát triển các loại thị trường, trong đó có thị trường KH&CN Việc phát triển thị trường KH&CN sẽ giúp tăng cường tiềm lực KH&CN quốc gia, gắn kết nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh, bền vững và chủ động hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu

Thực tiễn sau hơn 25 năm đổi mới, đặc biệt là khi Luật KH&CN năm 2000

ra đời và Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển thị trường KH&CN (Quyết định

số 214/2005/QĐ-TTg ngày 30/8/2005 của Thủ tướng Chính phủ), thị trường KH&CN ở nước ta đã có bước phát triển và đạt được một số kết quả quan trọng Quy mô và tốc độ phát triển của thị trường KH&CN có sự gia tăng về số lượng

và loại hình hàng hoá KH&CN, số lượng các chủ thể tham gia thị trường, số lượng các giao dịch trên thị trường, đội ngũ nhân lực KH&CN Mặc dù vậy, đến nay thị trường KH&CN ở Việt Nam vẫn là thị trường ở trình độ thấp, chưa phát triển đồng bộ và đầy đủ Điều này được thể hiện ở các nội dung như: Số lượng hàng hoá KH&CN, số lượng các doanh nghiệp KH&CN dù đã nhiều thêm nhưng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong bối cảnh HNKTQT; Năng lực sáng tạo, năng lực hội nhập quốc tế của các tổ chức KH&CN còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới; Nhu cầu đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp chưa cao; Các yếu tố cấu thành thị trường KH&CN phát triển chưa đồng bộ, đặc biệt là các cơ chế, chính sách cụ thể tạo điều kiện và cơ sở pháp lý cho việc phát triển thị trường KH&CN còn bất cập, chưa theo kịp tình hình

Trang 5

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới Riêng đối với lĩnh vực thị trường KH&CN, Việt Nam đã thực hiện những cam kết trong các định chế, hiệp định song phương và đa phương như: Không phân biệt đối xử giữa chủ thể trong nước với chủ thể nước ngoài; Thực hiện bảo hộ quyền SHTT theo các cam kết quốc tế; Thực hiện các nghĩa vụ thành viên trong các hiệp định quốc tế Tuy nhiên, với thực trạng chưa phát triển đồng

bộ và đầy đủ của thị trường KH&CN, khi tham gia vào các định chế, hiệp định quốc tế trong tiến trình HNKTQT, Việt Nam sẽ gặp phải những khó khăn, thách thức trong phát triển thị trường KH&CN thời gian tới Trong khi đó, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 do Đại hội XI của Đảng đề ra đã xác định phải phát triển nhanh và bền vững, phát huy tối đa nhân tố con người, coi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là khâu đột phá, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất dựa trên trình độ KH&CN cao đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất và thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN để thực hiện cho được mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu phát triển đất nước như vậy, vấn đề đặt ra là, phải phát triển thị trường KH&CN như thế nào để có thể khai thác, tận dụng tốt những cơ hội và vượt qua những thách thức do tiến trình HNKTQT mang lại? Làm thế nào để việc phát triển thị trường KH&CN trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và góp phần vào việc hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hơn? Đó là các vấn đề lớn, cần được nghiên cứu, luận giải, phân tích cả trên phương diện lý luận và thực tiễn

để có thể tìm ra câu trả lời định hướng cho sự phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong những năm tiếp theo Việc tìm ra câu trả lời cũng góp phần thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Văn kiện Đại hội XI:

"KH&CN là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững Các

Trang 6

hoạt động KH&CN phải hướng trọng tâm vào việc phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" [49, tr 132]

Với tất cả những ý nghĩa nêu trên, Tác giả chọn vấn đề: “Thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế" làm đề

tài nghiên cứu cho luận án tiến sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến chủ đề thị trường KH&CN trong tiến trình HNKTQT đã có một số công trình nghiên cứu được công bố Có thể khảo sát những công trình này theo các nhóm như sau: Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu về thị trường KH&CN ở Việt Nam; Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu thị trường KH&CN

ở một số quốc gia dưới góc độ HNKTQT

Thứ nhất, đối với nhóm công trình nghiên cứu về thị trường KH&CN ở Việt Nam:

Trong nhóm công trình này có thể phân chia thành những công trình như sau: Một là, công trình dưới dạng sách, tạp chí, đề tài NCKH nghiên cứu về thị trường KH&CN ở Việt Nam; Hai là, các luận văn, luận án nghiên cứu về thị trường KH&CN ở Việt Nam

Một là, công trình dưới dạng sách, tạp chí, đề tài NCKH nghiên cứu về thị trường KH&CN ở Việt Nam Những công trình này nghiên cứu tổng quát cả lý

luận và thực tiễn về thị trường KH&CN ở Việt Nam dưới góc độ tổng thể thị trường quốc gia như các công trình: [2], [3], [34], [78], [168], [169] và những công trình nghiên cứu một khía cạnh của thị trường KH&CN ở Việt Nam như: [68], [73], [162] Mặc dù có các cách nghiên cứu và tiếp cận khác nhau, tổng hợp lại các công trình kể trên đã đạt được các kết quả như sau:

Về lý luận, đã phân tích tương đối hệ thống lý luận về thị trường KH&CN ở

Việt Nam thông qua việc phân tích các yếu tố cấu thành thị trường KH&CN như hàng hoá, các chủ thể , thể chế

Trang 7

Vấn đề đầu tiên khi nghiên cứu về thị trường KH&CN, các tác giả đã đưa ra quan niệm để trả lời câu hỏi “ thị trường khoa học và công nghệ” là gì? chỉ có

“thị trường công nghệ” hay tồn tại cả thị trường “khoa học và công nghệ” ? Các

công trình như: Sách Phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của GS TS Nguyễn Đình Hương [78]; Sách Lực lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức của Vũ Đình Cự – Trần Xuân Sầm [24, tr 145-155]; Sách Phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam của Đinh Văn Ân, Vũ Xuân Nguyệt Hồng…là các công trình tiêu biểu đề

cập tới vấn đề này Các công trình nêu trên mặc dù có cách tiếp cận, phân tích về khái niệm thị trường KH&CN khác nhau nhưng đều thống nhất không nên tách bạch hai loại thị trường là thị trường khoa học và thị trường công nghệ mà nên hiểu thị trường KH&CN là một thuật ngữ chung chỉ một loại thị trường đặc biệt nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi các sản phẩm KH&CN

Phân tích về hàng hoá trên thị trường KH&CN có thể kể đến một số bài

báo của tác giả Tạ Doãn Trịnh trên Tạp chí hoạt động khoa học như: Bài Bản chất kinh tế của tri thức khoa học và công nghệ [146, tr 28-32]; Bài Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ [147] trong các bài báo này, tác giả Tạ Doãn Trịnh

đã phân tích, làm rõ hàng hoá KH&CN là loại hàng hóa đặc biệt, có đặc điểm, tính chất của hàng hóa công cộng và là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của thị trường

Đề cập đến giá và cơ sở xác định giá của hàng hoá KH&CN, tác giả Đoàn Văn Trường đã có một số công trình như: Các phương pháp định giá công nghệ

và giá chuyển giao bên trong các công ty đa quốc gia [149], Các phương pháp xác định giá trị tài sản vô hình [150]….Trong các công trình này, ngoài việc đưa

ra các phương pháp định giá, thẩm định giá theo các hình thức khác nhau như: phương pháp thị trường, phương pháp so sánh trực tiếp, phương pháp chi phí tác giả còn đưa ra các điều kiện, quy tắc, tiêu chí, kỹ thuật định giá hàng hoá

Trang 8

KH&CN Đặc biệt, tác giả đã đề cập đến hiện tượng chuyển giá công nghệ bên trong các công ty đa quốc gia và các giải pháp để khắc phục tình trạng này

Về thực tiễn, các công trình đã tổng kết được một số kinh nghiệm phát triển

thị trường KH&CN ở một số quốc gia; đã bước đầu phân tích thực trạng thị trường KH&CN ở Việt Nam để từ đó đưa ra những nhận xét, khuyến nghị và giải pháp phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong thời gian tới

Tổng kết kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc phát triển thị trường KH&CN, đã có nhiều công trình đề cập, phân tích và đưa ra nhiều bài học đối với Việt Nam để phát triển thị trường KH&CN Trong những bài học đối với Việt Nam, hầu hết các công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc xây dựng hệ thống chính sách, hệ thống pháp luật cho việc phát triển

thị trường KH&CN, tiêu biểu như công trình: Bài Chính sách tạo lập và phát triển thị trường khoa học – công nghệ ở một số quốc gia của PGS TS Phạm Văn Dũng [36, tr 34-45]; Bài Một số kinh nghiệm quốc tế về chính sách phát triển khoa học - công nghệ của Dương Quỳnh Hoa [65, tr 20-28]

Đánh giá về thực trạng hoạt động của các tổ chức KH&CN ở Việt Nam,

công trình Đổi mới quản lý và hoạt động các tổ chức khoa học và công nghệ theo

cơ chế doanh nghiệp của TSKH Phan Xuân Dũng – TS Hồ Thị Mỹ Duệ [32] đã

phân tích tương đối hệ thống và chỉ ra những hạn chế trong việc chuyển đổi các

tổ chức KH&CN nhà nước sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cho rằng nguyên nhân gây ra những hạn chế này là do: Sự lúng túng của cơ quan quản lý nhà nước trong việc tách quyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hoá KH&CN; Các điều kiện để thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức KH&CN chưa được hình thành đồng bộ…[32, tr 95-96] Còn trong cuốn sách

Thúc đẩy các tổ chức khoa học và công nghệ chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp của PGS TS Phạm Ngọc Ánh [1], ngoài việc phân tích thực trạng

hoạt động chuyển đổi các tổ chức KH&CN, tác giả còn tập trung phân tích sâu về

Trang 9

thực trạng tài chính, vốn và các giải pháp về tài chính để thúc đẩy các tổ chức KH&CN chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp [1, tr.195-225]

Phân tích về cầu hàng hoá KH&CN trên thị trường, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích nhu cầu về sản phẩm KH&CN của doanh nghiệp

Có thể kể đến các công trình như: Bài Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học và công nghệ: chính sách cần được phát huy của Vũ Văn Hưng [73];

Bài Đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp vừa và nhỏ của Hồng Lam [92, tr

14-15]; Các công trình này đã chỉ ra những hạn chế chủ yếu trong việc tiếp nhận KH&CN từ bên ngoài của các doanh nghiệp như: Trình độ máy móc thiết bị và

kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam còn thấp; Đầu tư cho đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam thấp so với thế giới; Chất lượng nguồn nhân lực yếu gây ra khó khăn trong tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài …Tuy nhiên, về vấn đề này, chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống

về tác động của tiến trình HNKTQT đến nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Ngoài ra, trong bài Vấn đề đầu tư cho khoa học và công nghệ của tác giả

Nguyễn Quân [123] đã đề cập đến nhu cầu về sản phẩm KH&CN của Chính phủ Theo tác giả Chính phủ cũng là một chủ thể có nhu cầu cao về sản phẩm KH&CN để phục vụ cho các hoạt động của mình Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra những bất cập trong nhu cầu sản phẩm KH&CN của Chính phủ như hiện tượng không sử dụng hết nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho KH&CN, tình trạng các đề tài, sản phẩm KH&CN do Nhà nước đầu tư không có tính ứng dụng cao Đánh giá về thực trạng thể chế hỗ trợ thị trường KH&CN có các công trình

như: Bài Hệ thống pháp luật khoa học và công nghệ Việt Nam – 50 năm hình thành và phát triển của Đoàn Năng [114, tr 15-20]; Bài Đổi mới cơ chế quản lý khoa học-công nghệ phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường của Võ Văn Đức,

Nguyễn Thị Miền [53, tr 81-84]; Các tài liệu trên đã bước đầu chỉ ra những hạn chế trong hệ thống chính sách, pháp luật cho hoạt động của thị trường

Trang 10

KH&CN, đặc biệt là cơ chế, thể chế quản lý thị trường KH&CN chưa tạo ra sự gắn kết giữa các hoạt động NCKH với sản xuất và kinh doanh Tuy nhiên, các tài liệu trên chưa có tài liệu nào phân tích một cách hệ thống tác động của HNKTQT đến thể chế cho việc phát triển thị trường KH&CN như vấn đề về hài hòa hóa các tiêu chuẩn Việt Nam với các tiêu chuẩn quốc tế, vấn đề SHTT, cạnh tranh trong điều kiện HNKTQT…

Như vậy, đối với nhóm công trình dưới dạng sách, tạp chí, đề tài NCKH nghiên cứu về thị trường KH&CN ở Việt Nam, bên cạnh những kết quả đạt được,

vẫn còn những nội dung sau chưa được nghiên cứu, khảo sát một cách hệ thống

và đầy đủ:

- Xét về cách tiếp cận, chưa có công trình nào tiếp cận, khảo sát thị trường KH&CN ở Việt Nam dưới sự tác động ngày càng sâu rộng của tiến trình HNKTQT

- Xét về nội dung, chưa có công trình nào tổng hợp, phân tích đầy đủ, hệ thống các khái niệm, nội dung và tiêu chí đánh giá sự phát triển của thị trường KH&CN ở Việt Nam trong điều kiện thị trường này chịu sự tác động của tiến trình HNKTQT

Hai là, các luận văn, luận án nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến thị trường KH&CN

Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thị trường KH&CN có một số luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ tiêu biểu như: [6], [57], [58], [126], [170]

Luận án tiến sỹ Phát triển thị trường KH&CN: Kinh nghiệm của Trung Quốc và vận dụng vào Việt Nam của Đoàn Hữu Bảy năm 2009 [6]: Với đối tượng

nghiên cứu là kinh nghiệm phát triển thị trường KH&CN của Trung Quốc, luận

án đã hướng tới mục đích là rút ra những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng để phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam Luận án đã có những đóng góp về lý luận và thực tiễn dưới góc độ phân tích kinh nghiệm quốc tế để phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam Tuy nhiên, luận án này chưa đề cập, xem xét, phân

Trang 11

tích phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong tiến trình HNKTQT theo một hệ thống các nội dung, tiêu chí thống nhất

Đối với các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ còn lại, nhìn tổng thể các công trình này đã đề cập đến các chủ đề khác nhau liên quan đến thị trường KH&CN ở Việt Nam như nguồn nhân lực, vai trò của nhà nước, chính sách tài chính nhưng chưa có luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ nào nghiên cứu về chủ đề phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam dưới sự tác động của tiến trình HNKTQT theo các nội dung và tiêu chí thống nhất

Thứ hai, nhóm tài liệu đề cập đến thị trường KH&CN của một số quốc gia trên thế giới dưới góc độ HNKTQT:

Trong nhóm công trình này có thể phân chia thành những công trình như sau: Một là, các công trình của các tác giả nước ngoài; Hai là, các công trình của các tác giả trong nước

Một là, các công trình của các tác giả nước ngoài

Các công trình này chủ yếu nghiên cứu thị trường KH&CN ở một số quốc gia trên thế giới dưới góc độ HNKTQT, gồm các công trình như: [17], [86], [132], [133], [173], [175], [177], [178] Các công trình này đã đạt được các kết quả nghiên cứu như sau:

- Bước đầu phân tích mối quan hệ giữa HNKTQT đối với phát triển thị trường KH&CN thông qua việc đề cập tới vấn đề quyền SHTT, CGCN, đầu tư trực tiếp nước ngoài, thương mại trong bối cảnh HNKTQT ở các nước, đặc biệt

là ở các nước đang phát triển Các nghiên cứu này chỉ ra rằng việc HNKTQT ngày càng sâu rộng sẽ mang lại lợi ích cho các nước đang phát triển Vì, HNKTQT, trong một số trường hợp sẽ giúp tăng cường bảo hộ quyền SHTT, thúc đẩy CGCN qua FDI, khuyến khích các công ty đa quốc gia CGCN vào các nước đang phát triển Bên cạnh đó các công trình này đã đề cập đến những tác động bất lợi của việc HNKTQT đến thị trường KH&CN ở các nước đang phát

Trang 12

triển như hiện tượng bị lệ thuộc vào công nghệ nước ngoài, phải nhập khẩu các công nghệ cũ, lạc hậu

- Đưa ra một số giải pháp cho các nước đang phát triển để hạn chế tác động tiêu cực của toàn cầu hoá và HNKTQT đến phát triển thị trường KH&CN như các giải pháp về: “tách biệt các chế độ quyền SHTT giữa những nước kém phát triển nhất, những nước có thu nhập trung bình và những nước công nghiệp tiên tiến”[132, tr 228]; “Hiệu quả hơn sẽ là một quỹ nhằm trực tiếp động viên những đổi mới vì quyền lợi của các nước đang phát triển Một hệ thống giải thưởng, trong đó, nhà nghiên cứu được hưởng theo giá trị của những đổi mới của họ, sẽ đưa các biện pháp động viên đi theo một hướng đúng đắn ”[132, tr 238]

Bên cạnh đó, có nhiều tài liệu phân tích tác động của Hiệp định TRIPS đối với thị trường KH&CN ở các nước đang phát triển như các tài liệu: [164], [173], [178] Các tài liệu này đã phân tích và chỉ ra tác động đối với các nước khi tham gia vào hiệp định TRIPS, trong đó, các nước đang phát triển gặp bất lợi và chịu sức ép nhiều nhất từ các nước phát triển Do đó, để thực hiện hiệp định TRIPS hiệu quả, các công trình nghiên cứu này đã đưa ra các giải pháp cho các nước đang phát triển để có có bước đi và chính sách hội nhập phù hợp khi thực hiện Hiệp định TRIPS

Tóm lại, các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã có phân tích về mối quan hệ giữa HNKTQT và phát triển thị trường KH&CN ở một số quốc gia Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam dưới tác động của tiến trình HNKTQT theo một hệ thống nội dung và tiêu chí thống nhất, phù hợp với đặc thù Việt Nam là nước đang phát triển và nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi

Hai là, các công trình của các tác giả trong nước

Các công trình của các tác giả trong nước chủ yếu đề cập đến thị trường KH&CN ở Việt Nam dưới góc độ HNKTQT Các công trình này bao gồm:

- Các công trình chuyên khảo dưới dạng sách và công trình NCKH

Trang 13

Đối với các công trình này, tiêu biểu phải kể đến cuốn sách Phát triển thị trường KH&CN Việt Nam trong điều kiện HNKTQT của TS Nguyễn Thị Hường

[77] Ngoài những tổng kết về lý luận và thực tiễn thị trường KH&CN ở Việt Nam như các công trình đã nêu ở trên, cuốn sách đã bước đầu có phân tích cơ hội

và thách thức của hội nhập kinh tế đối với thị trường KH&CN ở Việt Nam với các nội dung: (1) Tăng nhanh nguồn cung sản phẩm KH&CN cho thị trường; (2) Thúc đẩy cầu đối với các sản phẩm và dịch vụ KH&CN do sức ép cạnh tranh; (3) Góp phần hoàn thiện pháp luật liên quan đến thị trường KH&CN Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu của cuốn sách không phải tập trung làm rõ nội dung phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam dưới sự tác động của tiến trình HNKTQT nên nhiều nội dung về lý luận và thực tiễn phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam dưới sự tác động của tiến trình HNKTQT chưa được phân tích, làm rõ như: (1) Chưa đưa ra được các nội dung và tiêu chí đánh giá sự phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam dưới tác động của tiến trình HNKTQT; (2) Chưa phân tích các xu hướng của tiến trình HNKTQT và các tác động của nó đến phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam (3) Chưa phân tích thực trạng phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam dưới tác động của tiến trình HNKTQT theo những nội dung

và tiêu chí đánh giá thống nhất

Ngoài cuốn sách kể trên, chưa có công trình chuyên khảo dưới dạng sách và công trình NCKH đề cập đến phát triển thị trường KH&CN trong tiến trình HNKTQT

- Các bài báo, bài tạp chí

Do khuôn khổ của các bài báo, bài tạp chí là có giới hạn, nên các công trình thuộc thể loại này chủ yếu đề cập đến tác động của HNKTQT đến một khía cạnh của thị trường KH&CN ở Việt Nam Có thể kể ra các công trình như sau: [68], [75] [88], [93], [140], [141], [160]

Trong bài Bảo hộ quyền SHTT trong bối cảnh hội nhập và xây dựng nền kinh tế tri thức của Trần Thanh Lâm [93], tác giả trên cơ sở trình bày quan niệm

Trang 14

chung về quyền SHTT đã chỉ ra một số bất cập trong hoạt động bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam trong điều kiện HNKTQT như: cơ chế bảo đảm thực thi quyền SHTT chưa được hoàn thiện, sự hiểu biết của xã hội đối với vấn đề bảo hộ SHTT còn hạn chế từ đó đề xuất một số giải pháp để thực thi quyền SHTT có hiệu quả trong bối cảnh HNKTQT Cùng đề cập về quyền SHTT trong bối cảnh

HNKTQT, trong bài Hội nhập quốc tế và đổi mới cơ chế thực thi, bảo hộ quyền SHTT của Việt Nam của Lê Xuân Thảo [140], tác giả còn tập trung phân tích,

đánh giá pháp luật Việt Nam theo các yêu cầu của TRIPS như: Các thủ tục tố tụng dân sự, hành chính, các biện pháp hành chính đã đáp ứng đầy đủ; Các biện pháp và thủ tục dân sự về cơ bản đáp ứng yêu cầu của TRIPS; Các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã đáp ứng về cơ bản yêu cầu của TRIPS

Trong quá trình HNKTQT, đầu tư trực tiếp nước ngoài là kênh đầu tư quan trọng và có tác động nhất định đến thị trường KH&CN Đề cập đến chủ đề này có

các bài báo tiêu biểu: Bài Tăng cường năng lực công nghệ của doanh nghiệp để hấp thụ hiệu quả công nghệ từ đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nguyễn Quang Hồng [68, tr 37-44]; Bài Chuyển giao công nghệ qua FDI: thực tiễn ở một số nước đang phát triển và Việt Nam của Nguyễn Anh Tuấn [160, tr 51-67] Các

bài báo này phân tích mối quan hệ giữa CGCN và FDI thông qua việc tổng hợp, phân tích tác động của FDI với CGCN và khảo sát thực tiễn CGCN tại các nước đang phát triển, thông qua các phân tích này, tác giả đã nhận xét “chuyển giao công nghệ qua FDI không chỉ mang lại lợi nhuận cho bên chuyển giao mà còn phục vụ lợi ích kinh tế cho cả bên tiếp nhận” [160, tr 53] Đồng thời, tác giả cũng lưu ý các nước đang phát triển nếu không tự tiến hành hoạt động R&D thì vẫn chịu sự chi phối, quyết định của các nhà đầu tư nước ngoài [160, tr 61] Trên

cơ sở các phân tích như vậy, các bài báo có đề xuất, kiến nghị để tăng hiệu quả việc CGCN qua FDI ở Việt Nam, trong đó tập trung nhấn mạnh vào giải pháp tăng cường năng lực tiếp nhận công nghệ của các doanh nghiệp ở Việt Nam

Trang 15

Như vậy, dù có cách tiếp cận, đánh giá khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất HNKTQT một mặt tạo ra cơ hội, mặt khác cũng tạo ra nhiều thách thức đối với phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam như các vấn đề về nhân lực KH&CN, quyền SHTT, môi trường pháp lý do đó Việt Nam cần chủ động đưa ra các bước đi, giải pháp để tận dụng được cơ hội và hạn chế thách thức nhằm thu được lợi ích lớn nhất

Tóm lại, qua việc nghiên cứu các công trình liên quan đến chủ đề của luận án, có thể nhận xét như sau:

Thứ nhất, đối với các công trình nghiên cứu về thị trường KH&CN ở Việt

Nam

- Các công trình này đã khẳng định vai trò quan trọng của thị trường KH&CN trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Vai trò đó được thể hiện ở việc giúp nâng cao tiềm lực KH&CN quốc gia, gắn kết các hoạt động KH&CN với thực tiễn sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế

- Đã phân tích khái quát lý luận chung và thực trạng thị trường KH&CN ở Việt Nam trên các vấn đề về hàng hoá, cung, cầu, thể chế, chính sách để từ đó khẳng định thị trường KH&CN ở Việt Nam là loại hình thị trường đặc biệt, phát triển ở trình độ thấp và có nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết

- Đưa ra những phương hướng, giải pháp để phát triển thị trường KH&CN

ở Việt Nam trong thời gian tới

Thứ hai, đối với nhóm công trình đề cập đến thị trường KH&CN ở một số

quốc gia dưới góc độ HNKTQT

- Các công trình của các tác giả nước ngoài tương đối đa dạng, chủ yếu phân tích, lý giải mối quan hệ chung giữa HNKTQT với phát triển thị trường KH&CN ở một số quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển

- Các công trình của các tác giả trong nước bước đầu đã có phân tích mối quan hệ giữa HNKTQT và thị trường KH&CN ở Việt Nam trên một số khía

Trang 16

cạnh, nội dung để từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong thời gian tới

Thứ ba, các công trình nêu trên, ở mức độ khác nhau, đã cung cấp một số tư

liệu và kiến thức chung cho luận án

Thứ tư, việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn phát triển thị trường

KH&CN ở Việt Nam dưới tác động của tiến trình HNKTQT theo một nội dung, tiêu chí đánh giá thống nhất và phù hợp với điều kiện Việt Nam là nước đang phát triển và có nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi ở các công trình nêu trên chưa được tiếp cận, phân tích và thực hiện một cách hệ thống, chuyên sâu Luận án góp thêm một cách tiếp cận mới và luận giải thêm một số nội dung mới khi nghiên cứu, đặc biệt sẽ hệ thống hoá và phân tích chuyên sâu về lý luận

và thực tiễn phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong tiến trình HNKTQT

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích của luận án là phân tích những vấn đề lý luận về phát triển thị trường KH&CN và đánh giá thực trạng phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong điều kiện tác động của quá trình HNKTQT những năm qua Từ đó, rút

ra những giải pháp phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện được mục đích trên, Luận án có nhiệm vụ:

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về thị trường KH&CN, các tiêu chí đánh giá và các yếu tố tác động tới phát triển thị trường KH&CN trong tiến trình HNKTQT

- Nêu bật kinh nghiệm xây dựng và phát triển thị trường KH&CN ở một số quốc gia trong tiến trình HNKTQT

- Phân tích và đánh giá quá trình phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong tiến trình HNKTQT theo những nội dung và các tiêu chí đã đề xuất

Ngày đăng: 25/08/2015, 08:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm