Lê Xuân Sang Năm bảo vệ: 2014 Keywords: Quản trị kinh doanh; Chiến lược kinh doanh; Mạng di động Content 1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.. Để đảm bảo ngành viễn thông Việt
Trang 11
Hoạch định chiến lược kinh doanh của
mạng di động GTEL khi Vimpelcom rút vốn
khỏi Beeline Việt Nam How to formulate business strategies of the mobile network GTEL when the VIMPELCOM
withdraws its capital from BEELINE VIETNAM NXB H : ĐHKT, 2014 Số trang 90 tr +
Phạm Văn Tân
Đại học Kinh tế Luận văn ThS ngành: Quản trị kinh doanh; Mã số: 60 34 05
Người hướng dẫn: TS Lê Xuân Sang
Năm bảo vệ: 2014
Keywords: Quản trị kinh doanh; Chiến lược kinh doanh; Mạng di động
Content
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đến tháng 5/2012, dân số Việt Nam tiệm cận đến con số 87 triệu dân, và cùng với đó nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là nền kinh tế trẻ, có sự tăng trưởng nhanh Việt Nam sử dụng đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác và chính sách mở cửa, tăng cường hội nhập với khu vực và quốc tế, uy tín và vị thế của nước Việt Nam không ngừng được nâng cao
ở khu vực và trên trường quốc tế Hiện nay, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với trên
160 quốc gia, là thành viên của nhiều tổ chức khu vực và quốc tế (Liên Hiệp Quốc, ASEAN, ASEM, WTO, APEC…) Trong những năm gần đây, môi trường đầu tư của Việt Nam đang được cải thiện tích cực theo hướng ngày càng thông thoáng và phù hợp hơn với các thông lệ quốc tế Trong lĩnh vực viễn thông, Việt Nam luôn xác định ngành viễn thông là cơ sở hạ tầng quan trọng trong việc đẩy mạnh xây dựng kinh tế cũng như nâng cao mức sống nhân dân Để đảm bảo ngành viễn thông Việt Nam được phát triển nhanh chóng, Chính phủ Việt Nam đã áp dụng hàng loạt biện pháp như tăng thêm đầu tư từ ngân sách chính phủ, khuyến khích công ty nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân trong nước tham gia xây dựng các cơ sở hạ tầng hữu quan…
Là một trong số những thị trường đầu tư hấp dẫn, ngành viễn thông Việt Nam đang là đích nhắm tới của nhiều nhà đầu tư nước ngoài Mục tiêu mà ngành viễn thông Việt Nam đề ra khi mở cửa thị trường là thu hút được các đối tác trong và ngoài nước đầu tư trong tất cả các lĩnh vực để nâng cao sức cạnh tranh có lợi cho người tiêu dùng Đó chính là cơ hội lớn và cũng đồng thời là sự thách thức cho các doanh nghiệp viễn thông
Thị trường viễn thông hội nhập, doanh nghiệp viễn thông Việt Nam có thêm cơ hội tiếp cận các công nghệ tiên tiến và được thử sức trên đấu trường quốc tế, một sân chơi rộng và bình đẳng hơn Điều này cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp cũng phải chịu thêm sức ép cạnh tranh khá lớn không chỉ giữa các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam mà hơn nữa là với các tập đoàn viễn thông lớn trên thế giới như Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nhật Bản, Nga, Pháp, Đưc…
Với việc Việt Nam hội nhập thế giới sẽ thúc đẩy thị trường viễn thông phát triển theo hướng có lợi cho cả doanh nghiệp và khách hàng Tuy nhiên, đây cũng là thách thức lớn cho
Trang 22
các nhà cung cấp dịch vụ, đòi hỏi họ phải có sự chuẩn bị tốt về vốn, nắm được công nghệ hiện đại, kinh nghiệm khai thác, chất lượng dịch vụ tốt và đặc biệt trong khâu tìm kiếm khách hàng
Để có thể giành được vị thế trong cạnh tranh, các doanh nghiệp viễn thông cần nhanh chóng nắm bắt các nội dung cơ bản của các hiệp định thương mại quốc tế, đặc biệt là Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, đồng thời thu thập đầy đủ các thông tin về thị trường liên quan; Chuẩn
bị tốt tiềm lực để có thể thích ứng được nhu cầu đầu tư vào thị trường Việt Nam của hàng loạt các công ty nước ngoài (đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc)
Để có thể đứng vững trước sự cạnh tranh này các doanh nghiệp viễn thông phải có một năng lực đủ mạnh mà vùng phủ sóng, chất lượng dịch vụ và giá cước là 3 vũ khí cạnh tranh quan trọng trong chiến lược kinh doanh của mình
Cùng với đó, các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam phải tự chuẩn hoá mạng lưới theo một chiến lược dài hạn, có một chiến lược cạnh tranh hợp lý, nâng cao hiệu quả của đồng vốn, tận dụng được thế mạnh, tăng cường đầu tư nghiên cứu công nghệ để phát triển thêm nhiều dịch vụ mới
Các doanh nghiệp viễn thông cũng cần thường xuyên có sự trao đổi, phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp Nhà nước chủ đạo để bảo đảm cùng nhau phát triển trên cơ sở bình đẳng, khai thác có hiệu quả cơ sở hạ tầng chung của đất nước, bảo đảm nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp cũng như của toàn Ngành
Đứng trước những yêu cầu đó, thương hiệu BEELINE VN (và sau này là mạng Gtel khi
mà VimpelCom rút khỏi thị trường Việt Nam) phải nhanh chóng tận dụng những điểm mạnh và
cơ hội của mình hạn chế những điểm yếu và đe doạ từ bên ngoài đưa ra những giải pháp tối ưu phát triển trong thời gian đến
Với kiến thức học được từ chương trình MBA đồng thời bản thân Tác giả đã dày công nghiên cứu về hoạt động kinh doanh của BeelineVN vài năm lại đây
Được sự chấp thuận của TS.Lê Xuân Sang- Tác giả đã chọn đề tài “Hoạch định chiến lược kinh doanh của mạng di động GTEL khi Vimpelcom rút vốn khỏi BEELINE Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu xoay quanh hoạt động kinh doanh của Beeline
VN và cũng như môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Beeline VN
- Phạm vi nghiên cứu: Các phạm vi liên quan đến hoạt động kinh doanh Beeline VN Tuy nhiên để đưa ra được các phân tích làm rõ các nội dung nghiên cứu, luận văn mở rộng phạm
vi nghiên cứu sang các đối thủ cạnh tranh trong ngành
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ năm 01/2009 đến 05/2012
3 Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu luận văn này, tác giả dùng phương pháp mô tả, thống kê nghiên cứu, rà soát, kết hợp với phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp Đồng thời luận văn coi trọng thực tiễn, đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn
4 Những đóng góp mới của đề tài
- Đưa ra những luận cứ khoa học để đánh giá những thành công hoặc thất bại của một vài doanh nghiệp viễn thông tại Việt Nam
- Tìm ra được những nguyên nhân tan rã thương hiệu Beeline VN
- Đề xuất nhóm giải pháp để xây dựng chiến lược kinh doanh cho Gtel khi Vimpelcom rút vốn khỏi Beeline VN
Trang 33
5 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng hoạt động của Beeline VN trong thời gian qua
Chương 3: Hoạch định chiến lược kinh đoanh của mạng Gtel khi VimpelCom rút vốn khỏi Beeline VN
References
1 Phạm Lan Anh (2004), “Quản lý chiến lược”, Nhà xuất bản khoa học & kỹ thuật
2 Hồ Tiến Dũng (2005), “Quản trị điều hành doanh nghiệp nhỏ & vừa”, Nhà xuất bản thống
kê
3 Lê Thanh Hà, Hoàng Lâm Tịnh, Nguyễn Hữu Nhuận (1998),“ ứng dụng lý thuyết hệ thống trong quản trị doanh nghiệp”, Nhà xuất bản trẻ
4 Hoàng Văn Hải (2010), “ Quản trị chiến lược”
5 Nguyễn Thanh Hội, Phan Thăng (2001), “Quản trị học”, Nhà xuất bản thống kê
6 Hồ Đức Hùng (2004), “Quản trị Marketing”, Tập bài giảng
7 Đồng thị Thanh Phương (2004), “Quản trị sản xuất & dịch vụ”, Nhà xuất bản thống kê
8 Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2005), “Thị trường, chiến lược, cơ cấu”, Nhà xuất bản thành phố
Hồ Chí Minh
9 Nguyễn Quang Thu (2005), “Quản trị tài chính căn bản”, Nhà xuất bản thống kê
10 Đoàn thị Hồng Vân, Bùi Lê Hà (2002), “Quản trị cung ứng”, Nhà xuất bản thống kê
11 Fred R David (2003), “Khái luận về quản trị chiến lược”, Nhà xuất bản thống kê
12 H Garry D.Smith, Danny R.Arnold, Body R.Bizzell (2003) , “Chiến lược & sách lược kinh doanh”, Nhà xuất bản thống kê
13 Kết quả nghiên cứu thị trường Beeline VN thực hiện bởi CBI
14 Trang web: www.Beeline.vn; www.gtel.com.vn