Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu chính là làm thế nào để thay đổi kỳ vọng về thương mại trong tương lai và điều kiện tài chính được phản ánh qua vị thế bên ngoài của quốc gia..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Đề tài :
CÂN BẰNG BÊN NGOÀI, DÒNG MẬU DỊCH VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN TÀI
CHÍNH
GVHD : NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
Danh sách nhóm 1:
1 La Bảo Quân
2 Phạm Vũ Long
3 Nguyễn Ngọc Thiên Phú
4 Lê Phương Anh
5 Nguyễn Tố Uyên
Trang 2MỤC LỤC
1 Giới thiệu 1
1.1 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.2 Câu hỏi nghiên cứu 1
1.3 Phương pháp nghiên cứu 1
1.4 Dữ liệu 1
2 Xu hướng nghiên cứu 2
3 Mô hình nghiên cứu 3
4 Thảo luận 4
4.1 Dự báo dòng thương mại tương lai 4
4.1.1 Ngắn hạn 4
4.1.2 Dài hạn 6
4.2 Dự báo các điều kiện tài chính trong tương lai 7
4.2.1 Dự báo trong ngắn hạn 7
4.2.2 Dự báo trong dài hạn 9
5 Kết luận 10
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Dự báo dòng chảy thương mại tương lai 5 Bảng 1.2: Dự báo các điều kiện tài chính trong tương lai 8
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Giá trị log SDF 8
Trang 61 Giới thiệu
1.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu chính là làm thế nào để thay đổi kỳ vọng về thương mại trong tương lai và điều kiện tài chính được phản ánh qua vị thế bên ngoài của quốc gia
Lý thuyết kinh tế liên kết tài sản nước ngoài ròng của một quốc gia (NFA) đến kỳ vọng của các nhà đại diện một cách chính xác nhất Trong trường hợp thiếu vắng kế hoạch Ponzi và kinh doanh chênh lệch giá, NFA của bất cứ quốc gia nào phải bằng với giá trị
dự kiến chiết khấu hiện tại của thâm hụt thương mại trong tương lai, giảm tại nhân tố ngẫu nhiên tích lũy giảm của thế giới (SDF) là cái giá mà tất cả các giao dịch tài sản tài chính đều miễn phí Chứng tỏ rằng sự thay đổi trong việc quan sát vị thế bên ngoài của một quốc gia trên thế giới phản ánh sự thay dổi kỳ vọng về dòng chảy thương mại trong tương lai và điều kiện tài chính tương lai được đại diện bởi SDF thế giới, hoặc kết hợp
cả hai
Mục tiêu của bài viết là đánh giá trên thực tế Cụ thể hơn, bài viết xem xét mức độ
mà thay đổi kỳ vọng về thương mại trong tương lai và điều kiện tài chính được phản ánh trong tiến trình thay đổi các vị thế bên ngoài của 12 quốc gia từ năm 1970 đến năm
2011
1.2 Câu hỏi nghiên cứu:
SDF thế giới có thể đươc ước tính từ các dữ liệu LN và thảo luận về cách các ước tính có thể được thử nghiệm cho các lỗi kỹ thuật?
SDF thế giới có thể được xây dựng từ các số liệu về lợi nhuận và sau đó sử dụng
để ghi nhận bao kỳ vọng về các điều kiện tài chính trong tương lai được thể hiện ở các vị thế bên ngoài hay không ?
SDF dự báo kỳ vọng về các điều kiện tài chính trong tương lai như thế nào ?
Kỳ vọng về điều kiện tài chính trong tương lai có làm thay đổi được vị thế NXA giữa các quốc gia hay không ?
1.3 Phương pháp nghiên cứu:
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, mô hình thực nghiệm kết hợp với phương pháp VAR
1.4 Dữ liệu :
Bài nghiên cứu sử dụng theo dữ liệu bảng, bằng cách tiến hành thu thập số liệu về chỉ số GDP, lạm phát, lãi suất trái phiếu, lợi nhuận, danh mục tài sản/ nguồn vốn, điều kiện tài chính, thay đổi kỳ vọng thương mại của 12 quốc gia (Úc, Canada, Trung Quốc,
Trang 7Pháp, Đức, Ấn Độ, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh) trong khoảng thời gian 1970 – 2011
2 Xu hướng nghiên cứu:
Trước bài viết đã có một số nghiên cứu liên quan đến việc tính toán NFA cũng như xác định các yếu tố thay đổi vị thế của NFA Trong đó có thể kể đến nghiên cứu của Gourinchas và Rey (2007), Corsetti và Konstantinou (2012), Pavlova và Rigobon (2008), Tille và Van Wincoop (2010), Devereux và Sutherland (2011), Obstfeld and Rogoff (2005), Lane and Milesi-Ferretti (2005), Meissner and Taylor (2006), Gourinchas and Rey (2007) Bài viết của tác giả được thực hiện căn cứ trên các yếu tố nền tảng của các bài nghiên cứu trước, đồng thời tác giả đã điều chỉnh và phát triển một
số nội dung so với bài nghiên cứu trước để phù hợp hơn với thực tế cũng như mục tiêu nghiên cứu của tác giả
Đầu tiên, trong các nghiên cứu của Pavlova và Rigobon (2008), Tille và van Wincoop (2010) và Devereux và Sutherland (2011), các mô hình thay đổi NFA chủ yếu phản ánh các sửa đổi trong dòng chảy thương mại trong tương lai và tỷ lệ rủi ro thế giới bởi vì phí bảo hiểm rủi ro trạng thái cân bằng về tài sản và các khoản nợ nước ngoài (ước tính) không đổi Trong khi đó, bài nghiên cứu này cho phép việc thay đổi phí bảo hiểm rủi ro về tài sản và nợ phải trả cũng ảnh hưởng đến NFA
Hai là theo nghiên cứu của Obstfeld và Rogoff (2005); Lane và Milesi-Ferretti (2005); Meissner và Taylor, 2006; Gourinchas và Rey (2007), lợi nhuận trên tài sản nước ngoài của Mỹ được ước tính là trên trung bình khoảng 3% mỗi năm và cao hơn lợi nhuận trên nợ nước ngoài Tuy nhiên phương pháp này đã bị một số nghiên cứu của Lane và Milesi-Ferretti , Curcuru, Dvorak, Warnock , Gourinchas và Rey thực hiện sau này chỉ rõ những sai sót về mặt số liệu do ảnh hưởng từ khoảng thời gian gian mẫu Vì vậy trong bài nghiên cứu này, tác giả cũng thay đổi việc tính toán lợi nhuận trung bình ở
Mỹ Đầu tiên , tác giả sử dụng lợi nhuận trên tài sản và nợ phải trả của các nền kinh tế lớn để ước tính SDF thế giới sau đó tác giả mô tả làm cách nào mà kỳ vọng có điều kiện liên quan đến SDF thế giới thì được phản ánh trong vị thế bên ngoài
Cuối cùng bài nghiên cứu Gourinchas và Rey (2007) xem xét khả năng dự báo của
vị thế bên ngoài của Mỹ cho lợi nhuận từ danh mục đầu tư NFA, và sự khác biệt giữa lợi nhuận vốn chủ sở hữu tài sản và nợ phải trả trong ngắn hạn (1/4), trong khi bài nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian dài hơn
Trang 83 Mô hình nghiên cứu
Mô hình đầu tiên
1 ,
, ,
, ,
1
1 ) (
1
1 ) (
) 1
(
2
1
i
i i t t n
i t n t
t n i
t n i n i t t
Mô hình này thể hiện mối liên hệ giữa các tác nhân bên ngoài trong tương lai của các quốc gia, kỳ vọng về dòng mậu dịch trong tương lai và các hệ số chiết khấu SDF tạo
cơ sở cho việc phân tích thực nghiệm về sau
,
( )
1
(
2
1
i
i n i n i
E
,
1
1
i
i n t t
tránh dính vào vụ lừa đảo Ponzi thì, nếu không có sự thay đổi trong kỳ vọng tương lai của SDF thì phải có sự gia tăng tài sản và/hoặc giảm giá nợ làm NFA tăng
1
1
i
i t i t t
n E
TD
thể hiện được các nguồn tin tức ảnh hưởng như thế nào đến các điều kiện tài chính trong tương lai, được phản ánh bởi các SDF, ảnh hưởng đến tác nhân bên ngoài
Ta biến đổi phương trình (1) bằng cách lấy kỳ vọng có điều kiện của t hai bên
của phương trình và áp dụng Định luật kỳ vọng lặp; ta được mô hình hồi quy mới, tinh gọn hơn :
) ( )
( )
( 2
1
, ,
, ,
, ,t n t n t n t n t n t t
NXA
(2) Trong đó :
1
]
| [ 1
1 ) (
i
t i t i
PV
;
2( )
1
, ,
,t n t n t
: chỉ số tốc độ tăng trưởng trung bình xuất - nhập khẩu của nước n trong năm t; trong đó m n,t
và x n,t
: tốc độ tăng trưởng nhập khẩu
và xuất khẩu của nước n trong năm t;
n t n t
t n t n t n
X M
X M TD
, ,
, ,
: chỉ số thâm hụt mậu dịch của quốc gia n trong năm t trong
đó Mn,t và Xn,t lần lượt là nhập khẩu và xuất khẩu của nước n trong năm t;
gE[m n,t]E[x n,t]
;
Trang 9 g 0;
exp() 1;
t lnK t với Kt là hệ số chiết khấu ngẫu nhiên – SDF ;
E[t]
Mô hình (2) ý nghĩa tương tự như mô hình (1), ngoại trừ kỳ vọng của agent được thay bằng kỳ vọng có điều kiện của t Việc điều chỉnh theo cách này chẳng ảnh hưởng
đến tác nhân bên ngoài của quốc gia và kỳ vọng; bởi vì những thông tin bởi các agent được phản ánh một cách hiệu quả trong t thông qua 𝑁𝑋𝐴
𝑛,𝑡 và 𝑇𝐷𝑛,𝑡
Mô hình (2) thể hiện khả năng dự báo của 𝑁𝑋𝐴𝑛 ,𝑡 cho dòng mậu dịch tương lai thể hiện qua 2 biến PV(m n,t x n,t)
và PV(n,t g); và các điều kiện tài chính tương lai
thể hiện qua biến PV(t)
4 Thảo luận
4.1 Dự báo dòng thương mại tương lai
4.1.1 Ngắn hạn:
Phần A của Bảng 1.1 cho thấy các hệ số góc, độ lệch chuẩn và thống kê R2 từ hồi quy của yt+1 trên một hằng số và 𝑁𝑋𝐴𝑛,𝑡 cho mỗi quốc gia, n, trên mẫu đầy đủ Cột I và
II cho thấy ước tính mà 𝑦𝑡+1 = ∆𝑚𝑛,𝑡+1− ∆𝑥𝑛,𝑡+1 và 𝑦𝑡+1 = (∆𝜏𝑛,𝑡+1 − 𝑔)𝑇𝐷𝑛,𝑡 là các biến dự báo tương ứng Đây là những dòng thương mại xuất hiện trong các điều khoản giá trị hiện tại để xác định vị thế NXA của quốc gia n trong mô hình (2) Các ước tính trong cột III sử dụng sự kết hợp của các dòng thương mại xuất hiện ở phía bên phải của
mô hình (12)
Trang 10Bảng 1.1: Dự báo dòng thương mại tương lai
Kết quả trong phần A của Bảng 1.1 cho thấy thông tin chứa trong vị thế NXA liên quan đến dòng thương mại ngắn hạn khác nhau đáng kể giữa các quốc gia
Cột I: Trong số các nước G7, không có bằng chứng cho thấy rằng vị thế NXA hàm chứa thông tin về sự thay đổi trong tăng trưởng xuất nhập khẩu năm tới; không một hệ
số góc ước tính nào có ý nghĩa thống kê ở mức thông thường Ngược lại, các vị thế NXA của Trung Quốc và Hàn Quốc cho thấy khả năng dự báo mạnh mẽ sự tăng trưởng Trong
cả hai trường hợp, có một sự gia tăng trong dự báo vị thế NXA tăng trong ∆𝑚𝑛,𝑡+1 −
Trang 11∆𝑥𝑛 ,𝑡+1 Với các yếu tố khác không đổi, điều này phù hợp với mô hình (2) Đối với quan điểm về kích thước của hệ số ước tính, giá trị của 10.3 của Trung Quốc ngụ ý rằng một
sự gia tăng 0.1 trong vị thế NXA của Trung Quốc dự báo một sự giá tăng xấp xỉ 1% trong sự tăng trưởng
Cột II cho thấy có 6 hệ số góc có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Với các yếu tố khác không đổi, theo mô hình (2), một sự gia tăng trong 𝑁𝑋𝐴𝑛,𝑡 dự báo một sự tăng trưởng trong thương mại cho các nước thâm hụt trong hiện tại và giảm trong tăng trưởng ở các nước đang thặng dư Dự báo này thì không phát sinh tại năm trong sáu quốc gia có mức thống kê ý nghĩa
Cột III cho thấy khả năng dự báo của vị thế NXA đối với dòng thương mại kết hợp Ở đây có rất ít bằng chứng của bất kỳ một khả năng dự báo ngắn hạn nào Trừ trường hợp ngoại lệ Trung Quốc, không một ước tính hệ số góc nào có ý nghĩa thống kê
ở mức 10% trở lên, và tất cả R2 thì đều rất nhỏ
Tóm lại, các kết quả ở phần A gợi ý rằng sự thay đổi trong dòng thương mại ngắn hạn tiềm năng không có vai trò nào ngoài việc thúc đẩy sự thay đổi ở các vị thế bên ngoài Điều này không có nghĩa rằng dòng thương mại trong tương lai là không thích hợp Ngược lại, những thay đổi trong vị thế bên ngoài có thể phản ánh toàn bộ sự thay đổi kỳ vọng liên quan đến toàn bộ dòng thương mại trong tương lai (tức là kỳ vọng xa hơn 1 năm như nghiên cứu ở trên)
4.1.2 Dài hạn
Kết quả trong phần B của bảng 1.1 cho phép chúng ta xác định khả năng dự báo trong dài hạn Ở đây tác giả có ước tính từ hồi quy VAR các giá trị hiện tại của dòng thương mại trên một hằng số và 𝑁𝑋𝐴𝑛 ,𝑡 Lưu ý rằng đây không phải là dự báo hồi quy – các biến phụ thuộc không phải giá trị hiện tại thực hiện của các dòng thương mại trong tương lai Các hồi quy đo lường mức độ thay đổi trong giá trị hiện tại của dòng thương mại tương lại được tính từ dự báo VAR thì được phản ánh trong biến 𝑁𝑋𝐴𝑛 ,𝑡 Nếu các thông tin dự báo được phát hiện bởi VARs cũng được đính kèm trong kỳ vọng thì nó cũng được phản ánh trong vị thế NXA, chúng ta nên kỳ vọng để tìm được hệ số góc dương và có ý nghĩa thống kê
Kết quả được báo cáo trong Phần B khẳng định dự đoán này
Cột I: Hệ số góc trong cột I dương và có ý nghĩa thống kê cao trong 9 nước Và đánh giá thống kê R2, các biến trong 𝑁𝑋𝐴𝑛 ,𝑡 cho thấy một phần đáng kể của phương sai trong giá trị hiện tại mô hình VAR cho sự thay đổi xuất nhập khẩu Bằng chứng này phù hợp với quan điểm cho rằng thông tin hàm chứa trong dự báo dài hạn VAR cho
Trang 12∆𝑚𝑛,𝑡+1 − ∆𝑥𝑛 ,𝑡+1thì có tương quan dương với những điều dùng để xây dựng kỳ vọng nhúng trong vị thế NXA Ước lượng dựa trên dữ liệu của Pháp cho thấy một ngoại lệ trong mẫu Hệ số góc ở đây âm và có ý nghĩa thống kê cao – một phát hiện bất thường Cột II: Trong trường hợp này, hệ số góc dương và có ý nghĩa thống kê lớn đối với
7 nước, với Pháp tiếp tục là ngoại lệ
Cột III cho thấy dự báo VAR cho dòng tương mại kết hợp trong tương lại liên quan như thế nào đến các vị thế bên ngoài Một lần nữa, hệ số góc dương và có ý nghĩa thống kê cao đối với phần lớn các quốc gia (ngoại trừ Pháp) Một điều cũng đáng chú ý
là chỉ số thống kê R2 từ hồi quy thì hơn 0,5 đối với UK, Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan Các biến chuỗi thời gian trong vị thế NXA của các nước này trong suốt 40 năm qua thì có khá nhiều thông tin về sự thay đổi trong dự báo VAR về dòng thương mại tương lai
Tóm lại, kết quả trong bảng 1.1 là phù hợp với quan điểm cho rằng kỳ vọng thay đổi về dòng thương mại kỳ vọng trong tương lai góp phần vào các biến hàng năm trong
vị thế NXA của nhiều nước Kỳ vọng về các dòng thương mại ngắn hạn thì ít tương quan Những kết quả này thì phù hợp với những phát hiện của Gourinchas và Rey (2007a) Họ ước tính rằng những kỳ vọng thay đổi liên quan đến dòng thương mại tương lại xấp xỉ 30% các biến chu kỳ trông vị thế bên ngoài của Mỹ trong giai đoạn
1952-2004 Những biến của vị thế NXA Mỹ thì tương quan mạnh mẽ với dự báo dòng thương mại tương lai, nhưng không mạnh bằng vị thế NXA của các quốc gia khác
4.2 Dự báo các điều kiện tài chính trong tương lai
4.2.1 Dự báo trong ngắn hạn
Trang 13Bảng 1.2: Dự báo các điều kiện tài chính tương lai
Hình 1.1: Giá trị của log SDF
Trang 14Cột 1 cho thấy kết quả khi 𝑁𝑋𝐴𝑛 ,𝑡 đã từng dự báo độ lệch trước 1 năm của log SDF từ chỉ số trung bình không điều kiện của nó nhân với thâm hụt thương mại hiện tại
Sự thay đổi trong kỳ vọng điều kiện tài chính kỳ hạn gần là nguồn biến 𝑁𝑋𝐴𝑛,𝑡trong mẫu và kỳ vọng này được tác động trong điều kiện thực tế như được đại diện bởi ước tính SDF, chúng ta nên nhìn vào hệ số độ dốc tích cực và lớn trong phương trình dự báo Trong trường hợp này là 04 nước: Đức, Anh, Ấn Độ và Nam Triều Tiên 𝑁𝑋𝐴𝑛,𝑡 thì không xuất hiện có năng lực dự báo trong kỳ hạn gần lớn trong những nước khác, như là Pháp: nơi mà một lần nữa nhận định có hệ số tiêu cực lớn
Cột 2 cho thấy kết quả hồi quy khi mà lợi nhuận T-bill là biến dự báo ở đây chúng
ta nhận thấy rằng năng lực dự báo khác nhau giữa các nước
NXA đang dự báo trong thuế hoàn lại ở các nước: Ý, Nhật, Úc, Trung Quốc và Thái Lan, tất cả các nước nơi mà 𝑁𝑋𝐴𝑛 ,𝑡 xuất hiện không để dự báo log SDF Khi mà đánh giá bởi thống kê R2, những dự báo này thực sự mạnh ở trường hợp TQ và Thái Cột 3: ước lượng hệ số độ dốc thì tương đương với sự khác biệt giữa những phần của nó trong cột 1 và cột 2, nhưng tính kinh tế nó chỉ cho thấy sự mức độ thay đổi sự nhận thức về rủi ro ngắn hạn phản ánh trong NXA Chú ý rằng ước lượng hệ số của mẫu trong những nước này gần tương ứng với mẫu trong cột 1 Để mà mức độ biến 𝑁𝑋𝐴𝑛,𝑡 phản ánh điều kiện tài chính tiềm năng trong ngắn hạn, sự thay đổi trong rủi ro nhận thức xuất hiện quan trọng hơn kỳ vọng về lợi nhuận tương lai trong T-bill của Mỹ
4.2.2 Dự báo trong dài hạn:
Bảng này báo cáo lại dự báo ước lượng từ hồi quy của giá trị hiện tại VAR cơ bản của log SDF và lợi nhuận T-bill trong nhất định và 𝑁𝑋𝐴𝑛 ,𝑡 như ở trên , các biến độc lập trong hàm hồi quy thì nhân với thâm hụt thương mại để cho thích hợp với bảng bên tay phải (2)
Cột 1 cho thấy rằng những biến trong NXA thì chỉ yếu trong nhiều nước Ngoại lệ đáng chú ý nhất là Mỹ, nơi mà hệ số độ dốc ước lượng là thông số thống kê tích cực và cao, và R2 là 0.19 Điều này thì tương phản với ước lượng về Mỹ ở bảng A, nơi mà hệ số thì không lớn và thống kê R2 thì nhỏ hơn 0.01 nó cho thấy sự thay đổi trong nước Mỹ,
vị thế là 1 phần trong sự tác động của nhận thức về điều kiện tài chính tương lai ngoài trước mắt, rủi ro tương lai riêng
Cột 2 cho thấy hệ số độ dốc ước lượng thì lớn tại mức 5% ở 8 quốc gia Kết quả ước lượng ở cột 2 phản ánh những sự tương quan và sự quan trọng của dòng thương mại tương lai kỳ vọng cho việc xác định NXA giữa các nước