1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay

61 402 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đầu Tư Phát Triển Ngành Giáo Dục Bằng Nguồn Vốn Ngân Sách Nhà Nước Ở Việt Nam Từ Năm 2001 Đến Nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 474 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: Những vấn đề chung về đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Chương 2: Đánh giá tình hình đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2001 đến năm 2008

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Bước vào Thế kỷ 21 ngành Giáo dục Việt Nam đã trải qua hơn 15 năm đổi mới

và thu được những thành quả quan trọng về mở rộng quy mô, đa dạng hóa các hìnhthức giáo dục và nâng cấp cơ sở vật chất cho nhà trường, trình độ dân trí được nângcao, chất lượng giáo dục có những chuyển biến bước đầu Đảng và nhà nước ta luôncoi giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn nhân lựcchất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tếnhanh và bền vững Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, xâydựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ đượchọc tập thường xuyên, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáodục.Trước đây, khi còn trong chế độ bao cấp, ngành giáo dục nước ta chủ yếu chịu sựquản lý và đầu tư của nhà nước, từ sau Đại hội VIII Đảng và Nhà nước khuyến khích

mở cửa trong đầu tư giáo dục, xã hội hóa giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu đầu tư củangành, giảm gánh nặng đầu tư cho nhà nước, nâng cao hiệu quả trong đầu tư Để đánhgiá được tầm quan trọng và hiệu quả của vốn ngân sách nhà nước đầu tư phát triểnngành giáo dục trong thời gian qua, và vai trò của vốn NSNN cho giáo dục trong thời

gian tới, đề tài được nghiên cứu trong chuyên đề tốt nghiệp đó là: “Đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay” Nội dung chính của đề tài bao gồm 3 phần chính:

Chương 1: Những vấn đề chung về đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước Nội dung chính của chương nhằm tìm hiểu những

vấn đề chung nhất về đầu tư phát triển ngành giáo dục, vai trò của đầu tư phát triểnngành giáo dục, vị trí nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển ngànhgiáo dục

Chương 2: Đánh giá tình hình đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2001 đến năm 2008 Nội dung chính của

chương xây dựng hình ảnh tổng quan về hiên trạng ngành giáo dục Việt Nam qua đóđánh giá tình hình đầu tư phát triển ngành giáo dục từ nguồn vốn ngân sách nhà nước

từ năm 2001 đến nay

Trang 2

Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả đầu

tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trong thời gian tới Nội dung chính của chương đề cập đến chiến lược đầu tư phát triển ngành giáo

dục đến năm 2020 của Đảng và nhà nước, trên cơ sở đó cùng với tình hình đầu tư pháttriển ngành giáo dục đã đề cập đến ở chương 2, xây dựng nên một số giải pháp nhằmtăng cường và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốnngân sách nhà nước trong thời gian tới

Trang 3

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIÁO DỤC BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 Những vấn đề lý luận chung về đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

1.1.1 Khái niệm và vai trò của đầu tư phát triển ngành giáo dục

1.1.1.1 Khái niệm đầu tư phát triển ngành giáo dục

Đầu tư phát triển ngành giáo dục là hoạt động sử dụng các nguồn lực vật chất,nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng sửa chữa nhà cửa kiến trúc hạ tầng mua sắmtrang thiết bị, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyêngắn liền với hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ

sở hạ tầng của ngành Giáo dục đang tồn tại và tạo và nâng cao chất lượng đào tạo củangành giáo dục

1.1.1.2 Vai trò của đầu tư phát triển ngành giáo dục

Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát củaChiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 đến 2010 là : “Đưa đất nước ta rakhỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thầncủa nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước côngnghiệp theo hướng hiện đại hóa” Để thực hiện được nghị quyết mà Đảng và Nhànước đã đề ra cần tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng xã hội cho giáo dục, đầu tư giáo dụcđào tạo ra những con người có đạo đức, tri thức, tay nghề Để tạo ra được những bướcnhảy vọt đó giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ có vai trò quyết định bởi ngànhgiáo dục giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế

1.1.1.2.1 Góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình hoàn thiện hạ tầng xã hội, hạ tầngsản xuất, thượng tầng kiến trúc của đất nước, một cách hoàn chỉnh và phục vụ tốt nhấtcho đời sống của con người Hạ tầng xã hội là các công trình công cộng, được xâydựng để phục vụ, nâng cao đời sống của cộng đồng, hạ tầng sản xuất là hệ thống cácmáy móc thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất, tạo ra sản phẩm của đất nước, kiến

Trang 4

trúc thượng tầng là toàn bộ quan điểm chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo,nghệ thuật,… cùng với đó là những thể chế tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáohội, các đoàn thể,… được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định Mục tiêu côngnghiệp hóa – hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành nước công nghiệp có cơ sở vậtchất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống tinh thần cao, quốc phòng, an ninhvững chắc, dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh Như vậy, công nghiệphóa không phải là chỉ phát triển nền công nghiệp, mà là phát triển mọi lĩnh vực từ sảnxuất vật chất và dịch vụ của nền kinh tế, cho đến các khâu trang thiết bị, phương phápquản lý, tác phong lao động, kỹ năng sản xuất Để làm được điều này, cần phải có độingũ nguồn nhân lực được qua đào tạo tỷ mỉ bài bản, trau chuốt từ đạo đức đến những

kỹ năng nghề nghiệp Lao động là một yếu tố đầu vào của sản xuất Trước đây, chúng

ta chỉ quan niệm lao động là yếu tố vật chất đầu vào giống như yếu tố vốn và được xácđịnh bằng số lượng nguồn lao động mỗi quốc gia (có thể ước tính bằng đầu người haythời gian lao động) Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đã nhấn mạnhđến yếu tố phi vật chất của lao động gọi là vốn nhân lực đó là nguồn nhân lực chấtlượng cao, các lao động có kỹ năng sản xuất, lao động có thể vận hành được máy mócthiết bị phức tạp, những lao động có sáng kiến và phương pháp mới trong hoạt độngkinh tế Việc hiểu yếu tố lao động theo yếu tố lao động theo hai nội dung có ý nghĩađặc biệt quan trọng trong phân tích lợi thế và và vai trò quan trọng của nhân tố nàytrong tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển Hiện nay, tăng trưởng kinh tếcủa Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung được đóng góp nhiềubởi quy mô, số lượng lao động, yếu tố vốn nhân lực còn có vị trí chưa cao do trình độ

và chất lượng lao động ở các nước đang phát triển còn thấp Ngành giáo dục phát triển,đào tạo ra những thế hệ con người có đạo đức, có trình độ sẽ thúc đẩy cho quá trìnhcông nghiệp hóa hiện đại hóa diễn ra nhanh và đúng hướng Con người được đào tạo,

có khả năng tiếp thu thành tựu khoa học kỹ thuật, từ đó ứng dụng vào thực tiễn điềukiện ở Việt Nam, và phát huy được cơ sở vật chất đầu tư, nếu đơn thuần chỉ đầu tư đổimới trang thiết bị với những máy móc hiện đại nhưng lực lượng lao động không có khảnăng sử dụng, thì việc đầu tư đó không hiệu quả và cũng không được coi là quá trìnhcông nghiệp hóa

Trang 5

1.1.1.2.2 Góp phần phát triển và nâng cao trình độ công nghệ của đất nước

Công nghệ kỹ thuật được quan niệm là nhân tố tác động ngày càng mạnh mẽđến tăng trưởng trong điều kiện kinh tế hiện đại Yếu tố kỹ thuật cần được hiểu theođầy đủ hai dạng: thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức, tức là nẵm bắt kiến thứckhoa học, nghiên cứu đưa ra những nguyên lý , thử nghiệm về cải tiến sản phẩm , quytrình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật; thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quảnghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sảnxuất Yếu tố công nghệ khi được xét trên khía cạnh toàn diện như trên công nghệ đượcxem như là “chiếc đũa thần tăng them sự giàu có của cải xã hội” Nguồn nhân lựcđóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của công nghệ kỹ thuật, nguồnnhân lực được đào tạo, trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết để tiếp cận với công nghệhiện đại của thế giới và có điều chỉnh phù hợp với nền sản xuất trong nước, tạo điềukiện nâng cao và phát triển nền công nghệ trong nước Hệ thống giáo dục đồng bộ,hoàn thiện sẽ tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao

1.1.1.2.3 Góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Mục tiêu của giáo dục là tạo ra con người có đạo đức, tri thức và kỹ năng; đàotạo là là hình thức dậy dỗ nhằm tạo ra con người thành thạo kỹ năng nghề nghiệp.Giáo dục cũng đồng thời cung cấp kỹ năng để con người xây dựng cuộc sống hạnhphúc, văn minh, nhưng vẫn giữ gìn được văn hóa truyền thống của dân tộc Nền giáodục nước ta cũng đang tìm ra những biện pháp để đạt được những mục tiêu trên Nước

ta có lịch sử lâu đời, đạo đức con người Việt Nam được hình thành từ sự đấu tranhsinh tồn với thiên nhiên, tạo nên sức mạnh cộng đồng yêu thương bảo vệ nhâu mà còntiếp thu được nhiều nguồn tư tưởng và đạo đức của loài người trong đó có thể kể đến:Phật giáo dậy cho con người có lòng từ bi, vị tha, yêu thương mọi sinh linh…, Nhogiáo dậy cách cư xử mối quan hệ giữa người với người, quan hệ với cha mẹ, với cộngđồng quốc gia và các mối quan hệ xung quanh khác, hình thành nên hệ thống đạo đức

“lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nhân, trí, tín, dũng”…, Thiên Chúa giáo và đạo Tin lành dậy lòngbắc ái, yêu tự do…, tư tưởng của Karl Marx dậy sự bình đẳng, yêu thương, bênh vựcquyền lợi của những người ít của cải trong xã hội, đứng về phía quyền lợi người

Trang 6

nghèo khó Trong các luồng tư tưởng và đạo đức của loài người quy tụ đến Việt Nam

đã được con người Việt Nam tiếp thu và chọn lọc, hình thành nên đạo đức tư tưởngvăn hóa Việt Nam Hơn 30 năm kể từ ngày độc lập, Việt Nam đã có những tiến bộvượt bậc trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân, cùng với quá trìnhhội nhập kinh tế thế giới không chỉ là hội nhập về kinh tế mà còn cả về mặt văn hóa

Vì vậy, giáo dục đào tạo sẽ mang tính định hướng cho lớp trẻ có được những nhậnthức đúng đắn, hiểu biết về những nét văn hóa mạng tính truyền thống của dân tộc, để

tự bản thân có được nhận thức và hình thành những lối sống hiện đại nhưng vẫn duytrì được nét văn hóa của người Việt Nam Việc giáo dục cho từng cá nhân trong xã hội

có được nhận thức, lối sống tốt là điều kiện để Việt Nam có thể “hòa nhập nhưngkhông hòa tan”

1.1.1.2.4 Góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp

Nguồn nhân lực là một trong những tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp Đây

là một loại tài sản vô hình, không thể xác định được đặc điểm vật chất của chính nónhưng lại có giá trị lớn và có khả năng sinh ra lợi nhuận Nó là thước đo hiệu quả kinhdoanh, sức cạnh tranh và khả năng phát triển của doanh nghiệp trước mắt và trongtương lai Các loại tài sản hữu hình nói chung, việc sử dụng tài sản đồng nghĩa vớiviệc làm cho giá trị tài sản giảm đi, tuy nhiên, đối với tài sản trí tuệ, phạm vi và đốitượng sử dụng của tài sản càng rộng thì giá trị tài sản càng lớn Ngày nay, bằng việcxây dựng, phát triển và sở hữu các tài sản trí tuệ có chất lượng tốt, uy tín và vị trí củadoanh nghiệp luôn được củng cố và mở rộng; khả năng cạnh tranh và thị phần củadoanh nghiệp được nâng cao Chất lượng nguồn nhân lực không chỉ là tài sản mà còn

là nguồn vốn của doanh nghiệp Vốn trí tuệ tiềm ẩn trong mỗi con người, sau khi đượcđào tạo qua trường lớp thì những kỹ năng kiến thức của con người sẽ càng ngày cànghoàn thiện hơn Nếu như hệ thống giáo dục ngay từ khi còn là học sinh phổ thông biếtđược vai trò cũng như tầm quan trọng của vốn trí tuệ nhằm định hướng cho học sinhphát huy khả năng tư duy, sáng tạo, năng lực tiềm ẩn trong chính bản thân mình, trởthành một đội ngũ nhân lực là tài sản cũng là nguồn vốn quý giá nhất của doanhnghiệp

Trang 7

1.1.2 Đặc điểm và vị trí của nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển ngành giáo dục

1.1.2.1 Đặc điểm của nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển ngành giáo dục

Nguồn vốn ngân sách nhà nước, đây chính là nguồn chi của ngân sách nhànước cho đầu tư, là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế,

xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được dùng cho các dự án kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các dự án của doanh nghiệp đầu tưvào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các dự

án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đôthị và nông thôn Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng nói chung củanền kinh tế, quy mô tổng thu ngân sách nhà nước không ngừng gia tăng nhờ mở rộngnhiều nguồn thu khác nhau (huy động qua thuế, phí, tài nguyên, bán hay cho thuê tàisản thuộc sở hữu nhà nước ) Đi cùng với sự mở rộng quy mô ngân sách, mức chi chođầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước cũng gia tăng đáng kể, đặc biệt phần ngânsách giành cho ngành Y tế và Giáo dục đào tạo Ngành giáo dục là một ngành mangtính chất khá đặc thù, không giống như các ngành đầu tư vào phát triển sản xuất khác.Việc bỏ vốn đầu tư vào Giáo dục đào tạo, không thể đo đếm hiệu quả bằng các chỉtiêu kinh tế như doanh thu, lợi nhuận; hiệu quả của hoạt động đầu tư phải sau một thờigian dài mới thấy được hiệu quả Chính vì vậy, đặc điểm đầu tiên của nguồn vốn ngânsách nhà nước trong đầu tư phát triển ngành giáo dục đó là thành quả của hoạt độngđầu tư phát triển không thể lượng hóa bằng các con số về lợi nhuận một cách cụ thể,

mà chỉ được nhận thấy qua các chỉ tiêu về số trường lớp được xây dựng mới, tỷ lệ trẻlên lớp, số học sinh giỏi trong năm học, số giải đạt được trong các kỳ thi học sinh giỏitoàn quốc và quốc tế, tỷ lệ gia tăng về quy mô học sinh, sinh viên hàng năm…

Nguồn vốn ngân sách nhà nước là nguồn vốn chủ yếu của quá trình đầu tư pháttriển ngành giáo dục, các nguồn vốn khác chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng vốn đầu tưphát triển ngành giáo dục Quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu” của Đảng vàNhà nước chưa được nhân thức một cách đầy đủ, giáo dục vẫn được xem là công việcriêng của ngành giáo dục, chưa tạo ra một sự liên kết, phối hợp đồng bộ giữa các

Trang 8

ngành, các cấp và các nguồn lực trong xã hội, để phát triển sự nghiệp giáo dục mộtcách đúng mức.

Nguồn vốn ngân sách nhà nước giành cho đầu tư phát triển giáo dục đào tạongày càng có xu hướng gia tăng, điều này đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đốivới sự nghiệp Giáo dục và đào tạo, sự đáp ứng kịp thời với nhu cầu cần phải đầu tưmới, đầu tư mở rộng, nâng cao chất lượng đào tạo của ngành giáo dục trong thời kỳmới

1.1.2.2.Vị ví của nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển ngành giáo dục

Ngân sách nhà nước là nguồn tài chính chủ yếu yế của ngành giáo dục Nhànước ưu tiên đầu tư cho giáo dục trong tương quan với các ngành khác Trong vănkiện Đại hội IX của Đảng đã tiếp tục khẳng định trên cơ sở nắm vững hai nhiệm vụchiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; trong thời gian từ nay đếnnăm 2010 đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thànhnước công nghiệp theo hướng hiện đại Để đi tắt đón đầu từ một đất nước kém pháttriển thì vai trò của giáo dục đào tạo lại càng có tính chất quyết định Giáo dục đào tạophải đi trước một bước, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài để thựchiện thành công các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Ở nước ta, quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa được tiến hành trong điều kiện tồn tại nhiều hìnhthức sử hữu, nhiều thành phần kinh tế, vận hành theo cơ chế thị trường đinh hướng xãhội chủ nghĩa Sản xuất hàng hóa phát triển làm cho thị trường lao động được mởrộng, nhu cầu học tập tăng lên; mặt khác, cũng thay đổi quan niệm về giá trị, ảnhhưởng đến việc lựa chọn ngành nghề, động cơ học tập, các quan hệ trong nhà trường

và ngoài xã hội Tự do cạnh tranh làm phân hóa giàu nghèo, làm tăng thêm sự cáchbiệt về cơ hội học tập giữa các tầng lớp dân cư Xã hội tạo điều kiện cho giáo dục pháttriển, đồng thời cũng đòi hỏi giáo dục phục vụ đắc lực cho xã hội, kịp thời điều chỉnh

cơ cấu và quy mô, nâng cao trình độ đào tạo đáp ứng các nhu cầu đa dạng thực tiễn,tăng hiệu quả giáo dục, nhạy bén và thích ứng nhanh với những buến động của nhucầu nhân lực Giáo dục đào tạo giúp định hướng quan niệm về giá trị, bồi dưỡng phẩmchất, nhân cách mới, năng lực mới và đảm bảo công bằng về cơ hội học tập ở mọi cấp

Trang 9

bậc học và trình độ đào tạo cho mọi tầng lớp nhân dân Với tầm quan trọng như trên,

vì vậy, tỷ lệ ngân sách giành cho giáo dục đào tạo ngày cang được nâng cao từ 15%năm 2000 lên 18 % năm 2005 và sẽ là trên 20% vào năm 2010 Giáo dục đào tạo làmột ngành khá nhạy cảm, đây không phải là ngành kinh tế khi đưa tiền vào đầu tư sẽngay lập tức thu hồi được vốn và có lãi, chính vì hiệu quả kinh tế không phát huy tácdụng trong thời gian ngắn, và lợi ích khi đầu tư vào giáo dục mang lại cũng không thể

cụ thể hóa bằng những con số như doanh thu, chi phí như trong các lĩnh vực khác.Chính vì vậy, đầu tư vào giáo dục đào tạo đặc biệt là những khu vực khó khăn đềuphải sử dụng đến ngân sách nhà nước Nguồn vốn ngân sách nhà nước tập trung nhiềuhơn cho các bậc giáo dục phổ cập, cho vung nông thôn miền núi, cho đào tạo trình độcao, cho những ngành khó thu hút đầu tư ngoài ngân sách nhà nước Có những chínhsách đảm bảo bảo điều kiện học tập cho con em gia đình nghèo và diện chính sách, cơhội học tập cho con em gia đình nghèo

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

và tự chịu trách nhiệm của các địa phương của các cơ sở giáo dục, giải quyết một cách

có hiệu quả các vấn đề bức xúc, ngăn chặn và đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực tronghoạt động đầu tư Phân chia nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan, ban ngành chịu tráchnhiệm rõ ràng về các vấn đề được giao Việc xây dựng chiến lược, quy hoạch và kếhoạch phát triển giáo dục, xây dựng cơ chế chính sách và quy chế quản lý nội dụng vàchất lượng đào tạo, tổ chức thanh tra kiểm tra, và hệ thống các chỉ tiêu kiểm tra chấtlượng của hoạt động đầu tư xây dựng Vì vậy, để đảm bảo cho nguồn vốn đầu tư được

bố trí hợp lý cần phải tăng cường chất lượng của công tác lập kế hoạch, tiến hành dự

Trang 10

báo thường xuyên và tăng cường cung cấp thông tin về lượng vốn cần thiết cho đầu tưphát triển.

1.2.2 Đăc trưng của ngành giáo dục trong thời kỳ mới

Với quan điểm chỉ đạo “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, phát triển giáo dục lànền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúcđẩy sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăngtrưởng kinh tế nhanh và bền vững, vì vậy nhà nước giành sự quan tâm rất lớn trongphát triển ngành giáo dục.Cuộc cách mạng khoa học công nghệ sẽ tiếp tục phát triểnvới những bước nhảy vọt trong thế kỷ 21, đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên côngnghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức, đồng thời tác động tớitất cả các lĩnh vực, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thầncủa xã hội Khoảng cách giữa các phát minh khoa học công nghệ và áp dụng vào thựctiễn ngày càng rút ngắn, kho tàng kiến thức nhân loại ngày càng đa dạng phong phú,tăng theo cấp số nhân Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế kháchquan, vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nướcđang phát triển để bảo vệ lợi ích của quốc gia Sự cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia

sẽ ngày càng quyết liệt hơn đòi hỏi phải tăng năng suất lao đông, nâng cao chất lượnghàng hóa và đổi mới công nghệ một cách nhanh chóng Các phương tiện truyền thông,mạng viễn thông , Internet tạo thuận lợi cho giao lưu và hội nhập văn hóa, đồng thờicũng dang diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Sự pháttriển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự phát triển năng động của nền kinh tế, quátrình hội nhập và toàn cầu hóa dang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độphát triển giữa các nước trở nên hiện thực hơn và nhanh hơn Khoa học công nghệ trởthành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục là nêng tảng của sựphát triển khoa học – công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xãhội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần tráchnhiện và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai sau Đây là đòi hỏi khách quan cần

có sự quan tâm và đầu tư phát triển ngành Giáo dục Đổi mới giáo dục đang diễn ratrên quy mô toàn cầu Bối cảnh trên đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục,

từ những quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách

Trang 11

tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mởcửa rộng rãi, đối thoại với xã hội, gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học – côngnghệ và ứng dụng ; nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp chongười học phương pháp thu nhận thông tin một cách có hệ thống, có tư duy phân tích

và tổng hợp Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu

tư cho phát triển Nguồn vốn giành cho đầu tư giáo dục cũng có những chuyển biến về

cơ cấu, hiện nay phần lớn nguồn vốn đầu tư cho giáo dục là từ ngân sách nhà nước,nhưng trước những thay đổi của bối cảnh quốc tế, cơ cấu nguồn vốn thay đổi theohướng giảm tỷ trọng nguồn vốn ngân sách nhà nước, gia tăng tỷ trọng nguồn vốn củacác cá nhân tổ chức trong nước và ngoài nước, giảm gánh nặng của nhà nước và tăngchất lượng đào tạo, đổi mới hệ thống cơ sở vật chất

1.2.3 Các nhân tố về kinh tế xã hội

Do đặc điểm kết cấu của cơ sở hạ tầng giáo dục của Việt Nam, các trường đạihọc phân bố không đồng đều, thường tập trung ở các thành phố lớn, vì vậy mà nguồnvốn giành cho đầu tư phát triển ngành giáo dục đạo tạo cũng có sự phẩn bổ khôngđồng đều giữa các tỉnh, thành phố trong cả nước Nguồn vốn ngân sách hàng nămgiành cho các ngành tăng giảm phụ thuộc rất nhiều vào tổng thu ngân sách nhà nướchàng năm Nếu tổng thu ngân sách nhà nước hàng năm lớn thì phần ngân sách giành

để đầu tư phát triển cho ngành Giáo dục nói riêng và các ngành khác nói chung sẽ có

xu hướng tăng lên Các khoản thu ngân sách nhà nước bao gồm: thu từ kinh tế Nhànước, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu thuế công, thương nghiệp vàdịch vụ ngoài Nhà nước, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu phí, lệ phí,

…các khoản thu này chịu ảnh hưởng rất nhiều của các nhân tố kinh tế như: tăngtrưởng kinh tế hàng năm, lạm phát, điều kiện kinh tế thế giới…

1.2.4 Một số nhân tố khác

Quan điểm phát triển của nhà nước, đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến

các định hướng phát triển của các ngành nói chung và của ngành giáo dục nói riêng.Quan điểm phát triển của nhà nước sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu, định hướng pháttriển, cơ cấu nguồn vốn đầu tư Điều này có thể thấy rất rõ ràng khi xét quan điểm

Trang 12

đầu tư của nhà nước đối với an ninh quốc phòng và các ngành kinh tế, dịch vụ đặcbiệt là ở khu vực tư nhân An ninh quốc phòng là ngành chỉ có sự tham gia của nguồnvốn của nhà nước, nhà nước có những quy định rất chặt chẽ để quản lý hiệu quả sửdụng của nguồn vốn Đối với các ngành kinh tế dịch vụ thì cơ cấu nguồn vốn rấtphong phú và đa dạng có thể có sự góp mặt của rất nhiều các thành phần kinh tế thamgia đầu tư phát triển, đối với những ngành này nhà nước chỉ chỉ đạo về chủ trường,quy hoạch, không trực tiếp quản lý đến cách thức sử dụng nguồn vốn Theo từng thời

kỳ, Nhà nước có quản điểm phát triển khác nhau phù hợp với điều kiện khách quan

và sự phát triển của đất nước Hiện nay, với quan điểm xây dựng nền giáo dục có tínhnhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Thực hiệncông bằng trong giáo dục, tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng được học hành Nhà nướcxây dựng cơ chế, chính sách giúp đỡ người nghèo học tậo, khuyến khích nhữngngười học giỏi phát triển tài năng Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện,

có đạo đức, tri thức, sức khỏe và thẩm mỹ, phát triển được năng lực của cá nhân, đàotạo những người lao động có kỹ năng nghề nghiệp, năng động sáng tạo Phát triểngiáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học – côngnghệ, củng cố quốc phòng, an ninh, đảm bảo sự hợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấungành nghề, cơ cấu vung miền; mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng vàhiệu quả, kết hợp giữa đào tạo và sử dụng Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành,giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiến, giáo dục nhàtrường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội Với quan điểm phát triển như trên,Nhà nước đang ngày càng khuyến khích sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vàođầu tư phát triển ngành Giáo dục và Đào tạo toàn diện

Đặc điểm đầu tư vào ngành giáo dục, đầu tư phát triển giáo dục đào tạo

không giống với đầu tư phát triển các ngành sản xuất Hiệu quả của quá trình đầu tưchỉ có thể thấy được sau một quá trình rất dài Có thể thấy, việc bỏ ra chi phí để đàotạo một con người bắt đầu tư khi cho trẻ đi học mẫu giáo rồi trải qua các bậc học tiểuhọc, trung học, đại học; sau các bậc học này mới có thể thấy người công dân đó cốnghiến được những gì cho xã hội; và những cống hiến này cũng rất khó để lượng hóađược thành các con số doanh thu, lợi nhuận, NPV…để đánh giá xem dự án đầu tư đó

có hiệu quả hay không hiệu quả Vì đặc trưng này nên rất ít các tổ chức, cá nhân muốn

Trang 13

tham gia vào đầu tư phát triển, nguồn vốn chủ yếu cho phát triển của ngành hiện naychủ yếu là nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn đi vay viện trợ nước ngoài.

1.3 Nội dung đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

1.3.1 Đầu tư theo cấp học

Hệ thống giáo dục của Việt Nam tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạnghóa được hình thành với đầy đủ các cấp học từ giáo dục mầm non, giáo dục trung học,giáo dục thường xuyên, giáo dục đại học và cao đẳng, giáo dục chuyên nghiệp Vớinhững đặc thù của từng bậc học, nhà nước cũng đã có những phương hướng, nội dung

cụ thể để đầu tư hoàn thiện các cấp học, cụ thể:

Đối với giáo dục mầm non, nhà nước đã có những quy định chuẩn nghề

nghiệp giáo viên mầm non làm căn cứ để các giáo viên và các cơ sở giáo dục thựchiện, ban hành chiến lược đầu tư đổi mới trong giáo dục mầm non, ban hành chínhsách mới về giáo dục mầm non như quy hoạch đất đai, hỗ trợ giáo viên ngoài cônglập, mua sắm trang thiết bị, đồ chơi; xây dựng trường chuẩn quốc gia, bồi dưỡngchuyên môn chi đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên Trong thời gian vừa qua, đầu tưGDMN không chỉ hướng đến đổi mới phương thức giảng dạy, đầu tư thêm đồ chơi,khuôn viên trong trường học, mà đầu tư GDMN đã được chú trọng đến vấn đề ứngdụng CNTT trong các cơ sở GDMN, đến nay đã có 4.821 trường (đạt 39%) đượctrang bị máy vi tính và các phần mền vui chơi, dinh dưỡng, quản lý Quy mô học sinhmầm non ngày càng gia tăng, đặc biệt tỷ lệ học sinh đi học ngoài công lập chiếm một

tỷ lệ lớn khoảng trên 70 %

Đối với giáo dục tiểu học, nhà nước không trực tiếp quản lý mà đã tăng cường

giao quyền chủ động cho các địa phương, các nhà trường, và các giáo viên trong việcxây dựng các kế hoạch dạy học, thực hiện chương trình, sách giáo khoa, soạn giáo án

và chịu trách nhiệm về chất lượng giảng dậy và học tập Các địa phương đac tiếp tụcchỉ đạo đầu tư đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy họcmua sắm hoặc tự làm, đã có những buổi phụ đạo cho học sinh yếu kém từng tuần,từng tháng, từng học kỳ Số học sinh học 2 buổi một ngày có xu hướng tăng, kết quảcủa học sinh học 2 buổi / ngày cao hơn hắn những học sinh chỉ học 1 buổi / ngày Với

Trang 14

sự đầu tư đổi mới cơ sở vật chất, xây dựng biên soạn mơi sách giáo khoa, đổi mớiphương pháp giảng dậy, chất lượng dạy học ở tiểu học tương đối ổn định và ngàycàng vững chắc, trong năm học 2007 – 2008 kết quả học tập 2 môn Tiếng Việt vàToán như sau: loại giỏi môn tiếng Việt đạt 38,32 %, môn Toán đạt 46,18%; loại yếumôn Tiếng Việt là 6,65 % Ngành giáo dục đang nỗ lực thực hiện phổ cập giáo dục,các địa phương tiếp thục triển khai công tác Xóa mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học.Đến tháng 7 năm 2008, đã có 42 / 64 tỉnh đạt chuẩn phổ cập GDTH đúng độ tuổi.Công tác phổ cập giáo dục tiểu học của 22 tỉnh còn gặp rất nhiều khó khăn, cần phải

có sự quan tâm đầu tư, tập trung chỉ đạo tích cực từ trung ương đến địa phương

Đối với giáo dục trung học (THCS & THPT), các sở GD & ĐT đã chú ý chỉ

đạo áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến, ứng dụng công nghệ thông tin, sửdụng các phần mềm tiện ích vào dạy học, đổi mới hình thức thức kiểm tra, đánh giáhọc sinh theo hướng đòi hỏi hiểu bài, biết vận dụng kiến thức, hạn chế chỉ học thuộclòng, xét cho lên lớp đúng tiêu chuẩn Trong học kỳ II năm học 2007 – 2008, Bộ GD

& ĐT chỉ đạo đánh giá toàn diện chương trình và sách giáo khoa mới ở tất vả các mônhọc, tất cả các lớp từ lớp 1 đến lớp 11 Trên cơ sở những ý kiến đóng góp, Bộ đã tiếnhành khắc phục những thiếu sót, bất cập của các cấp học theo hướng bố trí kế hoạchthời gian năm học phù hợp với điều kiện thực tế và tiếp tục chỉ đạo thực hiện chươngtrình, sách giáo khoa trên qui mô toàn quốc và ở các vùng, miền khác nhau Đối vớicấp THCS và THPT, việc đầu tư tiếp tục đổi mới chương trình sách giáo khoa và tổchức phân ban lớp 10 bắt đầu triển khai đại trà ở lớp 11, công việc này được chỉ đạonghiêm túc, trong tất cả các khâu tập huấn giáo viên, trang bị sách giáo khoa và đồdùng học tập , theo dõi, kiểm tra, hội giảng rút kinh nghiệm

Đối với giáo dục thường xuyên (GDTX), trong những năm vừa qua các địa

phương đã chú trọng việc quản lý và cấp phát chứng chỉ ngoại ngữ, tin học; đầu tưthiết bị dạy học tối thiểu, tăng cường cơ sở vật chất, trang bị thêm phòng học máy vitính cho các trung tâm GDTX; các trung tâm giáo dục thường xuyên là nơi có giáoviên giảng dậy không ổn định, hầu hết là các giáo viên từ các trường THPT trong địaphương, vì vậy cần có những chính sách để thu hút các giáo viên dậy ở các trung tâmGDTX Sau một thời gian thực hiên đề án “xây dựng xã hội học tập”, một số mục tiêutrong đề án đã được thực hiện và đem lại hiệu quả rõ rệt như: phát triển, mở rộng hệ

Trang 15

thống GDTX, trung tâm GDTX và trung tâm học tập cộng đồng; đa dạng hóa nộidung, chương trình giáo dục ngày cang đáp ứng được nhu cầu học tập của nhiều đốitượng trong xã hội thiết thực phục vụ sự phát triển kinh tế trong các lĩnh vực nôngnghiệp, y tế, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, truyền thông và dịch vụ.

Đối với giáo dục cao đẳng, đại học: nhằm đáp ứng được yêu cầu của xã hội và

nhu cầu của người học, nhà nước tăng cường đầu tư phát triển cho đào tạo đại học,cao đẳng; xây dựng thêm các trường mới, mở rộng quy mô giảng dậy, xây dựng và cảitạo thêm các công trình phục trợ như: nhà tập thể thao, xây dựng và cải tạo mới thưviện, xây dựng thêm các khu ký túc xá đáp ứng nhu cầu về chỗ ở cho sinh viên Đốivới đào tạo sau đại học, nhằm nâng cao trình độ của cán bộ giảng viên trong cáctrường ĐH, CĐ và TCCN Với mục tiêu phân đấu đào tạo 20.000 tiến sĩ vào năm

2020 nhiều cơ sở đào tạo tiến sĩ thạch sĩ đã tích cực đầu tư trang thiết bị, tăng cườngđội ngũ giảng viên có học hàm, học vị để mở thêm chuyên ngành đào tạo thạc sĩ, tiến

Đối với giáo dục chuyên nghiệp (GDCN), đây là bậc đào tạo được giành

nguồn lực đầu tư ít hơn so với các bậc học khác, vốn đầu tư chủ yếu được dùng đầu tưnâng cao chất lượng giảng dậy, tăng cường cơ sở vật chất Trong bậc đào tạo này thờilượng đào tạo thực hành chiếm từ 50 đến 75 % tổng thời lượng của toàn bộ chươngtrình, chính vì vậy trong thời gian qua, nhiều trường TCCN thuộc các ngành kỹ thuật

đã mời doanh nghiệp tham gia xây dựng và đóng góp ý kiến về chương trình đào tạo

1.3.2 Đầu tư theo nhiệm vụ

Vốn ngân sách nhà nước giành cho Giáo dục và Đào tạo hàng năm được chiatheo nhiệm vụ cụ thể: Chi đầu tư xây dựng cơ bản, Chi thường xuyên, Chi cho cácchương trình mục tiêu quốc gia, và hợp tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật nướcngoài Trong đó:

Chi đầu tư xây dựng cơ bản thường chiếm khoảng 23,8 % trong tổng vốn đầu

tư từ ngân sách nhà nước hàng năm, được sử dụng để đầu tư xây dựng mới như Trungtâm đào tạo Trường Đại học Kinh tế quốc dân, trường Đại học Tây Bắc, trung tâmgiáo dục quốc phòng…, dự án môi trường, dự án công cộng, dự án thể dục thể thao,các dự án theo mục tiêu

Trang 16

Chi thường xuyên là phần chi lớn nhất trong tổng vốn đầu tư ngân sách nhà

nước giành cho Giáo dục và Đào tạo, thường chiếm trên 50% Bao gồm: chi thườngxuyên cho sự nghiệp giáo dục, được chi cho các bậc học giáo dục mầm on, trung học,đào tạo đại học, cao đẳng, sau đại học, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề, các nhiệm

vụ toàn ngành và chỉ đạo chuyên môn toàn ngành: Tổ chức kỳ thi Olympic Vật lýquốc tế, các nhiệm vụ thi cử (hỗ trợ thi THPT, học sinh giỏi quốc gia, cải tiến thituyển sinh ĐH, CĐ và kiểm định chất lượng giáo dục các bậc học, thi học sinh giỏiquốc tế), chi vốn đối ứng các dự án vay nợ, viện trợ…; chi sự nghiệp nghiên cứu khoahọc; chi sự nghiệp đảm bảo xã hội; chi sự nghiệp kinh tế: chi điều tra cơ bản, thựchiện điều tra cơ bản, quy hoạch ở các lĩnh vực cấp thiết của lĩnh vực cấp thiết củangành nhằn phục vụ, chỉ dạo, quản lý và xậy dựng chính sách, chi thực hiện cácchương trình quốc gia về bảo hộ lao động, án toàn lao đông, chi xúc tiến hợp tác giáodục, nghiên cứu các chính sách đầu tư nước ngoài và mô hình đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam; chi sự nghiệp bảo vệ môi trường; chi quản lý hành chính…

Chi chương trình mục tiêu quốc gia, phần chi này thường chiếm khoảng

5,83% trong tổng ngân sách nhà nước giành cho giáo dục và đào tạo Bao gồm: Chichương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo: Đổi mới chương trình, nội dungsách giáo khoa và tài liệu giảng dậy (hoàn thiện sách giáo khoa, sách giáo viên, tàiliệu dậy học tự chọn…), đào tạo cán bộ tin học, đưa tin học vào nhà trường (tăngcường năng lực đào tạo cán bộ tin học, đào tạo giáo viên, mua sắm thiết bị, phần mềm,tài liệu tham khả cho dạy tin học một số khoa công nghệ thông tin của các trường đạihọc, cao đẳng nhằm tiếp tục thực hiện Chương trình phát triển nguồn nhân lực vềcông nghệ thông tin…), đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lýgiáo dục, hỗ trợ giáo dục miêng núi, vùng dân tộc thiểu số và vùng có nhiều khó khăn,tăng cường cơ sở vật chất cho các trường học (cải tạo, sửa chữa, xây dựng, tăng cườngtrang thiểt bị - đầu tư theo chiều sâu), chi cho một số chương trình mục tiêu quốc giakhác (chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, dự án phòng chống ma túy trongtrường học, chương trình phòng chống tội phạm…)

Trang 17

Chương trình hợp tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật nước ngoài chiếm

khoảng 10 % tổng ngân sách nhà nước giành cho giáo dục Đây là khoản chi mới phátsinh trong những năm gần đây bao gồm chi đào tạo cho lưu học sinh nước ngoài, chiquản lý trong nước, đào tạo phối hợp, bồi dưỡng ngoại ngữ…

Trang 18

Chương 2: TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIÁO DỤC BẰNG NGUỒN VỐN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2008

2.1.Tổng quan tình hình đầu tư phát triển ngành giáo dục từ năm 2001 đến năm 2008

2.1.1 Hiện trạng hệ thống giáo dục của Việt Nam

2.1.1.1 Những thành tựu

Trải qua gần 20 năm đổi mới, ngành giáo dục và đào tạo đã thu được nhữngthành quả quan trọng về mở rộng quy mô, đa dạng hóa các hình thức giáo dục và nângcấp cơ sở vật chất cho nhà trường, trình độ dân trí được nâng cao, chất lượng giáo dục

Quy mô giáo dục tăng nhanh, bước đầu đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội, hang nămquy mô đào tạo tăng trung bình 5% một năm, phấn đấu đến năm 2010 tổng quy môđào tạo đại học, cao đẳng đạt khoảng 200 sinh viên / 1 vạn dân Các ngành công nghệthông tin và một số ngành kỹ thuật – công nghệ trọng điểm khác quy mô đã có nhữngchuyển biến đáng kể đáp ứng các yêu cầu định hướng chiến lược của Đảng và Nhànước

Trang 19

Yêu cầu về công bằng xã hội trong giáo dục cơ sở về cơ bản đã được dảm bảo, giáodục ở các vùng miền núi và dân tộc thiểu số có những chuyển biến tích cực, đã thànhlập hon 260 trường dân tộc nội trú và hơn 120 trường ban trú Cả nước đã hoàn thànhcông tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang thực hiện phổ cập trung học

cơ sở Gần 96% dân cư từ 15 tuổi trở lên biết chữ, số năm trung bình đi học đạt 7,5 %

Về cơ bản nước ta đã đạt được sự bình đẳng nam nữ trong giáo dục Công tác xã hộihóa giáo dục đã đem lại kết quả bước đầu, các lực lượng xã hội tham gia ngày càngtích cực vào việc huy động trẻ đến trường, xây dựng cơ sở vật chất trường học, đầu tư

mở trường đóng góp kinh phí cho giáo dục dưới nhiều hình thức khác nhau Tỷ trọngnguồn kinh phí xã hội đóng góp cho giáo dục ngày càng tăng đạt khoảng gần 30%năm 2007

Chất lượng giáo dục có chuyển biến trên một số mặt Trình độ hiều biết, năng lực tiếpcận tri thức mới của bộ phận học sinh, sinh viên được nâng cao; giáo dục trung họcphổ thông chuyên đạt trình độ cao của khu vực và trên thế giới, số học sinh phổ thôngđạt các giải quốc gia và quôc tế ở một số môn học ngày càng tăng Số đông sinh viêntốt nghiệp đại học và cao đẳng có hoài bão lập thân, lập nghiệp và có tinh thần tự lập,năng động sáng tạo trong công việc Chất lượng đào tạo của một số ngành khoa học

cơ bản và khoa học công nghệ được nâng cao một bước Giáo dục đại học đã từngbước hoàn thiện về chất lượng và phương pháp giảng dậy, đào tạo được một đội ngũđông đảo cán bộ khoa học kỹ thuật từ cử nhân, thạc sĩ cho đến tiến sĩ, đã và đang côngtác và có những cống hiến quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế

2.1.1.2 Những yếu kém

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nhìn chung, ngành giáo dục nước tacòn yếu về chất lượng, mất cân đối về cơ cấu , hiệu quả giáo dục chưa cao; giáo dụcchưa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, đào tạo chưa gắn với sử dụng, đội ngũ giáo viêncòn yếu, cơ sở vật chất còn thiếu, chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục vàcông tác quản lý chậm đổi mới, một số hiện tượng tiêu cực, thiếu kỷ cương chậmđược khắc phục

Chất lượng giáo dục nói chung còn thấp một mặt chưa tiếp cận được với trình

độ tiến tiến trong khu vực và trên thế giới, mặt khác chưa đáp ứng được với các ngành

Trang 20

nghề trong xã hội Học sinh, sinh viên tốt nghiệp còn hạn chế về tư duy sáng tạo, kỹnăng thực hành, khả năng thích ứng với nghề nghiệp, kỷ luật lao động, khả năng làmviệc nhóm, các kỹ năng mềm như: tinh thần hợp tác, khả năng giao tiếp, khả năng làmviệc nhóm, khả năng tự tổ chức công việc… còn hạn chế.

Hiệu quả hoạt động giáo dục chưa cao Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp cuối cấp sovới số lượng học sinh nhập học đầu năm còn thấp, nhất là ở vùng núi, vùng sâu, vùng

xa Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp; còn nhiều học sinh sinh viên sau khi tốtnghiệp chưa có việc làm Cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền đãđược khắc phục nhưng vẫn bị mất cân đối Công tác chỉ đạo cũng như tâm lý xã hộivẫn còn nặng nề về đào tạo đại học, chưa chú trọng đúng mức đến đào tạo nghề, đặcbiệt là đào tạo nghề ở trình độ cao Việc tăng quy mô đào tạo trong những năm gầnđây chủ yếu vẫn diễn ra ở bậc đại học, tỷ lệ học sinh, sinh viên cao đẳng kỹ thuật côngnghệ và trung học chuyên nghiệp và học nghề còn thấp và tăng chậm Công tác dựbáo, quy hoạch định hướng ngành nghề đào tạo chưa tốt, chưa thực sự đáp ứng đượcyêu cầu về ngành nghề của xã hội Cơ sở giáo dục, nhất là giáo dục đại học và giáodục nghề nghiệp tập trung quá nhiều vào các thành phố lớn, khu công nghiệp lớn.Giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn rất khó khắn Chưachú trọng đúng mức đến các hình thức giáo dục không chính quy bên ngoài nhàtrường, đặc biệt là các hình thức giáo dục giành cho người đang lao động

Đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và nhìn chung thấp về chất lượng, chưa đápứng được yêu cầu vừa phải tăng nhanh quy mô vừa phải đảm bảo nâng cao hiệu quả

và chất lượng giáo dục Đặc biệt là đội ngũ giảng viên các trường đại học ít có điềukiện thường xuyên tiếp cận, cập nhật tri thức và thành tựu khoa học công nghệ mớicủa thế giới Cơ sở vật chất của nhiều nhà trường còn thiếu thốn, chưa giải quyết triệt

để tình trạng các lớp học 3 ca, vẫn còn những lớp học tranh tre nứa lá ở các vùng sâu,vùng xa; thư viện, trang thiết bị phục vụ giảng dậy và học tập còn rất thiếu thốn và lạchậu

Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đạihóa Chương trình giáo dục còn mang nặng tính lý thuyết, nặng về thi cử, chưa thực

sự chú trọng đến tính sáng tạo, phát triển năng lực thực hành và hướng nghiệp, chưagắn bó chặt chẽ với nhu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội cũng như nhu cầu

Trang 21

của người học, chưa gắn bó hiệu quả với nghiên cứu khoa học – công nghệ triển khaiứng dụng Giáo dục trí lực chưa kết hợp hữu cơ với giáo dục phẩm chất đạo đức, nhâncách công dân, trách nhiệm với xã hội, ý thức tự tôn dân tộc…các hình thức thi cử cònlạc hâu, cách tuyển sinh đại học còn nặng nề và tốn kém.

Công tác quản lý giáo dục còn kém hiệu quả Một số hiện tượng tiêu cực, thiếu

kỷ cương trong giáo dục đào tạo chưa được ngăn chặn kịp thời Các hiện tượngthương mại hóa giáo dục như mua bằng, bán điểm, tuyển sinh vượt chỉ tiêu, thu chi sainguyên tắc làm ảnh hưởng đến uy tín của nhà trường, của các giáo viên Hiện tượnggian lận trong kiểm tra, thi cử của học sinh, sinh viên ảnh hưởng xấu đến nhân cách vàthái độ lao động của người học sau này Nhìn chung, chất lượng và hiệu quả nâng caodân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầucủa đất nước trong giai đoạn phát triển mới

2.1.2 Tình hình về vốn đầu tư vào giáo dục từ năm 2001 đến năm 2008

Đầu thế kỉ XXI, nền giáo dục của loài người có những bước tiến lớn với nhiềuthành tựu mọi mặt Hầu hết các quốc gia nhận thức sự cần thiết và cấp bách phải đầu

tư cho giáo dục, đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư có lãi lớn nhất cho tương laimỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, mỗi gia đình và mỗi cá nhân Trong 5 năm cuối thể kỷ

XX và 5 năm đầu thế kỷ XXI tất cả các tỉnh, thành phố, vùng miền trên cả nước đãđầu tư mạnh mẽ cho giáo dục Đơn cử như Yên Bái là một tỉnh miền núi nghèo , cónhiều vùng đặc biệt khó khăn, song đã đầu tư tới 248,4 tỷ VNĐ để xóa phòng họctạm, trong đó có tới 54 tỉ VNĐ là ngân sách của địa phương Tính đến năm 2006 có

89 % phòng học được kiên cố hóa và từng bước xây dựng hệ thống trường đạt chuẩnquốc gia, hiện nay có 28 trường đạt chuẩn quốc gia, và nhiều tỉnh thành có điều kiệnkinh tế khó khăn nhưng những hoạt động đầu tư cho giáo dục đào tạo của địa phươngluôn được đặt lên hàng đầu Ở phạm vi gia đình cũng vậy, có rất nhiều gia đình nôngdân thu nhập không cao hoặc các gia đình công chức bình thường không dư dật vềkinh tế nhưng vẫn cố gắng đầu tư cho con, cháu học hành Nhiều dòng họ lập quỹkhuyến học, trợ giúp và khen thưởng con em khi đạt được thành tích cao trong họctập Đối với Đảng và Nhà nước luôn giành một lượng vốn khoảng 20% vốn ngân sáchnhà nước hàng năm để đầu tư phát triển ngành giáo dục Nhưng với 20% vốn ngân

Trang 22

sách hàng năm không đủ để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển của ngành giáo dục.Ngoài vốn ngân sách, nhà nước luôn đổi mới cơ chế chính sách cho phù hợp với điềukiện mới nhằm thu hút các nguồn vốn khác giành cho đầu tư phát triển ngành giáo dụcnhư vốn ODA, FDI, nguồn vốn cho vay từ ngân hàng thế giới WB,…Đặc biệt lànguồn vốn ODA đóng góp phần lớn vào việc đáp ứng nhu cầu đầu tư của ngành giáodục Thống kê cho thấy nguồn vốn ODA chiếm 5% tổng vốn ngân sách nhà nướcgiành cho giáo dục, với tỷ lệ trên nguồn vốn này hàng năm đã đóng góp một phầnđáng kể vào cải thiện chất lượng giáo dục, có thể thấy ngân sách nhà nước giành chobậc cao đẳng đại học chiếm 9 % tổng ngân sách nhà nước giành cho giáo dục, nếukhông có sự đóng góp của nguồn vốn này thì nguồn vốn ngân sách nhà nước không đủđáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở bậc học được coi là tạo ra nguồn lực phát triển đátnước Để duy trì được những nguồn vốn này chúng ta cần phải sử dụng thật sự có hiệuquả, hiệu quả cảu việc thực hiện các dự án giáo dục vốn vay ODA không chỉ nhìnnhận ở góc độ giải ngân, mà quan trọng nhất là học sinh được nhận được gì từ những

cơ sở vật chất do đầu tư xây dựng mang lại

2.2 Đánh giá tình hình đầu tư phát triển ngành giáo dục từ nguồn vốn ngân sách nhà nước từ năm 2001 đến nay

2.2.1 Những kết quả đã đạt được

2.2.1.1 Tổng quan về vốn đầu tư qua các năm

Tổng chi NSNN giành cho giáo dục đào tạo ngày càng có xu hướng tăng năm

2008 lượng vốn này ước khoảng 79.004 tỷ đồng đạt 20% tổng chi NSNN

Bảng 2.1: NSNN chi cho ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2008

Trang 23

Ngân sách của nhà nước giành cho ngành giáo dục ngày càng tăng, năm 2001

so với năm 2002 là 15,8 % và các năm tiếp theo là 16,4 %; 17,8 % đến năm 2008 là20% và con số này sẽ tiếp tục tăng trong tương lai Tuy nhiên, so với nhu cầu pháttriển chung của ngành và các địa phương thì lượng vốn này mới chỉ đáp ứng được mộtphần, chủ yếu là thực hiện các nhiệm vụ quan trọng, trọng tâm của ngành: chươngtrình đổi mới sách giáo khoa, chương trình kiên cố hóa trường, lớp học, tăng cường cơ

sở vật chất các cơ sở giáo dục đào tạo, tạo điều kiện cho việc mở rộng quy mô, gópphần trực tiếp cho việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Theo cơ chế phân cấpngân sách của từng địa phương, vẫn còn một số Sở GD- ĐT không được thông báovốn đầu tư XDCB của ngành trên địa bàn, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc thamgia quản lý, điều hành và đánh giá thực hiện vốn đầu tư hàng năm, cũng như việc xâydựng quy hoạch, kế hoạch tăng cường cơ sở vật chất cho toàn ngành

Biểu đồ 2.1: Tổng chi NSNN giành cho giáo dục giai đoạn 2001 - 2008

Tổng chi NSNN giành cho Giáo dục

010000

Năm

Tỷ đồng

Trang 24

2.1.2 Phân bổ vốn đầu tư theo địa phương, theo các cấp học Bảng 2.2: Phân bổ vốn ngân sách giáo dục đào tạo qua các năm

Đơn vị : Tỷ đồng

Năm 2001

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Ước tính 2009

Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Vụ Đầu Tư – Bộ Tài chính về vốn NSNN giành

cho giáo dục giai đoạn từ năm 2000 đến nay

Cơ cấu phân bổ vốn cho Giáo dục đào tạo của cho các địa phương và trungương khá hợp lý, và được điều chỉnh một cách hợp lý theo các chương trình, mục tiêucần đạt được trong năm Trong các năm vừa qua tổng vốn NSNN giành cho giáo dục

có xu hướng ngày càng tăng, vì vậy nhìn chung ngân sách nhà nước cho giáo dục đàotạo địa phương cũng có xu hướng tăng, đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục đào tạo ởcác địa phương nói chung và toàn quốc nói riêng Lượng vốn ngân sách nhà nướcgiành cho các địa phương không phải được phân chia đều cho 64 tỉnh thành phố trong

cả nước mà được phân chia theo các tiêu chí như: nhu cầu về vốn của từng địaphương, các chương trình dự án quan trọng cần phải thực hiện, các khu vực có hoàncảnh điều kiện kinh tế xã hội khó khăn (miền núi, vùng dân tộc ít người) Do sự phân

bố của các trường đại học cao đẳng ở Việt Nam không đồng đều Các trường đại họccao đẳng lớn tập trung hầu hết ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, ĐàNẵng…, những trường đại học tập trung ở các thành phố lớn là những trường đại họctrọng điểm, là trường đi đầu trong quá trình hội nhập với nền giáo dục đại học caođẳng của các nước trong khu vực và quốc tế, vì vậy mà các địa phương này được phân

bổ lượng vốn ngân sách nhiều hơn so với các tỉnh thành phố còn lại Với mục tiêuthực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và tạo cơ hội học tập ngày càng tốt hơn chotất cả các tầng lớp nhân dân trong xã hội, người dân ở tất cả các vùng miền trong cảnước Hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người, vùng khó khăn, đặc biệt là đối

Trang 25

với các tỉnh mới thành lập cơ sở vật chất còn hết sức khó khăn như: Lai Châu, ĐắcNông, Hậu Giang, trong đó đặc biệt quan tâm đến hệ thống trường nội trú và cụm xã.Vốn đầu tư giành cho hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người và vùng cónhiều khó khăn thường chiếm 10 – 11 % ngân sách giành cho giáo dục địa phương.Phần kinh phí này chủ yếu đầu tư xây dựng các trường, đổi mới trang thiết bị giảngdạy, tập trung đầu tư cho hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp:trường, lớp học, chỗ ở cho học sinh nội trú, hệ thống thư viện, sách truyện…

Thực hiện đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, đẩy mạnhgiáo dục toàn diện trong tất cả các cấp học Đồng thời với việc tăng cường chất lượng

và hiệu quả, tiếp tục mở rộng quy mô các cấp học và trình độ đào tạo phù hợp:

Đối với cấp học mầm non: Với mục tiêu đến năm 2010 hầu hết trẻ em đều được

chăm sóc, giáo dục bẳng những hình thức thích hợp, tạo điều kiện phát triển tòan diện

về thể chất, trí tuệ, thẩm mỹ Tăng tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến trường từ 12% năm 2000lên 15 % năm 2005 và 18% năm 2010, trẻ từ 3 – 5 tuổi tăng tỷ lệ đến trường, lớp mẫugiáo từ 50% năm 2000 lên 58 % năm 2005 và 67 % vào năm 2010, riêng trẻ em 5 tuổităng tỷ lệ huy động đến mẫu giáo để chuẩn bị vào lớp 1 từ 81 % năm 2000 lên 85 %vào năm 2005 và 95 % năm 2010; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ trong các cơ sởgiáo dục mầm non xuống dưới 20 % vào năm 2005, dưới 15% vào năm 2010

Đối với cấp học phổ thông: Thực hiện giáo dục toàn diện về đạo đức, cung cấp

học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp, tiếp cận trình độ cácnước phát triển trong khu vực, xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp họctập chủ động, tích cực, sáng tạo, lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, nănglực vận dụng kiến thức vào cuộc sống Bậc tiểu học, tăng tỷ lệ huy động học sinh đếntrường từ 95 % năm 2000 lên 97% năm 2005 và 99 % năm 2010, bổ sung cơ sở sởvật chất cho hoạt động dạy và học cho giáo viên và học sinh trong trường, nhằm hỗtrợ dự án đổi mới nội dung sách giáo khoa Đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở ở cácthành phố, đô thị, vùng kinh tế phát triển vào năm 2005, và cố gắng đến năm 2010 đạtphổ cập trong cả nước Tăng tỷ lệ học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi từ 74 % năm

2000 lên năm 80% năm 2005 và 90 % vào năm 2010 Thực hiện chương trình phânban hợp lý nhằm đảm bảo cho học học sinh có học vấn phổ thông trung học, cơ bảntheo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi

Trang 26

học sinh, giúp học sinh có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạođiều kiện thuận lợi cho việc phân luồng sau trung học phổ thông, để học sinh chọnngành nghề phù hợp sau khi tốt nghiệp, tăng tỷ lệ học sinh trong độ tuổi vào trung họcphổ thông từ 38% năm 2000 lên 45% năm 2005 và 50 % vào năm 2010.

Đối với bậc học đại học cao đẳng, đây là bậc học có lượng vốn đầu tư lớn nhất

so với các bậc học khác, đây là bậc học đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trình độ cao,phù hợp với cơ cấu kinh tế - xã hội của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nângcao năng lực cạnh tranh và hợp tác bình đẳng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc,tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng giáo dục sau trung học thông qua việc đa dạng hóachương trình đào tạo trên cơ sở xây dựng một hệ thống liên thông phù hợp với cơ cấutrình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền của nhân lực và năng lực của các cơ sởđào tạo Tăng cường năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, năng lực tự tạo việclàm cho mình và cho người khác Nâng tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân từ 118 nămhọc 2000 – 2001 lên 200 vào năm 2010, tăng quy mô đào tạo thạc sĩ từ 11.727 họcviên năm 2000 lên 18.504 năm 2008, và ước đạt 38.000 học viên năm 2010

2.1.3 Nội dung đầu tư:

Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục,khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước,người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư cho giáo dục, NSNN phải giữ vai trò chủyếu trong tổng nguồn vốn đầu tư

Về phát triển quy mô giáo dục và đào tạo

Giáo dục mầm non: Từ sau khi có quyết định 161/ 2002/ QĐ – TTg của Thủ

tướng Chính phủ, giáo dục mầm non đã có bước phát triển, cơ bản đã giải quyết đượckhó khăn cho các xã trắng về giáo dục mầm non, mạng lưới và loại hình trường, nhất

là mầm non dân lập và tư thục được mở rộng, số trẻ huy động đến trường, lớp mầmnon ngày càng gia tăng, nhất là mẫu giáo 5 tuổi Trong năm học 2004 – 2005 chỉ còn

13 xã trắng về giáo dục mầm non tập trung ở các tỉnh miền núi khó khăn như HàGiang, Lai Châu, Bình Định… trong năm học này có 514.200 cháu nhà trẻ, tăng 24,3

% so với năm học 2003 – 2004; 2.499.000 học sinh mẫu giáo tăng 12,7 % so với năm

Trang 27

học 2003 – 2004; đến năm học 2007 - 2008 con số này là 481.909 cháu nhà trẻ và2.596.768 số học sinh mẫu giáo.

Giáo dục phổ thông, trong đó quy mô học sinh tiểu học tiếp tục giảm và đang

dần đi vào ổn định, năm học 2004 – 2005 có 7.947.600 học sinh, giảm 402, 5 nghìn sovới năm học 2003 – 2004, năm học 2007- 2008 là 6.871.795 học sinh Đối với bậctrung học cơ sở , số học sinh THCS chưa ổn định, năm học 2004 – 2005 có 6.972.000học sinh THCS tăng 2,7 % so với năm học 2003 – 2004, năm học 2007 – 2008 là5.858.484 học sinh giảm 3% so với năm học 2006 – 2007, tỷ lệ huy động đi học trong

độ tuổi tăng đạt 92 % Tuy đang trong giai đoạn thực hiện phổ cập nhưng số học sinhTHCS giảm do ảnh hưởng giảm hàng năm của số học sinh lớp 5, hiệm tượng giảm đãdừng và tăng dần trở lại tiếp cân với số dân số của độ tuổi sau khi cả nước đạt đượcphổ cập giáo dục đúng độ tuổi Đối với bậc trung học phổ thông, các tỉnh thuộc vùngkinh tế phát triển vẫn giữ được mức tuyển sinh vào lớp 10 ổn định, năm học 2004 –

2005 có 2.847.300 học sinh phổ thông tăng 8,8 % so với năm học 2003 – 2004, nămhọc 2007 – 2008 là 3.070.023 học sinh tăng 0,5 % so với năm học 2005 - 2006

Giáo dục đại học cao đẳng, trong thời gian qua giáo dục đại học tăng nhanh về

số lượng và chất lượng giảng dậy, hàng năm đều đạt được các chỉ tiêu về quy mô như

kế hoạch, các chỉ tiêu tăng thêm chủ yếu là do có thêm các trường đại học, cao đẳngmới thành lập, nên số chỉ tiêu tăng thêm chủ yếu dành cho các trường này

Về phát triển mạng lưới trường lớp

Bảng 2.3: Số lượng trường của các cấp học giai đoạn 2001 – 2008

Đơn vị: trường

Năm học 2001-2002

Năm học 2002-2003

Năm học 2003-2004

Năm học 2004-2005

Năm học 2005-2006

Năm học 2006-2007

Năm học 2007-

Trang 29

Minh, điều này nhằm giảm sự quá tải ở các thành phố lớn, và giảm chi phí ăn ở, đi lạicho người học.

Chi đầu tư xây dựng cơ bản: Trong giai đoạn 2001 đến năm 2008 vốn đầu tư

xây dựng cơ bản được bố trí tăng qua các năm, điêu này có thể thấy thông qua bảngsau:

Bảng 2.4: Vốn chi đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN năm 2001 đến năm 2008

Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Vụ Đầu Tư – Bộ Tài chính về vốn NSNN giành

cho giáo dục giai đoạn từ năm 2000 đến nay

Biểu đồ 2.2: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN năm 2001 đến năm 2008

Đơn vị: Tỷ đồng

Trang 30

Việc phân bổ vốn đầu tư cho các dự án được thực hiện từ ngay đầu năm kếhoạch theo đúng quyết định giao chỉ tiêu kế hoạch và dự toán ngân sách nhà nước củaThủ tướng chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính; được thực hiện côngkhai, đúng quy định, theo hướng dẫn; các đơn vị, dự án đều thực hiện kế hoạch vốnđầu tư được giao đúng nội dung, địa điểm và đúng cơ cấu vôn đầu tư, các dự án hoànthành được sử dụng có hiệu quả phát huy tác dụng đối với nhiệm vụ giáo dục đào tạo

và nghiên cứu khoa học

Trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2008, chỉ riêng khu vực giáo dục chuyênnghiệp và đại học cả nước đã thành lập 192 cơ sở mới với 63 trường đại học, 92trường cao đẳng và 37 trường trung cáp chuyên nghiệp Nếu năm 2000 cả nước có 97trường đại học, 104 trường cao đẳng và 246 trường trung cấp chuyên nghiệp thì năm

2007 số lượng các trường đại học là 158, 196 trường cao đẳng và 279 trường trungcấp chuyên nghiệp Ngoài ra, còn có hàng chục trường cao đẳng nghề, trung cấp nghềmới được hình thành Số các cơ sở đào tại ngoài công lập cũng tăng nhanh (từ 22trường đại học và cao đẳng ngoài công lập năm 2000, đến nay cả nước đã có 60trường đại học và cao đẳng tư thục với 36 trường đại học và 24 trường cao đẳng) Vốnngân sách đã được thực hiện đầu tư phát triển các trường đại học có trọng điêmr (Đạihọc Huế, Đaị học Thái Nguyên, Đại học Đà Nẵng, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đạihọc Kinh Tế Quốc Dân, Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ), các

Ngày đăng: 16/04/2013, 10:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Số lượng trường của các cấp học giai đoạn 2001 – 2008 - Đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay
Bảng 2.3 Số lượng trường của các cấp học giai đoạn 2001 – 2008 (Trang 27)
Bảng 2.4: Vốn chi đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN năm 2001 đến năm 2008 - Đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay
Bảng 2.4 Vốn chi đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN năm 2001 đến năm 2008 (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w