MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÍ NGHIỆP TRANG TRÍ BỀ MẶT TRUNG VĂN 2 I.1. Quá trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn 2 I.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh 3 I.3. Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất kinh doanh 5 I.3.1. Phân xưởng ép 5 I.3.2. Tại phân xưởng mộc 6 I.4. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh của xí nghiệp 8 I.5. Những thành tích đã đạt được và một số mặt còn tồn tại trong quá trình phát triển của Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn 11 PHẦN II: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI XÍ NGHIỆP TRANG TRÍ BỀ MẶT TRUNG VĂN 13 II.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn 13 II.1.1. Tổ chức bộ máy kế toán 13 II.1.3. Mối quan hệ giữa các bộ phận kế toán 15 II.1.4. Liên hệ giữa tổ chức bộ máy kế toán với bộ máy quản lý chung của xí nghiệp 16 II.2. Tổ chức công tác kế toán tại xí nghiệp 16 II.2.1. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại xí nghiệp 16 II.2.2.Về chế độ kế toán áp dụng 18 I.2.2.1. Chế độ kế toán chung 18 II.2.2.2. Các chính sách kế toán áp dụng cụ thể 19 II.2.3. Hình thức ghi sổ kế toán vận dụng trong xí nghiệp 21 II.3. Thực trạng tổ chức hạch toán kế toán một số phần hành kế toán chủ yếu tại xí nghiệp 22 II.3.1. Kế toán tiền mặt, tiền gửi, tiền vay 22 II.3.2. Kế toán vật tư, thành phẩm, hàng hoá 23 II.3.3. Kế toán lao động tiền lương, TSCĐ 25 II.3.4. Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 27 II.3.5. Kế toán thanh toán và xác định kết quả kinh doanh 32 II.4. Thực trạng công tác lập, trình bày và sử dụng các báo cáo kế toán trong công tác quản lý tại Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn 33 II.5. Thực trạng công tác kiểm tra, kiểm soát, phân tích tài chính tại xí nghiệp 39 PHẦN III: ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI XÍ NGHIỆP TRANG TRÍ BỀ MẶT TRUNG VĂN 40 III.1. Những thành tựu đạt được trong công tác tổ chức hạch toán kế toán 40 III.2. Những mặt còn tồn tại trong công tác hạch toán kế toán tại xí nghiệp 42 III.3. Một số kiến nghị 43 III.3.1. Về thực hiện hạch toán kế toán 43 III.3.2. Tổ chức và hoàn thiện công tác kế toán quản trị 43 III.3.3. Về công tác kiểm tra, kiểm soát, phân tích tài chính 44 KẾT LUẬN 45
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nằm trong chương trình đào tạo của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, khoa Kế toán - Kiểm toán tổ chức khoá thực tập cho sinh viên năm cuối chuyên ngành Kế toán tổng hợp, quá trình thực tập là cơ hội để sinh viên tiếp xúc với hoạt động kế toán trên thực tế để từ đó kiểm chứng, bổ trợ và nâng cao phần kiến thức đã được học là một bước đệm giúp sinh viên có thêm nhiều hiểu biết và kinh nghiệm khi tốt nghiệp và ra trường tìm kiếm việc làm Quá trình thực tập tốt nghiệp được chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Giai đoạn thực tập tổng hợp
Giai đoạn 2: Giai đoạn thực tập chuyên đề
Trong giai đoạn thực tâp tổng hợp tại Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn với quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin về cơ sở thực tập là những tiền đề
để em hoàn thành bản Báo cáo thực tập tổng hợp sau Kết cấu bản Báo cáo này gồm 3 phần:
Phần I: Những vấn đề chung về Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn Phần II: Thực trạng tổ chức hạch toán kế toán tại Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn
Phần III: Đánh giá khái quát tổ chức hạch toán kế toán tại Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn
Bản báo cáo của em được trình bày không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy giáo hướng dẫn và của các anh chị tại cơ sở thực tập để bản Báo cáo của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của thầy giáo hướng dẫn TS.Trần Quý Liên cùng ban lãnh đạo và phòng Tài chính - Kế toán xí nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong quá trình thực tập và hoàn thành bản Báo cáo này.
Trang 2
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÍ NGHIỆP
TRANG TRÍ BỀ MẶT TRUNG VĂN
I.1 Quá trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn
Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn là một đơn vị hạch toán phụ thuộc vàchịu sự quản lý của Công ty chế biến Ván nhân tạo thuộc Liên hiệp khoa học sảnxuất, thiết kế và xây dựng công trình lâm nghiệp- Bộ lâm nghiệp Năm 1995 sau khiquyết định hợp nhất ký ngày 31/8 thành lập công ty chế biến Ván nhân tạo có hiệulực, ngày 5/9 Tổng giám đốc liên hiệp khoa học sản xuất, thiết kế và xây dựng côngtrình lâm nghiệp ký quyết định thành lập Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn, trụ
sở của xí nghiệp đặt tại xã Trung Văn - Từ Liêm – Hà Nội
Trong quá trình hoạt động tính đến nay Xí nghiệp đã có hai lần chuyển địa điểmnhằm thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh, năm 1998 xí nghiệp chuyển về GiápBát và đến năm 2004 trụ sở của xí nghiệp đạt tại Thị trấn Văn Điển – Thanh Trì –
Hà Nội nằm trong khuôn viên Công ty chế biến Ván nhân tạo nhằm thuận tiện choquá trình quản lý và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Quy mô của xínghiệp bao gồm trụ sở của xí nghiệp đặt tại thị trấn Văn Điển – Thanh Trì – Hà Nội
là nơi tổ chức các hoạt động sản xuất, điều hành các hoạt động sản xuất và Cửahàng giới thiệu sản phẩm, đây là nơi giới thiệu và bán các sản phẩm của xí nghiệp
Là một xí nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất các mặt hàng ván nhân tạo,nội thất văn phòng và gia đình theo hình thức sở hữu nhà nước nhưng xí nghiệp đãkhông ngừng cố gắng vươn lên tổ chức các hoạt động sản xuất giống như mộtdoanh nghiệp độc lập, không những sử dụng hợp lý nguồn kinh phí được cấp hàngnăm còn tạo được số lợi nhuận khá lớn Qua nhiều năm hoạt động xí nghiệp đãkhông ngừng mở rộng quy mô sản xuất, tăng gia sản xuất đưa quy mô xí nghiệpngày càng mở rộng và lớn mạnh Các sản phẩm của xí nghiệp ngày càng tăng cả về
số lượng, chủng loại, chất lượng, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm góp phần tăng
Trang 3doanh thu, tăng lợi nhuận, mở rộng thị phần hàng hoá sản phẩm của xí nghiệp trênthị trường và ngày càng có nhiều người biết đến sản phẩm của xí nghiệp.
Bước sang năm 2007 Công ty chế biến ván nhân tạo tiến hành cổ phần hoá do
đó Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn là một đơn vị trực thuộc cũng trực thuộccũng được cổ phần hoá, thay đổi này sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sảnxuất kinh doanh của xí nghiệp từ quản lý đến tổ chức sản xuất Với sự nỗ lực cốgắng của toàn thể cán bộ công nhân xí nghiệp hy vọng sẽ đưa xí nghiệp ngày càngtiến nhanh, tiến mạnh và vững chắc đứng vững trong nền kinh tế thị trường hiệnnay
I.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn là doanh nghiệp nhà nước trực thuộcCông ty chế biến Ván nhân tạo hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh cácmặt hàng ván nhân tạo, nội thất văn phòng và gia đình, có hình thức sở hữu vốn là
sở hữu nhà nước hạch toán phụ thuộc Công ty chế biến Ván nhân tạo và vốn sảnxuất kinh doanh do công ty cấp.Các sản phẩm sản xuất của xí nghiệp thường theo
kế hoạch của công ty giao và theo đơn đặt hàng của khách Bên cạnh chức năng sảnxuất, xí nghiệp còn có chức năng tìm hiểu, nghiên cứu nhu cầu thị trường để đápứng ngày càng tăng doanh thu từ đó tăng lợi nhuận mở rộng quy mô cho xí nghiệp
Về tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, xí nghiệp gồm hai phân xưởng: Phânxưởng ép và phân xưởng mộc Các sản phẩm được tạo ra từ hai phân xưỡng này baogồm:
- Các sản phẩm về ván nhân tạo bao gồm: Ván ép ti tan, ván ép pơ mu, Ván lạng
pơ mu phủ bóng, ván dán, ván sợi ép gỗ, ván sợi ép giấy màng, ván sợi ép ti tan, gỗdán, gỗ ép dổi,… các loại với nhiều kích thước, màu sắc khác nhau tuỳ theo yêu cầu
và đơn đặt hàng của khách hàng
- Các sản phẩm về nội thất văn phòng và gia đình bao gồm:
+ Văn phòng: Bàn làm việc, bàn vi tính, bàn góc, bàn họp tròn, bàn hội thảo,bàn quầy tủ sách,… các loại với nhiều hình dáng, kích thước, màu sắc khác nhau
Trang 4+ Gia đình: Tủ đầu giường, tủ Tivi, tủ áo, tủ bếp, tủ tường, tủ đơn chiếc, tủ góc,
… các loại
Về quy mô hoạt động của xí nghiệp: Ở quy mô xí nghiệp thì xí nghiệp trang trí bềmặt Trung Văn có quy mô hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngay từ khithành lập xí nghiệp được cấp số vốn kinh doanh từ trên công ty và tự tổ chức hoạtđộng sản xuất kinh doanh thực hiện hạch toán độc lập, có kế hoạch chi tiêu hợp lý
và tự nghiên cứu tìm hiểu, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm nhằm tăng doanhthu trang trải khoản chi phí phát sinh và tạo ra lợi nhuận cho xí nghiệp và hàng năm
xí nghiệp phải nộp một khoản phí về cấp trên theo quy định gọi là khoản trích đàithọ phí nộp về công ty Trích số liệu đầu năm 2006 ta thấy: (đơn vị tính: đồng)
- Tài sản: Tổng Tài sản: 9.733.614.642
+ Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn: 3.748.654.002
+ Tài sản cố định và đầu tư dài hạn: 6.024.960.640
Về lao động trong xí nghiệp: Tổng số cán bộ công nhân viên trong xí nghiệp là 42người, trong đó:
- Lao động gián tiếp 12 người, trong đó nhân viên quản lý 5 người
- Lao động trực tiếp 30người (công nhân)
- Lao động ổn định 38 nguời
- Lao động thời vụ 4 người
Về cơ sở vật chất kỹ thuật, xí nghiệp có quy mô hoạt động bao gồm trụ sở xínghiệp nơi đặt các phòng ban chức năng, các phân xưởng sản xuất và cửa hàng giới
Trang 5thiệu sản phẩm là nơi giới thiệu, giao dịch và bán các sản phẩm của xí nghiệp CácTSCĐ của xí nghiệp bao gồm nhà xưởng và các máy móc thiết bị sử dụng trong sảnxuất ở các phân xưởng như dàn máy ép, tấm đệm ép, máy tráng keo, máy khâu gỗlạng, máy dán cạnh, dàn máy mộc, máy nén khí, máy cưa đĩa,… có giá trị lớn Tuynhững cơ sở vật chất kỹ thuật của xí nghiệp ban đầu là do công ty cấp và đầu tưnhưng qua quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh xí nghiệp đã từngbước đi lên sử dụng hợp lý cơ sở vật chất kỹ thuật vốn có và mở rộng trang bị thêmmột số máy móc thiết bị sản xuất hiện đại cho các phân xưởng.
Về thị trường kinh doanh của xí nghiệp, tính đến thời điểm hiện nay xí nghiệpcung cấp những mặt hàng về ván nhân tạo trang trí bề mặt, nội thất văn phòng vàgia đình trên thị trường nội địa Và trong tương lai xí nghiệp sẽ đổi mới, mở rộngmặt hàng và hướng ra xuất khẩu mở rộng thị phần ra ngoài nước, đó cũng là xuhướng chung của các doanh nghiệp trong nước hiện nay khi Việt Nam đã tham gia
Tổ chức thương mại quốc tế - WTO.Những năm gần đây, các mặt hàng về nội thấtvăn phòng và gia đình có những thay đổi đáng kể, không chỉ là những sản phẩmchất lượng tốt mà còn phải có mẫu mã, chủng loại phong phú, đẹp và tiện nghi.Nắm bắt được nhu cầu thị trường, xí nghiệp đã không ngường cải tiến quy trình sảnxuất, thiết kế và cho ra những sản phẩm mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, phong phú vềchủng loại để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường và làm hài lòng người tiêudùng do đó thị trường tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp không ngừng mở rộng, sảnphẩm của xí nghiệp dần có chỗ đứng trên thị trường và dần trở thành những vậtdụng quen thuộc của mỗi gia đình và văn phòng
I.3 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất kinh doanh
Hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp được tổ chức thành hai phânxưởng sản xuất bao gồm: Phân xưởng ép và phân xưởng mộc Hai phân xưởng nàyđược vận hành với quy trình công nghệ sản xuất khác nhau cụ thể như sau:
I.3.1 Phân xưởng ép
Nguyên vật liệu chính của phân xưởng này là các loại ván nhập ngoại và phụkiện nhập ngoại Các loại ván như ván dăm, ván sợi, ván 18 ly đánh bóng, ván ghép,
Trang 6ván chi phí thô, ván cốt pha ép gỗ bóc, … Các loại giấy trang trí bề mặt như giấytitan các mầu, poliete, các loại gỗ như gỗ lạng dổi, gỗ lạng tếch,…
Ở khâu đầu tiên của quá trình sản xuất, các loại gỗ lạng dổi với chiều dài0.4mm, độ rộng 20cm được đưa qua máy khâu để ghép chúng lại với nhau Sau đóvận chuyển trên băng chuyền tổ ép, rồi được phủ lên bề mặt của ván dăm đã trángkeo Việc ép gỗ lạng dổi trên bề mặt ván dăm đã tráng keo tạo cho ván có một lớpmặt trông như gỗ tự nhiên Việc ép các loại giấy tráng phủ bề mặt như giấy trángphủ Titan cũng đựơc thực hiện tương tự như việc ép ván lạng dổi chỉ khác là khôngphải qua giai đoạn khâu ván Ván được ép xong sẽ được chuyển xuống tổ vệ sinhcông nghiệp để làm sạch sản phẩm và cắt bỏ những phần ván, giấy ép bị thừa rangoài
I.3.2 Tại phân xưởng mộc
Nguyên vật liệu chính của phân xưởng mộc là các loại ván được chuyển từ phânxưởng ép sang hoặc mua trực tiếp từ bên ngoài
Nguyên vật liệu được chuyển xuống tổ cắt pha để thực hiện khâu đầu tiên củaquá trình sản xuất, các loại ván được cắt theo các kích cỡ trên bản vẽ đã được thiết
kế sẵn từ trước Sau đó sẽ được chuyển sang tổ dán cạnh để thực hiện việc dán cácmép gỗ đã được cắt Tiếp theo các bán thành phẩm này được chuyển qua tổ khoan,lắp ráp để lắp ghép thành sản phẩm Cuối cùng, được chuyển qua tổ bả chít để làm
vệ sinh sản phẩm
Dưới đây là sơ đồ quy trình sản xuất tại hai phân xưởng:
Trang 7Sơ đồ 1: Sơ đồ quy trình xưởng ép
Trang 8Tổ ép
Nguyên vật liệu
(Ván dăm)
Tổ vệ sinh công nghiệp
Thành phẩm
Trang 9Sơ đồ 2: Sơ đồ quy trình xưởng mộc
I.4 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh của xí nghiệp
Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình
“chức năng trực tuyến” Đây là kiểu quản lý hỗn hợp nên đã khắc phục được phầnlớn những nhược điểm của mô hình quản lý kiểu “chức năng” (quyền lực không tập
Nguyên vật liệu
(gỗ, ván)
Tổ cắt pha
Tổ dán cạnh
Tổ khoan, lắp ráp
Tổ bả chít
Thành phẩm
Trang 10trung vào một người do đó dẫn đến tình trạng không ai chịu trách nhiệm trước mộtcông việc cụ thể) đồng thời cũng khắc phục được nhược điểm của mô hình quản lý
“trực tuyến” (tình trạng quan liêu không dân chủ, mọi quyết định đều chỉ phụ thuộcvào quyết định của giám đốc) Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh theokiểu “chức năng trực tuyến” có nghĩa là các phòng ban có nhiệm vụ tham mưu chogiám đốc và được phép ra một số các quyết định thuộc phạm vi chức năng, chuyênmôn của phòng ban mình Những quyết định lớn ảnh hưởng đến trực tiếp đến sựphát triển của xí nghiệp đều phải do giám đốc quyết định
Cơ cấu tổ chức quản lý của xí nghiệp được sắp xếp một cách hợp lý nhằm tạo
ra hiệu quả tốt nhất trong công tác điều hành, quản lý Có thể khái quát mô hình tổchức quản lý của xí nghiệp như sau:
Sơ đồ 3: Tổ chức bộ máy quản lý của xí nghiệp
Trong sơ đồ tổ chức trên ta có thể giải thích như sau:
Giám đốc
Phó giám đốc
Phòng
kinh doanh
Phòng
kỹ thuật
Phòng Tài chính
kế toán
Các
phân xưởng
Trang 11- Giám đốc: Là người đứng đầu bộ máy quản lý của xí nghiệp, thay mặt xí nghiệpchịu trách nhiệm trước công ty và các cơ quan chức năng về toàn bộ hoạt động của
xí nghiệp Là người có quyết định cao nhất trong xí nghiệp, chỉ huy quản lý tất cảcác bộ phận của xí nghiệp Các quyết định quan trọng ảnh hưởng đến xí nghiệp đềuphải thông qua giám đốc hoặc do giám đốc trực tiếp ra quyết định
- Phó giám đốc: Là người có vị trí cao thứ hai trong xí nghiệp, chịu sự điều hànhtrực tiếp của giám đốc và hỗ trợ cho giám đốc trong việc thực hiện công tác quản lý
xí nghiệp Phó giám đốc cũng là người quản lý trực tiếp hoạt động của các phòngban chức năng trong xí nghiệp và chịu trách nhiệm trước giám đốc về các quyếtđịnh của mình đối với xí nghiệp Các quyết định mà phó giám đốc đưa ra phải phùhợp với mục tiêu trung của xí nghiệp, đối với các quyết định quan trọng nhất thiếtphải thông qua giám đốc xí nghiệp thì mới ra quyết định
- Phòng Tài chính - Kế toán: Là phòng ban chức năng thực hiện nhiệm vụ ghi chép
và phản ánh toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của doanh nghiệp thông quacông tác hạch toán kế toán và thực hiện nhiệm vụ giao dịch với khách hàng để muacác nguyên vật liệu đầu vào cần thiết cho hoạt động sản xuất, bán các sản phẩm đầu
ra của xí nghiệp Đồng thời có nhiệm vụ đôn đốc, kiểm tra và kiểm soát các chi phí
đã phát sinh trong quá trình sản xuất, quản lý tại xí nghiệp và còn kiêm luôn nhiệm
vụ quản lý và giải quyết các vấn đề liên quan đến nhân sự trong xí nghiệp
- Phòng kinh doanh: Là phòng ban chức năng có nhiệm vụ nghiên cứu, tìm hiểu nhucầu thị trường, liên hệ tìm kiếm khách hàng để ký kết hợp đồng bao gồm cả hợpđồng mua và hợp đồng bán
- Phòng kỹ thuật: Là phòng ban chức năng có nhịêm vụ nghiên cứu, triển khai đưatiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, lập định mức tổ chức kỹ thuật Đồng thờiphòng kỹ thuật cũng có nhiệm vụ thiết kế sản phẩm và giám sát, kiểm tra các khâutrong quy trình sản xuất thực hiện theo đúng yêu cầu về chỉ tiêu kỹ thuật của sảnphẩm
- Các phân xưởng: Bao gồm phân xưởng mộc và phân xưởng ép có nhiệm vụ thựchiện các hoạt động sản xuất sản phẩm của xí nghiệp, các phân xưởng cũng được tổ
Trang 12chức bộ máy quản lý riêng Tại phân xưởng ép đứng đầu là quản đốc, phó quản đốcsau đó đến các công nhân trong phân xưởng trong đó quản đốc là người trực tiếpkiểm tra, giám sát, đôn đốc các công nhân trong quá trình làm việc, còn phó quảnđốc là người giúp quản đốc trong công tác quản lý công nhân trong phân xưởng còn
ở phân xưởng mộc có có tổ trưởng là người trực tiếp quản lý các công nhân trongphân xưởng
I.5 Những thành tích đã đạt được và một số mặt còn tồn tại trong quá trình phát triển của Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn
Đến năm 2007, xí nghiệp đã đi vào hoạt động được 12 năm và từ những bước điban đầu sản phẩm của xí nghiệp đã dần tạo được chỗ đứng trên thị trường Xínghiệp đã khai thác được một số hợp đồng có giá trị, các khách hàng truyền thốngngày càng tin tưởng vào sản phẩm của xí nghiệp và xí nghiệp đã trúng thầu đựơcnhững công trình lớn như TODA< cung cấp sản phẩm về nội thất văn phòng chothư viện trường Đại học kinh tế quốc dân, nhà ga T1 Nội Bài, trung tâm thương mạiTràng Tiền và nhiều hợp đồng có giá trị lớn khác
Dưới đây là một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh của xí nghiệp:
Nhìn vào những số liệu trình bày ở trên ta phân tích khái quát như sau:
Chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ các mặt hàng của xí nghiệp không ngừng tăng quacác năm, năm 2005 doanh thu tăng 6% so với năm 2004 và năm 2006 tăng 6,2% so
Trang 13với năm 2005, như vậy tốc độ tăng của chỉ tiêu doanh thu là khá ổn định qua cácnăm vừa qua.
Về chỉ tiêu nộp ngân sách, chỉ tiêu này cũng tăng qua các năm, khoản nộp vềngân sách này chiếm chủ yếu là khoản thuế GTGT phải nộp của hàng bán nội địa,năm 2005 số nộp ngân sách tăng 6,5% so với năm 2004 và năm 2006 tăng 2,4% Chỉ tiêu thu nhập bình quân 1 công nhân 1 tháng tính trong 1 năm tăng, năm
2005 tăng 23,55% và năm 2006 tăng 10,89%, chỉ tiêu này tăng là một dấu hiệu tốtgiúp công nhân sản xuất nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống
Chỉ tiêu lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh biến động và có xu hướng tăngqua các năm chứng tỏ xí nghiệp đang trên đà phát triển và ngày càng đem lại nhiềulợi nhuận cho xí nghiệp Năm 2005, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng17% so với 2004 và năm 2006 chỉ tiêu này tăng 22,7% so với năm 2005 cho thấyhoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp ngày càng hiệu quả
Bên cạnh những thuận lợi kể trên xí nghiệp còn gặp phải một số khó khăn như:Thị trường ngày càng xuất hiện nhiều loại sản phẩm mới, sản phẩm hàng mộc đang
bị cạnh tranh gay gắt Mặt khác số vốn lưu động luôn ở tình trạng thiếu lại luôn bịkhách hàng chiếm dụng nhiều nên gặp nhiều khó khăn trong công tác huy động vốnkhi cần thiết, khoản phải trả người bán hàng năm khá lớn chứng tỏ xí nghiệp đichiếm dụng vốn của đơn vị khác để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Dothiếu vốn, nguyên vật liệu không được nhập trực tiếp từ nước ngoài mà chủ yếu đimua lại của công ty trong nước nên nhiều lúc không chủ động được trong sản xuất
Để khắc phục những khó khăn hiện nay xí nghiệp phải nâng cao năng suất chấtlượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã, đầu tư cải tạo máy móc thiết bị Đồng thời cũngcần phải có sự nỗ lực cố gắng trong lao động sản xuất của tập thể cán bộ công nhânviên trong xí nghiệp từng bước đưa xí nghiệp bảo toàn và phát triển vốn được giao,hoành thành nghĩa vụ với cấp trên và với ngân sách nhà nước
Trang 14PHẦN II: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI XÍ NGHIỆP TRANG TRÍ BỀ MẶT TRUNG VĂN
II.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn
II.1.1 Tổ chức bộ máy kế toán
Xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn là đơn vị hạch toán phụ thuộc công ty chếbiến Ván nhân tạo nhưng thực hiện chế độ hạch toán kế toán độc lập nên nó có đầy
đủ các giai đoạn của quá trình hạch toán từ khâu lập chứng từ, ghi sổ kế toán đếnkhâu cuối cùng là lập hệ thống báo cáo kế toán
Bộ máy kế toán của xí nghiệp được tổ chức theo hình thức tập trung Toàn bộcông việc hạch toán kế toán được tập trung ở phòng Tài chính - Kế toán của xínghiệp và đặc biệt có sự phân công công việc đối với từng nhân viên trong phòng
kế toán nên tránh được những sự chồng chéo trong công việc giữa các nhân viêntrong phòng kế toán
Phòng kế toán có nhiệm vụ thực hiện ghi chép và phản ánh toàn bộ các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh tại xí nghiệp, tổ chức hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện toàn
bộ công tác thu thập và xử lý thông tin kế toán ban đầu, thực hiện đầy đủ các chế độghi chép ban đầu Đồng thời có nhiệm vụ lập các báo cáo kế toán theo yêu cầu phục
vụ cho công tác quản trị nội bộ tại xí nghiệp và các báo cáo tài chính vào cuối quý,cuối năm theo quy định của Bộ Tài Chính, lên báo cáo thuế và thực hiện nghĩa vụnộp thuế đầy đủ theo yêu cầu của cơ quan Thuế Cuối tháng, quý và cuối nămphòng kế toán phải có nhiệm vụ tổng hợp các số liệu phát sinh và lên báo cáo kếtoán cần thiết để báo cáo và nộp số liệu lên phòng Kế toán trên công ty chế biếnVán nhân tạo Mặt khác, xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn là một doanh nghiệpnhà nước, vốn sản xuất kinh doanh do công ty cấp do đó phòng Tài chính - Kế toáncòn có nhiệm vụ chi tiêu số kinh phí được cấp hàng năm một cách hợp lý và hiệuquả
Trang 15Phòng Tài chính - Kế toán của xí nghiệp chịu sự quản lý trực tiếp của giám đốccủa xí nghiệp và có nhiệm vụ cung cấp số liệu cho kế toán trên công ty Công tác kếtoán tại xí nghiệp được thực hiện bởi 5 người với tổ chức bộ máy kế toán như sau:
Sơ đồ 4: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN XÍ NGHIỆP
II.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong bộ máy kế toán xí nghiệp
Mỗi bộ phận trong bộ máy kế toán của xí nghiệp có những chức năng và nhiệm
vụ riêng với sự phân công lao động kế toán trong bộ máy kế toán Căn cứ vào sơ đồ
kế toán ở trên ta có thể khái quát chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận kế toánnhư sau:
- Kế toán trưởng kiêm kế toán tổng hợp: Là người quản lý cao nhất trong phòng
kế toán, có nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán theo quy định của Bộ Tài Chính vàquản lý, điều hành các hoạt động trong phòng kế toán Tổng hợp số liệu phát sinh,lập các báo cáo kế toán phản ánh một cách chính xác, trung thực kịp thời số liệu,trích nộp đầy đủ các khoản phải nộp cấp trên và công ty, thanh toán đúng hạn cáckhoản tiền vay, các khoản công nợ phải thu, phải trả theo quy định của công ty, củanhà nước Đồng thời phải lập các báo cáo kế toán, thống kê và quyết toán xí nghiệp
về công ty theo quy định, và theo yêu cầu, lập các báo cáo cung cấp số liệu phục vụcho công tác quản lý và quản trị nội bộ trong xí nghiệp Kế toán trưởng phải chịu
KẾ TOÁN TRƯỞNG
Kế toán tập hợp chi phí, tính giá thành sản phẩm
Kế toánNVL, CCDC, thành phẩm vàtiêu thụ thành phẩm
Kế toántiền lương
TSCĐ,thanh toán
Thủ quỹ
Trang 16trách nhiệm trước giám đốc xí nghiệp, công ty và nhà nước về công tác hạch toán
kế toán của xí nghiệp
- Kế toán nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ và tiêu thụ sản phẩm: Có nhiệm vụtheo dõi và ghi chép việc nhập xuất vật tư, công cụ, dụng cụ, theo dõi việc nhậpkho, xuất kho và tiêu thụ thành phẩm, lập các báo cáo liên quan đến vật tư như bảngtổng hợp nhập - xuất - tồn, …Đồng thời có nhiệm vụ cung cấp và chuyển số liệutheo yêu cầu của kế toán tổng hợp
- Kế toán tập hợp chi phí, tính giá thành sản phẩm: Có nhiệm vụ theo dõi các chiphí sản xuất chính, sản xuất phụ và tính giá thành của từng loại sản phẩm hoànthành trong xí nghiệp Đồng thời có nhiệm vụ ghi chép và tập hợp các chi phí ngoàisản xuất phát sinh để chuyển số liệu cho kế toán tổng hợp xác định kết quả kinhdoanh của xí nghiệp
- Kế toán tiền lương, tài sản cố định (TSCĐ), thanh toán: Có nhiệm vụ theo dõi vàtính ra tiền lương và các khoản trích theo lương của từng cán bộ công nhân viên,theo dõi tình hình biến động tăng, giảm của TSCĐ và trích khấu hao TSCĐ theoquy định Đồng thời theo dõi và phản ánh tình hình thu chi tiền mặt, tiền gửi, tiềnvay và công nợ phải thu, phải trả đối với từng khách hàng của xí nghiệp, tổng hơp
số liệu chuyển cho kế toán tổng hợp
- Thủ kho kiêm thủ quỹ: Là người thực hiện các công việc liên quan đến thu chitiền mặt và chịu trách nhiệm về quỹ tiền mặt của xí nghiệp Đồng thời theo dõi vàquản lý các khoản nhập, xuất vật tư trong kho Cuối kì phải thực hiện kiểm kê quỹtiền mặt và kiểm kê vật tư trong kho từ đó lập biên bản kiểm kê quỹ, biên bản kiểm
kê kho vật tư để chuyển số liệu cho kế toán tổng hợp
II.1.3 Mối quan hệ giữa các bộ phận kế toán
Trong bộ máy kế toán có sự phân công công việc kế toán đối với từng nhân viêntrong phòng kế toán và kế toán của từng bộ phận phải có trách nhiệm hoàn thành tốtcông việc được giao Mỗi bộ phận kế toán đảm nhiệm phần hành kế toán khác nhaunhưng các bộ phận kế toán trong xí nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau vàquan hệ giữa các bộ phận này là quan hệ cung cấp số liệu Mỗi bộ phận có chức
Trang 17năng và nhiệm vụ khác nhau nhưng các số liệu kế toán có liên quan đến nhau do đó
kế toán của mỗi bộ phận có nhiệm vụ chuyển số liệu hỗ trợ cho bộ phận kế toánkhác hoàn thành nhiệm vụ được giao Kế toán trưởng kiêm kế toán tổng hợp cónhiệm vụ kiểm tra, giám sát và đôn đốc kế toán của từng bộ phận hoàn thành côngviệc của mình và kế toán của mỗi bộ phận có nhiệm vụ chuyển số liệu cho kế toántổng hợp giúp kế toán tổng hợp thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình
II.1.4 Liên hệ giữa tổ chức bộ máy kế toán với bộ máy quản lý chung của xí nghiệp
Bộ máy quản lý của xí nghiệp trang trí bề mặt Trung Văn được tổ chức theohình thức tập trung gồm nhiều phòng ban khác nhau Các phòng ban trong xí nghiệpđảm nhiệm chức năng, nhiệm vụ riêng biệt và cùng chịu sự quản lý trực tiếp củagiám đốc xí nghiệp, mỗi phòng ban phải chịu trách nhiệm trước giám đốc về hoạtđộng của mình do đó không có sự chồng chéo về nhiệm vụ và quyền hạn của mỗiphòng ban Bộ máy kế toán của xí nghiệp cũng được tổ chức theo hình thức tậptrung bao gồm nhiều bộ phận và có sự phân công thực hiện công tác kế toán giữacác bộ phận kế toán của xí nghiệp Các bộ phận này có quan hệ chặt chẽ với nhau
và cung cấp số liệu cho nhau, hỗ trợ nhau trong quá trình thực hiện công việc kếtoán của bộ phận nhau đồng thời chịu sự quản lý thống nhất của kế toán trưởng.Như vậy tổ chức bộ máy kế toán của xí nghiệp gần giống với tổ chức bộ máy quản
lý chung của xí nghiệp nhưng do các số liệu kế toán có liên quan chặt chẽ với nhaunên quan hệ cung cấp số liệu giữa các bộ phận kế toán là không thể thiếu
II.2 Tổ chức công tác kế toán tại xí nghiệp
II.2.1 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại xí nghiệp
Công tác hạch toán kế toán tại xí nghiệp được thực hiện bằng máy đồng thời
áp dụng kế toán thủ công Việc lập các chứng từ phản ánh các nghiệp vụ kinh tếphát sinh được kế toán thực hiện bằng thủ công sau đó trên cơ sở các chứng từ đượclập một cách hợp lệ kế toán tiến hành nhập số liệu vào phần mềm kế toán trên máy
vi tính tương ứng với từng phân hệ kế toán cụ thể theo quan hệ đối ứng tài khoản.Máy tính được lập trình sẽ tự động chuyển số liệu kế toán vào các Sổ chi tiết và sổ
Trang 18Cái các tài khoản có liên quan Cuối mỗi kỳ kế toán chương trình sẽ tự động tổnghợp số liệu trên các sổ Cái và lập bảng cân đối số phát sinh và căn cứ vào số liệutrên các sổ chi tiết để lập bảng tổng hợp chi tiết từ đó lập các Báo cáo tài chính theoyêu cầu với chu trình đã được lập trình sẵn đối với phần mềm kế toán.
Doanh nghiệp bắt đầu áp dụng kế toán máy trong công tác hạch toán kế toán từnăm 2001, tên của phần mềm kế toán này là Hệ chương trình Tài chính kế toánTCKT 2001 của ACS Software Đây là phần mềm kế toán áp dụng cho các doanhnghiệp vừa và nhỏ nhằm mục đích giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năngquản lý tài chính của mình một cách tổng thể trên tất cả các phương diện của hoạtđộng sản xuất kinh doanh
Sơ đồ áp dụng kế toán máy trong công tác hạch toán kế toán như sau:
Sơ đồ 5: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán trên máy vi tính
Đối với phần mềm kế toán này có đặc điểm là được xây dựng để sử dụng trênmôi trường mạng đa người dùng và cho phép số người truy nhập gần như khônghạn chế đồng thời được xây dựng trên một cơ sở bảo mật và an toàn thông tin tuyêtđối Người sử dụng được phép truy cập hệ thống với những quyền truy cập khácnhau và chỉ được phép khai thác và cập nhật thông tin theo đúng quyền hạn đượccấp của mình Phần mềm này có giao diện đồ hoạ với phông chữ tiếng việt chuẩn
- Báo cáo tài chính
- Báo cáo kế toán quản trị
Ghi chú:
Nhập số liệu hàng ngày
In sổ, báo cáo cuối tháng, cuối nămĐối chiếu, kiểm tra
Trang 19ABC tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng trong việc cập nhật và khai thácthông tin.
Hệ thống được chia thành 3 module với các chức năng cơ bản sau:
- Tài chính: Khai báo khởi tạo và cập nhật hệ thống; quản lý thu chi tiền măt, tiềngửi; lập các báo cáo tổng hợp
- Vật tư: Quản lý mua hàng, bán hàng; quản lý kho vật tư; quản lý kho thànhphẩm; quản lý kho hàng hóa; bán hàng online; quản lý bao bì vận chuyển
- Tài sản cố định: Quản lý tài sản cố định
II.2.2.Về chế độ kế toán áp dụng
I.2.2.1 Chế độ kế toán chung
Chế độ kế toán áp dụng trên máy vi tính theo chế độ kế toán Việt Nam banhành theo quyết định số 1141/TC/QĐ-CĐKT ngày 01/01/1995, các chuẩn mực kếtoán Việt Nam và các văn bản sửa đổi, thông tư hướng dẫn của Bộ tài chính banhành kèm theo Niên độ kế toán áp dụng là theo một năm tài chính, kỳ kế toán theoquý
Về chế độ chứng từ và sổ sách kế toán: Các chứng từ và sổ sách kế toán sử dụngtrong quá trình hạch toán được đăng kí và theo quy định của Bộ tài chính
Các chứng từ hợp lệ đã được đăng ký và theo mẫu chung mà Bộ Tài chính banhành Bao gồm:
- Chứng từ tiền lương: Bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương, Bảng thanhtoán tiền thưởng, Phiếu báo nghỉ hưởng BHXH, Hợp đồng giao khoán, Phiếu xácnhận công việc hoàn thành, Bảng phân bổ tiền lương và BHXH, Bảng kê các khoảntrích nộp theo lương
- Chứng từ Hàng tồn kho: Phiếu xuất kho, Phiếu nhập kho, Biên bản kiểmnghiệm, Thẻ kho, Biên bản kiểm kê sản phẩm, vật tư, hàng hóa, Bảng kê mua hàng,Bảng phân bổ NVL, CCDC
- Chứng từ Tiền tệ: Phiếu thu, Phiếu chi, Giấy đề nghị tạm ứng, Giấy thanh toántiền tạm ứng, Bảng kiểm kê quỹ
Trang 20- Chứng từ Tài sản cố định: Biên bản giao nhận TSCĐ, Thẻ TSCĐ, Biên bảnthanh lý TSCĐ, Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ, Biên bản đánh giá lạiTSCĐ, Biên bản kiểm kê TSCĐ, Biên bản bàn giao TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành.
- Chứng từ bán hàng: Hoá đơn GTGT, Thẻ quầy hàng, Phiếu xuất kho kiêm vậnchuyển nội bộ
Đơn vị mở đầy đủ các sổ kế toán bao gồm sổ chi tiết và các sổ tổng hợp theo yêucầu của công tác hạch toán kế toán và mẫu sổ theo mẫu chung mà Bộ tài chính banhành và thống nhất cho kỳ kế toán năm Bao gồm:
- Sổ chi tiết: sổ và thẻ kế toán chi tiết như sổ chi tiết tiền mặt, sổ chi tiết bánhàng, sổ chi tiết giá vốn, thẻ kho, thẻ TSCĐ,…
- Sổ tổng hợp: Sổ nhật ký và sổ Cái các TK như Sổ Nhật ký chung, Sổ Cái TK
111, TK 511, TK 632, TK 152,…
Các chứng từ được kế toán viên lập bằng tay có đầy đủ các yếu tố đảm bảo chứng
từ hợp lệ và được nhập vào máy theo từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh cụ thể vàmáy tính sẽ tự động theo chu trình đã được lập trình sẵn chuyển số liệu vào các sổ
kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng hợp
Về chế độ tài khoản kế toán áp dụng: Xí nghiệp áp dụng hệ thống tài khoản kếtoán theo quy định của Bộ tài chính bao gồm các TK trong bảng cân đối kế toán vàcác tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán và đảm bảo việc hạch toán vào các tàikhoản theo đúng nội dung kinh tế phát sinh và theo quan hệ đối ứng tài khoản Xínghiệp sử dụng các tài khoản cấp một và mở các tài khoản cấp hai để theo dõi chitiết theo từng đối tượng theo yêu cầu của công tác hạch toán kế toán Đặc biệt làmột doanh nghiệp sản xuất tổ chức sản xuất theo hai phân xưởng nên việc mở các
TK cấp hai hoặc TK theo dõi chi tiết theo từng đối tượng như TK 627_PXE, TK627_PXM để theo dõi, tập hợp chi phí, tính giá thành được dễ dàng thuận lợi hơn
Về chế độ báo cáo tài chính tại xí nghiệp: Các báo cáo tài chính được lập bằngphần mềm kế toán áp dụng trên máy vi tính theo đúng quy định của Bộ tài chính.Các báo cáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính
Trang 21và phải mở sổ chi tiết theo dõi đối với từng ngoại tệ Cuối kỳ, niên độ kế toán thìcác khoản mục có gốc ngoại tệ đều phải tổng hợp và được đánh giá lại theo tỷ giáthực tế tại thời điểm đánh giá lại đó, khoản chênh lệch tỷ giá được hạch toán tươngứng vào TK 413- Chênh lệch tỷ giá hối đoái.
- Đối với hàng tồn kho: Xí nghiệp áp dụng phương pháp giá trị hàng tồn kho theogiá trị thực tế của hoá đơn thu mua và chi phí thu mua hoặc sản xuất Cuối kỳ máytính tự động tính ra giá của hàng tồn kho là giá bình quân cả kỳ dự trữ theo phầnmềm kế toán đã được lập trình sẵn Việc hạch toán hàng tồn kho được tiến hànhtheo phương pháp kê khai thường xuyên và cuối mỗi niên độ kế toán kế toán tiếnhành lập dự phòng giảm giá cho hàng tồn kho
- Đối với TSCĐ: Nguyên giá TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình được ghi nhậntheo quy định và thực tế mua sắm Tiến hành trích khấu hao TSCĐ hữu hình vàTSCĐ vô hình theo phương pháp đường thẳng
- Đối với các khoản phải thu, phải trả: Ghi nhận theo giá trị thực tế ghi trên hoáđơn, hợp đồng kinh tế Thời hạn thanh toán theo quy định từng hợp đồng và cuốimỗi niên độ kế toán lập dự phòng nợ phải thu khó đòi
- Đối với khoản doanh thu: Ghi nhận doanh thu bán hàng và doanh thu hoạt độngtài chính khi thoả mãn đồng thời các điều kiện ghi nhận doanh thu theo quy địnhchung của Bộ tài chính
Trang 22- Đối với hạch toán các khoản thuế: Tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ,các loại thuế còn lại hạch toán theo quy định chung Lập báo cáo thuế GTGT hàngtháng gửi cho cơ quan thuế theo quy định.
II.2.3 Hình thức ghi sổ kế toán vận dụng trong xí nghiệp
Công tác hạch toán kế toán của đơn vị được tiến hành thống nhất với công ty vềcác chính sách kế toán áp dụng và hình thức ghi sổ kế toán Hình thức ghi sổ kếtoán là Nhật Ký Chung với trình tự ghi sổ như sau:
Sơ đồ 6: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức sổ Nhật ký chung
Bảng cân đối số phát sinh
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Trang 23Theo hình thức ghi sổ này các sổ kế toán phải mở bao gồm:
- Sổ kế toán chi tiết bao gồm: Thẻ kho, thẻ TSCĐ; Sổ chi tiết vật tư, công cụ,dụng cụ, sản phẩm hàng hoá; Sổ chi tiết thanh toán cho người mua, người bán; Sổchi tiết tiền gửi, tiền vay; Sổ chi tiết bán hàng, TSCĐ, giá vốn,…
- Sổ kế toán tổng hợp bao gồm: Nhật ký chung; Sổ Cái các tài khoản, mỗi Sổ Cáitương đương với một tài khoản kế toán cấp một Đơn vị không mở sổ Nhật ký đặcbiệt trong quá trình hạch toán kế toán mà phản ánh tất cả nghiệp vụ kinh tế phátsinh vào sổ Nhật ký chung
Các sổ kế toán chi tiết và sổ kế toán tổng hợp được mở theo hình thức Nhật KýChung được lập trình sẵn trong phần mềm kế toán trên máy vi tính
II.3 Thực trạng tổ chức hạch toán kế toán một số phần hành kế toán chủ yếu tại xí nghiệp
Việc tổ chức hạch toán kế toán các phần hành kế toán được phân chia theochức năng, nhiệm vụ của mỗi kế toán viên trong phòng kế toán, mỗi kế toán đảmnhiệm những phần hành kế toán riêng biệt tuy nhiên có quan hệ mật thiết cung cấp
số liệu cho nhau và có trách nhiệm hoàn thành công việc được giao Trong giaiđoạn đến thực tập tại xí nghiệp, qua tìm hiểu, quan sát và thu thập thông tin em thấycông tác hạch toán kế toán các phần hành kế toán được thực hiện như sau:
II.3.1 Kế toán tiền mặt, tiền gửi, tiền vay
Công tác kế toán tiền mặt, tiền gửi, tiền vay được thực hiện bởi kế toán tiềnlương, TSCĐ, thanh toán Khi có các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến thu,chi tiền mặt, tiền gửi kế toán tiến hành lập phiếu thu, phiếu chi theo các yếu tố ghitrên chứng từ Trên cơ sở các phiếu thu, phiếu chi tiền mặt, tiền gửi kế toán tiếnhành nhập phiếu thu, phiếu chi vào máy theo phần mềm kế toán đã cài đặt sẵn đồngthời ghi vào sổ quỹ Tiền mặt, tiền gửi Khi nhập các số liệu trên phiếu thu, phiếu chivào máy thì máy tính sẽ tự động theo chu trình chuyển số liệu vào các Sổ chi tiếttiền mặt, tiền gửi, tiền vay và Sổ Cái TK 111, TK 112, TK 113, TK 311, TK 341.Cuối tháng, cuối quý thủ quỹ và kế toán tiến hành kiểm kê quỹ tiền mặt, tiền gửi tại
Trang 24ngân hàng lập Biên bản kiểm kê quỹ đồng thời đối chiếu với sổ chi tiết và sổ Cáicác tài khoản liên quan
Công việc theo dõi và quản lý quỹ được tiến hành đồng thời bởi thủ quỹ và kếtoán phụ trách phần hành kế toán tiền lương, TSCĐ, thanh toán Nhìn chung côngtác kế toán này được thực hiện khá tốt, hầu hết các nghiệp vụ phát sinh đều liênquan đến tiền Việt Nam nên dễ hạch toán và quản lý, các nghiệp vụ liên quan đếnngoại tệ là rất ít khi xảy ra Do ở phạm vi xí nghiệp nên không thể phân công riêngmột kế toán đảm nhiệm phần hành kế toán tiền mặt, tiền gửi, tiền vay mà kế toántiền lương và TSCĐ, thanh toán kiêm luôn công tác hạch toán các nghiệp vụ liênquan đến thu, chi tiền, nhìn chung sự phân công sắp xếp lao động này là hợp lý
II.3.2 Kế toán vật tư, thành phẩm, hàng hoá
Phần hành kế toán này được giao cho kế toán NVL, CCDC, thành phẩm và tiêuthụ thành phẩm đảm nhiệm gọi là kế toán hàng tồn kho Nhiệm vụ của kế toán này
là theo dõi tình hình nhập xuất nguyên vật liệu như ván dăm, gỗ dổi,… và công cụdụng cụ như keo dán, ốc, đinh, băng dán,…mua ngoài nhâp kho phục vụ cho sảnxuất, theo dõi tình hình xuất kho NVL, CCDC để sản xuất sản phẩm ở từng phânxưởng, đồng thời theo dõi tình hình nhập kho thành phẩm sản xuất ra từ mỗi phânxưởng và xuất thành phẩm bán cho khách hàng Về hạch toán chi tiết hàng tồn khotại xí nghiệp, kế toán sử dụng phương pháp thẻ song song theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 7: Hạch toán chi tiết hàng tồn kho theo phương pháp thẻ song song
Trang 25Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng hoặc định kỳ
Quan hệ đối chiếu
Về hạch toán tổng hợp hàng tồn kho, kế toán sử dụng phương pháp kê khaithường xuyên do đó tình hình biến động của hàng tồn kho được phản ánh một cáchthường xuyên và liên tục trên các sổ sách kế toán
Hạch toán hàng tồn kho sử dụng các tài khoản kế toán sau:
- TK 152: NVL mở chi tiết cho từng loại
- TK 153: CCDC mở chi tiết cho từng đối tượng
- TK 151: Hàng mua đang đi đường để phản ánh các vật tư đang trên đường vềnhập kho
- TK 155: Thành phẩm, được mở chi tiết thành TK 1551 “Thành phẩm hàngmộc” và TK 1552 “Thành phẩm hàng trang trí bề mặt”
- TK 511: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn
Sổ kế toán tổng hợp
Trang 26quan trên phần mềm kế toán, tổng hợp số liệu trên các sổ chi tiết vật tư, sổ chi tiếtmua hàng,… và sổ Cái các TK 152, 153, 155, 155… Giá để hạch toán hàng tồn khocủa đơn vị đối với cả hoạt động nhập kho và xuất kho là giá thực tế đích danh Cuốinăm kế toán tiến hành lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho những hàng tồn khocòn trong kho của đơn vị.
Đối với hạch toán tiêu thụ thành phẩm, mỗi khi nhận được đơn đặt hàng hoặcphiếu yêu cầu mua của khách hàng kế toán phần hành này tiến hành lập hoá đơnbán hàng giao cho khách hàng đồng thời kế toán căn cứ theo các điều kiện ghi nhậndoanh thu nếu xét thấy đã thoả mãn đầy đủ các điều kiện sẽ tiến hành nhập số liệuvào máy theo chương trình đã được cài đặt sẵn Kế toán tiêu thụ phải thực hiệnnhập số liệu cho phiếu xuất kho để làm căn cứ hạch toán và theo dõi giá vốn hàngbán của số hàng đã tiêu thụ và nhập số liệu cho hoá đơn bán hàng làm căn cứ đểhạch toán và theo dõi doanh thu bán hàng đồng thời kế toán phần hành này phảitheo dõi và phản ánh các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến tiêu thụ thành phẩm nhưkhoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, chiết khấuthanh toán, theo dõi các khoản công nợ với khách hàng,…và các chi phí khác liênquan khác Cuối tháng chương trình sẽ tự động chuyển số liệu vào sổ Cái và sổ chitiết TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”, sổ Cái và sổ chi tiết TK 632
“Giá vốn hàng bán”, Sổ chi tiết bán hàng và các sổ kế toán liên quan khác Hàngtháng kế toán tính ra kết quả tiêu thụ các sản phẩm của xí nghiệp để có kế hoạch sảnxuất cho phù hợp
Kế toán phần hành này có nhiệm vụ theo dõi các khoản nhập, xuất vật tư do đó
có đầy đủ số liệu về công tác hạch toán thuế GTGT đầu vào, đầu ra do đó kế toánphải phản ánh chính xác số liệu kế toán vào máy, tính đúng và đủ số thuế GTGTđầu vào đầu ra để cuối tháng chuyển số liệu cho kế toán tổng hợp tính ra số thuếGTGT còn phải nộp trong tháng, lập tờ khai thuế GTGT và các bảng kê, báo cáothuế liên quan Đồng thời kế toán phải kết hợp chặt chẽ với thủ kho trong công táctheo dõi và quản lý hàng tồn kho để có kế hoạch thu mua và cung ứng NVL, CCDCphục vụ cho kế hoạch sản xuất sản phẩm của xí nghiệp Cuối tháng, cuối quý kế
Trang 27toán và thủ kho tiến hành kiểm kê kho lập Biên bản kiểm kê và đối chiếu số liệu vớicác sổ chi tiết và sổ Cái các tài khoản có liên quan Nhìn chung công tác hạch toánphần hành kế toán này ở đơn vị đựơc thực hiện khá tốt.
II.3.3 Kế toán lao động - tiền lương, TSCĐ
Việc hạch toán kế toán lao động tiền lương và TSCĐ được thực hiện bởi kế toánphụ trách về tiền lương, TSCĐ, thanh toán
Về hạch toán kế toán lao động tiền lương kế toán phải có nhiệm vụ theo dõilương và các khoản trích theo lương, các khoản chế độ, phép đối với lao động Căn
cứ để tính lương và các khoản trích theo lương là Bảng chấm công, đây là chứng từlàm cơ sở tính lương đối với lao động trực tiếp do đó đơn vị phải lập bảng chấmcông để theo dõi thời gian làm việc đối với từng công nhân trong xí nghiệp Việclập Bảng chấm công được giao cho phó quản đốc phân xưởng thực hiện và đượctheo dõi riêng theo từng phân xưởng mộc và phân xưởng ép Kế toán căn cứ số liệutrên Bảng chấm công và đơn giá tiền công theo sản phẩm, bậc thợ của công nhân đểtính ra tiền luơng chính, lương phép, các khoản trích theo lương và các khoản lươngthưởng, phạt của lao động trực tiếp Đồng thời căn cứ vào bảng chấm công theo dõithời gian tham gia lao động sản xuất sản phẩm, thời gian nghỉ chế độ, nghỉ phép củacông nhân để quản lý và từ đó có kế hoạch sản xuất phù hợp Việc tính lương laođộng gián tiếp được thực hiện theo quy định của nhà nước về lương đối với viênchức, căn cứ vào bậc lương, chức vụ của từng nhân viên, kế toán tính ra tiền lương
và các khoản trích theo lương của lao động gián tiếp trong xí nghiệp Trên cơ sở đó
kế toán lập Bảng thanh toán lương và bảo hiểm xã hội làm căn cứ để trả lương chonhân viên trong toàn xí nghiệp, và nộp đầy đủ các khoản BHXH, BHYT cho cơquan Bảo hiểm đồng thời chuyển kinh phí công đoàn cho cấp trên Với các chứng từliên quan đến tiền lương như Bảng thanh toán lương và BHXH, phiếu chi tiền để trảlương cho công nhân viên, các chứng từ đền bù thiệt haị và bù trừ nợ kế toán tiếnhành nhập số liệu vào máy tính theo chu trình số liệu kế toán sẽ được chuyển vào
Sổ chi tiết TK 334, TK 335, TK 338 (3382, 3383, 3384), TK141,…Sổ Cái các TK
334, TK 335, TK 338