1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở huyện tiên lãng, thành phố hải phòng

82 345 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 605 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với lợi thế về điều kiện tự nhiên thêm vào đó nước ta lại cónguồn phế thải nông nghiệp khá dồi dào, dẫn đến sự hình thành gần như làtất yếu: nghành sản xuất nấm, trong đó trồng nấm rơm l

Trang 1

PHẦN I

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một nước phát triển nông nghiệp lâu đời Các sản phẩm từnông nghiệp của nước ta rất phong phú đa dạng và có chất lượng tốt đãđươc xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới, tiêu biểu phải kể đến: gạo, càphê, hồ tiêu Với lợi thế về điều kiện tự nhiên thêm vào đó nước ta lại cónguồn phế thải nông nghiệp khá dồi dào, dẫn đến sự hình thành gần như làtất yếu: nghành sản xuất nấm, trong đó trồng nấm rơm là một xu hướngđược rất nhều vùng nông thôn chọn lựa để phát triển vì tinh hiệu quả kinh

tế của nó

Nấm rơm hay nấm mũ rơm (danh pháp khoa học: Volvariella volvacea)

là một loài nấm trong họ nấm lớn sinh trưởng và phát triển từ cácloại rơm rạ nấm gồm nhiều loài khác nhau, có đặc điểm hình dạng khácnhau như có loại màu xám trắng, xám, xám đen… kích thước đường kính

“cây nấm” lớn, nhỏ tùy thuộc từng loại Là loại nấm giàu dinh dưỡng Nấmrơm chứa nhiều vitamin A, B1, B2, PP, D, E, C và chứa 7 loại a-xít amin,nấm rơm là món ăn trị nhiều bệnh là loại quen thuộc, nhất là các làng quê

vì thường được sử dụng làm thực phẩm Nấm rơm là một loại thực phẩm có

từ lâu đời của Việt Nam Nghề trồng nấm không những đem lại hiệu quảkinh tế mà các món ăn chế biến từ nấm rơm còn là một vị thuốc chữa bệnhcho con người Việt Nam có khí hậu nhiệt đới rất phù hợp để trồng nấmrơm Trồng nấm rơm sử dụng ít diện tích, nguồn nguyên liệu chủ yếu đượctận dụng từ rơm rạ, chi phí nuôi trồng thấp, giá bán tương đối cao, đem lạihiệu quả cho người trồng nấm

Trang 2

Huyện Tiên Lãng là một huyện trồng nấm rơm nhiều nhất của thành phốHải Phòng Nhân dân trong huyện ngoài trồng lúa nhằm cung cấp lươngthực còn coi trồng nấm rơm là một nghề chính đem lại thu nhập cho giađình Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thời tiết, biến động của thị trường, ảnhhưởng của khủng hoảng kinh tế công tác bảo quản nấm thu hoạch còn khókhăn, công tác tiêu thụ nấm rơm trở nên khó khăn Vì vậy tôi tiến hànhnghiên cứu đề tài: “Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá hịêu quả trong tiêu thụ nấm rơm của huyện TiênLãng để từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong tiêu thụnấm rơm trong những năm tới

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề kinh tế kĩ thuật, tổ chức quản lí liên quan đếntiêu thụ nấm rơm Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảhoạt động tiêu thụ nấm rơm trên thị trường

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại huyện Tiên

Trang 3

* Phạm vi nội dung: Nghiên cứu hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm nấmrơm của các hộ nông dân trên thị trường.

* Phạm vi thời gian: Số liệu nghiên cứu của đề tài được xem xét biến độngqua 3 năm, từ năm 2009 đến năm 2011

1.3.3 Những câu hỏi đặt ra cần nghiên cứu

- Khái niệm về nấm? Đặc tính sinh học của nấm?

- Hiệu quả kinh tế là gì? Nêu nội dung và bản chất của hiệu quả kinhtế? Tiêu thụ, hiệu quả tiêu thụ là gì?

- Thực trạng tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm rơm trên địa bànhuyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng như thế nào?

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới công tác tiêu thụ nấm của các hộnông dân trồng nấm?

- Các biện pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả trong tiêu thụ nấm rơmcủa các hộ nông dân tại Tiên Lãng?

Trang 4

- Nấm không có khả năng quang hợp, nghĩa là không thể tự tổng hợp cácchất hữu cơ cho cơ thể từ nước và khí CO2.

- Vách tế bào chủ yếu là chitin và glucan

- Nấm dự trữ đường dưới dạng glycogen, thay vì tinh bột Có thể so sánhcác túi nấm mèo, nấm sò với các cây trồng để hiểu rõ vấn đề Cây trồng có

rễ, thân, lá, hoa và quả (có cây có củ) Cái nấm mà ta thấy mọc ra trên túigiá thể chỉ là cơ quan sinh sản, tương tự như quả của cây nên còn gọi

là “quả thể” Nấm rơm khi già nở ra, phía dưới mũ nấm có những hạt bụimàu hồng, đó là các bào tử tương tự như hạt của cây trồng

Nấm mộc nhĩ (nấm mèo), nấm bào ngư (nấm sò) mọc ra từ túi nấm khi

đã có màu trắng Hay khi trồng nấm rơm, ta dễ nhận thấy là ở những chỗnấm mọc ra có mạng các sợi tơ trắng Các mạng này có được do sự kết chặtlại của nhiều sợi tơ nấm nhỏ li ti (đường kính khoảng 3đến 10micromet(sm), 1 sm = 1/1000 m) mà mắt thường khó nhìn thấy, phải dùng kính hiển

vi mới dễ thấy được Các sợi tơ nấm này bắt nguồn từ giống nấm mọc lan

ra, xâm nhập vào rơm rạ của cả luống Các sợi tơ nấm bện với nhau thành

hệ sợi tơ mà ta khó thấy bằng mắt thường, các mạng sợi tơ trắng có xungquanhchỗ nấm mọc chỉ là một phần rất nhỏ của hệ sợi tơ nấm Khi mọc các

Trang 5

sợi tơ nấmkết nối với nhau thành mội khối liền thống nhất Cả khối hệ sợi

tơ đó có thể coi là thân của nấm tương tự như cây trồng gồm rễ, cành, lá

2.1.1.2 Khái niệm nấm rơm

Nấm rơm hay nấm mũ rơm (danh pháp khoa học: Volvariella volvacea)

là một loài nấm trong họ nấm lớn sinh trưởng và phát triển từ cácloại rơm rạ Nấm gồm nhiều loài khác nhau, có đặc điểm hình dạng khácnhau như có loại màu xám trắng, xám, xám đen… kích thước đường kính

“cây nấm” lớn, nhỏ tùy thuộc từng loại Là loại nấm giàu dinh dưỡng Nấmrơm chứa nhiều vitamin A, B1, B2, PP, D, E, C và chứa 7 loại a-xít amin,nấm rơm là món ăn trị nhiều bệnh là loại quen thuộc, nhất là các làng quê

Đảm bào tử khi nảy mầm tạo ra tơ sơ cấp, các sợi tơ sơ cấp có thể tựkết hợp với nhau tạo thành các sợi tơ thứ cấp Tơ thứ cấp tăng trưởng dẫnđến tạo thành quả thể Ngoài ra, tơ thứ cấp còn có thể hình thành bào tửmàng dày hay còn gọi là bào tử áo hay hậu bào tử Bào tử màng dày giúpsợi nấm tồn tại, vượt qua các biến đổi bất lợi của môi trường Khi gặp điềukiện thuận lợi chũng sẽ nẩy mầm theo nhiều hướng và tạo ra những sợi tơthứ cấp Quá trình tạo quả thể nấm rơm trải qua 6 giai đoạn:

- Giai đoạn đinh ghim

- Giai đoạn hình nút nhỏ

- Giai đoạn hình nút

Trang 6

- Giai đoạn hình chuông

- Giai đoạn trưởng thành

* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm rơm

- Nhiệt độ:

Nhiệt độ tối thích cho sợi nấm phát triển là 30-320C và cho sự hìnhthành của quả thể là 300C

Từ 100-200C: sợi sinh trưởng yếu; ở 200C: quả thể hình đinh ghim sẽ

bị chết sau 12 giờ và sự sinh trưởng của quả thể hình cầu bị đình chỉ

Dưới 150C và trên 450C: Không bao giờ xuất hiện quả thể

ẩm từ 90-100 %: rất tốt đối với giai đoạn đầu đinh ghim, nhưng sẽ làmgiảm sự sinh trưởng ở một số giai đoạn khác Nếu kèm theo nhiệt độ caothì nấm sinh trưởng rất nhanh, nở nhanh và dễ bị nứt trong khi vận chuyển,nấm ở giai đoạn hình nón (dù) dễ bị thối rữa

- pH: Sợi nấm rơm sinh trưởng ở pH từ 4-11, nhưng pH thích hợp nhất đốivới nấm rơm là 7,0 - 7,5 Trong khoảng pH từ 6-11: sợi sinh trưởngmạnh.Khi pH ngả sang độ chua (pH < 6): sợi sinh trưởng yếu

Trang 7

- Ánh sáng: Nấm không có diệp lục nên không cần ánh sáng để tổng hợp chấthữu cơ như ở thực vật Do đó, trong thời kỳ sinh trưởng của sợi nấm không cầnánh sáng

Cường độ ánh sáng cao có thể đình chỉ các quá trình sinh trưởng vàgây chết sợi nấm Ánh sáng chỉ có tác dụng như một yếu tố kích thích sựhình thành và phát triển của quả thể

Nấm rơm trồng trong tối sẽ không hình thành quả thể mặc dù có đầy

đủ các yếu tố khác Nguồn sáng là ánh sáng khuyếch tán của mặt trời hoặcđèn điện (thường dùng đèn neon) Số lần chiếu sáng: mỗi ngày 2 - 3 lần,mỗi lần 30 phút - 1 giờ 30 phút

- Thời vụ nuôi trồng: Thời vụ nuôi trồng nấm rơm ở miền Bắc từ 15/4– 15/9 hàng năm Các tỉnh miền Nam có thể nuôi trồng nấm rơm quanhnăm

2.1.1.3 Hiệu quả kinh tế.

Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng củacác hoạt động kinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn cóphục vụ cho lợi ích của con người có nghĩa là nâng cao chất lượng của cáchoạt động kinh tế Nâng cao HQKT là một đòi hỏi khách quan của mọi nềnsản xuất xã hội, xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngàycàng tăng Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế làm xuất hiện phạm trùHQKT (Nguyễn Tiến Mạnh, 1995)

Một là, theo quan điểm triết học Macxit thì bản chất của HQKT là sựthực hiện yêu cầu của qui luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sửdụng nguồn lực của xã hội Các Mác cho rằng qui luật tiết kiệm thời gian làqui luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sảnxuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo qui luật này, nó qui địnhđộng lực phát triển của lực lượng sản xuất tạo điều kiện phát triển xã hội

Trang 8

Hai là, theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội làmột hệ thống các yếu tố sản xuất và các mối quan hệ vật chất hình thànhgiữa con người với con người trong quá trình sản xuất Hệ thống sản xuất

xã hội bao gồm trong nó các quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn vàtiếp tục đời sống xã hội Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội, đáp ứngcác nhu cầu xã hội, nhu cầu của con người là những yếu tố khách quanphản ánh mối liên hệ nhất định của con người đối với môi trường bênngoài, đó là quá trình trao đổi chất, năng lượng giữa sản xuất xã hội và môitrường

Ba là, HQKT là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà làmục tiêu phương tiện xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch,hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào và đầu ra, là lợi ích lớnnhất thu được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chiphí nhỏ nhất Trong phân tích kinh tế, HQKT được phản ánh thông qua cácchỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật xác định bằng các tỷ lệ so sánh giữa đầuvào và đầu ra của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụngnguồn lực và việc tạo ra lợi ích nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội

Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả như trên ta thấy rằng hiệuquả là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của HQKT và quản lý Hơnnữa việc xác định hiệu quả là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp về líluận và thực tiễn Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất

và phát triển kinh tế xã hội, là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sốngvật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Muốn vậy sản xuấtkhông ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Quan điểm về hiệuquả trong điều kiện hiện nay là phải thỏa mãn vấn đề tiết kiệm thời gian,tài nguyên trong sản xuất mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường.Chính vì vậy mà hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giá toàn

Trang 9

diện cả ba khía cạnh: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môitrường (Nguyễn Tiến Mạnh, 1995)

* Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế

Trong nền kinh tế nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trườngđang khuyến khích mọi ngành, mọi lĩnh vực sản xuất tham gia sản xuấtkinh doanh để tìm kiếm cơ hội với yêu cầu mục đích khác nhau nhưng mụcđích cuối cùng là tìm kiếm lợi nhuận Nhưng làm thế nào để có hiệu quảkinh tế cao nhất, là sự kết hợp các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ratrong điều kiện sản xuất, nguồn lực nhất định Ngoài ra còn phụ thuộc vàomục đích yêu cầu khoa học kỹ thuật và việc áp dụng vào trong sản xuất,vốn, chính sách… quy luật khan hiếm nguồn lực trong khi đó nhu cầu của

xã hội về hàng hoá, dịch vụ ngày càng tăng và trở nên đa dạng hơn, có nhưvậy mới nâng cao được HQKT

Quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và yếu

tố đầu ra, là biểu hiện mối quan hệ của kết quả và hiệu quả sản xuất Kếtquả là một đại lượng vật chất được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nộidung tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể Khi xác định HQKT không nênchỉ quan tâm đến hoặc là quan hệ so sánh hoặc là quan hệ tuyệt đối mà nênxem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng tương đối

và đại lượng tuyệt đối HQKT ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sảnphẩm, thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận

HQKT trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu do hai quy luật chi phối: quyluật cung - cầu và quy luật năng suất cận biên giảm dần

HQKT là một đại lượng để đánh giá, xem xét kết quả hữu ích được tạo

ra như thế nào, chi phí là bao nhiêu, trong điều kiện sản xuất cụ thể nào, cóđược chấp nhận hay không? Như vậy, HQKT liên quan trực tiếp đến yếu tốđầu vào và các yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất

Trang 10

Việc vận dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKT trong sản xuất nông nghiệp

là rất đa dạng và ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để cóchi phí vật chất, lao động trên một đơn vị sản phẩm là thấp nhất Việc đánhgiá phần lớn phụ thuộc vào quy trình sản xuất là sự kết hợp gắn bó giữa cácyếu tố đầu vào và khối lượng đầu ra, nó là một trong những nội dung hếtsức quan trọng trong việc đánh giá HQKT Tuỳ thuộc vào từng ngành, quy

mô, đặc thù của ngành sản xuất khác nhau thì hiệu quả kinh tế được xemxét dưới góc độ khác nhau, cũng như các yếu tố tham gia sản xuất Xácđịnh các yếu tố đầu ra: Các mục tiêu đạt được phải phù hợp với mục tiêuchung của nền kinh tế quốc dân, hàng hoá sản xuất ra phải được trao đổitrên thị trường, các kết quả đạt được là: Khối lượng, sản phẩm, lợi nhuận…Xác định các yếu tố đầu vào: Đó là những yếu tố chi phí về vật chất, cunglao động, vốn…

Phân tích HQKT trong sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường, việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra gặp các trở ngại sau:

- Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu vào: Tính khấu hao, phân

bổ chi phí, hạch toán chi phí… yêu cầu này phải chính xác và đầy đủ

- Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu ra: Việc xác định các kếtquả về mặt xã hội, môi trường sinh thái, độ phì của đất… không thể lượnghoá được

2.1.1.4 Khái niệm về tiêu thụ hàng hóa và hiệu quả tiêu thụ.

Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất phải tự mình quyết định

ba vấn đề trung tâm cốt lõi trong hoạt động sản xuất kinh doanh đó là: Sảnxuất cho ai? Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Cho nên việc tiêu thụsản phẩm hàng hóa cần được hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng

* Hiểu theo nghĩa rộng: Tiêu thụ hàng hóa là một quá trình kinh tếbao gồm nhiều khâu bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu

Trang 11

sản xuất hoặc tổ chức cung ứng hàng hóa và cuối cùng là việc thực hiệnbán hàng nhằm đạt mục đích cao nhất.

Do tiêu thụ hàng hóa là cả một quá trình gồm nhiều hoạt động khácnhau nhưng có quan hệ chặt chẽ bổ sung cho nhau, cho nên để tổ chức tốtviệc tiêu thụ hàng hóa người sản xuất không những phải làm tốt mỗi khâucông việc mà còn phải phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu kế tiếp, giữa các

bộ phận tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình tiêu thụ sản phẩmhàng hóa của người sản xuất Phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu kế tiếp cónghĩa là các khâu trong quá trình tiêu thụ hàng hóa không thể đảo lộn chonhau mà phải thực hiện một cách tuần tự nhau theo chu trình của nó Ngườisản xuất không thể tổ chức sản xuất trước rồi mới đi nghiên cứu nhu cầuthị trường, điều đó sẽ làm cho hàng hóa không đáp ứng được nhu cầu tiêudùng, cũng có nghĩa không thể tiêu thụ được sản phẩm hàng hóa và ngườisản xuất phá sản

* Hiểu theo nghĩa hẹp: Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa được hiểu như làhoạt động bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa của người sảnxuất cho khách hàng đồng thời thu tiền về

Vậy tiêu thụ hàng hóa được thực hiện thông qua hoạt động bán hàngcủa người sản xuất nhờ đó hàng hoá được chuyển thành tiền thực hiện vòngchu chuyển vốn trong người sản xuất và chu chuyển tiền tệ trong xã hội,đảm bảo phục vụ cho nhu cầu xã hội

Tiêu thụ hàng hóa là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất kinh doanh, làyếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của người sản xuất

* Hiệu quả tiêu thụ

Trong cơ chế cạnh tranh đầy khắc nghiệt, môi trường kinh doanh củangười sản xuất luôn biến động đòi hỏi mỗi người sản xuất đều phải tự vậnđộng để tìm ra phương án kinh doanh có hiệu quả nhất đặc biệt là hiệu quả

Trang 12

xuất phải tính xem tình hình tiêu thụ như thế nào để đem lại hiệu quả caonhất Do đó hiệu quả tiêu thụ là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sửdụng các nguồn nhân lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa kết quảđạt được và chi phí bỏ ra trong quá trình tiêu thụ hàng hóa của người sảnxuất.

Hiệu quả tiêu thụ được thể hiện dưới hai hình thức:

(1) H=K- F

(2) H=K/ F

H Hiệu quả tiêu thụ

K Kết quả tiêu thụ

F Chi phí bỏ ra trong quá trình tiêu thụ

Ở công thức 1 ta chưa thấy hết được hiệu quả tiêu thụ do còn phụthuộc vào những yếu tố chi phí trong tiêu thụ Theo công thức (2) thìnhược điểm trên được khắc phục, vì chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả tiêuthụ càng cao và ngược lại

2.1.2 Đặc điểm tổ chức tiêu thụ nấm rơm

- Cung về sản phẩm nấm rơm được hiểu là khả năng ngành sản xuấtnấm rơm có thể cung cấp cho thị trường một khối lượng sản phẩm nấmtrong điều kiện các yếu tố khác không đổi

Cung về sản phẩm nấm rơm do những nguồn sau: sản xuất trongnước và nhập khẩu từ nước ngoài

Tùy theo điều kiện từng nước mà tỷ trọng của những sản phẩm nấmsản nấm rơm hàng hóa lưu thông trên thị trường là không giống nhau Việcxác định số lượng cung căn cứ vào diễn biến của tình hình thực tế sản xuất,việc xác định khả năng cung cho thị trường thì căn cứ vào khối lượng sảnphẩm nấm rơm

Khối lượng sản phẩm nấm được cung cho thị trường phụ thuộc vào

Trang 13

+ Khối lượng tổng sản phẩm nấm và tốc độ tăng lên của nó.

+ Trình độ chuyên môn hóa của sản xuất nấm

+ Những giải pháp về thị trường vốn và công nghệ sản xuất

+ Các nhân tố về cơ chế chính sách sản xuất và lưu thông sản phẩmnấm của Chính phủ trong từng thời kỳ và hiệu lực của nó

- Cầu về sản phẩm nấm được hiểu là nhu cầu của các loại sản phẩmnấm ăn của xã hội Nhu cầu này có thể bao gồm nhiều loại khác nhau nhưcầu về sản phẩm nấm rơm làm thực phẩm ngày càng tăng về số lượng cũngnhư chất lượng và chủng loại không chỉ dừng ở dạng tươi sống mà còn cảnhững sản phẩm nấm đã qua chế biến, nhu cầu cho tiêu dùng trong nước,nhu cầu sản xuất nấm rơm cho xuất khẩu

- Nhân tố giá cả: Giá cả các loại nấm khác nhau có tác động đếnngười sản xuất và người tiêu dùng, người sản xuất muốn cũng ra thị trườngnhững lại sản phẩm nấm có giá trị, có giá bán cao, lợi nhuận lớn

Giả cả của nấm rơm phụ thuộc và từng loại kênh phân phối sản phẩm trênthị trường Giá của kênh phân phối gián tiếp cao hơn so với kênh phân phốitrực tiếp Tuy nhiên phân phối theo kênh gián tiếp lại mang lại sản lượngbán lớn hơn so với kênh phân phối trực tiếp

- Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của thịtrường sản phẩm nấm rơm:

+ Chủng loại, chất lượng sản phẩm và giá cả sản phẩm nấm rơm hàng hóatrên thị trường

+ Quan hệ cung cầu về sản phẩm nấm rơm và kết cấu sản xuất, tiêu dùng.+ Sự phát triển nhu cầu tự nhiên của người tiêu dùng, thị hiếu và tập quánngười tiêu dùng

+ Sức mua hay khả năng thanh toán của người tiêu dùng

+ Sự phát triển của thương mại quốc tế và khả năng hòa nhâp các loại sản

Trang 14

+ Trình độ tập trung chuyên môn hóa trong sản xuất nấm và sự phát triểncủa ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ nấm rơm.

+ Chính sách về sản xuất và lưu thông hàng hóa của nhà nước trong từngthời kỳ

- Thị trường sản phẩm nấm rơm xét từ khía cạnh cung: Khối lượngsản phẩm nấm rơm đưa ra thị trường tuy có thay đổi nhưng không thể cóbiến đổi lớn trong khoảng thời gian nhất định Không phải có nhu cầu tiêudùng và giá đắt là người sản xuất cung ngày một khối lượng lớn sản phẩm

ra thị trường được vì sản xuất nấm rơm còn phụ thuộc vào thời vụ

- Thị trường nấm rơm có tính thời vụ: Chính vì thế mà cung và cầusản phẩm nấm rơm trên thị trường không cân bằng cả về không gian vàthời gian

- Sự hình thành và phát triển của thị trường sản phẩm nấm rơm gắnliền với việc sử dụng các yếu tố sinh học và có quan hệ chặt chẽ với việcduy trì sức khỏe đời sống con người

- Sự hình thành và phát triển của thị trường sản phẩm nấm rơm gắnchặt với việc khai thác và sử dụng lợi thế so sánh các điều kiện tự nhiên,khí hậu và thời tiết

2.1.3 Vai trò ý nghĩa của ngành sản xuất nấm.

Nấm là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Hàm lượng proteinchỉ sau thịt, cá, nấm rất giàu khoáng và các axit amin không thay thế, cácloại vitamin A, B, C E, Có thể xem nấm rơm như một loại rau sach.Ngoài giá trị dinh dưỡng, nấm còn có nhiều đặc tính biệt dược, có khả năngphòng và chữa bệnh như làm hạ huyết áp, chống béo phì, chữa bệnh đườngruột,

Hàm lượng protein trong 1 kg nấm mỡ tương đương với 2 kg thịt lợnnạc, cao hơn 1 kg thịt bò Trong nấm rơm tươi, protein có khoảng 4%, so

Trang 15

protein gồm nhiều axit amin tự do và chất tạo hương vị đặc biệt, trong đó

có tới 9 loại axit amin cần thiết cho cơ thể con người Tuy nhiên, nấm lạinghèo về năng lượng

Do có giá trị về mặt dinh dưỡng nên thị trường nấm trên thế giới cónhu cầu rất lớn về nấm rơm, sản phẩm nấm được tiêu thụ chủ yếu dướidạng tươi, nấm đóng hộp và làm thuốc bổ

Sản xuất nấm rơm góp phần tận dụng nguồn phế phụ phẩm của ngànhnông nghiệp và thu hút lao động dồi dào trong nông thôn

Nguồn nguyên liệu chính để trồng nấm rơm là rơm rạ, thân cây ngô,

bã mía, mùn cưa, những nguyên liệu này lại rất sẵn có trong các vùngquê Nếu tính trung bình 1 tấn thóc cho ra 1,2 tấn rơm rạ khô thì tổng sảnlượng rơm rạ trong cả nước đạt khoảng vài chục triệu tấn/năm Chỉ cần sửdụng 10% số nguyên liệu trên để trồng nấm thì sản lượng nấm đã có thể đạtvài trăm ngàn tấn/năm Đó là chưa kể sử dụng bã mía thải ra từ các nhàmáy đường cùng hàng nghìn tấn mùn cưa, cây thân gỗ, thân cây ngô, đều

có thể sử dụng để trồng nấm

Sản xuất nấm rơm góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp, nông thôn Một trong những ngành nghề được nhắc đến nhiềunhất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thônhiện nay là nghề trồng nấm - một ngành có vai trò quan trọng trong việcsản xuất hàng hóa xuất khẩu Trồng nấm là nghề được bà con nông dân tiếpthu nhanh chóng và phát triển rộng khắp cả nước, tuy nhiên sản lượng xuấtkhẩu còn hạn chế

Sản xuất nấm nhằm cải thiện môi trường sinh thái Với đặc trưng củangành trồng nấm là không trồng trên đất, không phun thuốc trừ sâu, khôngbón phân, thời gian trồng và thu hoạch nhanh nên các sản phẩm dễ dàngđược công nhận tiêu chuẩn rau sạch

Trang 16

Sản xuất nấm còn góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái

vì sau khi thu hoạch nấm thì tạo ra một khối lượng phân hữu cơ rất lớn từnguồn nguyên liệu trồng, đây cũng là yếu tố làm tăng năng suất cây trồng

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới tiêu thụ nấm rơm.

- Thị trường tiêu thụ nấm:

Thị trường tiêu thụ nấm rơm chịu ảnh hưởng các quy luật giá trị, quyluật cạnh tranh, quy luật cung cầu như các thị trường khác Nó là sự kếthợp chặt chẽ giữa hai khâu sản xuất và tiêu thụ Nếu thị trường tiêu thụchấp nhận thì quy mô sản xuất sẽ được duy trì và mở rộng phát triển mởrộng

- Chất lượng sản phẩm:

Để cho quá trình tiêu thụ nấm rơm thuận lợi thì chất lượng sản phẩmphải đặt lên hàng đầu Chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào giống nấm, quá

Trang 17

bảo quy trình cũng như vệ sinh sản phẩm và môi trường Quy trình chếbiến cần đúng trình tự, đúng khoa học kỹ thuật Quá trình bảo quản cần giữđược hàm lượng dinh dưỡng của sản phẩm, mẫu mã sản phẩm.

- Sự phát triển của công nghiệp chế biến nấm:

Việc phát triển công nghiệp chế biến nấm giúp cho sản lượng tiêu thụnấm rơm của người sản xuất tăng đáng kể, quy mô tiêu thụ công nghiệp.Các công ty chế biến sẽ tiến hành ký hợp đồng với người sản xuất bao tiêusản phẩm, đầu ra sản phẩm được giải quyết

- Giá cả sản phẩm:

Để quá trình tiêu thụ nấm rơm được thuận lợi thì ngoài việc đòi hỏichất lượng sản phẩm ngày càng cao thì giá cả đóng vai trò hết sức quantrọng Nó là thước đo cho sự lựa chọn hàng hóa thay thế Do đó người sảnxuất phải nghiên cứu để tối thiểu hóa chi phí nhằm giảm giá thành sảnphẩm

- Thu nhập bình quân đầu người (GNP):

Tác động lớn tới nhu cầu tiêu dùng, GNP càng tăng cao sẽ kéo theo

sự tăng lên về nhu cầu, về số lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, tăng lên

về chủng loại, chất lượng, thị hiếu.v.v Làm cho tốc độ tiêu thụ hàng hóacủa người sản xuất tăng lên Đối với nấm rơm là thực phẩm có giá trị dinhdưỡng cao Do đó khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên, người tiêudùng có cơ hội sử dụng các sản phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao và là 1

vị thuốc chữa bệnh như nấm rơm sử dụng làm thực phẩm

- Hành vi của người tiêu dùng:

Khi thu nhập của người tiêu dùng cao, họ có nhu cầu tiêu dùngnhững sản phẩm có chất lượng cao, đảm bảo sức khỏe con người Tuynhiên không phải điều đó lúc nào cũng đúng vì nó bị chi phối bởi thói quentiêu dùng nấm của từng người Khi người tiêu dùng có thói quen sử dụng

Trang 18

nấm rơm thì họ ít khi thay đổi chuyển sang dùng các loại nấm khác hoặccác loại thực phẩm khác thay thế.

- Sự cạnh tranh của đối thủ cạnh tranh trên thị trường:

Sự cạnh tranh của các đối thủ có thể là cạnh tranh về giá cả, về chấtlượng sản phẩm, cạnh tranh về quảng bá thương hiệu sản phẩm Đối vớicác doanh nghiệp chế biến nấm ăn, sự cạnh tranh quá khốc liệt có thể làmgiảm sản lượng bán hàng của doanh nghiệp đó, dẫn đến giảm sản lượngtiêu thụ của người sản xuất nấm rơm cung cấp nguyên liệu cho doanhnghiệp đó

- Chính sách của Nhà nước trong hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm:

Đối với người sản xuất nấm nhỏ lẻ, đầu ra sản phẩm rất quan trọng

Do đó nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ bao tiêu sản phẩm bằngviệc liên hệ với các doanh nghiệp chế biến, doanh nghiệp tiêu thụ nấm tạoliên kết giữa họ với nh sản phẩm

- Thương hiệu sản phẩm:

Xây dựng thương hiệu sản phẩm là 1 quá trình lâu dài, bắt đầu từ khisản phẩm đầu tiên cung cấp ra thị trường Thương hiệu sản phẩm được xâydựng chủ yếu thông qua chất lượng sản phẩm, giá bán sản phẩm Đối vớisản xuất nấm, thương hiệu của sản phẩm cần được xây dựng lâu đời Khi

đó người tiêu dùng chỉ cần nhắc đến sản phẩm nấm ở đâu là họ biết ngayđược chất lượng sản phẩm đó như thế nào

2.1.5 Các hình thức tiêu thụ nấm ăn.

- Tiêu thụ trực tiếp:

Người sản xuất nấm ăn bán trực tiếp cho người tiêu dùng Nấm ăn ởđây có thể là nấm tươi hoặc nấm đã qua chế biến Đây là kênh tiêu thụ cógiá thành cao nhất nhưng sản lượng bán hàng có thể thấp và tốn nhân lựcbán hàng Người sản xuất cần có địa điểm tiêu thụ hoặc tiêu thụ tại nhà

Trang 19

khác Trong kênh tiêu thụ này, người sản xuất nấm không phải chia sẻ lợinhuận cho các đối tượng trung gian, mặt khác người sản xuất có thể tiếpxúc trực tiếp với khách hàng, có thể nắm bắt trực tiếp nhu cầu của ngườitiêu dùng và sự thay đổi nhu cầu của thị trường Tuy nhiên kênh tiêu thụnày thường hạn chế về mặt địa lý vì chỉ có thể bán đối với những kháchhàng xung quanh vùng sản xuất nấm.

- Kênh tiêu thụ gián tiếp:

+ Kênh tiêu thụ 1 cấp: Người trồng nấm bán cho người bán lẻ, người bán lẻ lạibán nấm cho người tiêu dùng

+ Kênh tiêu thụ 2 cấp: Người trồng nấm bán nấm cho người bán buôn, ngườibán buôn bán lại cho người bán lẻ, cuối cùng người bán lẻ bán lại cho người tiêudùng cuối cùng Trong kênh tiêu thụ này, người sản xuất có thể cung cấp nguyênliệu cho các nhà máy sản xuất Các công ty đó chế biến sau đó cung cấp trựctiếp cho người tiêu dùng

+ Kênh tiêu thụ 3 cấp trở lên: Người trồng nấm bán cho đại lý, đại lý bán chongười bán buôn, người bán buôn bán lại cho người bán lẻ, cuối cùng người bán

lẻ bán cho người tiêu dùng cuối cùng Ở kênh này, người sản xuất có thể cungcấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến nấm Nhà máy chế biến nấm thànhcác sản phẩm sau đó chuyển tới các đại lý cấp I, cấp II, sau đó mới đến ngườitiêu dùng

Đây là loại kênh mà giữa người sản xuất và người tiêu dùng xuất hiệnnhiều trung gian khác nhau làm nhiệm vụ đưa hàng hoá từ người sản xuất đếntay người tiêu dùng Trong loại kênh này hàng hoá của người sản xuất nấm cóthể được tiêu thụ với tốc độ nhanh hơn, khối lượng lớn hơn, và sản phẩm được

Trang 20

tiêu thụ trên một địa bàn rộng lớn hơn Việc sử dụng loại kênh này có thể làmgiảm một phần lợi nhuận của người sản xuất nấm do phải chia sẻ với các trunggian khác Đối với các trung gian người sản xuất nấm có thể gặp khó khăn trongviệc kiểm soát hành vi của họ trong việc tiêu thụ sản phẩm do họ là những tổchức độc lập với người sản xuất nấm Các thông tin về thị trường và thông tinphản hồi của khách hàng về sản phẩm có thể không chính xác khi về đến ngườisản xuất nấm do phải qua nhiều cấp trung gian Hoạt động của người sản xuấtnấm có thể bị ảnh hưởng nếu giữa người tiêu dùng và các trung gian hoặc giữatrung gian và người sản xuất xảy ra trục trặc Khi sử dụng các trung gian trongkênh phân phối, người sản xuất nấm có thể giảm mức độ mạo hiểm khi thâmnhập một thị trường mới do các trung gian là những người am hiểu về khu vựcthị trường mà họ phụ trách và họ đã xây dựng được một mạng lưới phân phối.

Ngườibán lẻ

Ngườitiêudùng

NgườiBánLẻ

NgườiTiêudùng

Trang 21

2.1.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm trên thế giới và ở Việt Nam

2.1.5.1 Sự phát triển nghề trồng nấm trên thế giới

Ngành sản xuất nấm đã hình thành và phát triển trên thế giới từ hàng trămnăm nay Hiện nay, có khoảng 2000 loài nấm ăn được, trong đó có 80 loài nấm ănngon và được nghiên cứu nuôi trồng nhân tạo Việc nghiên cứu và sản xuất nấm ăntrên thế giới ngày càng được phát triển mạnh mẽ, nó trở thành một ngành côngnghiệp thực phẩm thực thụ Sản xuất nấm ăn nuôi trồng trên toàn thế giới đạt trên

10 triệu tấn nấm tươi

Ở Châu Âu, Bắc Mỹ trồng nấm đã trở thành một ngành công nghiệp lớnđược cơ giới hoá toàn bộ nên năng suất và sản lượng rất cao Các loại nấm đượcnuôi trồng chủ yếu là nấm mỡ, nấm sò theo qui mô dây truyền công nghiệp: có nhàmáy chuyên xử lý nguyên liệu 7.000 tấn nguyên liệu/1 tuần đã sử dụng robot trongcác khâu nuôi trồng, chăm sóc và thu hái Năm 1983 ở pháp sản xuất 200.000tấn nấm mỡ tươi, nhưng chỉ có hơn 6.000 người

Nhiều nước ở Châu Á, trồng nấm còn mang tính chất thủ công, năng suấtkhông cao, nhưng sản xuất gia đình, trang trại với số đông nên tổng sản lượngrất lớn chiếm 70% tổng sản lượng nấm ăn trên toàn thế giới Các nước ĐôngNam Á như Hàn Quốc, Nhật Bản và vùng lãnh thổ Đài Loan áp dụng các kỹthuật tiên tiến và công nghiệp hoá trong nghề nấm đã có mức tăng trưởng hàngtrăm lần trong vòng 10 năm Nhật bản có nghề trồng nấm truyền thống là nấmhương Mỗi năm gần 1 triệu tấn nguyên liệu Hàn quốc nổi tiếng với nấm Linhchi, mỗi năm xuất khẩu thu về hàng trăm triệu USD Ở Trung Quốc từ nhữngnăm 1960 bắt đầu trồng nấm có áp dụng các biện pháp cải tiến kỹ thuật nênnăng suất gấp 4-5 lần và sản lượng tăng vài chục lần Tổng sản lượng nấm ăncủa Trung Quốc chiếm 60% sản lượng nấm ăn của thế giới gồm nhiều loại nấmnhư: nấm mỡ, nấm hương, mộc nhĩ, nấm sò, nấm kim châm và một số loại nấmkhác chỉ có ở Trung Quốc như Đông Trùng Hạ Thảo trào sản xuất nấm

Trang 22

Theo số liệu thống kê của Chang (1993, 2005) sản lượng nấm rơm đứng thứhai sau nấm mỡ (Agaricus bisporus):

Sản lượng của một số nấm ăn trên thế giới (Chang, 1993)

Tên nấm Tên khoa học Năm 1986(tấn) Năm 1991(tấn) Tỉ lệ tăng (%)

Gần đây sản xuất nấm trên thế giới tăng nhanh chóng, với vai trò chủ đạocủa Trung quốc Chính ST Chang đã tổng kết và nêu bật tiến trình phát triển này(Chang, 2005) Hiện nay trên thế giới ba nước nuôi trồng nấm chủ yếu là NhậtBản, Trung Quốc và Đài Loan Sản lượng nấm của ba nước này chiếm trên 90%tổng sản lượng toàn thế giới Ngoài ra một số nước khác nuôi trồng với sảnlượng đáng kể như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Canada, Singapore, Thái Lan

Giá nấm trên thị trường thế giới biến thiên từ 15 – 30 USD/1kg nấm khô.Năm 1979 sản lượng nấm rơm là 179.000 tấn trị giá 334 triệu USD Nếu chỉ tínhgiá tương đương thời điểm này thì năm 1991 sản lượng nấm hương trên toàn thếgiới có giá trị hàng tỷ USD

2.1.5.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm trong nước

Việt Nam mỗi năm có khoảng 20 triệu tấn rơm, rạ đủ để sản xuất 2triệu tấn nấm tươi, nhưng năm 2002 cả nước chỉ sản xuất được 100.000 tấn.Đến nay sản xuất được 150.000 tấn/năm với các chủng loại nấm chủ yếu như:nấm rơm, nấm sò, nấm mỡ, mộc nhĩ, linh chi,

Nghề trồng nấm ở Việt Nam đang được phát triển nhưng ở quy mô nhỏ lẻ

hộ gia đình, trang trại, mỗi năm sử dụng vài tấn nguyên liệu có sẵn tới vài trămtấn/1 cơ sở để sản xuất nấm Tiềm năng và những điều kiện thuận lợi của nghềtrồng nấm ăn và nấm dược liệu rất phù hợp với nông dân ở nước ta do: Nguyênliệu trồng nấm có sẵn như: rơm rạ, mùn cưa, thân cây gỗ, bông phế liệu ở các

Trang 23

nhà máy dệt, bã mía ở các nhà máy đường ước tính cả nước có trên 40 triệu tấnnguyên liệu, chỉ cần sử dụng khoảng 10-15% lượng nguyên liệu này để nuôitrông nấm đó tạo ra trên 1 triệu tấn/năm và hàng trăm ngàn tấn phân hữu cơ.

Trong những năm gần đây nhiều đơn vị nghiên cứu ở các viện, nhàtrường, trung tâm đó tạo chọn được một số loại giống nấm ăn, nấm dược liệu cókhả năng thích ứng với điều kiện môi trường ở Việt Nam cho năng suất khá cao.Các tiến bộ kỹ thuật về nuôi trồng, chăm sóc bảo quản và chế biến nấm ngàycàng được hoàn thiện, trình độ và kinh nghiệm của người nông dân được nângcao Năng suất trung bình các loại nấm đang nuôi trồng hiện nay cao gấp 1,5-3lần so với 10 năm về trước

Vốn đầu tư để trồng nấm so với các ngành sản xuất khác không lớn vì đầu

tư chủ yếu là lao động (chiếm khoảng 30 - 40% giá thành một đơn vị sản phẩm).Nếu tính trung bình để giải quyết việc làm cho 1 người lao động chuyên trồngnấm ở nông thôn hiện nay mức thu nhập 800.000-900.000đ/ tháng, chỉ cần một

số vốn đầu tư ban đầu khoảng 10 triệu đồng và 100m2 diện tích đất để làm lántrại

Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và xuất khẩu ngày càng được mởrộng, giá bán nấm tươi ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơnkhá cao (nấm mỡ 20.000đ-25.000đ, nấm sò 10.000đ -15.000đ/kg) Nhu cầu ănnấm của nhân dân trong nước ngày càng tăng, thị trường xuất khẩu nấm mỡ,nấm rơm muối, sấy khô, đóng hộp của Việt Nam cũng chưa đáp ứng đủ

Tại Hải Phòng, nghề trồng nấm đã phát triển mạnh từ năm 2007, tập trung tạimột số huyện như: Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Thuỷ Nguyên, An Lão, Kiến Thụy Toànthành phố đã sản xuất được 2663,8 tấn nguyên liệu, các loại nấm phổ biến là: nấm

mỡ, nấm sò Năm 2008 Hải Phòng đã xây dựng được 439 lán trại trồng nấm trong

đó Tiên Lãng và Vĩnh Bảo là hai huyện đi đầu trong phong trào trồng nấm

Trang 24

PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

cả về kinh tế, chính trị và quốc phòng an ninh Đặc biệt trong thời kì hội nhậpvới WTO và tự do hóa thương mại thì vị trí địa lý của Tiên Lãng là lợi thế quantrọng tạo điều kiện cho huyện mở rộng, giao lưu kinh tế với các tỉnh trong vùngĐBSH và cả nước, là tiền đề quan trọng để các ngành kinh tế phát triển

Tuy nhiên vị trí của Tiên Lãng cũng có nhiều bất lợi trong phát triển kinh

tế xã hội: là nơi đầu sóng ngọn gió, luôn hứng chịu sự tàn phá của bão lũ, đất đaichịu sự nhiễm mặn trực tiếp của nước biển Tiên Lãng bị các hệ thống sông ngòingăn cách với các huyện lân cận gây khó khăn cho việc đi lại của dân cư, ngăncản sự giao lưu phát triển kinh tế

Trang 25

3.1.1.2 Địa hình

Địa hình của Tiên Lãng nhìn chung phức tạp, bị chia cắt nhiều bởi sôngngòi kênh rạch, địa hình có bề mặt lồi lõm, gò bãi xem kẽ đầm lạch, ao hồ, cóhướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam

Địa hình của Tiên Lãng có nhiều thuận lợi cho việc phát triển nôngnghiệp, nuôi trồng thủy sản, Bên cạnh đó, chính địa hình của Tiên Lãng lạigây khó khăn cho việc phát triển hệ thống giao thông đường bộ, ảnh hưởng rấtlớn tới việc cơ khí hóa và điện khí hóa phục vụ sản xuất và phục vụ đời sốngnhân dân

3.1.1.3 Khí hậu

Tiên Lãng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng củabiển, có 2 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình ít biến động Chế độ ánh sáng phongphú, nhiệt độ trung bình hàng năm là từ 23 - 240C, lượng mưa trung bình hàngnăm từ 1.200 - 1.400mm

Lượng mưa tập trung nhiều vào tháng 7,8,9 (chiếm 75% lượng mưa cảnăm) thường gây úng lụt, làm thiệt hại và gây khó khăn cho sản xuất và đời sốngcủa dân cư Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm khoảng 88 - 92% Số giờnắng trong một năm đạt 1550 - 1700 giờ và chế độ gió thay đổi theo mùa, mùa

hè thường có gió Nam và Đông Nam, mùa đông thường có gió Bắc và ĐôngBắc

Trang 26

- Vùng từ xã Quyết Tiến, Khởi Nghĩa, Tiến Thắng đến Tiên Minh là vùngphù sa bồi đắp không đều, có nhiều đầm, ao, hồ chiếm hơn 52% diện tích đất tựnhiên.

- Vùng từ Bắc Hưng, Nam Hưng đến Vinh Quang địa hình bằng phẳng,nhiều chua mặn chiếm 35% diện tích đất tự nhiên

Hiện nay diện tích đất gieo trồng 3 vụ của huyện còn thấp, do đó cần cảitạo, thau chua, rửa mặn làm giàu bằng các biện pháp thủy lợi, san ghềnh, lấptrũng, thâm canh cây trồng, nhằm tăng diện tích, sản lượng cây trồng

Tiên Lãng là huyện thuần nông, do đó việc phát triển kinh tế còn phụthuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp Trong những năm tới, Tiên Lãng cầntăng nhanh diện tích trồng cây vụ đông, các cây trông hàng hóa có giá trị nhằmtăng nhanh giá trị ngành nông nghiệp

Trang 27

Bảng tổng hợp tình hình sử dụng đất của huyện Tiên Lãng

Trang 28

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

* Dân số

Dân số và lao động hay thường gọi là nguồn nhân lực con người là mộttrong những yếu tố rất quan trọng của mọi hoạt động, nó có tác động trực tiếptới quá trình vận động của xã hội Nguồn lực này cũng là nhân tố tạo ra của cảivật chất cho xã hội nhưng cũng là nhân tố tiêu thụ mọi sản phẩm sản xuất ra.Tuy nhiên chúng ta cần phải kết hợp hài hòa giữa hai vấn đề này nếu không sẽdẫn đến mâu thuẫn rất khó khắc phục được đó là tốc độ tăng dân số quá nhanh

sẽ kéo theo nhiều hậu quả xấu như diện tích đất ở , đất sản xuất giảm, vấn đềgiải quyết công ăn việc làm, phát triển kinh tế, điều kiện về mọi mặt giáo dục và

y tế không được đảm bảo

Dân số của huyện Tiên Lãng đến năm 2011 là 147.112 người, mật độ dân

số trung bình là 795 người/km2, tỉ lệ phát triển dân số tự nhiên ở năm 2010 đạt0,69% Dân cư ở Tiên Lãng phân bố không đều, mật độ dân cư cao ở thị trấnTiên Lãng, xã Bắc Hưng, Nam Hưng, Tiên Cường, Khởi Nghĩa, Bạch Đằng,Quang Phục với mật độ trung bình trên 1000 người/km2 Hiện nay dân số sốngtrong nông thôn của Tiên Lãng chiếm trên 90%, dân số thành thị chiếm tỷ lệnhỏ, chủ yếu tập trung ở khu vực thị trấn Tiên Lãng Dân số thành thị hầu nhưkhông đổi trong những năm qua phản ánh tình trạng cơ cấu kinh tế thay đổichậm, hoạt động của các ngành sản xuất phi nông nghiệp không phát triển, tốc

độ đô thị hóa chậm Đây là một xu hướng không tốt cần được giải quyết trongnhững năm tới bởi lẽ Tiên Lãng có nhiều ngành nghề truyền thống có giá trịnhư: dệt chiếu, thêu, đan, chế biến nông sản, nếu có chính sách thích hợp đểđầu tư và tổ chức tốt trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thì đây là yếu tố tốttrong việc phát triển kinh tế xã hội của huyện trong thời gian tới

- Lao động:

Năm 2011, tổng dân số của huyện Tiên Lãng là 147.112 người, trong đó cóngười trong độ tuổi lao động chiếm 60,14 % dân số Tổng số lao động đang làmviệc trong các ngành kinh tế bao gồm: lao động trong lĩnh vực nông nghiệp

Trang 29

trong ngành TM - DV chiếm 18,94%; lao động khác chiếm 1,58%

- Tình hình sản xuất kinh doanh trong huyện

Kết quả sản xuất kinh doanh của các ngành kinh tế giá trị sản xuất củangành tăng 19% so với năm trong huyện trong 3 năm 2009,2010,2011 gần đâyliên tục tăng, năm 2010 tăng so với 2009 là 12%, năm 2011 tăng so với năm

2010 là 14% Tuy nhiên sự tăng giảm của các ngành kinh tế là không đều nhau.Đối với giá trị sản xuất của các ngành nông nghiệp năm 2010 lại tăng 9,72% sovới năm 2009, tuy nhiên so sánh năm 2011 với 2010 thì giá trị lại giảm 9,78%.Điều này xảy ra là do tình hình thời tiết diễn biến xấu, khí hậu năm 2011 khắcnghiệt hơn so với 2010 Dịch bệnh liên tục bùng phát và phát triển như dịch lởmồm long móng, tai xanh ở lợn; cúm gia cầm ở gà Từ đó giá trị sản xuất củacác ngành trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản liên tục giảm trong năm

Giá trị sản xuất của ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng tương đối thấp trongcác ngành nông nghiệp, bình quân 3 năm chiếm tỉ trọng khoảng 16,5% Năm

2011 so với 2010 tổng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt trong huyện tăng hơn

814 tỷ nhưng so với tốc độ tăng bình quân của tổng giá trị các ngành sản xuất thìvẫn giảm Giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản chiếm

Trang 30

khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp Điều đó chứng

tỏ tình hình chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản trong huyện khá phát triển

Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong huyện Tiên Lãng kháphát triển, đứng đầu về tỉ trọng giá trị sản xuất các ngành kinh tế Nhất là nhữngnăm gần đây, khi nền kinh tế bước vào thời kì hội nhập, tự do hóa thương mại,ngành công nghiệp phát triển mạnh Các khu công nghiệp mọc lên thu hút laođộng và tăng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp Giá trị sản xuất ngành côngnghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng khá cao Trung bình trong 3 nămgần đây chiếm khoảng 42% tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế Giá trị sảnxuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng khá đều (trung bình khoảng 18%trong 3 năm)

Ngành thương mại dịch vụ của Tiên Lãng phát triển khá đồng đều, hàngnăm tỉ trọng của ngành thương mại dịch vụ đều tăng Năm 2010, giá trị sản xuấtcủa ngành tăng 20% so với năm 2009, năm 2011 2010

GTSX bình quân đầu người tăng, GTSXNN trên lao động nông nghiệp vàgiá trị sản xuất nông nghiệp trên khẩu nông nghiệp có xu hướng tăng Điều nàychứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của huyện có sự tăng trưởng và chấtlượng cuộc sống nhân dân ngày càng được cải thiện

Trang 31

CC (%) 07/06 08/07 BQ

Trang 32

3.1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở Tiên Lãng

Tại Hải Phòng, nghề trồng nấm đã phát triển mạnh từ năm 2007, tập trung tạimột số huyện như : Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Thuỷ Nguyên, An Lão, Kiến Thụy Toànthành phố đã đưa vào sản xuất 2663,8 tấn nguyên liệu, các loại nấm phổ biến là:nấm mỡ, nấm sò Năm 2008 Hải Phòng đã xây dựng được 439 lán trại trồng nấmtrong đó Tiên Lãng và Vĩnh Bảo là hai huyện đi đầu trong phong trào sản xuất nấm

Do có điều kiện thuận lợi về khí hậu, nguồn nguyên liệu và nguồn laođộng phục vụ cho việc sản xuất nấm quanh năm, nghề trồng nấm ở Hải Phòng

đã hình thành từ đầu thập kỷ 90 nhưng không duy trì và phát triển được do kỹthuật trồng nấm chưa phổ biến rộng rãi đến người sản xuất; nguồn cung ứnggiống không đủ và chưa đảm bảo chất lượng; sản phẩm sản xuất ra chưa có thịtrường tiêu thụ ổn định; chưa có sự quan tâm, tổ chức, chỉ đạo, quản lý, thốngnhất của các cấp, các ngành Những năm gần đây, tại Hải Phòng nghề trồng nấm

đã phát triển trở lại rất mạnh mẽ, chỉ tính riêng năm 2009 vừa qua nguyên liệu

đã được sử dụng để trồng nấm phát triển mạnh với quy mô trên 3000 tấn nguyênliệu; trong đó nấm sò: 1.052 tấn nguyên liệu, nấm mỡ: 1.341 tấn nguyên liệu,mộc nhĩ 494 tấn nguyên liệu

Hiện nay nghề trồng nấm đã được nhân rộng ra khắp các quận, huyện, tới các

xã, các Doanh trại Quân đội, Trung tâm Cai nghiện nghề trồng nấm phát triểnmạnh ở các xã như: xã Lưu Kiếm - Thuỷ Nguyên, Hoà Nghĩa, Đa Phúc, AnhDũng– Dương Kinh, Hùng Tiến, Tam Đa – Vĩnh Bảo, Quang Phục, Tự Cường– Tiên Lãng

Từ kết quả trồng thành công tại các xã, nhu cầu sử dụng nấm tươi của ngườitiêu dùng đã khuyến khích thêm nhiều hộ nông dân và các trang trại mạnh dạnđầu tư xây dựng trang trại trồng nấm, góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấucây trồng, tận dụng nguồn nguyên liệu sau thu hoạch sẵn có trong nông nghiệp,tăng thu nhập, góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn ở nông

Trang 33

thôn, góp phần đẩy nhanh việc thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp nông thôn

Hải Phòng là đô thị loại I cấp Quốc gia song phần lớn dân số sống ở nôngthôn và sản xuất nông nghiệp, những năm gần đây thành phố đã có nhiều cơ chế,chính sách để phát triển nông nghiệp – nông thôn, trong đó mục tiêu chuyển đổi

cơ cấu cây trồng, nâng cao tỷ trọng giá trị nông sản sạch phục vụ người tiêudùng, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoánhằm tăng giá trị và sức cạnh tranh của nông sản trong quá trình hội nhập đang

là nhiệm vụ trọng tâm và quan tâm hàng đầu

Ở Hải Phòng hiện nay sản phẩm nấm rơm được người tiêu dùng rất ưachuộng và nấm rơm tươi đã có mặt ở nhiều nhà hàng, các chợ trên địa bàn thànhphố, đặc biệt là đã có một số Công ty, trang trại đã tiến hành sấy nấm rơm giá từ90.000đ- 120.000đ/kg nấm khô Nấm rơm là nông sản sạch có hàm lượng protein

và lipit cao, có thể giữ nấm tươi trong vòng 7-10 ngày ở nhiệt độ từ 7-10 oC hoặcphơi nắng hay sấy Nguyên liệu trồng nấm đơn giản, có thể tận dụng các loại phếthải như: mùn cưa, bã mía, rơm rạ, cùi bắp ngô sản xuất nấm không dùng hoáchất nên dùng nấm không chỉ bổ dưỡng mà còn là một loại rau an toàn, rất sạch.Việc trồng nấm mang lại hiệu quả kinh tế cao do chi phí đầu tư ban đầu thấp, việcchăm sóc đơn giản, đặc biệt trồng nấm rơm ở thời điểm giao vụ giữa nấm rơm vànấm mỡ Tuy nhiên, nấm sò chỉ phát triển tốt nhất ở nhiệt độ từ 20 – 25 0C nênchỉ sản xuất tốt từ tháng 10 cho đến tháng 3 hàng năm, thời gian còn lại từ tháng

4 đến tháng 9 nhiệt độ cao trồng nấm năng suất rất thấp

Tất cả 23 xã và thị trấn trong huyện Tiên Lãng tham gia sản xuất nấm Có

321 hộ nông dân làm nấm, với 413 lán trại sản xuất (trên 35 ngàn m2); nông dân

đã đầu tư khoảng 11,2 tỷ đồng, huyện hỗ trợ trên 1,2 tỷ đồng cho sản xuất nấm

Do được tập huấn kỹ thuật và được cung cấp nguồn giống tốt, năng suất nấmrơm đạt 142 kg, nấm sò 445 kg và nấm mỡ 199 kg/tấn nguyên liệu, có hộ nông

Trang 34

Thu nhập bình quân đạt 2,5-3,5 triệu đồng/tấn nguyên liệu Sản phẩm làm rakhông đủ cung cấp cho nhu cầu thị trường Sản xuất nấm trong huyện đã thu hút

400 lao động thường xuyên và gần 600 lao động thời vụ, với thu nhập khoảng 1triệu đồng cho 1 lao động trong 1 tháng Rơm rạ cho làm nấm sau đó được làmphân hữu cơ, hầu như không còn tình trạng đốt ngoài đồng gây lãng phí và ônhiễm môi trường Theo ông Vũ Minh Đức - Bí thư huyện ủy Tiên Lãng, để cóđược những kết quả này huyện đã huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc vàphải ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới Tiên Lãng đang từng bước phát triển trồngnấm như một nghề của nhà nông

4.1.2 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất và tiêu thụ nấm rơm

Qua quá trình nghiên cứu đặc điểm về khí hậu, thời tiết, đất đai, lao động

cư sở hạ tầng và các hoạt động sản xuất kinh doanh trong những năm trên địabàn huyện Tiên Lãng kết hợp tìm hiểu công nghệ sản xuất nấm ăn Tôi nhậnthấy phát triển sản xuất và tiêu thụ nấm ăn ở địa phương có những thuận lợi vàkhó khăn sau:

Thuận lợi

+ Là vùng sản xuất lúa nước thuộc Đồng bằng sông Hồng, hàng năm cónguồn nguyên liệu để trồng nấm dồi dào, lượng nguyên liệu phụ từ sản xuấtnông nghiệp hàng năm lên tới 3000 tấn thuận lợi cho sản xuất nấm sò, nấm mỡ,nấm rơm…

+ Dân số sống tập trung (trên 95% dân số) trong nông thôn nhất là laođộng nông nhàn không có nghề phụ Đây là lực lượng lao động dồi dào để sảnxuất và tiêu thụ nấm

+ Cơ sở hạ tầng của địa phương có nhiều thuận lợi cho việc sản xuất vàtiêu thụ nấm rơm Hiện nay, theo chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước,Tiên Lãng đang định hướng phấn đấu xây dựng huyện nông thôn mới Do đó cơ

sở hạ tầng của huyện được xây dựng nhiều Đặc biệt trong công tác tiêu thụ sản

Trang 35

chạy qua địa bàn huyện; đường giao thông đến các xã thuận lợi do xây dựngđường giao thông nông thôn mới; có 1 mặt giáp với biển, giao thông thương mạiđường thủy phát triển, nâng cao hiệu quả tiêu thụ nấm đến các địa phương khác

và xuất khẩu đi các nước

+ Trung tâm khuyến nông đã kết hợp cùng với trạm khuyến nông, hợp tác

xã, hội nông dân triển khai áp dụng khoa học kỹ thuật vào trồng nấm rơm nângcao năng suất và chất lượng nấm Đồng thời hỗ trợ các hộ nông dân đầu ra sảnphẩm thông qua hợp tác xã thu mua nấm

- Thị trường tiêu thụ đang được mở rộng: do nấm giàu dinh dưỡng và cótác dụng dược lý khá phong phú như tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể,bảo vệ tế bào gan, hạ đường máu… nên nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng

ẩm, gió)

- Diễn biến khí hậu thời tiết phức tạp ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinhtrưởng, phát triển của nấm Khung nhiệt độ cao, thời tiết nắng nóng sớm làmảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của nấm rơm nên những hộ không có biệnpháp chống nóng cho nấm dẫn đến năng suất nấm rơm là loại nấm có thời gian

Trang 36

của nấm rơm từ 1-2 ngày, để nấm rơm từ ngày hôm trước sang ngày sau nấm rất

dễ bị nở ô làm ảnh hưởng đến mẫu mã và chất lượng nấm, không được bảo quảnnấm rơm tươi trong tủ lạnh vì vậy việc phát triển diện tích nấm rơm phải chú ýđến đầu ra của sản phẩm Nếu trồng trên qui mô lớn phải có lò xấy mới đáp ứngđược yêu cầu bảo quản nấm

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp chung

3.2.1.1 Phương pháp duy vật biện chứng

Là phương pháp nghiên cứu các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biệnchứng với các sự vật, hiện tượng khác Các sự vật, hiện tượng này có tác độngqua lại lẫn nhau trong quá trình tồn tại và phát triển, trong quá trình vận độngkhông ngừng của sự vật, hiện tượng

3.2.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu tại 3 xã tiêu biểu của huyện Tiên Lãng gồm xãQuang Phục, Tự Cường, Kiến Thiết - thành phố Hải Phòng

3.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp (số liệu có sẵn) Những số liệu này chủ yếu lấy từ các sách lýluận, niên giám thống kê qua các năm, các tạp chí, các nghiên cứu từ trước, cácthông tin trên internet… Những thông tin này chủ yếu phục vụ cho phần tổngquan

Các số liệu về tình hình sản xuất của huyện Tiên Lãng trong 3 năm gần đâyđược tổng hợp từ báo cáo tình hình sản xuất của xã hàng năm, báo cáo kinh tế,

Trang 37

chính trị, xã hội của xã Các số liệu này đã được các ban ngành kiểm tra nên có

độ chính xác cao

Để có số liệu sơ cấp đầy đủ phục vụ cho vấn đề nghiên cứu chúng tôi tiếnhành điều tra các hộ nông dân Để đảm bảo tính đại diện và khách quan trongviệc nghiên cứu chúng tôi tiến hành điều tra ngẫu nhiên 45 hộ nuôi trồng nấmrơm tại 3 xã Tự Cường, Quang Phục, Kiến Thiết là 3 xã có số hộ nông dân trồngnấm nhiều nhất trên địa bàn huyện Tiên Lãng

3.2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Sau khi thu thập, các số liệu sẽ được kiểm tra và được xử lý bằng máy tínhtrên chương trình EXCEL

3.2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê kinh tế

Phương pháp thống kê kinh phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xãhội bằng việc mô tả thông qua số liệu thu thập được Cụ thể trong đề tài với các sốliệu thu thập được về tình hình kinh tế xã hội địa phương, về các hoạt động của các

hộ nuôi trồng nấm qua đó sẽ tính toán, mô tả và so sánh sự tăng trưởng và phát triểncủa địa phương và các hộ nuôi trồng nấm rơm

- Phương pháp phân tích so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp so sánh sự khác nhau của các hiện tượngtheo không gian, thời gian, đối tượng… Phương pháp này dùng để so sánh sốtương đối, số tuyệt đối, số bình quân… Tôi tiến hành so sánh HQKT giữa các kênhtiêu thụ nấm rơm của các hộ nông dân trong huyện Từ đó dựa vào tình hình thực

tế, đưa ra các đề xuất để nâng cao hiệu quả trong khâu tiêu thụ nấm rơm của các hộtrồng nấm trong xã

- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Phương pháp chuyên gia: là phương pháp thu thập ý kiến của giáo viênhướng dẫn, của chuyên gia kỹ thuật, của các cán bộ quản lý

Trang 38

Phương pháp chuyên khảo: là phương pháp dựa trên việc thu thập ý kiến củacác hộ nuôi trồng nấm rơm Qua đó nắm được các thông tin về thực trạng tìnhhình, xác định các phương pháp, tiến bộ áp dụng vào sản xuất, tiêu thụ.

3.2.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

* Chỉ tiêu tổng quát phản ánh hiệu quả kinh tế

H = Q – K

H = Q/K

H = K/Q

Trong đó:

H - Hiệu quả kinh tế

Q - Kết quả sản xuất thu được

- Chi phí biến đổi : VC

- Chi phí trung gian : IC

- Chi phí lao động : LĐNhư vậy, các chỉ tiêu HQKT được thể hiện ở bảng 3.5:

Trang 39

Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế

Phương pháp xác định kết quả sản xuất (Q) và chi phí sản xuất (K) nêu trên

là đồng nhất, từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất, ở những điều kiện cụ thể nhấtđịnh vận dụng cho phù hợp Đánh giá HQKT trong sản xuất kinh doanh là việclàm hết sức phức tạp vì vậy phản ánh một cách đầy đủ, chính xác, toàn diệnHQKT thì ngoài những chỉ tiêu chủ yếu nêu trên, ở một khía cạnh nào đó phảikết hợp với các chỉ tiêu bổ sung như: Năng suất đất đai, doanh thu, doanh lợi…

Qi : Khối lượng sản phẩm loại i

Pi : Đơn giá sản phẩm loại i

- Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên và dịch

vụ được đầu tư trong quá trình sản xuất như giống, phân bón, BVTV,…

Trang 40

- Giá trị gia tăng (VA): Là giá trị tăng thêm trong quá trình sản xuất.

VA = GO – IC

- Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập của người sản xuất gồm cônglao động của hộ và lợi nhuận khi sản xuất trên một đơn vị diện tích trong một vụhay trong một năm

MI = VA – (T + A) – W

T – Thuế nông nghiệp (hiện nay đã bỏ)

A – Hao mòn tài sản cố định

W – Chi phí thuê lao động (Nếu có)

- Lợi nhuận: Pr = MI – L*Pi

L là số lao động gia đình

Pi là chi phí cơ hội của lao động gia đình

* Các chỉ tiêu tổng hợp như: Số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, để thấyđược quy mô tương quan so sánh giữa các chỉ tiêu Và sử dụng một số công thứcsau:

+ Số bình quân số học giản đơn

Ngày đăng: 24/08/2015, 20:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tổng hợp tình hình sử dụng đất của huyện Tiên Lãng - Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở huyện tiên lãng, thành phố hải phòng
Bảng t ổng hợp tình hình sử dụng đất của huyện Tiên Lãng (Trang 27)
Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế - Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở huyện tiên lãng, thành phố hải phòng
Bảng 3.5 Hiệu quả kinh tế (Trang 39)
Bảng tổng hợp quy mô số hộ trồng nấm rơm của huyện Tiên Lãng - Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở huyện tiên lãng, thành phố hải phòng
Bảng t ổng hợp quy mô số hộ trồng nấm rơm của huyện Tiên Lãng (Trang 43)
Bảng tổng hợp tình hình sản xuất nấm rơm của huyện Tiên Lãng - Hải Phòng - Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở huyện tiên lãng, thành phố hải phòng
Bảng t ổng hợp tình hình sản xuất nấm rơm của huyện Tiên Lãng - Hải Phòng (Trang 46)
Hình thức tiêu thụ qua công ty chế biến trong những năm qua có xu  hướng giảm về cơ cấu tiêu thụ - Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở huyện tiên lãng, thành phố hải phòng
Hình th ức tiêu thụ qua công ty chế biến trong những năm qua có xu hướng giảm về cơ cấu tiêu thụ (Trang 52)
Bảng tổng hợp tình hình tiêu thụ nấm rơm tại 3 xã điều tra - Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở huyện tiên lãng, thành phố hải phòng
Bảng t ổng hợp tình hình tiêu thụ nấm rơm tại 3 xã điều tra (Trang 53)
Sơ đồ 2 Sản xuất và cung cấp giống nấm ăn tại huyện Tiên Lãng - Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở huyện tiên lãng, thành phố hải phòng
Sơ đồ 2 Sản xuất và cung cấp giống nấm ăn tại huyện Tiên Lãng (Trang 62)
Bảng  Dự kiến sản lượng chế biến và tiêu thụ một số loại nấm ăn của huyện đến  năm 2014 - Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở huyện tiên lãng, thành phố hải phòng
ng Dự kiến sản lượng chế biến và tiêu thụ một số loại nấm ăn của huyện đến năm 2014 (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w