Tuy nhiên hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về tính đa dạng của các kiểu thảm thực vật, đa dạng về thành phần loài, dạng sống, cấu trúc hình thái và đa dạng về giá trị sử dụng c
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Phông phết SISAVENGSOUK
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT TRONG MỘT SỐ QUẦN XÃ THỰC VẬT TẠI HAI XÃ KHE MO VÀ VĂN HÁN THUỘC HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Ngọc Công
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ i
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS.Lê Ngọc Công
- người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu để em có thể hoàn thành được luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Sinh - KTNN, Ban Giám hiệu và các phòng chức năng của Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các lưu học sinh Lào chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên, Chi cục thống kê tỉnh Thái Nguyên đã cung cấp số liệu tại khu vực nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bèvà đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua
Trong quá trình thực hiện luận văn, do còn hạn chế về mặt thời gian, kinh phí, cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến quý báu của thầy cô giáo, các nhà khoa học, cùng bạn bè, đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 8 năm 2014 Tác giả
Phông phết SISAVENGSOUK
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ii
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi.Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Phông phết SISAVENGSOUK
MỤC LỤC
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ iii
Lời cảm ơn ……… i
Lời cam đoan……… ii
Mục lục……… iii
Danh mục các bảng……… vi
Danh mục các hình……… vii
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục tiêu nghiên cứu 3
3.Phạm vi nghiên cứu 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật - Rừng 4
1.1.2 Đa dạng sinh học, đa dạng loài 4
1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và Việt Nam 5
1.2.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới 5
1.2.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam 6
1.3 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu trúc của quần xã 8
1.3.1 Những nghiên cứu về thành phần loài 8
1.3.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống 10
1.4 Cấu trúc của quần xã 11
1.4.1 Sự phân bố theo chiều thẳng đứng trong quần xã 12
1.4.2 Sự hình thành cấu trúc bên trong của quần xã 12
1.5 Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật ởtỉnh Thái Nguyên 15
Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU 17 2.1.Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế vùng nghiên cứu 17
2.1.1.Vị trí địa lý, ranh giới hành chính 17
2.1.3.Khíhậu 20
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ iv
2.1 21
2.2.Điều kiệnkinhtếxãhội 22
2.2.1.Dân cư 22
2.2.2.Dân tộc 23
2.3 Văn hoá, y tế và giáo dục 23
2.3.1 Văn hoá 23
2.3.2.Y tế 23
2.3.3.Giáo dục 23
3.3 Nhận xét và đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 24
3.3.1 Những yếu tố thuận lợi 24
3.3.2 Những yếu tố khó khăn 24
Chương 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.2 Nội dung nghiên cứu 25
3.3 Các phương pháp nghiên cứu 26
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 26
3.3.2 Phương pháp xác định mẫu thực vật 27
3.3.3 Phương pháp phân loại thảm thực vật 27
3.3.4 Phương pháp điều tra trong nhân dân 28
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Đa dạng về các kiểu thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu 29
4.1.1 Thảm thực vật tự nhiên 29
4.1.2 Thảm rừng trồng 33
4.2 Đa dạng về hệ thực vật trong các quần xã 33
4.2.1 Đa dạng ở mức độ ngành 33
4.2.2 Đa dạng về mức độ Họ 35
4.2.3 Đa dạng về mức độ Chi 37
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ v
4.3 Đa dạng về hệ thực vật trong các trạng thái thảm thực vật 39
4.3.1 Đa dạng các họ, chi, loài trong các trạng thái thảm thực vật 39
4.3.2 Đa dạng về mức độ họ trong các trạng thái thảm thực vật tại KVNC 40 4.3.3 Đa dạng về mức độ chi trong các trạng thái thảm thực vật 52
4.4 Đa dạng về cấu trúc hình thái (cấu trúc thẳng đứng) trong các quần xã 54
4.4.1 Thảm cây bụi 56
4.4.2 Rừng Keo tai tượng 56
4.4.3 Rừng Mỡ 56
4.4.4 Rừng Thông 57
4.5 Đa dạng về thành phần dạng sống 58
4.5.1 Đa dạng về thành phần dạng sống ở Thảm cây bụi 59
4.5.2 Đa dạng về thành phần dạng sống ở rừng Keo 60
4.5.3 Đa dạng về thành phần dạng sống ở rừng Mỡ 60
4.5.4 Đa dạng về thành phần dạng sống ở rừng Thông 61
4.6 Đa dạng về giá trị sử dụng của thực vật trong các quần xã 64
4.6.1 Nhóm loài cây làm Thuốc (T) 66
4.6.2 Nhóm loài cây làm cảnh (Ca) 66
4.6.3 Nhóm loài cây làm thức ăn gia súc (Ags) 67
4.6.4 Nhóm loài cây dùng xây dựng (Xay) 67
4.6.5 Nhóm loài cây lấy nhựa (Nh) 67
4.6.6 Nhóm loài cây lấy gỗ (G) 67
4.6.7 Nhóm loài cây ăn được (Ă) 68
4.6.8 Nhóm loài cây lấy tinh dầu (Td) 68
4.6.9 Nhóm loài cây làm đồ thủ công (Dtc) 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC : 94
DANH MỤC BẢNG
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ vi
Bảng 4.1 Phân bố các (họ,chi,loài) trong các ngành thực vật tại khu vực nghiên cứu 34 Bảng 4.2 Các họ đa dạng nhất trong KVNC (Có 3 loài trở lên) 36 Bảng 4.3 Các chi đa dạng nhất tại KVNC (Có từ 3 loài trở lên) 38 Bảng 4.4 Số lượng, tỷ lệ % các họ, chi, loài trong các trạng thái thảm thực vật 39 Bảng 4.5 Những họ có từ 2 loài trở lên trong các trạng thái thảm thực vật 41 Bảng 4.6 Các họ giầu loài nhất trong các trạng thái thảm thực vật(có từ 4 loài trở lên) 51 Bảng 4.7 Các chi có từ 2 loài trở lên trong các trạng thái thảm thực vật 52 Bảng 4.8 Cấu trúc hình thái của các trạng thái thảm thực vật trong KVNC 55 Bảng 4.9 Thống kê tỷ lệ (%) số loài trong các dạng sống 58 Bảng 4.10 Dạng sống trong các quần xã thực vật tại KVNC 59 Bảng 4.11 Giá trị sử dụng của các loài thực vật tại KVNC 65
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: 18
Hình 4.1: Tỷ lệ (%) các họ, chi, loài trong các ngành thực vật ở KVNC 34
Hình 4.2: Tỷ lệ các họ, chi, loài trong các trạng thái thảm thực vật 39
Hình 4.3: Tỷ lệ % phân bố các dạng sống trong thảm Cây bụi 62
Hình 4.4: Tỷ lệ % phân bố các dạng sống ở rừng Keo 62
Hình 4.5: Tỷ lệ % phân bố các dạng sống ở rừng Mỡ 63
Hình 4.6: Tỷ lệ % phân bố các dạng sống ở rừng Thông 63
Hình 4.7: Tỷ lệ % phân bố các dạng sống trong các quần xã 64
Hình 4.8: Phân bố các nhóm giá trị sử dụng của thực vật trong KVNC 65
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 1
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài (M.E Tcachenco 1952)
Rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người Rừng là lá phổi xanh khổng lồ điều hòa khí hậu, hạn chế thiên tai, bão lũ, là khâu quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất của thiên nhiên, là nơi cư trú của nhiều loài động vật, là nơi cung cấp thức ăn cho động vật nói chung Đặc biệt thảm thực vật rừng còn có vai trò rất quan trọng cung cấp nguồn nguyên liệu cho con người như: lấy gỗxây dựng nhà cửa và các trang thiết bị nội thất, cho dầu béo, tinh dầu, làm thuốc, làm cảnh và nhiều giá trị sử dụng khác
Liên Hợp Quốc (LHQ) đã tiến hành đánh giá toàn diện về hiện trạng rừng trên thế giới.Theo thống kê mỗi năm diện tích rừng bị chuyển đổi thành diện tích đất nông nghiệp và các mục đích sử dụng khác, hoặc bị mất do các nguyên nhân tự nhiên đã giảm từ 16 triệu hécta trong những năm 90 của thế
kỷ trước xuống còn 13 triệu hécta Diện tích rừng nguyên thuỷ toàn cầu với các hệ sinh thái đa dạng và phong phú nhất về các loài sinh vật, với khoảng 1,4 tỷ hécta, chiếm 36% tổng diện tích rừng toàn cầu, cũng giảm trung bình hàng năm hơn 40 triệu hécta, với tốc độ 0,4% mỗi năm Khu vực Nam Mỹ bị mất rừng nguyên thuỷ lớn nhất, sau đó là châu Phi và châu Á
Liên Hợp Quốc chỉ rõ các mối đe doạ khác đối với đa dạng sinh học rừng là do việc quản lý rừng không bền vững, biến đổi khí hậu, cháy rừng, thảm hoạ tự nhiên, dịch bệnh và do sự phá hoại của các loài côn trùng và các sinh vật xâm thực LHQ còn cảnh báo hiện trạng săn bắn vì mục tiêu thương mại do nhu cầu tiêu dùng ở các thành phố cũng đang đẩy nhiều loài vật hoang
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 2
dã tới nguy cơ tuyệt chủng trong tương lai Tình trạng này sẽ trở nên tồi tệ hơn nếu các nước không thực hiện những biện pháp hiệu quả để ngăn chặn.LHQ kêu gọi các nước cần hành động mạnh mẽ nhằm bảo tồn hiệu quả
và sử dụng bền vững đa dạng sinh học các diện tích rừng sản xuất, đặc biệt ở các khu rừng nhượng quyền sử dụng
Tuy nhiên, LHQ cũng hoan nghênh các biện pháp đang được thực hiện ở nhiều nước nhằm bảo tồn đa dạng sinh học Hiện diện tích rừng được khoanh vùng trở thành các khu bảo tồn đa dạng sinh học trên toàn cầu đã tăng hơn 95 triệu hécta kể từ năm 1990, trong đó hơn 46% được khoanh vùng trong thời
kỳ 2000-2005 Hơn 460 triệu hécta, chiếm 12% tổng diện tích rừng nguyên thuỷ, đã được khoanh vùng để bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ đất và nguồn nước hoặc bảo tồn các di sản văn hoá Các diện tích rừng được khoanh vùng thành khu bảo tồn đa dạng sinh học, công viên quốc gia, khu vực hoang dã…được bảo vệ bằng luật pháp
Đất nước Việt Nam đang trên đà phát triển và hội nhập với quốc tế, quá trình đô thị hóa diễn ra một cách nhanh chóng, một diện tích đất rừng không nhỏ đã được sử dụng để xây dựng các công trình nhà cửa, xí nghiệp, đường
xá, khu vui chơi… Bên cạnh đó nạn phá rừng làm rẫy, khai thác gỗ củi và các nguồn tài nguyên khác vẫn thường xuyên xảy ra, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp,nhiều loài sinh vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng, lâm tặc ngày càng lộng hành tàn phá thiên nhiên… Nếu không có các biên pháp ngăn chặn kịp thời thì trong những năm tới nguồn tài nguyên sẽ bị cạn kiệt hoàn toàn Khu vực nghiên cứu là hai xã Khe Mo và Văn Hán thuộc huyện Đồng
Hỷ tỉnh Thái Nguyên.Đây là các địa phương có tiềm năng rừng và đất rừng khá lớn Tuy nhiên hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về tính đa dạng của các kiểu thảm thực vật, đa dạng về thành phần loài, dạng sống, cấu trúc hình thái và đa dạng về giá trị sử dụng của các loài thực vật
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 3
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu tính
đa dạng thực vật trong một số quần xã thực vật tại hai xã Khe Mo và Văn Hán thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định sự đa dạng về kiểu thảm thực vật, thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc hình thái và giá trị sử dụng của các loài thực vật trong khu vực nghiên cứu
- Cung cấp những dẫn liệu làm cơ sở cho các cơ quan chức năng của địa phương đề xuất các biện pháp nhằm bảo vệ, phát triển rừng ở khu vực nghiên cứu
3 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tiến hành nghiên cứu đa dạng các kiểu thảm thực vật, thành phần loài, dạng sống, cấu trúc hình thái và giá trị sử dụng của các loài thực vật, trong 4 quần xã: Thảm cây bụi (2 tuổi),rừng trồng Keo 7 tuổi,rừng trồng Mỡ
10 tuổi, rừng trồng Thông 40 tuổi
- Khu vực nghiên cứu là hai xã Khe Mo và Văn Hán (huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên), trong thời gian từ tháng 9/2013 - 5/2014
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
Trong đề tài chúng tôi có sử dụng một số khái niệm có liên quan đến nội dung nghiên cứu:
1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật - Rừng
- Thảm thực vật: Thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh (Thái Văn Trừng 1978) [37] Theo Trần Đình Lý (1998) [21]: Thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thực vật trên bề mặt trái đất Ở khái niệm này thảm thực vật mới chỉ là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đặc trưng hay phạm vi không gian của một đối tượng cụ thể Nó chỉ có nội hàm cụ thể khi có định ngữ kèm theo như “Thảm thực vật Thái Nguyên” hay “Thảm thực vật Khe Mo”,“Thảm thực vật cây bụi”…v.v Thành phần chủ yếu của thảm thực vật là cây cỏ, nhưng đối tượng nghiên cứu chủ yếu của thảm thực vật là tập thể cây cối được hình thành do một số lượng những cá thể của loài thực vật tập hợp lại
Do vậy thảm thực vật còn được coi là bộ mặt phản ánh tính đa dạng sinh học cho một vùng, một địa phương
- Rừng là một kiểu thảm thực vật mang các đặc trưng riêng, chẳng hạn như rừng cây gỗ (hay rừng tre nứa) Với rừng cây gỗ thì yếu tố chủ đạo trong
đó là cây gỗ và cây gỗ phải có chiều cao 5m so với mặt đất và độ tàn che (k) của chúng phải 0,3, đối với rừng tre nứa độ tàn che > 0,5 Nếu k < 0,3 thì chưa thành rừng, k = 0,3 – 0,6 là rừng thưa, k > 0,6 là rừng kín [24]
1.1.2 Đa dạng sinh học, đa dạng loài
Theo Công ước về Bảo tồn đa dạng sinh học đã thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở RiodeJaneiro năm 1992"Đa dạng sinh học" có nghĩa
là (tính đa dạng) biến thiên giữa các sinh vật của tất cả các nguồn bao gồm
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 5
các hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn, biển, các hệ sinh thái thủy vực khác và các tập hợp sinh thái mà chúng là một phần Tính đa dạng này thể hiện ở trong mỗi loài, giữa các loài và các hệ sinh thái [15]
Thuật ngữ đa dạng sinh học (Biodiversity) dùng để mô tả sự phong phú và đa dạng của giới tự nhiên.Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi
cơ thể sống từ mọi nguồn, trong hệ sinh thái đất liền, hệ sinh thái biển và các
hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay đa dạng gen); giữa các loài (đa dạng loài); các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái); Bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay các phần của cơ thể, các quần thể hay các hợp phần sinh học khác của hệ sinh thái, hiện đang có giá trị sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài người
Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy trong một khu vực nhất định tại một vùng hoặc địa điểm nào đó Đa dạng loài
là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của một loài cũng như đối với các quần thể khác nhau
1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
Champion H.G (1936) khi nghiên cứu rừng Ấn Độ - Miến Điện đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: Nhiệt đới, á nhiệt đới,
ôn đới và núi cao (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004 [34])
Bead J (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần
hệ và loại quần hệ) Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loại quần hệ: Loại quần
hệ rừng xanh mưa mùa; loại quần hệ khô thường xanh; loại quần hệ miền núi; loại quần hệ ngập từng mùa và loại quần hệ ngập quanh năm (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004 [34])
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 6
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật ở Đông Dương đã chia thảm thực vật thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian, đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó [37]
1.2.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam
Năm 1918 nhà khoa học người Pháp Chevalier, là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới châu Á đầu tiên trên thế giới) Theo bảng phân loại này, rừng ở miền Bắc Việt Nam được chia thành
10 kiểu (theo Thái Văn Trừng 1978 [37])
Năm 1943 kỹ sư lâm học người Pháp Maurand đã chia Đông Dương thành 3 vùng thảm thực vật:
+ Thảm thực vật Bắc Đông Dương
+ Thảm thực vật Trung Đông Dương
+Thảm thực vật Nam Đông Dương
Năm 1953, Maurand khi tổng kết về các công trình nghiên cứu các quần thể rừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil, trên cơ sở nghiên cứu của các nhà khoa học, (Theo Thái Văn Trừng, 1978 [37]) Ông đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng miền Nam Việt Nam
Năm 1956, Dương Hàm Hi đã xếp loại thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam theo một bảng phân loại mới (Theo Nguyễn Nghĩa Thìn 2004 [34])
Năm 1962 ở miền Nam Việt Nam còn xuất hiện một bảng phân loại thảm thực vật rừng Nam Trường Sơn [32]
Bảng phân loại đầu tiên của ngành lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là của Cục điều tra và quy hoạch rừng thuộc Tổng cục lâm nghiệp Việt Nam, bảng phân loại này xây dựng năm 1960 đã áp dụng cách phân loại rừng theo trạng thái của Loschau (Theo Thái Văn Trừng, 1978) [37] Theo bảng phân loại này, rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn:
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 7
+ Loại I: Đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng
+ Loại II: Gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa
+ Loại III: Gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh nên trở thành nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo
+ Loại IV: Gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá hoại, cần khai thác hợp lý
Bảng phân loại này không phân biệt được kiểu rừng nguyên sinh với các kiểu phụ thứ sinh và các giai đoạn diễn thế
Năm 1970, Trần Ngũ Phương đưa ra bảng phân loại rừng ở miền Bắc Việt Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: Đai rừng nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao [31]
Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại Hội Nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat, 1975), Thái Văn Trừng đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù hợp nhất trên quan điểm sinh thái cho đến nay [36]
Nguyễn Hải Tuất (1991) nghiên cứu một số đặc trưng chủ yếu về sinh thái của các quần thể thực vật tại vùng núi cao Ba vì đã chia ra 3 kiểu rừng cơ bản: Rừng hỗn giao ẩm á nhiệt đới, rừng kín hỗn giao ẩm á nhiệt đới núi cao, rừng kín hỗn giao cây Hạt kín và Hạt trần [39]
Thái Văn Trừng (1999) khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên yếu tố phát sinh hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm với 14 kiểu quần hệ [38]
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 8
1.3 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu trúc của quần xã
1.3.1 Những nghiên cứu về thành phần loài
Trên thế giới
Những công trình nghiên cứu của Alokhin (1904), Vưsotxki (1915), Craxit (1927) chỉ ra rằng mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là một chỉ tiêu quan trọng trong phân loại thảm thực vật (Theo Hoàng Chung, 1980) [9]
Ramakrishman (1981 - 1992), nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở vùng Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định: Chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài
ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá (Theo Hoàng Thị Thanh Thủy, 2009) [35]
Long chun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi và 167 loài (Theo Ma Thị Ngọc Mai, 2007) [28]
Phạm Hoàng Hộ (2003) trong "Cây cỏ Việt Nam" đã thống kê số loài hiện có hệ thực vật là 10.500 loài [16]
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 9
Hoàng Chung (1980), trong nghiên cứu về đồng cỏ vùng núi phía Bắc
đã thống kê được thành phần loài trong đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam
có 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ [9]
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983), khi nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên đã thống kê được 3210 loài, chiếm gần một nửa số loài đã biết của toàn Đông Dương [4]
Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1995), nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của savan bụi vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được
123 loài thuộc 47 họ khác nhau [11]
Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995), khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, sinh vật học của savan Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã phát hiện được 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài [19]
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), thống kê thành phần loài trong Vườn Quốc gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 loài cây có ích ở Tam Đảo thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín Các loại này xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Trong các loài trên có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn như: Hoàng Thảo Tam Đảo, Trà hoa đài, Trà hoa vàng Tam Đảo, Hoa tiên, Trọng lâu kim tiền (Theo Giáp Thị Hồng Anh, 2007) [1]
Nguyễn Thế Hưng (2003) [20], đã thống kê trong các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu ở huyện Hoành Bồ, Cẩm Phả (Quảng Ninh) có 324 loài thuộc 251 chi và 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch: Ngành Hạt trần (Gymnospermae), ngành Thực vật khuyết (Pteridophyta), và ngành Hạt kín (Angiospermae) Đồng thời khi so sánh với trạng thái rừng, khẳng định thảm cây bụi có thành phần chủ yếu bao gồm các loài trong họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Hòa thảo (Poaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Na (Annonaceac), họ Cà phê (Rubiaceae)…
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 10
Lê Ngọc Công (2004) [13], nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái nguyên
đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch gồm 160 họ, 468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim,
+ Phanerophytes (Ph): Nhóm cây có chồi trên mặt đất
+ Chamaetophytes (Ch): Nhóm cây có chồi sát mặt đất
+ Hemicryptophytes (He): Nhóm cây có chồi nửa ẩn
+ Cryptophytes (Cr): Nhóm cây có chồi ẩn
+ Therophytes (Th): Nhóm cây sống một năm
Ông đã xây dựng phổ dạng sống ở các vừng khác nhau trên trái đất (SB)
SB= 46Ph+9Ch+26He+6Cr+13Th
Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học, dễ áp dụng cho các kiểu thảm thực vật, do vậy có nhiều các nhà nghiên cứu đã áp dụng phương pháp này để nghiên cứu thành phần dạng sống
Ở Việt Nam:
Hoàng Chung (1980), thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ savan, thảo nguyên [9]
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 11
Lê Trần Chấn (1990), khi nghiên cứu hệ thực vật tại Lâm Sơn ( Hòa Bình) ông đã theo phương pháp của Raunkiaer để phân chia thảm thực vật thành 5 nhóm dạng sống Tuy nhiên, tác giả dùng thêm một số kí hiêụ để chi tiết hóa một số dạng sống (a: kí sinh; b: bì sinh; c: dây leo; d: cây chồi trên thân thảo) Ông không xếp phương thức sống kí sinh, bì sinh vào dạng sống
cơ bản mà coi đây là những dạng phụ [8]
Phan Nguyên Hồng (1991), khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật ở rừng ngập mặn Việt Nam ông đã chia 7 dạng sống cơ bản: Cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụ
(B) [18]
Phạm Hồng Ban (1992) [2], nghiên cứu tính đa dạng của các trạng thái thảm thực vật sau nương rẫy vùng Tây Nam Nghệ An, áp dụng khung phân loại của Raunkiaer để phân chia dạng sống, phổ dạng sống là:
SB=67,40Ph+7,33Ch+12,62He+8,53Cr+4,09Th
Lê Ngọc Công (2004) [13], nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật tại Thái Nguyên đã phân chia thảm thực vật thành các nhóm dạng sống: cây gỗ, cây bụi, cây cỏ và dây leo
Như vậy, nghiên cứu dạng sống là một trong những nội dung quan trọng khi nghiên cứu hệ thực vật vì dạng sống thể hiện sự thích nghi của thực vật với môi trường sống.Cho đến nay đã có rất nhiều cách phân loại dạng sống khác nhau, nhưng để xây dựng phổ dạng sống của một hệ thực vật, người ta thường sử dụng cách phân loại của Raunkiaer (1934)
1.4 Cấu trúc của quần xã
Cấu trúc quần xã được hiểu là đặc điểm phân bố của các loài trong không gian và theo thời gian Cấu trúc biểu thị khoảng không của môi trường được thực vật sử dụng và những đặc trưng cùng mức độ tác động của các thành phần thực vật tới môi trường.Cấu trúc được xác định bởi thành phần và
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 12
mối quan hệ số lượng giữa các thành phần trong quần xã, cũng như các điều kiện thuộc môi trường, sự tác động của động vật
Dấu hiệu quan trọng của cấu trúc là độ khép tán của thực bì và đặc điểm phân bố theo chiều thẳng đứng của diện tích lá, sự phân chia thành các tầng, mức độ đồng nhất về phân bố nằm ngang (thể khảm) Cũng có người dùng khái niệm cấu trúc hình thái và cấu trúc không gian, điều này hoàn toàn không nên, vì không có cấu trúc hình thái nào mà lại không có không gian trong đó
1.4.1 Sự phân bố theo chiều thẳng đứng trong quần xã
Để làm sáng tỏ của cấu trúc thẳng đứng của quần xã cần phải xác định khối lượng môi trường được các loài sử dụng là bao nhiêu, đặc điểm phân bố của các cá thể theo từng tầng của môi trường (khối lượng, thể tích, bề mặt tiếp xúc với môi trường) Cấu trúc phần trên mặt đất của quần xã được nghiên cứu khá đầy đủ
Sự phân bố của phần dưới đất trong quần xã tập trung lớn ở lớp đất mặt, điều này thể hiện rõ ở quần xã đồng cỏ, thảo nguyên, bán hoang mạc và cả rừng.Đi sâu vào trong lòng đất, khối lượng và cả diện tích bề mặt của phần dưới đất đều giảm.Điều này được thể hiện rõ trong quần xã đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam [9]
1.4.2 Sự hình thành cấu trúc bên trong của quần xã
Chúng ta biết rằng, các quần xã thực vật bị giới hạn bởi không gian phân bố của mình (Theo chiều thẳng đứng và nằm ngang), đôi khi cả theo thời gian bằng những yếu tố thuộc cấu trúc Theo đề nghị của Tras (1930), gọi
đó là những yếu tố của quần xã.Đa số các tác giả gọi đó là cấu trúc tầng và nhóm nhỏ của quần xã Tầng là đặc trưng cho cấu trúc theo chiều thẳng đứng, nhóm nhỏ là cấu trúc nằm ngang của quần xã
Tầng:
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 13
Kerner (1863) là người đầu tiên đề cập đến và đã phân chia rừng Thông
ra thành 3 tầng - đó là tầng cây gỗ, tầng cây thảo, tầng rêu Tiếp theo, Hult
(1881) đã phân chia các quần xã rừng Thông thành 7 tầng:(Quần xã học thực vật Hoàng Chung)
1 - Tầng cây gỗ trên cùng - cao từ 6m trở lên
Sự phân tầng các loài thực vật giúp tận dụng tốt hơn môi trường, đó cũng là hiện tượng bổ trợ lẫn nhau giữa các loài thực vật về mặt sinh thái
Về vấn đề phân tầng hiện cũng còn nhiều điều chưa thống nhất, như bì sinh, dây leo, cây con dưới rừng thuộc vào tầng nào Bì sinh và dây leo có thể chia thành nhóm đặc biệt gọi là thực vật giữa tầng (hay ngoại tầng) Nhóm cây dưới tán rừng gồm cây con, cây non và các loại cây chưa trưởng thành khác, có thể có cả cây đã đạt tuổi trưởng thành, Sukasov và một số tác giả cho
nó thuộc vào tầng cây đã trưởng thành và đạt trạng thái phát triển bình thường trong cùng loài và xem nó như là màn của tầng đó
Tầng được hình thành trong quá trình hình thành quần xã, sau đó có thể
đi tới ổn định hoặc bị thay đổi theo mùa sinh dưỡng, qua năm, hoặc từ năm này sang năm khác Người ta có thể chia ra một số kiểu phân tầng:
1 Bền vững theo mùa và năm
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 14
2 Tồn tại quanh năm, nhưng biến đổi ít, nhiều theo mùa sinh dưỡng, ví dụ như tầng cây gỗ, cây bụi có lá rụng hàng năm
3 Tầng cây thuộc thảo, có thể tồn tại trạng thái sinh dưỡng cả năm hay gần hết thời kỳ sinh dưỡng
4 Cây đoản mệnh, tồn tại không dài, thường chỉ một phần thời kỳ sinh dưỡng, nó được hình thành từ cây thảo, tảo, rêu
5 Tầng được hình thành trong từng năm riêng biệt, ví dụ tầng của những cây thảo một năm, thường gặp ở vùng hoang mạc, năm nào điều kiện thuận lợi nó mọc, năm không thuận lợi thì không mọc
6 Tầng được hình thành lặp đi lặp lại trong mùa sinh dưỡng do cắt hay chăn thả động vật
Những lớp thực vật quần lạc
Sự phân tầng trong các quần xã thực vật không phải lúc nào cũng thể hiện rõ ràng, trong nhiều trường hợp phân tầng mang tính công nhận Người
ta còn phân tầng để làm sáng tỏ cấu trúc quần xã
- Badanốp (1963) là người đầu tiên đã đề cập đến vấn đề này Ông đã nhận thấy, trong thảm cỏ không có sự phân tầng, ông viết “nó có sự tăng dần đều trong phân bố của thực vật theo chiều cao” Patrotski (1921) khi nghiên cứu về thảo nguyên cũng đã viết: “Thực vật phân bố rất khác nhau theo chiều
cao và độ lớn của nó, nó tạo thành lớp chứ không thành tầng” (Quần xã học thực vật Hoàng Chung)
- Kortragin (1976) đã viết: Mỗi lớp thực vật quần lạc không chỉ được đặc trưng bởi những loài thực vật tự dưỡng mà nó còn có sự tham gia của các
cơ quan của những loài thực vật có trong đó (Quần xã học thực vật Hoàng Chung)
Tầng phiến:
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 15
Thuật ngữ tầng phiến trong cấu trúc quần xã được Rubel dùng đầu tiên, sau này được Gams (1918) phát triển Gams đã chia tầng phiến ra thành các mức độ khác nhau
Mức độ 1- tầng phiến là tập hợp các cá thể của một loài đang tồn tại độc lập trong giới hạn vùng phân bố xác định - nó giống quan niệm quần thể trong quần
trong quần xã của Laprenkô (1959) Hoàng Chung [10]
1.5 Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật ởtỉnh Thái Nguyên
Năm 1993, Viện điều tra quy hoạch rừng thuộc bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn đã tiến hành điều tra tình hình tái sinh và diễn thế ở vùng Bắc Thái (cũ) đã thống kê được bảng danh mục loài thực vật gồm 688 loài thuộc
433 chi và 134 họ (Theo Lê Ngọc Công, 2004) [13]
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái cũ (1996) trong chuyên đề “Tài nguyên thực vật khu bảo tồn thiên nhiên Phượng Hoàng, Thần Sa (Võ Nhai)” đã thống kê được 262 loài thuộc 79 họ Trong đó các tác giả đã phân loại theo 6 nhóm giá trị sử dụng: thực vật làm thuốc, thực vật cho sợi, thực vật cho tinh dầu, cho nhựa, làm cảnh, cho quả và lá ăn được (Theo Hoàng Thị Thanh Thủy, 2009) [35]
Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (sau khi tách tỉnh 1997) đã tiến hành điều tra thảm thực vật và khu hệ thực vật rừng ATK Định Hóa đã thu được 316 loài thực vật có mạch thuộc 96 họ (Theo Lê Ngọc Công, 2004) [13]
Đặng Kim Vui (2002) nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau khi nương rẫy làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 16
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận: giai đoạn phục hồi 1-2 tuổi thành phần loài thực vật là 72 loài thuộc 36 họ, trong đó họ Hòa thảo có số lượng lớn nhất là 10 loài, tiếp đến là họ Thầu dầu (6 loài)…giai đoạn 3-5 tuổi
có 65 loài thuộc 34 họ, giai đoạn 5-10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ, giai đoạn 10-15 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ [40]
Trần Thị Minh Hương (2003), trong quá trình nghiên cứu ảnh hưởng của một số rừng phục hồi tự nhiên, rừng trồng đến các yếu tố sinh thái môi trường Hồ Núi Cốc đã điều tra được 124 loài thực vật [21]
Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1995) nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của savan bụi vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được
123 loài thuộc 47 họ khác nhau [11]
Lê Ngọc Công (2001) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ,
468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây
gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến…[12]
Lê Ngọc Công (2006) với đề tài “Bước đầu điều tra nguồn gen cây thuốc ở hai xã Khe Mo và Văn Hán huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên” đã thống kê được 214 loài cây thuốc thuộc 189 chi và 73 họ [14]
Lê Ngọc Công và cộng sự (2006), “Điều tra hiện trạng, góp phần bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật huyện Phú Lương, tỉnh thái Nguyên” đã thống kê được 490 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 350 chi và 106 họ Tác giả đã phân loại thực vật theo 7 nhóm giá trị sử dụng: Nhóm cây lấy gỗ, nhóm cây làm thuốc, cây cho tinh dầu, cây cho rau ăn, cây làm cảnh và nhóm cây quý hiếm [14]
Nhìn chung những công trình của các tác giả đều tập trung nghiên cứu
và đánh giá thành phần loài của một vùng và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với điều kiện địa hình và khí hậu Các công trình nghiên cứu về đa dạng và tài nguyên thực vật ở tỉnh Thái
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 17
Nguyên chưa nhiều, phạm vi nghiên cứu hẹp, chưa phản ánh hết được sự đa dạng của chúng
Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU 2.1.Kháiquátđiềukiệntựnhiênvà kinhtếvùngnghiêncứu
2.1.1.Vịtríđịalý,ranhgiớihànhchính
Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam,
có tọa độ địa lý: 21 21 đến 22 03 vĩ độ Bắc, từ 105 28 đến 106 14 kinh Đông, cách thủ đô Hà Nội 75 km về phía nam và là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội Thái Nguyên được coi là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Tỉnh Thái Nguyên
có diện tích 3.534,72 km² (2012) phía bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội Với vị trí đóThái Nguyên là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế,giáo dục, của vùng trung du miền núi phía bắc của đất nước
Đồng Hỷ là một huyện miền núi phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên Diện tích 455,524 km2, dân số 111.147 ngườ ồng Hỷ giáp huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn ở phía bắc, huyện Võ Nhai về phía Đông Bắc; giáp huyện Phú Lương về phía Tây; giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình về phía nam và giáp huyện Yên Thế thuộc tỉnh Bắc Giang về phía đông
Huyện Đồng Hỷ có ở 18 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: Hóa Thượng, Huống Thượng, Nam Hòa, Tân Lợi, Cây Thị, Hợp Tiến, Khe
Mo, Văn Hán, Hóa Trung, Quang Sơn, Văn Lăng, Tân Long, Hòa Bình, Minh
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 18
Lập, Linh Sơn và 3 thị trấn: Chùa Hang(huyện lỵ), Trại Cau, Sông Cầ
244ng/km2
Ghi chú: nghiên cứu
Khe Molà một xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.Xã có diện
tích 30,24 km², dân số năm 1999 là 6424 người, mật độ dân số đạt 212 người/km².Xã nằm tại trung tâm của huyện và có tuyến tỉnh lộ chạy qua phần
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 19
phía tây nam.Khe Mo giáp với thị trấn Sông Cầu, xã Quang Sơn (Đồng Hỷ)
và xã La Hiên của huyện Võ Nhai lần lượt ở phía tây bắc và bắc, giáp với xă Văn Hán ở phía đông, giáp với xã Linh Sơn ở phía nam, giáp với xã Hóa Trung và Hóa Thượng ở phía tây nam Theo Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 1999-2003, xã Khe Mo có diện tích 30,76 km², dân số là 7048 người, mật độ dân số đạt 229 người/km² Khe Mo được chia thành 15 xóm là Thống Nhất, Đèo Khế, Long Giàn, Khe Mo I, Khe Mo II, Làng Cháy, Dọc Hèo, Tiền Phong, La Đường, Ao Rôm I, Ao Rôm II, Ao Đậu, Hải Hà, Na Nha, Na Rẫy
Văn Hán là một xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.Xã nằm tại
phía đông của huyện và tiếp giáp với ba xã La Hiên, Lâu Thượng và Liên Minh thuộc huyện Võ Nhai ở phía bắc và đông bắc, giáp với xã Cây Thị ở phía đông, giáp với xã Nam hòa ở phía nam, giáp với xã Khe Mo ở phía tây.Xã có diện tích 66,17 km², dân số năm 1999 là 8995 người, mật độ dân số đạt 136 người/km²
Theo niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 1999-2003, xã Văn Hán có diện tích 60,5 km², dân số là 9470 người, mật độ dân số đạt 156 người/km² Văn Hán hiện được chia thành 17 xóm là Vân Hán, La Đùm, Cầu Mai, Phả
Lý, Thịnh Đức I, Thịnh Đức II, Đoàn Lâm, Vân Hòa, Ba Quà, La Củm, Hòa Khê I, Hòa Khê II, La Đàn, Làng Cả, Làng Hòa, Ấp Chè, Thái Hưng
2.1.2 Địa hình
Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc-Nam và thấp dần xuống phía Nam Cấu trúc vùng núi phía bắc chủ yếu là đá phong hóa mạnh, tạo thành nhiều hang động và thung lũng nhỏ
Phía bắc Thái Nguyên gồm rừng núi và đồng bằng hẹp Về phía đông
có những dãy núi cao nằm giữa những ngọn núi đá vôi ở phố Bình Gia Về phía đông bắc, có cao nguyên Vũ Phái được giới hạn bởi những dãy núi đá vôi và có khu rừng núi ngăn chia Lâu Thượng và Lâu Hạ ở phương Nam phía tây bắc Thái Nguyên có thung lũng Chợ Chu bao gồm nhiều cánh
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 20
đồng và những thung lũng nhỏ Giữa Đồn Đủ và Cổ Lương là một cánh đồng giáp với Tức Tranh và Vô Tranh gồm nhiều đồi núi lan tới tận khu đồng lầy Phúc Linh
Phía tây Nam có dãy Tam Đảo dọc theo cao nguyên Văn Lang và cánh đồng Đại Từ Tam Đảo có đỉnh cao nhất 1.591 m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Ngoài dãy núi trên còn có dãy Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam đến Võ Nhai và dãy núi Bắc Sơn cũng chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Cả ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn đều là những dãy núi cao che chắn gió mùa đông bắc
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình lại không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác
, địa hình lại không phức tạp lắm, thuận lợi cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội
2.1.3.Khíhậu
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt:
- Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai
- Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía nam huyện
Võ Nhai
- Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công
2.1.3.1.Chếđộnhiệt
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 21
Chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 29,4°C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 14,2°C) là 15,2°C Tại thành phố Thái Nguyên, nhiệt độ cao nhất và thấp nhất từng được ghi nhận lần lượt là 41,5°C và 3°C
2.1.3.2.Chếđộmưa,ẩm
Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 Nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành
18,6mm
2.1.3.3.Chếđộgióvà số giờnắng
:
- : chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc (từ lục địa châu Á tới)
Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân
hộ, rừng kinh doanh nhưng cũng thích hợp để trồng cây ăn quả, một phần cây lương thực cho nhân dân vùng cao
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 22
Đất đồi chiếm 31,4% diện tích tự nhiên chủ yếu hình thành trên cát kết, bột kết phiến sét và một phần phù sa cổ kiến tạo Đây là vùng đất xen giữa nông và lâm nghiệp Đất đồi tại một số vùng như Đại Từ, Phú Lương ở từ độ cao 150 m đến 200 m có độ dốc từ 50 đến 200
phù hợp đối với cây công nghiệp
và cây ăn quả lâu năm, đặc biệt là cây chè (trà) (một đặc sản của Thái Nguyên)
Đất ruộng chiếm 12,4% diện tích đất tự nhiên, trong đó một phần phân
bố dọc theo các con suối, rải rác, không tập trung, chịu sự tác động lớn của chế
độ thủy văn khắc nghiệt (lũ đột ngột, hạn hán ) khó khăn cho việc canh tác
Trong tổng quỹ đất 356.282 ha, đất đã sử dụng là 246.513 ha (chiếm 69,22% diện tích đất tự nhiên) và đất chưa sử dụng là 109.669 ha (chiếm 30,78% diện tích tự nhiên) Trong đất chưa sử dụng có 1.714 ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp và 41.250 ha đất có khả năng sản xuất lâm nghiệp
Huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên có diện tích rừng 25.413 ha (báo cáo quy hoạch phát triển lâm nghiệp TN 2013) trong đó diện tích rừng trồng mới là 1.116 ha
2.2.Điều kiệnkinhtếxãhội
2.2.1.Dân cư
Theo Niên giám thống kê 2012, dân số tỉnh Thái Nguyên là 1.150.230 người, trong đó nam có 566.980 người chiếm 49,29% và nữ là 583.250 người chiếm 50,71%, tỉ số giới tính nam/nữ là 97,6/100 Tổng dân số đô thị là 327.223 người và tổng dân cư nông thôn là 823.007 người Số con trên mỗi phụ nữ là 1,9 và tỉ lệ tăng dân số là 0,53% bằng một nửa số với tỉ lệ tăng của
cả nước là 1,05%
Theo kết quả của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, quy mô
hộ gia đình tại tỉnh Thái Nguyên là 3,4 người/hộ Tỉ số già hóa là 39,5% và tỉ
số phụ thuộc là 42,2% Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của cư dân Thái Nguyên là 24 tuổi, trong đó nam là 25,7 tuổi và nữ là 22,3 tuổi, thấp hơn trung bình cả nước với các số liệu tương ứng là 24,5 tuổi, 26,2 tuổi và 22,8 tuổi
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 23
Dân cư Thái Nguyên phân bố không đều, vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt, trong khi đó ở thành thị và đồng bằng dân cư lại đông đúc Mật
độ dân số thấp nhất là huyện Võ Nhai 72 người/km², cao nhất là thành phố Thái Nguyên với mật độ 1.260 người/km² Theo tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, trong 10 năm (1999-2009) dân số tỉnh tăng bình quân 0,7%/năm, thấp hơn mức bình quân của cả nước là 1,2% do có nhiều người di chuyển đi các tỉnh khác, trong đó ba huyện Định Hóa, Đại Từ và Phú Bình có tăng trưởng dân số âm
2.3.3.Giáo dục
100% các xã có trường học kiên cố, khang trang, cơ sở vật chất cho việc dạy và học được đầu tư tốt Trong xã đã có cấp trường từ mầm non đến
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 24
trung học cơ sờ Các xã đã đạt phổ cập giáo dục mầm non và trung họ Huyện có 2 trường cấp ba, 1 trường dậy nghề, 1 trường đại học
3.3 Nhận xét và đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
3.3.1 Những yếu tố thuận lợi
khí hậu, đất đai, địa hình rất thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng, nhất là cây nông, lâm nghiệp và cây ăn quả
Dưới sự chỉ đạo của tỉnh và nhà nước, huyện đã tiếp cận với khoa học kỹ thuật: được hỗ trợ kinh nghiệm từ nhiều dự án đầu tư phát triển lâm nghiệp cả trong nước và ngoài nước như: PAM, KFW, dự án phát triển lâm nông tổng hợp Việt - Đức, Dự án 327, Dự án trồng rừng kinh tế bằng vốn vay ưu đãi
3.3.2 Những yếu tố khó khăn
-Trình độ dân trí của một bộ phận người dân còn thấp, nên sự tiếp thu khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản xuất và đời sống rất hạn chế Vì vậy đời sống vật chất còn nhiều khó khăn
- Đường giao thông liên xã, liên thôn chưa có đường nhựa, nên việc đi
lại, lưu thông hàng hóa của người dân rất khó khăn
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 25
Chương 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Là các quần xã thực vật gồm:Thảm cây bụi (2 tuổi), rừng trồng Keo tai tượng (7 tuổi), rừng trồng Mỡ (10 tuổi) vàrừng trồng Thông nhựa (40 tuổi) tại
xã Khe Mo và Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Nghiên cứu tính đa dạng các kiểu thảm thực vật
3.2.2 Nghiên cứu tính đa dạng về hệ thực vật
+ Giá trị ăn được (rau, củ, quả, hạt)
+ Giá trị làm thức ăn gia súc
+ Giá trị làm cảnh
+ Giá trị lấy nhựa
+ Giá trị lấy tinh dầu
+ Giá trị làm đồ thủ công
+ Giá trị xây dựng
3.2.5 Nghiên cứu tính đa dạng về thành phần dạng sống thực vật
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 26
3.3 Các phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
3.3.1.1 Thu thập số liệu theo tuyến điều tra (TĐT)
Thu thập số liệu theo các phương pháp thông thường đang được áp dụng trong nghiên cứu sinh thái học và điều tra rừng hiện nay
Trước hết là xác định địa điểm nghiên cứu, căn cứ vào bản đồ của khu vực lập các TĐT TĐT đầu tiên có hướng vuông góc với đường đồng mức, các tuyến sau song song với tuyến đầu Tiến hành thu thập các số liệu về thành phần thực vật dọc theo TĐT, quan sát và ghi chép tất cả các thông tin về các loài đã gặp như: tên latinh (hoặc tên địa phương), dạng sống Phạm vi chiều rộng quan sát của TĐT là 4m, khoảng cách giữa các tuyến là 50 - 100m tùy vào địa hình cụ thể của từng quần xã Dọc theo TĐT bố trí OTC (ô tiêu chuẩn) và ODB (ô dạng bản) để thu thập số liệu Mỗi quần xã lập 3 OTC
3.3.1.2 Thu thập số liệu trong ô tiêu chuẩn
Để thu thập số liệu về thực vật , chúng tôi áp dụng OTC 16m2 cho thảm cây bụi, 100m2 (10 10m) cho các trạng thái rừng (Thông, rừng Mỡ, rừng Keo), ODB có kích thước 2x2m được bố trí trên các đường chéo, và các góc của OTC Tổng diện tích của ODB phải đạt ít nhất là 1/3 diện tích OTC Ngoài ra dọc hai bên tuyến điều tra cũng đặt thêm các OTC phụ để thu thập
số liệu bổ sung Trong các OTC và ODB chúng tôi tiến hành xác định tên (tên Việt Nam và tên khoa học), dạng sống và đo chiều cao của cây (gỗ, bụi) để xác định cấu trúc phân tầng của các trạng thái thảm thực vật) Các cây có chiều cao dưới 4m được đo bằng thước sào có vạch chia đến 0,1dm, cây có chiều cao trên 4m đo bằng thước Blumeleiss, đo theo nguyên tắc lượng giác Còn những loài cây chưa biết tênlấy mẫu về để định loại trong phòng thí nghiệm
Độ che phủ là phần trăm (%) diện tích đất bị che phủ bởi thảm thực vật
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 27
3.3.2 Phương pháp xác định mẫu thực vật
- Xác định tên các loài cây theo Phạm Hoàng Hộ (2003) [16], “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (2003, 2005) để chỉnh lí và lập danh lục các loài thực vật tại vùng nghiên cứu.[5]
- Xác định dạng sống theo Raunkiaer(1934) (Theo Hoàng Chung, 2008) [10], theo cách phân loại này, dạng sống gồm các kiểu chính sau:
1 Chồi trên mặt đất (Phanerophytes), chồi tạo thành ở những cây này phải nằm trên độ cao nào đó (từ 25cm trở lên), thuộc vào nhóm này gồm các cây gỗ, cây bụi
2 Chồi mặt đất (Chametophytes), chồi hình thành ở độ cao không lớn so với mặt đất (dưới 25cm) Thuộc nhóm này có cây bụi nhỏ, cây nửa bụi, những cây dạng gối, rêu sống trên mặt đất
3 Cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes), chồi được tạo thành nằm sát mặt đất, thuộc nhóm này gồm nhiều cây thảo sống lâu năm
4 Cây chồi ẩn (Crytophytes), chồi được hình thành nằm dưới đất, thuộc nhóm thực vật địa sinh (Cây thân hành, thân củ, thân rễ) hoặc cây mọc từ đáy
3.3.3 Phương pháp phân loại thảm thực vật
Phân loại thảm thực vật theo khung phân loại của UNESCO, 1973 [41] cụ thể như sau:
I Lớp quần hệ (Formation class)
I.A Phân lớp quần hệ (Formation subclass)
I.A.1 Nhóm quần hệ (Formation group)
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 28
I.A.1.1 Quần hệ (Formation)
I.A.1.1.1 Phân quần hệ (Subformation)
3.3.4 Phương pháp điều tra trong nhân dân
Trực tiếp phỏng vấn người chủ rừng hoặc các cơ quan chuyên môn (chi cục kiểm lâm, UBND xã Khe Mo và Văn Hán) để nắm được các thông tin về điều kiện tự nhiên ở khu vực nghiên cứu, trạng thái của rừng, tên các loài thực vật (tên địa phương), những tác động của con người và động vật…
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 29
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đa dạng về các kiểu thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu
Thảm thực vật nguyên sinh tại khu vực nghiên cứu hiện nay đã bị phá hủy nghiêm trọng, thay vào đó là các kiểu thảm thứ sinh có sự tác động của con người Kết quả nghiên cứu về hiện trạng thảm thực vật như sau:
4.1.1 Thảm thực vật tự nhiên
Theo khung phân loại của UNESCO (1973), thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu gồm 4 lớp quần hệ như sau:
I Lớp quần hệ rừng kín
I.A.1.1 Quần hệ rừng nhiệt đới thường xanh mưa mùa ở địa hình thấp
và núi thấp (< 500 m) Gồm 2 loại hình thực vật sau:
Rừng cây gỗ lá rộng
Kiểu này thường là những khoảnh nhỏ phân bố rải rác ở độ cao từ 300
m trở lên, là những rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác kiệt có cấu trúc 2 tầng cây gỗ:
Tầng 1: Rừng có tầng cây gỗ cao trung bình 10 - 12m, đường kính trung bình 10 - 13 cm, có mật độ khoảng 500 - 700 cây/ha Do là rừng phục hồi sau khai thác nên một số nơi ở độ cao trên 350m, thỉnh thoảng chúng tôi gặp những cây gỗ ở rừng nguyên sinh trước kia còn sót lại, có chiều cao 14m đến 18m, đường kính 30cm Các số liệu điều tra theo tuyến và theo OTC chúng tôi xác định được 2 ưu hợp:
Trám trắng (Canarium album) + Gội (Aglaia gigantea) + Đinh (Markhamia stipulata)
Nhội (Bischofia javanica) + Vàng anh (Saraca dives) + Dẻ gai Ấn độ (Castanopsis indica)
Tầng 2: Tầng cây gỗ cao trung bình 7 - 10m với thành phần ưu thế là
Thị núi (Dospyos bangoiensis), + Nhội (Bischofia javanica) + Vàng anh
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 30
(Saraca dives),Gùhương (Cinnamomum balansae) và Dẻ gai Ấn độ (Castanopsis indica)
Tầng 3: Tầng cây bụi có thành phần chủ yếu là các loài cây thuộc họ
Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cam (Rutaceae), họ Cà Phê (Rubiaceae), họ Mua (Melastomataceae), họ Nhân Sâm (Araliaceae), họ Na (Annonaceae) ở
độ cao trên 300m còn có Sặt (Arundinaria)
Thảm tươi có độ dày rậm từ 60 - 70% Thành phần chính là các loài cây
chịu bóng thuộc họ Ráy (Araceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ Loa kèn (Liliaceae), các loài Dương xỉ
I.A.1.2 Quần hệ rừng tre nứa ở địa hình thấp và núi thấp
Rừng thuần loài
Có rừng Nứa (Neohouzeana dulloa) được hình thành do rừng bị khai
thác kiệt Kiểu rừng này là những khoảnh nhỏ có diện tích 3 - 4 ha, được phân
bố ở độ cao dưới 400m.Rừng Vầu (Indosasa crassiflora) phân bố rải rác với
diện tích nhỏ hơn
Rừng hỗn giao với cây lá rộng
Đại diện là rừng Nứa (Neohouzeaua dullooa) hỗn giao cây lá rộng,
phân bố ở độ cao từ 200m - 400m Rừng này được hình thành do bị khai thác quá mức nên Nứa đã bị suy thoái, hiện nay cây Nứa có đường kính trung bình 2cm - 3cm Có một số nơi là nứa tép đường kính trung bình 1cm - 2cm Trong rừng này cây gỗ có mật độ thưa 100 - 150 cây/ha, các loài cây gỗ thường gặp:
Ba soi (Macaranga denticulate), Bồ đề trắng (Styrax tonkinensis), Chẹo (Engelhardtia roxburghiana), Dẻ gai Ấn độ (Castanopsis indica), Sổ (Dillenia indica), Gió (Rhamnoneuron balansae)…Thảm tươi có độ dày rậm
70%, thành phần chính là các loài cây chịu bóng và các loài Dương xỉ
II Lớp quần hệ rừng thưa
II.A.1.1 Quần hệ rừng thưa thường xanh cây lá rộng ở địa hình thấp và núi thấp
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 31
Đó là rừng phục hồi sau nương rẫy bỏ hóa.Rừng có 2 tầng nhưng không phân hóa rõ rệt Tầng cây gỗ cao trung bình 9 - 10m, đường kính trung bình 10 - 11cm có độ tàn che 0,5 - 0,6
Thành phần cây gỗ chủ yếu là các loài cây thường xanh: Tai chua
(Garcinia cowa), Kháo (Phoebe lanceolata.), Dẻ gai Ấn độ (Castanopsis indica), Bùng bụp nâu (Mallotus paniculatus), Chẹo (Engelhardtia roxburghiana), Bời lời (Litsea umbellata, L verticillata), Trám trắng (Canarium album), Trâm (Syzyum cinereum), Nhội (Bischofia javanica), Thị núi (Dyospyros bangoiensis)
Dưới tầng cây gỗ là cây bụi và lớp cây con tái sinh, các loài thường
gặp: Me rừng (Phyllanthus emblica), Thầu táu (Aporosa sphaerosperma), Lấu (Psychotria rubra), Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Trọng đũa (Ardisia aciphylla), Mua (Melastoma normale, Osbeckia chinensis)…
Thảm tươi thưa, chủ yếu là các loại cây ưa sáng chịu được khô hạn
như: Cỏ gừng (Panicum repens), Cỏ tranh (Imperata cylindrica), Chít (Thysanolaena maxinma), Điền an tai (Hedyotis auricularia), Guột (Dicranopteris linearis), Ráng (Diplazium mettenianum), Chân xỉ (Pteris linearis) và một số loài thuộc họ Ráy (Araceae), họ Gừng (Zigiberaceae) Có một số loài dây leo thuộc họ Đậu (Fabaceae)…
Kiểu rừng này chúng tôi đã xác định được 2 ưu hợp:
- Dẻ gai Ấn độ (Castanopsis indica) + Chẹo (Engelhardtia roxburghiana) + Kháo (Phoebe lanceolata)
- Bời lời (Litsea umbellate) + Re trắng lá to (Phoebe tavoyana) + Trám trắng (Canarium album) + Bùm bụp nâu (Mallotus paniculatus)
II.A.1.2 Quần hệ rừng thƣa rụng lá mùa khô ở địa hình thấp và núi thấp
Quần hệ này gồm các loài rụng lá về mùa khô, thời gian rụng lá từ tháng
12 năm trước đến tháng 2 năm sau, chúng tôi xác định được 2 ưu hợp sau:
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 32
- Sau sau (Liquidambar formosana) + Bồ đề (Styrax tonkinnensis) + Trôm (Sterculia lanceolata) Ưu hợp này gặp trên sườn núi, có độ cao từ
150 đến 200m Trong quần xă có một số loài như: Sau sau, Bồ đề rụng lá về mùa khô
- Bồ đề (Styrax tonkinensis) + Kháo (Phoebe lanceolata.) + Trôm (Sterculia lanceolata) Ưu hợp này thường phân bố trên sườn núi Qua điều
tra chúng tôi thấy Bồ đề trắng là loài rụng lá chiếm tỷ lệ tổ thành loài khoả
ại khoảng 20% là Kháo, Trôm và các loài cây thường xanh khác
III Lớp quần hệ cây bụi
III.A.1.1 Quần hệ cây bụi thường xanh trên đất khô
Cây bụi có cây gỗ mọc rải rác
Kiểu này được hình thành do quá trình khai thác kiệt, chặt phá rừng và chăn thả quá mức
Các loài thường gặp là Bùm bụp (Mallotus paniculata), Đom đóm (Alchornea tiliaefolia), Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Đơn nem (Ebelia perlarius), Me rừng (Phyllanthusemblica), Dẻ gai (Castanopsis sp.)
Cây bụi không có cây gỗ
Thành phần cây bụi phổ biến là: Mua (Melastoma candidum), Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Trâm (Syzygium cumini)…
IV Lớp quần hệ cỏ
IV.A.1.1 Quần hệ cỏ chịu hạn
Ưu hợp chủ yếu là Lách (Saccharum spontaneum) + Chít (Thysanolaena maxima) + Cỏ tranh (Imperata cylindrica)
Thành phần cây gỗ, cây bụi mọc rải rác là loàichịu hạn: Me rừng
(Phyllanthus emblica), Thầu táu (Aporosa dioica), Hoắc quang (Wendlandia paniculata), Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Mua (Melastoma normale), Găng (Randia spinosa)
IV.A.1.2 Quần hệ cỏ không dạng lúa