Tìm được các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng để tăng hiệu quả trong kinh doanh ngân hàng là mong muốn của tất cả các nhà kinh doanh tiền tệ khi phải đối đầu với sự cạnh t
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHÙNG THỊ HIẾU
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH SAO ĐỎ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÁI NGUYÊN, NĂM 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHÙNG THỊ HIẾU
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH SAO ĐỎ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC SƠN
THÁI NGUYÊN, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập
của tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn
Các số liệu, kết quả nêu trong bản luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phùng Thị Hiếu
Trang 4Luận văn Đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn người trực tiếp hướng dẫn
khoa học và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng năm 2015
Tác giả
Phùng Thị Hiếu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Đóng góp của đề tài luận văn 3
5 Kết cấu của đề tài 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Cơ sở lý luận về tín dụng tại các ngân hàng thương mại 4
1.1.1 Khái niệm tín dụng 4
1.1.2 Các hình thức tín dụng 4
1.1.3 Các nguyên tắc của tín dụng 7
1.2 Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại 8
1.2.1 Khái niệm 8
1.2.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng 8
1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 8
1.2.4 Phân loại rủi ro tín dụng 15
1.2.5 Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng 15
1.2.6 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng 16
1.2.7 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng 16
1.3 Quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại 18
1.3.1 Khái niệm 18
1.3.2 Mục tiêu của quản lý rủi ro tín dụng 18
1.3.3 Các nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng 20
Trang 61.3.4 Nội dung quản lý rủi ro tín dụng 21
1.4 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng trên thế giới và bài học đối với Việt Nam 39
1.4.1.Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng trên thế giới 39
1.4.2 Bài học đối với Việt Nam 43
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 44
2.2 Mô hình nghiên cứu 44
2.3 Phương pháp nghiên cứu 45
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 45
2.3.2 Phương pháp phân tích 46
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 46
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH SAO ĐỎ 48
3.1 Tổng quan về Agribank chi nhánh Sao Đỏ 48
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 48
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 51
3.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Agribank chi nhánh Sao Đỏ từ năm 2010-2014 54
3.1.4 Thực trạng hoạt động tín dụng tại Agribank Sao Đỏ 57
3.2 Thực trạng rủi ro tín dụng của Agribank chi nhánh Sao Đỏ 61
3.3 Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Sao Đỏ 64
3.3.1 Chính sách quản lý rủi ro tín dụng 64
3.3.2 Tình hình thực hiện các nội dung công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Sao Đỏ 65
3.4 Đánh giá chung về quản lý rủi ro tại Agribank chi nhánh Sao Đỏ 75
3.4.1 Kết quả đạt được trong công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Sao Đỏ 76
3.4.2 Những hạn chế 78
Trang 73.4.3 Nguyên nhân những yếu điểm trong công tác quản lý rủi ro tín
dụng tại Agribank chi nhánh Sao Đỏ 80
Chương 4 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH SAO ĐỎ 84
4.1 Định hướng và mục tiêu của Agribank chi nhánh Sao Đỏ về công tác tín dụng đến năm 2020 84
4.1.1 Định hướng phát triển kinh doanh Agribank Sao Đỏ 84
4.1.2 Định hướng phát triển công tác tín dụng tại Agribank Sao Đỏ 85
4.2 Định hướng của Agribank chi nhánh Sao Đỏ về hoàn thiện quản lý rủi ro tín dụng đến năm 2020 86
4.3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Sao Đỏ 87
4.3.1 Nâng cao chất lượng công tác thu thập, xử lý thông tin phục vụ công tác dự báo và phòng ngừa rủi ro tín dụng 87
4.3.2 Đa dạng hóa phương thức cho vay nhằm san sẻ rủi ro 89
4.3.3 Thực hiện các biện pháp phân tán rủi ro 90
4.3.4 Thực hiện biện pháp đảm bảo tiền vay 92
4.3.5 Thiết lập giải pháp quản lý nghiêm ngặt các khoản vay có vấn đề và biện pháp xử lý nợ khó đòi 94
4.3.6 Trích lập và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro 95
4.3.7 Hoàn thiện chức năng bộ phận quản lý rủi ro tại đơn vị 96
4.3.8 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định tín dụng 96
4.3.9 Nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ và giám sát khách hàng 97
4.3.10 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Chi nhánh 99
4.4 Kiến nghị 101
4.4.1 Với Agribank 101
4.4.2 Với Ngân hàng Nhà nước 105
4.4.3 Với Chính phủ 107
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
NHTM Ngân hàng thương mại
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng tính điểm đối với khách hàng cá nhân 30
Bảng 1.2 Bảng tổng hợp điểm cho khách hàng 32
Bảng 1.3 Bảng tính điểm đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 32
Bảng 1.4 Bảng xếp loại khách hàng 34
Bảng 3.1 Tình hình huy động vốn của Agribank chi nhánh Sao Đỏ 54
Bảng 3.2 Tình hình sử dụng vốn 56
Bảng 3.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 57
Bảng 3.4 Dƣ nợ tín dụng theo kỳ hạn vay 57
Bảng 3.5 Dƣ nợ cho vay theo các ngành kinh tế 59
Bảng 3.6 Dƣ nợ cho vay theo loại hình khách hàng 60
Bảng 3.7 Tình hình sử dụng vốn 61
Bảng 3.8 Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu tại chi nhánh 61
Bảng 3.9 Hệ số sử dụng vốn tại Agribank chi nhánh Sao Đỏ 62
Bảng 3.10 Thực trạng nợ xấu phân theo thành phần kinh tế ở Agribank chi nhánh Sao Đỏ 63
Bảng 3.11 Xếp hạng khách hàng theo hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Agribank 67
Bảng 3.12 Thang điểm chấm điểm khách hàng theo hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Agribank 68
Bảng 3.13 Tình hình trích lập dự phòng và xử lý RRTD ở Agribank Sao Đỏ 73
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mô hình 6 C 26
Sơ đồ 1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý RRTD của NHTM 38
Sơ đồ 2.1 Mô hình nghiên cứu quản lý RRTD 45
Sơ đồ 3.1 Bộ máy tổ chức của Agribank Sao Đỏ 50
Sơ đồ 3.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 51
Biểu đồ 3.1 So sánh tương quan giữa nguồn huy động và cho vay trung, dài hạn 62
Biểu đồ 3.2 Tình hình nợ xấu phân tích theo thành phần kinh tế ở Agribank Sao Đỏ 63
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi, mà đặc biệt là rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có phản ứng dây chuyền, lây lan và ngày càng có biểu hiện phức tạp
Trên thế giới người ta thống kê được rất nhiều loại rủi ro cố hữu trong hoạt động Ngân hàng Song được quan tâm nhất là rủi ro tín dụng bởi vì trên thực tế, phần lớn thu nhập của các NHTM là từ hoạt động kinh doanh tín dụng, hơn nữa đây lại là lĩnh vực kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro Thực tế, hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, mang lại 80-90% thu nhập của mỗi ngân hàng Rủi ro tín dụng luôn song song đồng hành với hoạt động tín dụng, không thể loại bỏ hoàn toàn mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa và giảm thiểu tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra Rủi ro tín dụng cao quá mức sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh ngân hàng
Thực tế cho thấy, môi trường kinh doanh ngân hàng trong thời gian qua ngày càng trở nên khó khăn, lãi suất trên thị trường thế giới liên tục giảm gây áp lực lên hệ thống ngân hàng Việt Nam Mặt khác,bản thân các ngân hàng trong nước cũng có sự cạnh tranh quyết liệtvới nhau nên càng gây ra nhiều khó khăn, buộc các ngân hàng phải nới lỏng các yêu cầu khi cho vay cũng như cắt giảm lãi suất sẽ tạo ra nhiều nguy cơ rủi ro trong hoạt động tín dụng Bên cạnh đó, sự cạnh tranh cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp và do đó gián tiếp ảnh hưởng đến các ngân hàng Các doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận có thể sử dụng vốn vay của ngân hàng không đúng mục đích hoặc đầu tư không hiệu quả, thu nhập không đủ bù đắp chi phí dẫn đến không thể trả được nợ ngân hàng khi đến hạn, tất cả những điều đó đều có thể gián tiếp gây ra rủi ro cho ngân
Trang 12hàng đặc biệt là rủi ro đối với hoạt động tín dụng Vì vậy, trong thời gian tới việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là thực sự có ý nghĩa và luôn là một đề tài bức xúc đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam Tìm được các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng để tăng hiệu quả trong kinh doanh ngân hàng là mong muốn của tất cả các nhà kinh doanh tiền tệ khi phải đối đầu với sự cạnh tranh quyết liệt, giành giật thị phần để mang lại lợi nhuận
Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro xảy ra trong hoạt động cho vay, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các các nghiệp vụ cấp tín dụng khác Hoạt động tín dụng tại các NHTM Việt Nam hiện nay nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Sao Đỏ nói riêng phần lớn tập trung vào hoạt động cho vay, do đó rủi
ro tín dụng chủ yếu phát sinh từ hoạt động này
Nhận thức được điều đó, cùng với mong muốn sử dụng những kiến thức đã học cũng như các kết quả quan sát học hỏi từ thực tiễn hoạt động em
đã lựa chọn đề tài nghiên cứu là: "Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Sao Đỏ"
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung: Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công
tác quản lý rủi ro tín dụng tại với Agribank chi nhánh Sao Đỏ
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại và các vấn đề liên quan
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại Agribank chi nhánh Sao Đỏ
4 Đóng góp của đề tài luận văn
Luận văn hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Sao Đỏ Đồng thời luận văn đánh giá thực trạng của quản lý rủi ro tín dụng thời gian qua và đề xuất một số giải pháp thiết thực tăng cường công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Sao
Đỏ trong điều kiện hiện nay
Cơ sở lý luận về công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Sao Đỏ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo về chủ đề có liên quan Các giải pháp đề xuất có căn cứ và tính khả thi cũng là
cơ sở và thông tin có ích với các nhà quản lý và hoạch định kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 4 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Sao Đỏ
Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Sao Đỏ
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI
RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận về tín dụng tại các ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm tín dụng
Tín dụng được hiểu chung là mối quan hệ cho vay có hoàn trả giữa hai đối tác là người cho vay và người đi vay Đó là sự dịch chuyển quyền sử dụng vốn tạm thời giữa người đi vay và người cho vay Trong quan hệ tín dụng, người vay phải trả cả gốc và lãi cho người sở hữu vốn sau một thời gian thoả thuận Quan hệ này được tạo lập dựa trên mức độ tín nhiệm của người đi vay với người cho vay (hay với ngân hàng)
Theo luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, "Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác" Tín dụng là hoạt động tài trợ của
ngân hàng cho khách hàng (hay còn gọi là tín dụng ngân hàng)
1.1.2 Các hình thức tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường thì hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú Trong quản lý tín dụng thì các nhà kinh tế ở nước ta dựa vào các tiêu thức sau để phân loại
Căn cứ vào thời hạn tín dụng: chia làm 03 loại
- Tín dụng ngắn hạn: những khoản cho vay có kỳ hạn tối đa đến 12 tháng, được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả
nợ của khách hàng
- Tín dụng trung, dài hạn: những khoản cho vay được xác định chủ yếu
để đầu tư mua sắm tài sản cố định, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô thu hồi vốn lớn Loại cho
Trang 15vay này đang ngày càng được các ngân hàng chú trọng phát triển, một mặt chúng đáp ứng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, mặt khác chúng cũng phù hợp với khả năng vốn của các ngân hàng thương mại Thời hạn cho vay trung hạn là từ 12 tháng đến 60 tháng, thời hạn cho vay dài hạn từ 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với cho vay các dự án đầu tư phục vụ đời sống
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm với khách hàng: chia làm 02 loại
- Tín dụng không bảo đảm: là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của người thứ ba, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng Ngân hàng không nắm giữ một loại tài sản nào của người vay để thanh lý nhằm thu hồi khoản vay khi có vi phạm hợp đồng mà thay vào đó là những điều kiện: phương án kinh doanh được ngân hàng đánh giá có tính khả thi, có khả năng đem lại lợi nhuận cao; doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi trong hai năm liền kề thời điểm vay vốn Khách hàng là những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả, khi đó ngân hàng dựa vào uy tín của khách hàng
mà không cần nguồn thu nợ bổ sung
- Tín dụng có bảo đảm: là hình thức tín dụng dựa trên cơ sở ngân hàng nắm giữ các tài sản thuộc sở hữu trực tiếp của người đi vay hoặc thuộc sở hữu của người bảo lãnh Các hình thức bảo đảm thường gặp là: thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh Mục đích của việc này là khi có sự vi phạm hợp đồng tín dụng ngân hàng có quyền xử lý các tài sản đó để thu hồi tiền cho vay Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn Các tài sản bảo đảm
ở đây thường là các bất động sản, động sản thuộc quyền sở hữu của bên đi vay, được phép giao dịch, không có tranh chấp, tài sản được bảo hiểm theo quy định của pháp luật
Trang 16Căn cứ vào phương thức cho vay
Theo quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng ban hành ngày 31/12/2001, ngân hàng tiến hành cho vay theo các phương thức như sau:
- Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng tiến hành thực hiện những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng Phương thức này áp dụng với những khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, sản xuất không ổn định, kinh doanh theo thời vụ, thương vụ
- Cho vay theo hợp đồng tín dụng: ngân hàng và khách hàng xác định, thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh
- Cho vay theo dự án đầu tư: ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống
- Cho vay hợp vốn: một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng Trong đó có một
tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác Ngoài ra cho vay hợp vốn còn phải thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Cho vay hợp vốn có ưu điểm là san sẻ được rủi ro song nhược điểm là nới lỏng việc kiểm soát tiền vay khách hàng
- Cho vay trả góp: khi vay vốn, ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc chưa được chia ra để trả
nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: khách hàng và ngân hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định Việc cho vay và thu nợ đan xen nhau, không phân định ranh giới, thời điểm cụ thể lúc nào cho vay, lúc nào thu nợ Phương thức này áp dụng đối với các khách hàng có nhu cầu vay trả thường xuyên, tình hình kinh doanh ổn định, vòng quay vốn nhanh và có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng
Trang 17- Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn
để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các
dự án đầu tư phục vụ đời sống
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ
và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy định tại Quy chế cho vay và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay
Trang 181.2 Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm
Đã có rất nhiều cách tiếp cận về rủi ro dưới rất nhiều góc độ khác nhau
và thống nhất ở quan điểm “Rủi ro là khả năng có thể xảy ra các biến cố không lường trước và thường gây ra các hậu quả xấu” Rủi ro luôn xuất hiện
bất ngờ và đe dọa sự sống còn của doanh nghiệp Thường thì những hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận càng cao thì ẩn chứa rủi ro càng lớn, mâu thuẫn này luôn tồn tại Do vậy muốn có lợi nhuận càng cao thì cần phải chấp nhận rủi ro có thể xảy ra để tìm biện pháp hạn chế, phòng ngừa nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của các
tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
1.2.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng
- Rủi ro tín dụng mang tính chất gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng thì ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn tiền tệ cho khách hàng trong một thời gian nhất định, vì thế những thiệt hại cũng như thất thoát về vốn xảy ra trước hết là từ việc sử dụng vốn của ngân hàng
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện
ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng
- Rủi ro tín dụng mang tính chất tất yếu, nó luôn gắn liền với hoạt động tín dụng cảu ngân hàng thương mại
1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Quản lí rủi ro tín dụng cần xác định những nguyên nhân cụ thể, xác thực gây rủi ro tín dụng để có biện pháp hạn chế
Trang 191.2.3.1 Những nguyên nhân thuộc về ngân hàng
Có nhiều yếu tố gây ra rủi ro tín dụng mà nguyên nhân thuộc về ngân hàng, có thể kể ở đây một số nguyên nhân như sau:
Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: Tùy theo chiến lược kinh doanh
cụ thể mà mỗi ngân hàng đưa ra các mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau, ví dụ ngân hàng A có thể chấp nhận một mức độ rủi ro cao hơn nhằm thu được một mức lợi nhuận kỳ vọng cao hơn hoặc một thị phần lớn hơn, trong khi đó, một Ngân hàng B chỉ chấp nhận một tỷ lệ rủi ro nhỏ mặc dù các khoản lợi nhuận kỳ vọng chỉ ở mức trung bình, song có độ an toàn cao hơn so với ngân hàng A
Bản chất và mức độ phức tạp của các hoạt động ngân hàng: Các
hoạt động ngân hàng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn, mang lại nhiều lợi nhuận hơn song mức độ rủi ro còn cao hơn Tùy thuộc vào mức độ phức tạp của các hoạt động ngân hàng mà xác định được khả năng chấp nhận rủi ro của mình Ngân hàng tiến hành mở rộng hay đưa ra một sản phẩm tín dụng mới phải phù hợp về mức độ tin cậy đối với khả năng trả nợ của người vay Các rủi ro trong từng sản phẩm mang tính chất dặc thù riêng biệt, do đó ngân hàng cần xác định các rủi ro thông qua bản chất của từng sản phẩm và thực hiện biện pháp hạn chế rủi ro tốt nhất theo các tiêu chuẩn cho từng loại
Áp lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng: Hiện nay khi các ngân
hàng đang bước vào cuộc cạnh tranh gay gắt và quyết liệt, các khoản tín dụng được chấp nhận dễ dàng hơn nhằm tăng thêm thị phần cho ngân hàng song cũng đem lại nhiều rủi ro hơn
Mức độ tập trung của danh mục tín dụng: Mức độ tập trung trong
danh mục tín dụng theo các đặc thù riêng trực tiếp ảnh hưởng đến rủi ro của danh mục tín dụng Một khoản vay mang một đặc điểm bất lợi nào đó sẽ có khả năng gây ra thất thoát trầm trọng hơn nếu ngân hàng có mức độ tập trung cao vào các khỏan cho vay có cùng các đặc điểm này Ngân hàng có thể hạn chế các rủi ro do tập trung trong danh mục tín dụng bằng cách thường xuyên
Trang 20đánh giá rủi ro trong từng thị trường, trong từng ngành, từng vị trí địa lí, sản phẩm và hình thức thế chấp, loại tiền tệ và hình thức đáo hạn, từ đó bảo đảm duy trì một danh mục tín dụng đa dạng
Các hệ thống đánh giá và quản lý rủi ro tín dụng chưa đạt được yêu
cầu về sự tổng hợp, chặt chẽ, thống nhất và hợp lý
Do bản thân các ngân hàng khi phát sinh các khoản nợ xấu thường
không phản ánh vào tài khoản và chuyển thành nợ khó đòi vì như vậy sẽ ảnh hưởng tới thành tích của ngân hàng, khiến cho bảng cân đối “không đẹp” Điều này dẫn tới việc ngân hàng tiếp tục gia hạn cho khách hàng nhiều lần, cho phép khách hàng đảo nợ và dẫn đến việc không thực hiện thu nơ đúng theo hợp đồng tín dụng
Hệ thống thông tin chưa đầy đủ, cập nhật và chính xác khiến cho quá
trình đánh giá rủi ro gặp rất nhiều khó khăn
Ngân hàng chưa có được thông tin đầy đủ về toàn bộ thị trường của khách hàng
Ngân hàng không có những kênh thông tin chính xác để kiểm tra về khách hàng như thông qua các ngân hàng khác, thông qua các khách hàng khác, thông qua báo chí và các cơ quan có liên quan… Ngân hàng không đánh giá được chính xác mối quan hệ đã và đang có của doanh nghiệp đối với các định chế tài chính khác, mà chủ yếu là các ngân hàng thương mại khác do các doanh nghiệp có thể vay cùng một lúc nhiều ngân hàng (doanh nghiệp đang vay cụ thể bao nhiêu, của những tổ chức nào, đã trả nợ được bao nhiêu, chưa trả nợ hoặc quá hạn bao nhiêu…)
Xuất phát từ cán bộ tín dụng
Do sai sót khi thực hiện quy trình cho vay
Rủi ro tín dụng có thể phát sinh khi thực hiện qui trình cho vay Những thao tác nghiệp vụ cho vay không đầy đủ, sai sót với qui trình đã đề ra có thể gây ra rủi ro cho ngân hàng như sau:
Trang 21Không tuân thủ đầy đủ nội dung của qui trình cho vay
Điều này dẫn đến rủi ro rất lớn cho ngân hàng Trong đó có những nguyên nhân chủ yếu sau:
Việc thẩm định, đánh giá về khách hàng không chính xác
Đây là nguyên nhân chủ yếu Việc thẩm định khách hàng không chuẩn xác có thể bắt nguồn từ việc thu thập thông tin khách hàng không đầy đủ, kỹ lưỡng trong quá trình thẩm định hồ sơ vay vốn Cán bộ tín dụng có thể thu thập không đầy đủ hoặc không phát hiện ra những điểm bất hợp lý trong thông tin của khách hàng cung cấp, điều này sẽ dẫn đến quyết định cho vay sai Mặt khác, dữ liệu phải luôn thường xuyên được cập nhật, phản ánh thay đổi về tình hình tài chính, nhân thân…của khách hàng trong quá trình trong
và sau khi cho vay Nếu không, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro nếu khách
hàng gặp bất lợi, lúc đó khó có thể xoay chuyển được tình thế cho ngân hàng
Việc thẩm định không chính xác cũng có thể dẫn đến việc đưa ra mức cho vay không phù hợp, cao hơn hoặc thấp hơn nhu cầu thực sự, khả năng trả
nợ của khách hàng, không dựa trên mức độ rủi ro của khách hàng cũng như tính hiệu quả, khả thi, mức độ rủi ro của dự án, phương án…sẽ đặt món vay đó vào tình trạng rủi ro cao Đồng thời, không khuyến khích được khách hàng cân nhắc kỹ trước khi ra quyết định đầu tư Kết quả của việc thẩm định, đánh giá khách hàng còn thể hiện ở việc cấp giới hạn tín dụng cho khách hàng Do đó, nếu đánh giá mức độ rủi ro không phù hợp sẽ làm tăng rủi ro cho ngân hàng
Công tác kiểm soát sau chưa được chú trọng
Công tác kiểm soát sau cho vay có vai trò rất quan trọng, việc phát hiện
ra dấu hiệu rủi ro của món vay chủ yếu nằm trong khâu này Nội dung mấu chốt của việc kiểm soát sau là kiểm soát dòng tiền của công ty (sau khi bán hàng, xuất kho), kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng mục đích không, kiểm tra tình trạng tài sản đảm bảo…Thông qua nội dung kiểm tra này, cán bộ tín dụng có thể phát hiện dấu hiệu có vấn đề trong khoản vay
Trang 22Việc chủ quan, lơ là, không quan tâm đến việc kiểm soát sau có thể dẫn đến các khoản vay có vấn đề thực sự Lúc ấy sẽ là quá muộn đề có thế loại bỏ được rủi ro tín dụng cho ngân hàng
Các quyết định liên quan đến việc cho vay không chính xác như: định
kỳ hạn, thời hạn trả nợ của khách hàng, nếu xác định không đúng đắn, không khoa học, có thể dẫn đến nợ quá hạn, nợ bị cơ cấu thời hạn, kỳ hạn trả nợ (kỳ hạn, thời hạn trả nợ không phù hợp với chu kỳ kinh doanh, nguồn trả nợ của khách hàng), từ đó phát sinh các khoản nợ bị rủi ro (do khách hàng không trả nợ đúng hạn)
Việc cho vay đưa ra chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo
Thực tế, nhiều quyết định cho vay lại được dựa trên lý do chính là tài sản đảm bảo (chủ yếu là bất động sản), trong khi các điều kiện quan trọng khác bị
bỏ qua như tính hiệu quả của phương án, tình hình tài chính, nhân thân của khách hàng Điều này đưa ngân hàng vào tình trạng rủi ro cao Thực tế, tài sản đảm bảo chỉ là "cứu cánh cuối cùng" của khoản nợ nhưng cũng chưa đảm bảo
là giải pháp tối ưu nhất để thu hồi nợ vì biến động của giá trị tài sản đảm bảo, nếu tại thời điểm phát mại tài sản để thu hồi nợ, bất động sản đó bị giảm giá trị thì số tiền thu hồi về thậm chí không đủ trả gốc cho ngân hàng Ngoài ra, tính pháp lý của tài sản như: tư cách pháp lý người bảo lãnh, người thế chấp không đảm bảo…cũng là một nguyên nhân gây rủi ro cho ngân hàng
Sự yếu kém tư cách đạo đức của cán bộ tín dụng và hạn chế trong trình
độ chuyên môn, năng lực làm việc của cán bộ Sự hạn chế trong việc điều hành hoạt động cho vay của lãnh đạo
Cán bộ tín dụng không đủ năng lực, trình độ để thẩm định món vay dẫn đến việc không phát hiện ra sự thiếu trung thực, chính xác, bất hợp lý trong thông tin của khách hàng cung cấp, từ đó, nhận định và đưa ra quyết định sai Ngoài ra, sự yếu kém trong quá trình kiểm soát sau, cán bộ cũng không phát hiện ra dấu hiệu bất thường, rủi ro cho khoản vay, không kiểm soát được dòng
Trang 23tiền đi ra từ ngân hàng…Đây là một nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng
Rủi ro đạo đức phát sinh khi cán bộ ngân hàng lợi dụng khách hàng trong quá trình tác nghiệp Thực tế, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nhiều cán bộ tín dụng có quan hệ mờ ám với khách hàng, bị khách hàng mua chuộc Mặc dù khách hàng không đủ tư cách hay điều kiện vay vốn những cán bộ tín dụng vẫn chấp nhận cho vay Việc cán bộ tín dụng móc ngoặc với khách hàng để đảo nợ, vay ké; hay cấp trên, do trục lợi nên ép buộc cấp dưới phải cho vay khách hàng đều đưa ngân hàng vào trình trạng gặp rủi ro tín dụng
Ngoài ra, sự thiếu năng lực điều hành hoạt động kinh doanh trong đó
có hoạt động tín dụng cũng dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng Sự hạn chế trong năng lực điều hành dẫn đến việc phổ biến chủ trương, qui định của ngân hàng về tín dụng, định hướng hoạt động cho vay, giám sát việc thực hiện qui trình cho vay, tuyển dụng cán bộ tín dụng…không được thực hiện tốt sẽ là một trong những lý do dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng
1.2.3.2 Những nguyên nhân thuộc về khách hàng
Những nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ năng lực quản lí của khách hàng, bao gồm:
Khả năng quản lí trong lĩnh vực kinh doanh của khách hàng không tốt dẫn đến những thua lỗ và không có khả năng trả nợ cho ngân hàng
Sự yếu kém trong việc tính toán những bất trắc có thể xảy ra trong tương lai của khách hàng hoặc do họ quá mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao
Sự không minh bạch về tài chính của khách hàng gây khó khăn cho ngân hàng trong việc đánh giá rủi ro
Tính thanh khoản không cao trong các hoạt động của khách hàng, khiến cho nguồn vốn thu hồi chậm và không hiệu quả
Trang 24Những thay đổi bất ngờ trong tổ chức nội bộ của khách hàng mà ngân hàng không kiểm soát được
Những nguyên nhân xuất phát từ sự không tuân thủ các điều kiện trong hợp đồng tín dụng mà khách hàng đã kí với ngân hàng, bao gồm:
Sự cố ý của khách hàng trong việc gian lận nhằm lừa đảo ngân hàng Khách hàng sử dụng khoản vay không đúng với mục đích ban đầu khi xin cấp tín dụng
Sự cố ý không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn của khách hàng nhằm sử dụng được vốn vay trong thời gian lâu dài hơn Trong thực tế, nguyên nhân này có thể mang tính khách quan nhiều hơn, trong trường hợp doanh nghiệp chưa thu được tiền đúng thời hạn phải chi trả cho ngân hàng Đây không phải
là do hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không có hiệu quả mà chỉ đơn thuần là vấn đề thời gian không phù hợp Trong trường hợp này ngân hàng phải xem xét kỹ và có thể gia hạn cho doanh nghiệp để tạo điều kiện cho họ thanh toán nợ đầy đủ cho ngân hàng
Đối với từng khách hàng khác nhau thuộc các ngành nghề khác nhau thì mức độ rủi ro cũng khác nhau Trong chiến lược kinh doanh của NHTM, việc lựa chọn các khách hàng mục tiêu và ngành nghề mục tiêu là một việc làm thiết yếu Sự tồn tại của các ngân hàng gắn liền với sự tồn tại và sự phát triển của khách hàng hay ngành nghề mà ngân hàng cấp tín dụng Đối với những đối tượng khách hàng mục tiêu ngân hàng cần có những nghiên cứu sâu rộng về ngành hàng, tình hình thị trường cũng như khả năng phát triển trong tương lai
1.2.3.3 Những nguyên nhân khách quan
Những nguyên nhân khách quan tác động tới người vay, làm họ mất khả năng thanh toán cho ngân hàng Ví dụ: thiên tai, chiến tranh hoặc những thay đổi tầm vĩ mô (thay đổi chính phủ, chính sách kinh tế, hàng rào thuế quan…) vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay
Trang 25Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tục tới người vay tạo thuận lợi hay khó khăn với người cho vay Nhiều người vay với bản lĩnh của mình có khả năng dự báo, thích ứng hoặc khắc phục những tổn thất khó khăn Trong những trường hợp khác người vay có thể tổn thất song vẫn
có khả năng trả nợ đúng hạn cho ngân hàng cả gốc và lãi Tuy nhiên, khi tác động của nguyên nhân bất khả kháng đối với người vay là nặng nề, khả năng trả nợ của họ bị suy giảm
1.2.4 Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro danh mục (Portfolio risk) và rủi ro giao dịch (transaction risk)
- Rủi ro danh mục được phân ra hai loại: rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk)
+ Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế
+ Rủi ro tập trung là mức dư nợ cho vay được dồn cho một số khách hàng, một số ngành kinh tế hoặc một số loại cho vay hoặc một khu vực địa lý
- Rủi ro giao dịch có ba thành phần: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến thẩm định và phân tích tín dụng + Rủi ro bảo đảm xuất phát từ các tiêu chuẩn bảo đảm
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay
1.2.5 Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
- Dấu hiệu về khoản vay của khách hàng như: khách hàng trả không đầy đủ gốc lãi hoặc trả không đúng hạn, khách hàng có nhu cầu điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc xin gia hạn nợ, chu kì vay tăng
- Các dấu hiệu liên quan đến khách hàng vay như: sự yếu kém về trình độ
và cách thức tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh, nhân sự của khách hàng; tình hình tài chính của khách hàng gặp khó khãn; xuất hiện các rủi ro cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng; cơ cấu vốn không hợp lý, sử dụng
Trang 26vốn sai mục đích; sự vi phạm pháp luật của khách hàng; sự biến động bất lợi của giá trị tài sản đảm bảo (nhất là bất động sản)…, khách hàng sử dụng tiền vay không đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng…Các dấu hiệu do môi trường kinh tế vĩ mô biến động bất lợi cũng là những dấu hiệu rủi ro tín dụng
1.2.6 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng
Ngân hàng thường sử dụng các chỉ tiêu để đo lường rủi ro tín dụng như:
tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, tỷ lệ các khoản nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ cho vay trong kỳ và một số chỉ tiêu khác để đánh giá rủi ro tín dụng như: tính đa dạng hoá của tài sản, lập
hồ sơ khách hàng, chấm điểm khách hàng, đặt giá đối với các khoản vay…
1.2.7 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
1.2.7.1 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thương mại
* RRTD làm giảm lợi nhuận ngân hàng: Những khoản tín dụng gặp rủi
ro sẽ gây cho NHTM những thiệt hại rất lớn về mặt tài chính Bởi vì rủi ro không chỉ làm cho NHTM không có lãi, mà còn làm cho ngân hàng mất một khoản vốn rất lớn, rất khó khăn để bù đắp lại Thậm chí, phần vốn rủi ro không sinh lợi cũng làm cho ngân hàng thua lỗ phần lãi huy động, lỗ chi phí huy động, hậu quả là làm giảm lợi nhuận của các NHTM Khi ngân hàng lâm vào tình thế mất vốn, RRTD có thể làm NHTM phá sản
RRTD cũng làm chậm quá trình chu chuyển vốn của các NHTM Trong trường hợp may mắn, khi ngân hàng thu được lãi hay nợ quá hạn, thì RRTD cũng làm ngân hàng mất cơ hội đầu tư vào những dự án khả thi, có khả năng mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
* RRTD làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng: RRTD đã
khiến cho việc hoàn trả tiền gửi của ngân hàng gặp khó khăn Các khoản đầu
tư, cho vay bị thất thoát, chậm thu hồi đều ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng, thông qua đó làm giảm mức tín nhiệm của NHTM
Trang 27* RRTD làm giảm uy tín của ngân hàng: RRTD đã làm giảm uy tín của
ngân hàng và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng NHTM gặp nhiều rủi ro là ngân hàng hoạt động kém hiệu quả Điều này đã làm cho
uy tín của ngân hàng bị giảm sút Đây là một vấn đề rất tệ hại, khách hàng mất lòng tin ở ngân hàng, họ sẽ không gửi tiền vào ngân hàng, thậm chí họ có thể còn rút lại những khoản tiền đã gửi Tình thế này vừa gây khó khăn cho việc huy động vốn của ngân hàng, vừa làm giảm quy mô hoạt động của ngân hàng NHTM gặp rủi ro cũng sẽ làm mất lòng tin đối với các ngân hàng bạn, ngân hàng nước ngoài nên rất khó có thể nhận được những khoản tín dụng từ phía họ khi cần thiết Ngoài ra, ngân hàng không có uy tín sẽ khó có thể có các quan hệ đại lý tin cậy làm cầu nối trong thanh toán quốc tế, do đó khó phát triển các dịch vụ của ngân hàng
* RRTD là nguy cơ dẫn đến phá sản ngân hàng: Ngân hàng gặp RRTD
đã làm giảm sút lòng tin của khách hàng giao dịch, đặc biệt là lòng tin của dân chúng Họ lo sợ bị mất những khoản tiền đã gửi và sẽ đến rút tiền để tìm cơ hội đầu tư có lợi hơn ở một ngân hàng khác Trong trường hợp nghiêm trọng, khi có quá nhiều người đến rút tiền tại cùng một thời điểm thì ngân hàng sẽ không đủ tiền mặt để thanh toán, làm cho khách hàng tin rằng ngân hàng có nguy cơ phá sản và sẽ đổ xô đến rút tiền, kết cục làm ngân hàng phá sản thực sự
1.2.7.2 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế
* RRTD có thể gây ra hậu quả đối với hệ thống tài chính quốc gia:
NHTM là một bộ phận, có thể nói là bộ phận quan trọng nhất, trong hệ thống tài chính quốc gia, có chức năng không chỉ kinh doanh tiền tệ, mà còn đảm bảo sự lưu thông bình thường của dòng tiền tệ phục vụ quá trình tái sản xuất
xã hội trôi chảy Nếu một NHTM lớn gặp rủi ro, dẫn đến mất khả năng thanh toán, thì tình trạng đó của ngân hàng có thể tác động xấu không chỉ đối với bản thân ngân hàng, mà còn đến khách hàng của ngân hàng và các ngân hàng
Trang 28khác, tạo ra phản ứng tiêu cực dây chuyền cho nền kinh tế Chính vì thế, ngân hàng trung ương của tất cả các nước đều có chính sách buộc các NHTM phải đảm bảo an toàn ở mức độ nhất định nhằm giảm tác động tiêu cực của rủi ro
từ một ngân hàng tới nền kinh tế
* RRTD có thể gây hậu quả tiêu cực tới đời sống xã hội: RRTD có thể gây ra hậu quả tiêu cực tới mọi đối tượng trong xã hội, thậm chí khởi đầu cho chu kỳ lạm phát mới, làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp, gây tâm lý hoang mang, tạo môi trường cho các tệ nạn xã hội phát triển RRTD làm giảm lòng tin của quần chúng vào sự lành mạnh và vững chắc của hệ thống tài chính quốc gia, vào chính sách tiền tệ của nhà nước, dẫn đến khuynh hướng tiêu dùng và tích luỹ cho đầu tư không hiệu quả
1.3 Quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm
Nội dung quản lý rủi ro tín dụng có thể hiểu là bao gồm các giải pháp được các ngân hàng thực hiện nhằm hạn chế những khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cho vay của ngân hàng Quản lý rủi ro là quá trình xây dựng
và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.3.2 Mục tiêu của quản lý rủi ro tín dụng
Khi thực hiện quản lý tốt rủi ro tín dụng, ngân hàng sẽ đạt được những mục tiêu sau:
1.3.2.1 Tăng lợi nhuận
Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ phát sinh các khoản nợ khó thu hồi Ảnh hưởng trước mắt của nó đến hoạt động ngân hàng là sự ứ đọng vốn dẫn đến làm giảm vòng quay vốn của ngân hàng Mặt khác, khi có quá nhiều các khoản nợ khó hoặc không thu hồi được sẽ lại phát sinh các khoản chi phí quản lý, giám sát, thu nợ… Các chi phí này còn cao hơn khoản thu nhập từ việc tăng lãi suất các khoản nợ quá hạn bởi vì thực ra đây chỉ là những khoản thu nhập ảo, thực tế ngân hàng rất khó có khả năng thu hồi đầy đủ được chúng Bên cạnh đó, ngân
Trang 29hàng vẫn phải trả lãi cho các khoản tiền huy động được trong khi một bộ phận tài sản của ngân hàng không thu được lãi cũng như không chuyển được thành tiền để cho người khác vay và thu lãi Do đó khi làm tốt công tác quản lí rủi ro tín dụng ngân hàng sẽ đảm bảo được mục tiêu tăng lợi nhuận
1.3.2.2 Đảm bảo khả năng thanh toán
Ngân hàng thường lập kế hoạch cân đối dòng tiền ra (trả lãi và gốc tiền gửi, cho vay, đầu tư mới…) và dòng tiền vào (tiền nhận gửi, tiền thu nợ gốc
và lãi cho vay…) tại các thời điểm trong tương lai Khi các món vay không được thanh toán đầy đủ và đúng hạn sẽ dẫn đến sự không cân đối giữa hai dòng tiền Các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm của khách hàng vẫn phải thanh toán đúng kì hạn trong khi các khoản tiền vay của khách hàng lại không được hoàn trả đúng hẹn Nếu ngân hàng không đi vay hoặc bán các tài sản của mình thì khả năng chi trả của ngân hàng sẽ bị suy yếu và hạn chế, ngân hàng
sẽ gặp khó khăn trong khâu thanh toán Quản lý rủi ro tín dụng tốt ngân hàng
sẽ đảm bảo được lượng tiền mặt trong thanh toán
1.3.2.3 Đảm bảo uy tín
Nếu tình trạng mất khả năng chi trả tái diễn nhiều lần hay những thông tin về rủi ro tín dụng của ngân hàng bị tiết lộ ra công chúng, uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính sẽ bị giảm sút Hậu quả là khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường sẽ yếu đi, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc huy động tiền gửi của dân cư và thiết lập giao dịch với các doanh nghiệp, ngân hàng khác Các ngân hàng hoạt động trong nền kinh tế thị trường khi đã để mất niềm tin của khách hàng thì việc khôi phục lại được là điều hết sức khó khăn Như vậy quản lý rủi ro tín dụng tốt sẽ giúp ngân hàng tạo được uy tín tốt đối với khách hàng của mình Khiến họ tự tin và yên tâm khi gửi tiền tại ngân hàng
Trang 30Khi ngân hàng làm tốt quản lý rủi ro tín dụng sẽ đem lại cho khách hàng tranh được một số tình huống xấu như sau: Không phải đem trả thêm tiền lãi phạt do nợ quá hạn, ngoài ra, khi ngân hàng không thu được nợ của khách hàng đầy đủ và đúng hạn, đây sẽ là dấu hiệu xấu nói lên hoạt động kinh doanh yếu kém không hiệu quả của khách hàng và làm giảm uy tín của khách hàng đối với ngân hàng Họ sẽ gặp nhiều khó khăn khi muốn tiếp tục xin vay tại ngân hàng những lần sau đó Mặt khác, do hệ thống thông tin về khách hàng giữa các ngân hàng ngày càng được cập nhật và phát triển, họ cũng sẽ khó tiếp cận được với nguồn vốn vay từ các ngân hàng khác Đồng thời, các bạn hàng của doanh nghiệp cũng sẽ do dự khi thiết lập quan hệ kinh tế với doanh nghiệp Thậm chí các chủ nợ khác của doanh nghiệp cũng sẽ đến dòi
nợ doanh nghiệp dù các món nợ chưa đến hạn Dù doanh nghiệp có thể thanh toán được tất cả các món nợ đó thì uy tín của doanh nghiệp trên thương trường vẫn bị suy giảm
1.3.3 Các nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng
Quản lý rủi ro tín dụng dựa trên hàng loạt các nguyên tắc, trong đó bao gồm các nguyên tắc cơ bản như:
1.3.3.1 Nguyên tắc chấp nhận rủi ro
Các nhà quản lý cần phải chấp nhận rủi ro ở mức cho phép nếu như muốn
có được thu nhập phù hợp từ hoạt động tín dụng của mình Bởi muốn loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là điều không thể, trừ phi ngân hàng không cho vay dối với bất kỳ khách hàng nào Do đó, nguyên tắc đầu tiên trong quá trình quản lý rủi ro tín dụng là phải nhận biết rủi ro cho phép Việc chấp nhận ở mức độ rủi ro tín dụng chính là điều kiện quan trọng để diều tiết những tác động tiêu cực của chúng trong quá trình quản lý rủi ro
1.3.3.2 Nguyên tắc điều hành rủi ro ở mức cho phép
Trang 31Nguyên tắc này đòi hỏi phần lớn rủi ro tín dụng trong mức rủi ro cho phép phải được điều hành sao cho hạn chế nó ở mức tối thiểu Theo nguyên tắc chấp nhận rủi ro, rất khó hoặc hầu như không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng do đó nguyên tắc này đòi hỏi các nhà quản lý hạn chế rủi ro tín dụng ở mức tối đa
1.3.3.3 Nguyên tắc quản lý độc lập rủi ro tín dụng với các loại rủi ro khác trong ngân hàng
Nhìn chung, sự thiệt hại đối với ngân hàng do các loại rủi ro khác nhau gây lên là khá độc lập nhau nên quá trình quản lý chúng phải được điều tiết cách biệt, không thể gộp các loại rủi ro khác nhau vào một nhóm để đưa ra cùng một phương án điều hành
1.3.3.4 Nguyên tắc phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng
Hệ thống quản lý rủi ro tín dụng cần phải dựa trên nền tảng những tiêu chí chung của chiến lược phát triển ngân hàng cũng như các chính sách điều hành hoạt động của ngân hàng
Trên đây là 4 nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng cơ bản từ đó ngân hàng xây dựng một chính sách quản lý rủi ro tín dụng riêng biệt Chính sách quản
lý rủi ro của ngân hàng, đặc biệt là chính sách quản lý rủi ro tín dụng phải được xem như là một phần trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng
1.3.4 Nội dung quản lý rủi ro tín dụng
Với các tiếp cận quản lý rủi ro nêu trên, nội dung chính của quản lý rủi
ro tín dụng bao gồm 04 bước chính: Nhận diện rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro tín dụng Các hoạt động này thực hiện liên tiếp nhau, tạo thành một quy trình chặt chẽ
1.3.4.1 Nhận diện rủi ro tín dụng
Nhận diện rủi ro tín dụng là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng có thể gây ra rủi ro tín dụng Nhận diện rui ro tín dụng bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi
Trang 32trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng để thống kê mọi nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, qua đó có các biện pháp phù hợp giảm thiểu rủi ro tín dụng RRTD là một hiện tượng khó nhận biết và rất phức tạp, gắn liền với hoạt động của cả ngân hàng lẫn khách hàng và môi trường Trong quản lý RRTD, việc nhận biết và đánh giá đầy đủ RRTD là rất quan trọng, vì nó xác định đúng thời điểm RRTD xảy ra và giúp NHTM xử lý kịp thời Tuy nhiên, nhận biết RRTD là công việc rất khó thực hiện, bởi các hình thức RRTD xảy ra trong các tình huống không giống nhau, nên không thể có mô hình chung về nhận biết RRTD Tuy nhiên, trong chừng mực có thể, các NHTM cố gắng xây dựng một số dấu hiệu nhận biết RRTD điển hình nhằm hỗ trợ hoạt động quản lý RRTD Có thể liệt kê một số dấu hiệu sau:
a Các dấu hiệu từ người vay vốn
* Doanh nghiệp vay vốn trì hoãn nộp các báo cáo tài chính: Báo cáo
tài chính là tài liệu quan trọng dùng để thẩm định cho vay, là cơ sở trực tiếp
để đánh giá việc vay vốn, sử dụng vốn của ngân hàng Vì báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Báo cáo lỗ, lãi ) có mối quan hệ mật thiết với hiệu quả sử dụng khoản cho vay, cho nên NHTM đòi hỏi người vay phải xuất trình báo cáo tài chính kèm theo các tài liệu vay vốn trong suốt thời gian vay vốn của ngân hàng Việc chậm trễ trong xây dựng hoặc gửi báo cáo định kỳ của doanh nghiệp nói lên tình hình tài chính doanh nghiệp có vấn đề phải xem xét, có thể là người vay gặp khó khăn hoặc gian dối về tài chính, do đó ngân hàng phải tiến hành kiểm tra, phân tích và kết luận cụ thể xem có RRTD hay không để xử lý kịp thời
*Mối quan hệ không bình thường giữa ngân hàng và người vay: Trong
nền kinh tế thị trường, quan hệ giữa NHTM và người vay là mối quan hệ hợp đồng kinh doanh, bình đẳng, thoả thuận trên cơ sở ngân hàng trao cho người vay sử dụng vốn của mình với những điều kiện ràng buộc nhất định Một trong những ràng buộc đó là người vay phải cung cấp thông tin về thực thi
Trang 33những cam kết của mình NHTM cũng tiến hành những hoạt động kiểm soát trực tiếp và gián tiếp việc sử dụng vốn vay với sự hợp tác nhất định của người vay Sự chậm trễ, hoặc thất hẹn, hoặc trốn tránh các giao tiếp bình thường với NHTM chứng tỏ hoạt động sử dụng vốn vay của người vay có yếu tố không bình thường, có thể người vay đang gặp tình trạng sản xuất, kinh doanh khó khăn, hoặc tài chính có vấn đề Đây là dấu hiệu để NHTM tăng cường cảnh giác và phải tìm hiểu rõ ràng xem thực chất sự bất thường này là gì, nếu như
có khả năng xảy ra rủi ro thì còn kịp thời xử lý
*Tình hình dự trữ vật tư hàng hoá của doanh nghiệp vay vốn: Vật tư
hàng hoá nói chung và vật tư hàng hoá tạo ra từ tiền vay nói riêng đều được coi như vật đảm bảo cho tiền vay trực tiếp, là cơ sở để vốn vay ngân hàng phát huy hiệu quả kinh tế Do đó, dự trữ vật tư hàng hoá là việc làm cần thiết cho sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, nếu dự trữ vật tư hàng hoá quá lớn thì doanh nghiệp
sẽ bị ứ đọng vốn, giảm khả năng thanh toán Đặc biệt, nếu hàng hoá tồn lâu dài thì
là bằng chứng cho sức cạnh tranh của doanh nghiệp kém, có khả năng dẫn khách hàng đến thua lỗ, làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng
* Chất lượng hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp vay vốn có vấn
đề: Chất lượng hàng hoá, dịch vụ là kết quả của quá trình tổ chức sản xuất
kinh doanh, nên có thể coi là tiêu thức đánh giá sự thành công hay thất bại của người kinh doanh Tuy nhiên, chất lượng hàng hoá phải phù hợp với thị trường, được thị trường chấp nhận và có khả năng cạnh tranh cao Nếu chất lượng hàng hoá kém, không phù hợp thị hiếu đương nhiên khó có khả năng tiêu thụ, dẫn đến không có khả năng thu hồi vốn, không thực hiện được các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp Nhất là trong trường hợp doanh nghiệp bị gặp rắc rối hoặc tranh chấp và kiện tụng về chất lượng hàng hoá, dịch vụ thì nguy cơ suy giảm tài chính sẽ thấy rõ Các doanh nghiệp trong tình trạng này không thể trả nợ đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng và tất nhiên NHTM sẽ gặp RRTD
Trang 34* Khách hàng vay vốn ngân hàng giảm bất thường giá bán hàng hoá:
Khách hàng chỉ giảm giá bán hàng hoá trong các trường hợp: Giảm chi phí, các mặt hàng cùng loại giảm, khách hàng rất khó khăn về tài chính Khi có dấu hiệu này, ngân hàng phải tiến hành kiểm tra xem xét, nếu khách hàng rất khó khăn về tài chính sẽ dẫn đến khó trả nợ cho ngân hàng
* Sự thay đổi bất thường tổ chức hoạt động của khách hàng vay vốn:
Sự thay đổi này bao gồm thay đổi các nhà quản lý (cách chức, từ chức, chuyển công tác, ), hoặc tình trạng người lao động thiếu việc làm, hoặc bán các tài sản để giải quyết nhu cầu tài chính, đều được coi như các dấu hiệu rõ nét để nhận biết RRTD Bởi vì, thường các doanh nghiệp có những khó khăn
về sản xuất kinh doanh và tài chính mới xuất hiện tình trạng đó và điều này dẫn đến việc trả nợ của khách hàng sẽ gặp khó khăn
* Đối tác của khách hàng bị rủi ro, bị phá sản hoặc bị truy tố: Nếu đối
tác của khách hàng bị rủi ro thì nguy cơ rủi ro của khách hàng là rất lớn, dẫn đến rủi ro cho ngân hàng
* Hoàn trả nợ vay ngân hàng không đúmg kỳ hạn: Thực hiện nghĩa vụ
trả nợ vay ngân hàng theo thời hạn được coi như là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng Các trường hợp trả nợ vay chậm đều được coi là dấu hiệu cơ bản của RRTD, cho dù do nguyên nhân chủ quan hay khách quan Bởi vì, mục đích cuối cùng và cơ bản nhất là ngân hàng phải thu hồi đầy đủ vốn và lãi theo thời hạn Việc không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ nợ cũng đồng nghĩa với RRTD
* Xuất hiện tình trạng vay vốn ở nhiều ngân hàng: Thông thường, khách
hàng chỉ muốn giao dịch ở một số ngân hàng tốt nhất Tuy nhiên, trong trường hợp kinh doanh gặp khó khăn, không thể trả nợ ngân hàng đầy đủ và đúng hạn, nên khách hàng đã vay nhiều ngân hàng để đảo nợ cho nhau và lẩn tránh sự kiểm soát của ngân hàng Vì thế, tình trạng khách hàng vay vốn của nhiều ngân hàng,
kể cả các ngân hàng không quen thuộc là dấu hiệu tin cậy để ngân hàng thường
Trang 35cho khách hàng vay vốn dự báo có rủi ro cho khoản vốn đã cho vay của mình
b Các dấu hiệu từ ngân hàng
* Qui trình cho vay không được thực hiện đúng qui định: Mỗi NHTM
đều đưa ra một qui trình cho vay chặt chẽ nhằm làm cho mỗi đồng vốn phát ra phải đi vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả và quay về ngân hàng đủ cả gốc lẫn lãi Tuy nhiên, qui trình này không phải lúc nào cũng được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ Trong bối cảnh cạnh tranh diễn ra ngày càng mạnh mẽ, các NHTM có xu hướng giảm thấp các điều kiện vay vốn, bỏ qua các qui định
để giữ và thu hút khách hàng, khi đó xác xuất gặp rủi ro tất yếu sẽ tăng
* Giải ngân trước khi hoàn thành chứng từ: Mọi khoản vay đều phải
đảm bảo đầy đủ các thủ tục, hồ sơ theo qui định để được giải ngân Giải ngân trước khi hoàn thành chứng từ thể hiện sự vội vã, bất ổn Sau khi đã nhận được vốn vay, khách hàng thiếu thiện chí bổ sung các thủ tục cần thiết Khi
đó, khó khăn trong thu hồi nợ và khởi kiện khi khách hàng không thực hiện trả nợ theo cam kết sẽ thuộc về ngân hàng Về mặt lý thuyết, những khoản vay như vây sẽ có độ rủi ro cao hơn các khoản cho vay đúng quy trình
* Cho vay đảo nợ: Một khoản vay không được thanh toán đúng thời
hạn, thay vì phải đàm phán với khách hàng, cán bộ tín dụng thực hiện giải quyết tình trạng quá hạn trước mắt bằng cách cho vay đảo nợ Biện pháp xử
lý này không kiểm soát được những rủi ro khách hàng đang đối mặt mà là sự tích tụ rủi ro Qua thời gian, rủi ro đã phát triển đến mức tài chính doanh nghiệp không thể chịu đựng được nữa sẽ bùng phát không thể cứu vãn và rủi
ro thực sự thuộc về ngân hàng
1.3.4.2 Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường rủi ro tín dụng là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ rủi ro cũng như biết trước được xác suất xảy ra rủi ro, mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra để xem xét khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng
- Các mô hình định tính thông dụng:
Trang 36+ Mô hình 6C
Để tìm hiểu và phân tích về người đi vay, cán bộ tín dụng cần phải nghiên cứu chi tiết “6 khía cạnh - 6C”của người xin vay là Charater (tư cách), Capacity (năng lực), Cash (thu nhập), Collaterat (bảo đảm), Conditions (điều kiện), Controls (kiểm soát)
Sơ đồ 1.1 Mô hình 6 C
(Theo Mishkin F.S (1999), Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính,
Nxb Khoa học kỹ thuật năm 2001)
Tất cả các tiêu chí này phải được đánh giá tốt thì khoản vay mới được xem là khả thi
Tư cách người vay: Cán bộ tín dụng phải tin chắc rằng người xin vay
phải có mục đích rõ ràng và có thiện chí khi đến hạn trả nợ, ngoài ra phải xem xét mục đích xin vay có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không
Năng lực của người vay: Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người
vay có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng
Tư cách
Năng lực
Thu nhập
Bảo đảm tiền vay
Điều kiện
Đo lường rủi
ro tín dụng
Kiểm soát
Trang 37Tương tự cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người đại diện cho công ty ký kết hợp đồng tín dụng phải là người ủy quyền hợp pháp của công ty Trường hợp nếu công ty có đối tác kinh doanh, thì cán bộ tín dụng phải biết thỏa thuận đối tác kinh doanh để xác định xem ai là người có được ủy quyền ký kết hợp đồng tín dụng cho công ty
Thu nhập của người vay: Người vay có ba khả năng để tạo ra tiền là:
Luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, bán thanh lý tài sản, tiền từ phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn Bất cứ nguồn thu nào từ ba khả năng này đều có thể sử dụng để trả nợ vay cho ngân hàng Tuy nhiên ngân hàng ưu tiên hơn cả là khả năng thứ nhất và coi đây là nguồn thu đầu tiên và căn bản để trả nợ ngân hàng Nguyên nhân do: Việc bán thanh lý tài sản có thể làm cho năng lực người vay trở lên yếu hơn, khiến cho ngân hàng
là chủ nợ ít được bảo đảm
Bảo đảm tiền vay: Khi đánh giá khía cạnh bảo đảm tiền vay, cán bộ tín
dụng phải tự hỏi người vay có sở hữu một giá trị nào hay tài sản có chất lượng
để hỗ trợ cho khoản vay Cán bộ tín dụng phải đặc biệt chú ý đến những yếu
tố nhạy cảm như: tuổi thọ, điều kiện, mức độ chuyên dụng của tài sản người vay Khía cạnh công nghệ cũng phải đặc biệt chú ý, bởi vì nếu tài sản của người vay có công nghệ lạc hậu thì giá trị giảm rất nhiều và khó tìm được người mua trong trường hợp người vay không trả được nợ
Các điều kiện: Cán bộ tín dụng là nhà phân tích tín dụng cần phải biết
xu hướng hiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay, cũng như khi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động kinh doanh của khách hàng Hầu hết các ngân hàng đều duy trì các files
dữ liệu thông tin bao gồm các dữ liệu cần quan tâm
Kiểm soát: Tập trung vào những vấn đề như: Các thay đổi trong luật
pháp và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín
Trang 38dụng của người có đáp ứng tiêu chuẩn của ngân hàng và nhà quản lý về chất lượng tín dụng hay không?
Các chỉ tiêu 6C đã giúp cán bộ tín dụng và phân tích trong việc trả lời
một câu hỏi tổng quát: người vay có đủ tư cách? Khi câu hỏi này trả lời thì câu hỏi tiếp theo sẽ là hợp đồng tín dụng được kí kết đúng đắn và hợp lệ, đáp ứng được yêu cầu của người vay của ngân hàng?
Trị số của các chỉ số tài chính của người vay (Xi)
Tầm quan trọng của các chỉ tiêu này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ
Từ đó đi đến mô hình cho điểm sau:
Z = 1,2 X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6 X4 + 1,0X5 Trong đó:
X1: tỷ số vốn lưu động ròng/tổng tài sản
X2: tỷ số lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/ tổng tài sản
X3: tỷ số “ lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/tổng tài sản”
X4: tỷ số “thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”
X5: tỷ số “doanh thu/tổng tài sản”
Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp, như vậy trị số Z thấp hay là 1 số âm là 1 căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy
cơ vỡ nợ cao
Trang 39Theo mô hình này, bất cứ công ty nào có điểm số Z thấp hơn 1, 81 phải xếp vào nhóm RRTD cao Căn cứ vào kết luận này, ngân hàng sẽ không cấp tín dụng cho khách hàng này cho đến khi cải thiện điểm số Z lớn hơn 1, 81
Bên cạnh những ưu điểm thì mô hình điểm số tín dụng có những hạn chế sau:
Mô hình không cho phép phân biệt khách hàng thành 2 nhóm “vỡ nợ”
và “không vỡ nợ” Thực tế, vỡ nợ được phân thành nhiều loại từ không trả hay chậm trễ trong trả lãi tiền vay đến việc không trả nợ gốc và tiền lãi nợ vay Điều này hàm ý, cần có 1 mô hình cho điểm chính xác hơn, toàn diện nhiều thang điểm để phân biệt loại khách hàng thành nhiều nhóm tương ứng với mức đọ vỡ nợ khác nhau
Không có lý do rõ ràng để giải thich sự bất biến về tầm quan trọng của biến số thời gian, dù trong ngắn hạn Tương tự như vậy, các biến số X cũng không phải là bất biến, đặc biệt là khi điều kiện thị trường và kinh doanh thường xuyên thay đổi Ngoài ra, mô hình cũng giả thiết rằng các biến số X là hoàn toàn độc lập không phụ thuộc lẫn nhau
Đã không tính tới một số nhân tố quan trọng nhưng khó lượng hóa, nhưng lại ảnh hưởng đáng kể đến mức RRTD của khách hàng, ví dụ yếu tố
“danh tiếng” của khách hàng Yếu tố “mối quan hệ truyền thống” giữa khách hàng và ngân hàng, hay yếu tố vĩ mô như chu kỳ kinh tế, chu kỳ kinh doanh Nhìn chung, các nhân tố này thường không được đề cập trong mô hình điểm tín dụng Z Mặt khác, mô hình cho điểm thường sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng khác như giá thị trường của các tài sản tài chính
+ Mô hình điểm tín dụng
Mô hình điểm tín dụng tiêu dùng
Ngày nay các ngân hàng sử dụng phương pháp cho điểm để xử lý các đơn xin vay của người tiêu dùng Thực tế, nhiều tổ chức thể tín dụng đã sử dụng mô hình điểm số để xử lý số lượng đơn yêu cầu ngày một gia tăng, nhưng NH cũng sử dụng mô hình này để đoán giá những khoản tín dụng như
Trang 40mua sắm xe hơi, trang thiết bị gia đình, bất động sản và kinh doanh nhỏ Nhiều khách hàng ưa thích sự thuận tiện và nhanh chóng khi đưa ra những yêu cầu tín dụng của hộ được xử lý bằng hệ thống cho điểm tự động Thông thường khách hàng có thể gọi điện đến NH để liên hệ xin vay, thông qua hệ thống máy tính nối mạng, trên cơ sở dữ liệu của khách hàng, trong vòng vài phút NH có thể thông báo kết quả tín dụng cho khách hàng
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình cho điểm tín dụng bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà thu nhập, điện thoại cố định, số loại tài khoản, thời gian công tác
Mô hình cho điểm tín dụng thường sử dụng 7 đến 12 hạng mục, mỗi hạng mục cho điểm từ 1 đên 10 Ví dụ, bảng dưới đây cho thấy những hạng mục và điểm của chúng thường được sử dụng ở các NH Mỹ
Bảng 1.1 Bảng tính điểm đối với khách hàng cá nhân
STT Các hạng mục xác định chất lượng tín dụng Điểm số
1
Nghề nghiệp của người vay
Chuyên gia hay phụ trách kinh doanh
Công nhân có kinh nghiệm
Nhân viên văn phòng
Sinh viên
Công nhân không có kinh nghiệm
Công nhân bán thất nghiệp