Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 2008 kéo dài cho đến nay. nhiều NHTM trên thế giới đã chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nên đã lâm vào phá sản. Còn tại Việt Nam, là một nước đang phát triển nhưng cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ cuộc khủng hoảng kinh tế. Tính cho đến thời điểm đầu năm 2013 đã có 30% doanh nghiệp đóng cửa, 70% doanh nghiệp đang cố gắng trụ lại nhưng cũng rất khó khăn. Trong khi đó phần lớn doanh nghiệp Việt Nam là các DNVVN, chiếm khoảng 98% danh nghiệp hoạt động trên cả nước. Chính vì vậy mà tình trạng nợ xấu của các DNVVN ngày càng gia tăng khiến việc kinh doanh của các Ngân hàng thương mại càng gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là các ngân hàng tư nhân, những ngân hàng nhỏ lẻ gần như đứng bên bờ vực phá sản. Vì vậy Chính phủ đã tiến hành cơ cấu lại ngân hàng và đưa ra nhiều chính sách nhằm hỗ trợ các ngân hàng trong huy động vốn và cho vay các doanh nghiệp. Trong tình hình đó thì Ngân hàng Công thương, với cương vị là Ngân hàng dẫn đầu, vẫn giữ vững được vị thế của mình và ngày càng có những phát triển vượt bậc, đứng vững trong cơn bão khủng hoảng toàn cầu. Góp phần không nhỏ vào sự thành công ấy là sự nỗ lực, phấn đấu không ngừng của cán bộ công nhân viên phòng QLRR nói riêng và của toàn hệ thống nói chung. Như chúng ta đã biết, hoạt động cho vay theo dự án đối với các DNVVN tiềm ẩn rất nhiều rủi ro không lường trước được. Chính vì vậy, Ngân hàng cần phải có những chính sách về cơ chế QLRR, chính sách nhân sự...phù hợp để đảm bảo được chất lượng và an toàn tín dụng của Ngân hàng. Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa là một trong những ngân hàng thuộc hệ thống Ngân hàng Công thương Việt Nam luôn có lợi nhuận dẫn đầu trong toàn hệ thống . Tuy vậy, tại Chi nhánh hoạt động cho vay theo dự án các DNVVN cũng gặp nhiều rủi ro khó lường trước. Chính vì vậy hoạt động QLRR hoạt động cho vay tại Chi nhánh là rất quan trọng . Chính vì những lý do trên mà em xin chọn đề tài: “ Hoàn thiện công tác quản lý rủi ro trong hoạt độngcho vay vốn theo dự án của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Vietinbank – Chi nhánh Đống Đa” để làm chuyên đề tốt nghiệp với mục đích đưa ra thực trạng về công tác QLRR trong hoạt động cho vay theo dự án của các DNVVN tại Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa, qua đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong công tác QLRR trong hoạt động cho vay theo dự án tại các DNVVN.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bài Chuyên đề thực tập này là công trình do em tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của ThS Trần Thị Mai Hoa cùng với sự giúp đỡ của các anh chị phòng khách hàng 2 của Ngân hàng TMCP Công thương Chi nhánh Đống Đa
Trong quá trình thực hiện, em có tham khảo một số tài liệu, luận văn tốt nghiệp và các sách báo có liên quan nhưng không hề sao chép từ bất kì chuyên đề hay luận văn nào Nếu sai, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và mọi hình thức kỉ luật của Nhà trường
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Thanh Thủy
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Đơn vị: Tỷ đồng 30 Địa chỉ :Xóm Đình, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội 92 3.3.4 Kiến nghị đối với các DNVVN 135
Trang 3: Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Tài sản đảm bảo
: Rủi ro tín dụng: Ngân hàng nhà nước: Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product): Vốn đầu tư
: Tổ chức tín dụng: Quản lý rủi ro
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.3 Tiêu chí xác định DNVVN Việt Nam 12
Bảng 2.3 Dư nợ cho vay theo dự án của các DNVVN tại Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa của NHCT Đống Đa phân theo đối tượng KH 30
Đơn vị: Tỷ đồng 30
Bảng 2.4 Cơ cấu dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN theo loại tiền giai đoạn 2010 – 2012 32
Bảng 2.5 Dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN theo thời hạn 33
Bảng 2.6 Dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2010 – 2012 34
Bảng 2.7 Cơ cấu dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN phân theo tài sản đảm bảo giai đoạn 2010 - 2012 35
Bảng 2.8 Dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN theo ngành nghề 37
kinh doanh giai đoạn 2010 – 2012 37
Địa chỉ :Xóm Đình, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội 92
3.3.4 Kiến nghị đối với các DNVVN 135
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 2008 kéo dài cho đến nay nhiều NHTM trên thế giới đã chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nên đã lâm vào phá sản Còn tại Việt Nam, là một nước đang phát triển nhưng cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ cuộc khủng hoảng kinh tế Tính cho đến thời điểm đầu năm 2013 đã
có 30% doanh nghiệp đóng cửa, 70% doanh nghiệp đang cố gắng trụ lại nhưng cũng rất khó khăn Trong khi đó phần lớn doanh nghiệp Việt Nam là các DNVVN, chiếm khoảng 98% danh nghiệp hoạt động trên cả nước Chính vì vậy mà tình trạng
nợ xấu của các DNVVN ngày càng gia tăng khiến việc kinh doanh của các Ngân hàng thương mại càng gặp nhiều khó khăn Đặc biệt là các ngân hàng tư nhân, những ngân hàng nhỏ lẻ gần như đứng bên bờ vực phá sản Vì vậy Chính phủ đã tiến hành cơ cấu lại ngân hàng và đưa ra nhiều chính sách nhằm hỗ trợ các ngân hàng trong huy động vốn và cho vay các doanh nghiệp Trong tình hình đó thì Ngân hàng Công thương, với cương vị là Ngân hàng dẫn đầu, vẫn giữ vững được vị thế của mình và ngày càng có những phát triển vượt bậc, đứng vững trong cơn bão khủng hoảng toàn cầu Góp phần không nhỏ vào sự thành công ấy là sự nỗ lực, phấn đấu không ngừng của cán bộ công nhân viên phòng QLRR nói riêng và của toàn hệ thống nói chung Như chúng ta đã biết, hoạt động cho vay theo dự án đối với các DNVVN tiềm ẩn rất nhiều rủi ro không lường trước được Chính vì vậy, Ngân hàng cần phải có những chính sách về cơ chế QLRR, chính sách nhân sự phù hợp để đảm bảo được chất lượng và an toàn tín dụng của Ngân hàng
Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa là một trong những ngân hàng thuộc hệ thống Ngân hàng Công thương Việt Nam luôn có lợi nhuận dẫn đầu trong toàn hệ thống Tuy vậy, tại Chi nhánh hoạt động cho vay theo dự án các DNVVN cũng gặp nhiều rủi ro khó lường trước Chính vì vậy hoạt động QLRR hoạt động cho vay tại Chi nhánh là rất quan trọng
Chính vì những lý do trên mà em xin chọn đề tài: “ Hoàn thiện công tác quản lý rủi ro trong hoạt độngcho vay vốn theo dự án của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Vietinbank – Chi nhánh Đống Đa” để làm chuyên đề tốt nghiệp với mục đích đưa ra thực trạng
về công tác QLRR trong hoạt động cho vay theo dự án của các DNVVN tại Ngân
Trang 6hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa, qua đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong công tác QLRR trong hoạt động cho vay theo dự án tại các DNVVN.
Đối tượng nghiên của của chuyên đề là hoạt động cho vay theo dự án của các DNVVN tại Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa
Phạm vi nghiên cứu là công tác QLRR cho vay theo dự án tại các DNVVN
và tình hình hoạt động kinh doanh của các DNVVN
Nội dung chuyên đề gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát về Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Vietinbank – Chi Nhánh Đống Đa và hoạt động Quản lý rủi ro trong cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại
Chương 2: Thực trạng QLRR trong cho vay theo dự án của DNVVN tại
NH TMCP Công Thương Vietinbank – Chi nhánh Đống Đa
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay theo dự án của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa
Em xin chân thành cám ơn Th.S Trần Thị Mai Hoa – Giảng viên Khoa Đầu
tư đã tận tình hướng dẫn giúp em hoàn thành chuyên đề thực tập Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ nhân viên Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành tốt kỳ thực tập tại Chi nhánh
Trang 7CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NHTM CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM VIETINBANK – CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA VÀ HOẠT ĐỘNG QLRR TRONG CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DNVVN TẠI NHTM
1.1 Khái quát về NH TMCP Công thương Việt Nam- CN Đống Đa.
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHTM Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa
Ngân hàng thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đống
Đa với tư cách là ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Công thương Thành phố Hà Nội,
ra đời vào năm 1988 theo Nghị định số 53 của Hội đồng Bộ trưởng Ngân hàng Công thương Việt Nam Tiền thân của Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống
Đa là Phòng công thương nghiệp Ô Chợ Dừa, trụ sở tại 187 đường Nguyễn Lương Bằng, quận Đống Đa, Hà Nội
Năm 1993, Ngân hàng Công thương Thành phố Hà Nội bị xóa bỏ do hệ thống Ngân hàng Công thương thực hiện đổi mới về cơ cấu tổ chức Khi đó, Ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa trở thành chi nhánh cấp 1 trực thuộc vào Ngân hàng Công thương Việt Nam Kể từ đó đến nay chi nhánh hoạt động và phát triển, tiến hành hoạt động kinh doanh đa dạng và phong phú về sản phẩm, dịch vụ cung ứng, vì vậy mà chi nhánh ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của Ngân hàng Công thương Việt Nam Điều này được thể hiện: Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa liên tục đạt thành tích kinh doanh xuất sắc và đặc biệt được Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc NHNN Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam trao tặng nhiều bằng khen đơn vị thi đua xuất sắc Năm 2002, Ngân hàng được phong tặng danh hiệu anh hùng lao động hạng nhất Năm 2003, Ngân hàng đã nhận được danh hiệu cao quý "Danh hiệu anh hùng lao động hạng nhất " Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa ngày càng tạo được hình ảnh tốt đẹp trong lòng khách hàng
Trang 81.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các phòng ban tại NH TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa
1.1.2.1 Cơ cấu tổ chức của NHTM cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa
Giám đốc
Các phó giám đốc
Khối QLRR
Khối QLRR
Phòng giao dịch
Phòng
kế toán
Phòng kho quỹ
Phòng kho quỹ
Phòng/
tổ thanh toán XNK
Phòng/
tổ thanh toán XNK
Phòng hành chính
Phòng hành chính
Phòng tổng hợp
Phòng tổng hợp
Phòng thông tin điện toán
Phòng thông tin điện toán
Trang 91.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
- Phó Giám đốc: khi Giám đốc vắng mặt thì Phó Giám đốc sẽ là người chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của Chi nhánh và báo cáo lại kết quả công việc, trình lên Giám đốc Phó Giám đốc sẽ là người giúp Giám đốc chỉ đạo điều hành một
số nghiệp vụ được phân công, phụ trách, chịu trách nhiệm trước Giám đốc về quyết định của mình
*Khối kinh doanh
Khối kinh doanh bao gồm có ba phòng quan hệ khách hàng: phòng khách hàng cá nhân, phòng khách hàng 1, phòng khách hàng 2
Khối kinh doanh với chức năng là phát triển quan hệ tín dụng với với các khách hàng thuộc các đối tượng là cá nhân (thuộc phòng khách hàng cá nhân), doanh nghiệp vừa và nhỏ (thuộc phòng khách hàng 2), doanh nghiệp lớn (thuộc phòng khách hàng 1) Các phòng quan hệ khách hàng thuộc khối kinh doanh có nhiệm vụ là tiếp thị khách hàng, cung cấp các dịch vụ ngân hàng, phối hợp cùng các đơn vị khác trong ngân hàng như khối QLRR để quản lý rủi ro với các khoản nợ của khách hàng
*Khối QLRR
Khối QLRR có nhiệm vụ giám sát quá trình QLRR của Chi nhánh, quản lý tín dụng và rủi ro tín dụng, quản lý rủi ro tác nghiệp, công tác kiểm tra nội bộ, phòng chống rửa tiền, quản lý hệ thống chất lượng ISO…
Công tác QLTD gồm các nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất là đề xuất những biện pháp và chính sách nhằm nâng cao, phát triển chất lượng hoạt động tín dụng tại ngân hàng
- Thứ hai, giám sát, quản lý, phân tích và đánh giá rủi ro tiềm ẩn với danh mục tín dụng của ngân hàng
- Thứ ba, áp dụng hệ thống đánh giá xếp hạng tín dụng vào việc quản lý danh
Trang 10Trong công tác QLRR tín dụng bao gồm các nhiệm vụ:
- Đề xuất xây dựng các biện pháp, quy định QLRR tín dụng
- Phòng QLRR tín dụng phải trình lãnh đạo cấp tín dụng cho khách hàng đồng thời phối hợp và hỗ trợ phòng Quan hệ khách hàng phát hiện, xử lý các khoản
nợ có vấn đề Chịu trách nhiệm về việc thiết lập, vận hành, thực hiện, kiểm tra, giám sát hệ thống QLRR của Chi nhánh
- Phòng tổng hợp: phòng có trách nhiệm thu thập, tổng hợp, phân tích và đánh giá các thông tin (như thông tin về kinh tế, xã hội, chính trị- xã hội, thị trường, đối thủ cạnh tranh, đối tác có ảnh hưởng đến hoạt động của Chi nhánh) đồng thời chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ hoạt động huy động vốn, cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn của Chi nhánh
- Phòng điện toán: thực hiện các nghiệp vụ như tra cứu hoạt động điện tử, hoạt động giao dịch kiều hối, các giao dịch trực tuyến…
* Phòng giao dịch: phòng có nhiệm vụ thực hiện các giao dịch như kiểm tra lệnh và nhập lệnh giao dịch, mở và quản lý tài khoản của khách hàng, thanh toán giao dịch cho khách hàng, gửi tiền, rút tiền, chuyển khoản… Phòng giao dich còn có trách nhiệm lập các báo cáo giao dịch, lưu ký tháng, quý, năm theo quy định
Trang 111.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa.
1.1.3.1 Tình hình huy động vốn
Nguồn vốn huy động vô cùng quan trọng bởi nguồn vốn huy động được sẽ
là cơ sở để ngân hàng tổ chức, duy trì mọi hoạt động như hoạt động tín dụng và các hoạt động khác Một ngân hàng có mạnh, có năng lực tài chính, có khả năng cạnh tranh và uy tín hay không còn phụ thuộc thuộc rất nhiều vào nguồn vốn huy động được Chính vì vậy mà Chi nhánh luôn luôn chú trọng vào hoạt động huy động vốn để mở rộng quy mô huy động vốn, đạt được sự tăng trưởng ổn định về nguồn vốn huy động Sau đây là bảng và biểu đồ thể hiện tỷ trọng nguồn vốn của Chi nhánh:
Bảng 1.1 Tỷ trọng nguồn vốn huy động của NH Công thương –
Chi nhánh Đống Đa
Đơn vị: Tỷ đồng
2011 so với 2010
20112 so với 2011
Trang 12Biểu đồ 1.1 Tình hình nguồn vốn huy động của CN
Qua bảng số liệu và biểu đồ thể hiện tình hình nguồn vốn huy động của ngân hàng thì ta có thể thấy tổng nguồn vốn huy động được trong suốt 3 năm gần đây tăng lên hàng năm tuy nhiên thì tỷ trọng nguồn vốn huy động so với tổng nguồn vốn lại giảm dần từ năm 2010 đến năm 2012
Năm 2010,với tổng nguồn vốn huy động được là 4350 tỷ đổng, chiếm tỷ trọng là 85% trên tổng nguồn vốn của chi nhánh
Năm 2011, nguồn vốn huy động tăng 2193 tỷ đồng so với năm 2010 Điều này nói lên những nỗ lực hết mình của chi nhánh trong việc tạo lập một nguồn vốn làm cơ sở cho sự phát triển lâu dài của Chi nhánh
Năm 2012, nguồn vốn huy động của chi nhánh tăng mạnh với con số là 1299
tỷ đồng, đạt 7842 tỷ đồng Cùng với sự nỗ lực và chỉ đạo ban điều hành và nhân viên của chi nhánh nên quy mô hoạt động được mở rộng và ngày càng phát triển thể hiện ở tổng nguồn vốn của chi nhánh tăng mạnh 1440 tỷ đồng
Như vậy ta thấy sự gia tăng của nguồn vốn huy động trong ba năm qua là rõ rệt Điều này có thể được giải thích bởi : thứ nhất, chi nhánh không ngừng gia tăng
về cả quy mô lẫn chất lượng công tác huy động vốn; thứ hai là bởi sự phát triển không ngừng của Chi nhánh, đa dạng hóa các kỳ hạn huy động, triển khai kịp thời các đợt phát hành giấy tờ có giá trị, có nhiều chương trình khuyến mại hấp dẫn; thứ
ba là toàn thể Chi nhánh đã cùng nhau nỗ lực hết mình, chú trọng việc chăm sóc khách hàng thân thiết và tìm kiếm các khách hàng tiềm năng Chính vì thế mà chi nhánh đã thu hút được lượng vốn nhàn rỗi từ các hộ gia đình và các tổ chức kinh tế
Trang 131.1.3.2 Về tình hình hoạt động tín dụng
Một trong những hoạt động chủ yếu của ngân hàng là hoạt động tín dụng và hoạt động này mang lại lợi nhuận cao nhất cho các ngân hàng Chính nhờ nguồn vốn huy động khá lớn và ổn định hàng năm đã giúp ngân hàng có đủ lượng vốn để thỏa mãn nhu cầu vay vốn của các khách hàng thân thiết cũng như các khách hàng
có quan hệ tín dụng với ngân hàng trong nhiều năm qua Chính vì vậy mà trong 20 năm hoạt động và phát triển, Chi nhánh đã đạt được tốc độ tăng trưởng rất nhanh về
cả tài sản cũng như về dư nợ cho vay
Dưới đây là bảng và biểu đồ thể hiện tỷ trọng dư nợ của chi nhánh trong 3 năm gần đây:
Bảng 1.2 Tỷ trọng dư nợ cho vay của Ngân hàng Công thương – Chi nhánh
Đống Đa
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Chênh lêch 2012 so với 2011
Giá trị % tăng (giảm)
Tổng dư nợ/ Tổng tài sản 40,31 49,97 62,54 12,57 25,1%
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của NHCT Đống Đa)
Biểu đồ 1.2 Tình hình dư nợ cho vay của NHCT Đống Đa
Trang 14Nhìn vào bảng dữ liệu trên ta có thể thấy dư nợ của Chi nhánh tăng đều trong
ba năm gần đây
Năm 2010 thì dư nợ cho vay đạt 2093 tỷ đồng và chiếm khoảng 40.31% tổng tài sản của toàn chi nhánh Đến năm 2011 thì tổng dư nợ đã tăng lên là 4068 tỷ đồng, chiếm khoảng 49.97% tổng tài sản của Chi nhánh Có được kết quả này là do ngân hàng duy trì tốt và mở rộng quan hệ tín dụng với các khách hàng thân thiết và tăng cường thu hút một lượng khách lớn đến với ngân hàng vì vậy mà tổng dư nợ năm 2011 đã tăng lên nhanh chóng Đặc biệt đến năm 2012 vừa qua, cán bộ và nhân viên Chi nhánh đã có nhiều nỗ lực trong các chính sách tín dụng như: mở rộng và phát triển tín dụng đến khách hàng vay, tăng trưởng tín dụng khách hàng thân thiết
và tìm kiếm khách hàng mới… nên tổng dư nợ năm 2012 đã tăng lên con số là 6581
tỷ đồng, chiếm 62,54% tổng tài sản của toàn Chi nhánh
Sự tăng trưởng ổn định về tổng dư nợ và sự mở rộng quy mô của chi nhánh
đã thể hiện một thành công rất lớn của cán bộ và nhân viên chi nhánh
1.1.3.3 Công tác dịch vụ
Cùng với sự mở rộng quy mô và chất lượng công tác tín dụng thì ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa cũng chú trọng đầu tư và phát triển cho công tác dịch vụ của Chi nhánh để tạo ra lợi thế cạnh cho riêng mình
Dưới đây là biểu đồ thể hiện thu nhập từ hoạt động dịch vụ tại Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa trong ba năm gần đây từ năm 2010 đến năm 2012:
Biểu đồ 1.3 Thu nhập từ hoạt động dịch vụ của Chi nhánh giai đoạn 2010 – 2012
Trang 15Nhìn vào biểu đồ trên ta có thể thấy thu nhập từ hoạt động dịch vụ của Chi nhánh tăng lên qua các năm Cụ thể:
Năm 2011 thì thu nhập từ hoạt động dịch vụ đạt 27 tỷ đồng đồng nghĩa với việc tăng 35% so với năm 2010 Đến năm 2012 thì thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng thêm 6 tỷ đồng đạt con số là 33 tỷ đồng, tương đương với tăng 22,2% so với năm 2011 Có được kết quả này là nhờ sự nỗ lực và làm việc hết mình của cán bộ công nhân viên của toàn chi nhanh trong suốt thời gian qua Theo như mục tiêu của Ngân hàng Công thương Việt Nam thì định hướng sẽ đẩy mạnh về kinh doanh dịch vụ, tiếp tục mở rộng kinh doanh dịch vụ ngân hàng bán
lẻ, nâng cao tỷ trọng đóng góp của hoạt động dịch vụ vào thu nhập của toàn ngành Và đặc biệt ngân hàng tích cực giới thiệu tới khách hàng các dịch vụ mới, hấp dẫn, tiện ích và đa dạng như: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, dịch
vụ Home banking… nhằm giúp khách hàng lựa chọn được những dịch vụ thích hợp Trong suốt những năm hoạt động và phát triển Chi nhánh đã xây dựng được một hệ thống dịch vụ da dạng, chất lượng, đảm bảo cho khách hàng đã và đang
sử dụng, xây dựng được một niềm tin vững chắc nơi khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng
1.2 Hoạt động QLRR trong cho vay đối với các DNVVN tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam- Chi Nhánh Đống Đa.
1.2.1 DNVVN và các phương thức cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHTM cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa.
1.2.1.1 Khái quát chung về DNVVN
a Khái niệm về DNVVN
Mỗi quốc gia sẽ có những cách định nghĩa khác nhau về DNVVN tuy nhiên
ở Việt Nam, theo Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP thì DNVVN là cơ sở kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam và chia thành ba cấp theo quy mô tài sản hoặc số lao động bình quân năm Tiêu chí xác định DNVVN Việt Nam được thể hiện trong bảng dưới đây:
Trang 16Bảng 1.3 Tiêu chí xác định DNVVN Việt Nam
Tổng NV(đv:tỷ đồng)
Số LĐ(đv:LĐ)
Tổng NV(đv:tỷ đồng)
Số LĐ(đv:LĐ)
(I) Nông, lâm
nghiệp và thủy sản ≤ 10 ≤ 20 >10 và ≤200 >20 và≤100
> 200 và
≤ 300(II) Công nghiệp
> 10 và
≤ 200 > 20 và≤ 100 > 200 và≤ 300(III) Thương mại
(Nguồn: Theo Điều 3 nghị định số 56/2009/NĐ-CP)
b Đặc điểm chủ yếu của DNVVN
- Về bộ máy tổ chức quản lý và điều hành
Hầu hết các DNVVN đều không có bộ phận riêng đảm nhận từng công việc hoặc là không được phân công rõ ràng các công việc như về quản trị, chiến lược, nhân sự, tài chính Tuy nhiên so với những bộ máy cồng kềnh, phức tạp của các Doanh nghiệp lớn, những tập đoàn lớn thì một bộ máy đơn giản và gọn nhẹ sẽ giúp việc ra quyết định kinh doanh tại DNVVN sẽ nhanh chóng, dễ dàng nắm bắt cơ hội hơn, thâm nhập sâu và thích hứng nhanh nhạy với thị trường, đem lại cho doanh nghiệp nhiều thành công hơn
Ở DNVVN thì người trực tiếp điều hành và quản lý sản xuất kinh doanh thường là chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc là các cổ đông lớn tại doanh nghiệp Chính vì vậy quyền lợi và trách nhiệm gắn liền với chủ doanh nghiệp nên các hoạt động trong doanh nghiệp được làm có giám sát chặt chẽ, người quản lý có quyền tự
do sáng tạo trong công việc, tính tự chủ, tự quyết cao vì vậy mà tận dụng được thời
cơ trên thị trường Tuy nhiên thì để có được những ưu thế như thế đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải là người có năng lực chuyên môn, có kinh nghiệm, sự nhạy bén với thay đổi của thị trường thì doanh nghiệp mới có thể đi tới thành công, còn nếu không thì đó sẽ là rào cản cản trở sự phát triển của doanh nghiệp và có thể dẫn đến
Trang 17- Về đội ngũ quản lý
Điều dễ nhận thấy là phần lớn đội ngũ quản lý tại DNVVN trình độ còn hạn chế, chưa được đào tạo bài bản nên chưa có tính chuyên nghiệp cao Cho đến thời điểm hiện nay thì số giám đốc giỏi, hiểu biết tường tận về kinh tế - chính trị, pháp luật, có năng lực quản lý còn chưa nhiều Chính vì những hạn chế này của DNVVN
mà phần lớn DNVVN phải đối mặt với các vụ tranh chấp thương mại do thiếu sự
am hiểu về pháp luật nên phải chịu thiệt nhiều hơn
- Về đội ngũ lao động
Lao động làm việc trong các DNVVN rất phong phú đa dạng với trình độ từ người lao động có tay nghề thấp đến lao động có trình độ cao Tuy nhiên, phần đa lao động tại các doanh nghiệp này thường là lao động phổ phổ thông, có trình độ tay nghề đơn giản Chính vì vậy mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay gặp khó khăn trong việc đổi mới công nghệ, áp dụng những công nghệ hiện đại vào quy trình sản xuất hàng hóa dịch vụ do lao động trình độ thấp mà vốn lại không nhiều nên việc chi phí cho hoạt động đào tạo nhân lực là rất tốn kém
- Về khả năng tài chính
Tại DNVVN có VĐT ban đầu không cao, vốn chủ sở hữu thấp và năng lực tài chính thường thấp Phần lớn vốn của các DNVVN là dưới dạng hàng hóa và một phần rất nhỏ là dưới dạng tiền mặt Chính vì những điều kiện về tài chính, thế chấp, tài sản đảm bảo, uy tín thấp…mà các DNVVN rất khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng của các NHTM cho các hoạt động đầu tư kinh doanh của doanh của doanh nghiệp
- Về công nghệ
Vì đặc điểm của DNVVN là vốn ít, khó khăn trong điều kiện tài chính, tài sản thế chấp nên doanh nghiệp rất khó tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng kéo theo thiếu vốn để đầu tư cho dây chuyền công nghệ, trang thiết bị cho dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp Dễ hiểu lý do vì sao hiện nay các DNVVN phải đối mặt với tình trạng trang thiết bị máy móc, thiết bị cũ, lạc hậu ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1.2 Các phương thức cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHTM a.Phương thức cho vay theo dự án
Phương thức cho vay theo dự án là việc các Ngân hàng thương mại cho các
Trang 18doanh nghiệp vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển, đầu tư thương mại
và đầu tư tài chính…Ngân hàng sẽ cùng với doanh nghiệp kí kết hợp đồng tín dụng, thỏa thuận tổng mức VĐT duy trì trong suốt đời dự án đồng thời phân kì các kì hạn trả nợ của doanh nghiệp cho ngân hàng Sau đó ngân hàng sẽ giải ngân nhiều lần theo tiến độ của dự án đầu tư Phương thức này có ưu điểm là: ngân hàng có thể thẩm định dự án một cách chặt chẽ do dự án đã được lập kế hoạch, tiến độ rõ ràng,
có tính toán kết quả và hiệu quả dự án cụ thể nên thuận lợi cho ngân hàng trong việc giải ngân cũng như tránh thất thoát nguồn vốn cho các cá nhân biển thủ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng Tuy nhiên nếu như việc dự án của doanh nghiệp không được lập chặt chẽ, không tìm hiểu kỹ thị trường dẫn đến dự án không khả thi đồng thời cán bộ thẩm định có chuyên môn kém, chưa có kinh nghiệm thì sẽ rất rủi ro cho ngân hàng khi quyết định cho vay
Phương thức cho vay theo DA này cũng tạo ra ưu thế là tạo cơ hội lớn cho các DNVVN mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư sang các lĩnh vực và ngành nghề mới
b.Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng
Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng là phương thức mà ngân hàng
và doanh nghiệp thỏa thuận trước mức hạn tín dụng và doanh nghiệp có thể vay ngân hàng trong một thời gian nhất định gọi là kì tín dụng Trong kỳ hạn tín dụng thì doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức vay trả nhiều lần mà không cần phải làm đơn xin vay nhiều lần tuy nhiên thì tổng dư nợ không được vượt quá tổng mức tín dụng đã kí trong hợp đồng Trong kỳ hạn tín dụng này nếu doanh nghiệp thấy quá trình sản xuất sản xuất – kinh doanh có nhiều thay đổi thì doanh nghiệp vẫn có thể thay đổi hạn mức tín dụng nhưng phải làm giấy đề nghị xác lại hạn mức tín dụng Đồng thời thì ngân hàng cũng xem xét lại nếu thấy hợp lý thì ngân hàng sẽ cùng doanh nghiệp điều chỉnh hạn mức tín dụng và bổ sung hợp đồng tín dụng
Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức cho vay rất thuận tiện cho doanh nghiệp vay nguồn vốn lưu động phục vụ vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhờ phương thức vay vốn này mà các DNVVN mới có vòng quay vốn nhanh do nhu cầu cần vốn lưu động là rất lớn và đây cũng là điều
mà các NHTM đặc biệt quan tâm đến
c.Phương thức cho vay thấu chi
Trang 19nghiệp chi vượt quá số tiền dư trong tài khoản vãng lai ở một hạn mức nhất định, thời gian nhất định nhưng phải dựa trên hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp Giới hạn trên được gọi là mức thấu chi Đặc điểm nổi bật của phương thức cho vay này là ngân hàng cho phép doanh nghiệp được ứng trước Khi doanh nghiệp muốn vay theo phương thức cho vay thấu chi thì doanh nghiệp phải làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi và thời gian thấu chi Theo phương thức cho vay này thì doanh nghiệp được phép chi vượt quá số dư tiền gửi để chi trả cho các nhu cầu đầu tư kinh doanh của mình nhưng không vượt quá hạn mức thấu chi Cụ thể là khoản tiền doanh nghiệp vay chính là khoản tiền vượt quá số dư tài khoản vãng lai
và số tiền lãi tính dựa trên số tiền vượt quá số dư tài khoản vãng lai với mức lãi suất thấu chi do ngân hàng quy định sẵn Khi doanh nghiệp nhập tiền vào tài khoản của mình thì ngân hàng sẽ thu cả nợ gốc lẫn lãi
Đặc điểm của phương thức cho vay này là ngân hàng sẽ cho những đối tượng khách hàng là những doanh nghiệp không dự trù trước được khoản thu chi hoặc quy
mô vốn mà mình định kinh doanh Chính vì vậy mà phương pháp này luôn đáp ứng được nhu cầu vốn cho doanh nghiệp đồng thời doanh nghiệp cũng sẽ thanh toán kịp thời các khoản vay, giúp ngân hàng ít gặp phải những khoản nợ xấu Đây là hình thức cho vay ngắn hạn nhưng thủ tục đơn giản, linh hoạt và đặc biệt phần lớn là áp dụng với ngân hàng lớn có uy tín nên đảm bảo được khoản vay được trả đúng hạn
do những doanh nghiệp lớn thường có thu nhập đều đặn
d.Phương thức cho vay trực tiếp từng lần
Trong các phương thức cho vay tại các NHTM thì phương thức cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay phổ biến nhất đối với các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn thường xuyên nhưng lại không có đủ điều kiện để vay vốn theo phương thức cho vay thấu chi Khi thực hiện vay theo phương thức này thì doanh nghiệp phải làm đầy đủ các thủ tục theo quy định sẵn của ngân hàng Sau khi phương án vay vốn của doanh nghiệp được ngân hàng thẩm định kỹ lưỡng thì ngân hàng sẽ quyết định cho vay hay không cho vay Đặc biệt các khoản vay này phải đáp ứng điều kiện là doanh nghiệp phải có tài sản thế chấp bằng tài sản đảm bảo và tổng số tiền ngân hàng quyết định cho vay sẽ dựa vào giá trị của tài sản đem ra bảo đảm Ngân hàng sẽ thu cả gốc và lãi của doanh nghiệp theo từng kì hạn nợ đã kí trong hợp đồng Phương thức cho vay này có ưu điểm là thủ tục đơn giản, ngân hàng dễ dàng giám sát các khoản nợ, kiểm soát được từng món vay tách biệt
Trang 20e.Phương thức cho vay luân chuyển
Phương thức cho vay luân chuyển là phương thức cho vay dựa chủ yếu vào
sự luân chuyển của hàng hóa Khi doanh nghiệp thiếu vốn để mua hàng, nhập hàng thì ngân hàng sẽ cho doanh nghiệp vay rồi doanh nghiệp sẽ hoàn trả lại số tiền cả gốc lẫn lại cho ngân hàng khi bán được hàng Khi làm thủ tục vay vốn thì doanh nghiệp cần gửi đến khách hàng các hóa đơn chứng từ chứng nhận đã mua hàng và
số tiền cụ thể cần vay để mua hàng Sau khi xem xét kỹ lượng về khả năng tiêu thụ lượng hàng đó ra thị trường của doanh nghiệp như thế nào, nếu khả thi thì ngân hàng sẽ quyết định cho doanh nghiệp vay và ngược lại thì ngân hàng sẽ không cho doanh nghiệp vay Nếu doanh nghiệp được ngân hàng chấp thuận cho vay thì doanh nghiệp phải cam kết trả các khoản vay khi có thêm phát sinh các khoản thu bán hàng
Đối tượng cho vay theo phương thức cho vay luân chuyển của ngân hàng thường là các doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày và có quan hệ thân thiết với ngân hàng Ưu điểm của phương thúc cho vay này là đáp ứng nhanh chóng nguồn vốn để mua hàng Tuy nhiên nó sẽ khó khăn cho ngân hàng khi doanh nghiệp khó khăn trong tiêu thụ hàng hoặc không tiêu thụ được hàng Chính vì vậy
mà ngân hàng phải thẩm định kỹ kế hoạch lưu chuyển hàng hóa để ra quyết định đúng đắn
f.Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng là phương thức mà ngân hàng sẽ căn cứ vào tình hình hoạt động, nhu cầu vốn của doanh nghiệp để ngân hàng cùng doanh nghiệp thỏa thuận kí kết hợp đồng tín dụng bao gồm: hạn mức tín dụng dự phòng và thời hạn của hạn mức tín dụng dự phòng Trong bản hợp đồng, ngân hàng phải cam kết sẽ cung ứng đủ nguồn vốn cho khách hàng Trong suốt thời gian hợp đồng tín dụng còn hiệu lực nếu doanh nghiệp không sử dụng hoặc là sử dụng không hết hạn mức tín dụng dự phòng thì doanh nghiệp vẫn phải cam kết cho hạn mức tín dụng dự phòng đã tính trong hợp đồng
g.Phương thức cho vay trả góp
Phương thức cho vay trả góp là phương thức cho vay đối với các doanh nghiệp muốn đầu tư vào các hàng hóa lâu bền, các tài sản cố định Đó là các khoản vay trung và dài hạn Đối tượng cho vay theo hình thức này của ngân hàng là các
Trang 21chuyền sản xuất Lãi suất của hình thức cho vay này thường là lãi suất cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng Trước khi quyết định cho vay hay không cho doanh nghiệp vay thì ngân hàng cũng phải xem xét, thẩm định xem phương án kinh doanh, áp dụng dây chuyền công nghệ, tài sản mua được vào sản xuất có khả thi không để ra quyết định cho vay.
h.Phương thức cho vay gián tiếp
Phương thức cho vay gián tiếp là phương thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian Ngân hàng không trực tiếp cấp tiền vay cho doanh nghiệp Ngân hàng là một tổ chức trung gian khác đứng ra nhận một số lượng tiền từ ngân hàng, tiến hành phát tiền vay đến nhiều khách hàng khác nhau và khách hàng thanh toán nợ cũng thông qua ngân hàng Phương thức này được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ và thích hợp với những DNVVN ở các vùng nông thôn, địa phương và không gần trung tâm Mục đích của ngân hàng là mở rộng đối tượng cho vay, tiết kiệm chi phí cho vay song phương thức này lại khiến ngân hàng gặp rủi ro khi các
tổ chức trung gian lợi dụng tăng lãi suất cho vay lại, giữ lấy số tiền để chuộc lợi riêng
i.Phương thức cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Phương thức cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
là phương thức mà ngân hàng chấp thuận cho doanh nghiệp sử dụng vốn vay trong hạn mức tín dụng cho phép để thanh toán tiền mua hàng, rút tiền mặt hoặc ứng tiền mặt tại ngân hàng Ưu điểm của phương thức cho vay này là thủ tục đơn giản, không phải làm nhiều lần sau mỗi lần vay mà doanh nghiệp chỉ cần mở tài khoản thẻ tín dụng là ngân hàng đã có thể sử dụng thẻ để thanh toán chi phí mua hàng bất
cứ lúc nào Phương thức này vừa nhanh gọn trong thủ tục và thanh toán với ngân hàng lại vừa linh hoạt trong thanh toán chi phí mua hàng của doanh nghiệp
Trang 221.2.2 RR và phân loại RR trong hoạt động cho vay DNVVN.
1.2.2.1 Khái niệm
a Khái niệm rủi ro
Rủi ro được hiểu là những yếu tố tạo ra sai lệch giữa kết quả kì vọng và kết quả thực tế, do những yếu tố không thể đoán trước được dẫn đến những kết quả không như ý muốn, sai lệch với kết quả dự kiến ban đầu
Rủi ro bao gồm rủi ro chỉ liên quan đến thiệt hại và rủi ro chỉ liên quan đến lợi ích Tuy nhiên thực tế thì rủi ro hầu hết xảy ra là rủi ro liên quan đến thiệt hại đặc biệt là đối với những dự án đầu tư phát triển bởi lẽ đặc điểm của đầu tư phát triển là thời gian đầu tư dài, ứ đọng vốn trong suốt thời gian thực hiện dự án, những thay đổi về giá cả, thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án…
b.Khái niệm QLRR trong cho vay theo dự án tại DNVVN
Hoạt động quản lý rủi ro trong cho vay theo dự án của các DNVVN là một quá trình phát hiện, nhận dạng, phân tích, đánh giá rủi ro để từ đó đưa ra những biện pháp phòng chống, xử lý, kiểm soát rủi ro nhằm hạn chế rủi ro đến mức có thể chấp nhận được Công tác QLRR là một phần của hoạt động quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng bởi hoạt động cho khách hàng vay vốn là hoạt động chủ yếu trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng
Ta có thể thấy hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chính mang lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng Tuy nhiên, lợi nhuận cao thường kèm theo rủi
ro cao và khi rủi ro xảy ra thì sẽ gây tổn thất rất nhiều cho ngân hàng, có thể là thua
lỗ thậm chí là phá sản Chính vì vậy mà trong cơ cấu tổ chức của các ngân hàng thương mại luôn có khối quản lý rủi ro để hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro xảy ra trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Các đối tượng khách hàng của các ngân hàng thương mại rất phong phú đa dạng, từ cá nhân cho đến các tổ chức kinh tế Trong số đó có đối tượng khách hàng
là các DNVVN cũng được ngân hàng đặc biệt quan tâm, là một trong những đối tượng khách hàng quan trọng của ngân hàng Tuy nhiên vì đặc điểm của DNVVN là vốn ít, năng lực tài chính thấp, thu nhập không ổn định nên việc cho vay các DNVVN tiềm ẩn nhiều rủi ro như khó có thể trả nợ hoặc không thể trả nợ…nên công tác quản lý rủi ro đối với các khoản vay mà ngân hàng cấp cho doanh nghiệp
là rất quan trọng
Trang 23tín dụng, bảo đảm tín dụng, ra quyết định, giải ngân tín dụng, xếp hạng tín dụng, xếp hạng và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, quản lý danh mục tín dụng và cuối cùng là xử lý rủi ro tín dụng Như vậy hoạt động quản lý rủi ro sẽ xuyên suốt quá trình tín dụng để đảm bảo hạn chế đến mức tối đa những rủi ro xảy ra
Nội dung chính của hoạt động quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DNVVN là xem xét, nghiên cứu các khoản vay vốn của doanh nghiệp xem dự án cần vay vốn có khả thi hay không để ra quyết định cho vay hay không cho vay Và nếu cho vay thì ngân hàng cũng phải giám sát quá trình hoạt động của doanh nghiệp, giải ngân vốn theo tiến độ của dự án và đưa ra giải pháp phòng chống tổn thất đến mức thấp nhất nếu rủi ro xảy ra
1.2.2.2 Phân loại RR trong hoạt động cho vay theo dự án của các DNVVN tại NHTM
Rủi ro trong hoạt động cho vay theo dự án của các DNVVN tại NHTM được phân loại như sau:
Sơ đồ 1.2 Phân loại rủi ro trong cho vay theo dự án đối với DNVVN
a.RR đối với chủ đầu tư
- RR về năng lực pháp lý:
Những rủi ro liên quan đến năng lực pháp lý của chủ đầu tư bao gồm những vấn đề về hồ sơ pháp lý của chủ đầu tư như: giấy phép đầu tư, giấy phép kinh doanh làm giả, chủ đầu tư không đủ năng lực pháp lý, tư cách pháp nhân hay các giấy tờ,
thủ tục, quyết định liên quan đến bổ nhiệm hội đồng quản trị, điều lệ của công ty là không hợp lệ, có vấn đề hoặc có những thiếu sót Nếu những rủi ro đó xảy ra sẽ ảnh
RR đối với chủ đầu tư
tổ chức tài chính khác
RR về quan hệ tài chính với các
tổ chức tài chính khác
RR về thị trường
dự án
RR về thị trường
dự án
RR
về kỹ thuật công nghệ
RR
về kỹ thuật công nghệ
RR trong tổ chức quản lý
RR trong tổ chức quản lý
RR đến môi trường
và xã hội
RR đến môi trường
và xã hội
RR
về tính pháp
lý của
dự án
RR
về tính pháp
lý của
dự án
RR nằmngo
ài dự án
RR nằmngo
ài dự án
RR trong phân tích tài chính
RR trong phân tích tài chính
RR
về pháp lý
RR
về pháp lý
RR
về định giá
RR
về định giá
RR về thanh khoản
RR về thanh khoản
RR đốivới tài sản đảm bảo
RR cho vay theo dự án
RRđối với dự án đầu tư
Trang 24hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, gây ra những thiệt hại không đáng
có khi không thể xác định người chịu trách nhiệm trả nợ
Chính vì vậy để hạn chế loại rủi ro này thì ngay từ giai đoạn nhận diện rủi ro, cán bộ QLRR của ngân hàng cần sử dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu các tài liệu có liên quan đến hồ sơ pháp lý của chủ đầu tư xem xét xem các số liệu có chính xác và hợp lệ hay không, có vấn đề hay thiếu sót gì để ra quyết định đúng đắn trước khi làm đề xuất tín dụng trình lên lãnh đạo
- RR về năng lực quản lý điều hành
RR về năng lực quản lý điều hành xảy ra khi người quản lý điều hành dự án trình độ chuyên môn chưa chuyên sâu, chưa có kinh nghiệm hoặc khi năng lực và chuyên môn của chủ đầu tư chưa tương thích với quy mô, độ phức tạp của dự án hoặc chủ đầu tư chưa đủ kinh nghiệm và trình độ để phòng và xử lý những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra với dự án Nếu loại rủi ro này xảy ra thì sẽ gây ra những hậu quả trước tiên là với kết quả, hiệu quả của dự án, sau là gây tổn thất cho ngân hàng khi dự án không hoàn thành và phát huy tác dụng, không có khả năng trả nợ, gây nợ xấu, ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh tại ngân hàng
Đặc biệt là với đối tượng khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ thì năng lực quản lý của chủ đầu tư hầu hết là còn yếu kém, chưa có nhiều kinh nghiệm Chính vì vậy mà cán bộ quản lý rủi ro cần đánh giá đúng năng lực, trình độ và kinh nghiệm của người quản lý điều hành nhằm đưa ra quyết định đúng đắn
- RR về năng lực tài chính
RR về năng lực tài chính của chủ đầu tư xảy ra khi mà năng lực tài chính của chủ đầu tư không đủ để trang trải cho tiến độ dự kiến của dự án, vốn tự có trên vốn
đi vay là nhỏ hơn một thì dự án rất kém khả thi
Như đã biết, doanh nghiệp vừa và nhỏ có đặc điểm là năng lực tài chính thấp chính vì vậy cán bộ quản lý rủi ro cần xem xét cẩn thận tính khả thi và hiệu quả của
dự án để ra những quyết định đúng đắn, tránh bỏ sót những dự án hiệu quả cao tuy năng lực tài chính của chủ đầu tư còn chưa cao
- RR trong quan hệ tín dụng với các tổ chức tài chính khác
RR trong quan hệ tín dụng với các tổ chức tài chính khác xảy ra khi chủ đầu
tư từ trước đến thời điểm vay vốn tại ngân hàng đã có nhiều mối quan hệ với các tổ
Trang 25b.RR đối với dự án đầu tư
- RR về pháp lý của dự án đầu tư
RR về tính pháp lý của dự án đầu tư xảy ra khi mà hồ sơ xin vay vốn của dự
án có vấn đề, không hợp lệ, có nhiều thiếu sót hay những thông tin còn mập mờ, chưa rõ ràng…
Khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây ra những thiệt hại lớn cho dự án như xảy
ra kiện tụng, dự án tạm ngừng hoạt động, chậm tiến độ, ảnh hưởng xấu đến kết quả, hiệu quảcủa dự án từ đó gây ra thua lỗ, khó trả nợ cho ngân hàng, dễ dẫn đến nợ xấu, nợ khó trả…Chính vì vậy mà ngay từ giai đoạn nhận diện rủi ro, cán bộ quản
lý rủi ro cần phải đánh giá chính xác hồ sơ xin vay vốn của dự án
- RR về thị trường của dự án đầu tư
RR về thị trường của dự án đầu tư bao gồm những rủi ro về cung cầu sản phẩm của dự án trên thị trường, rủi ro về phân khúc thị trường và khách hàng mục tiêu, rủi ro cạnh tranh…
RR về cung cầu sản phẩm của dự án trên thị trường như thiếu hụt hay dư thừa sản phẩm ra thị trường dẫn đến đầu tư không hiệu quả, gây lãng phí không đáng có…
RR về phân khúc thị trường như chọn phân khúc thị trường không hợp lý, sản phẩm
ra không phù hợp với thị hiếu khách hàng, không thể tiêu thụ được…
RR cạnh tranh là khi xác định không chính xác không đúng các đối thủ cạnh tranh Khi đó sản phẩm của dự án tung ra thị trường không thể phát triển được do có sự kìm hãm của các đối thủ cạnh tranh, trầm trọng hơn thì sản phẩm của dự án bị thôn tính, mất chỗ đứng trên thị trường
- RR về kỹ thuật, công nghệ của dự án
RR về kỹ thuật, công nghệ của dự án là những rủi ro về quy trình chuyển giao công nghệ, rủi ro về việc xác định công suất khả thi cho dự án, rủi ro khi lắp
Trang 26đặt trang thiết bị thực hiện dự án, rủi ro về giá cả trang thiết bị công nghệ cung cấp cho dự án
Những rủi ro về kỹ thuật công nghệ là rất dễ xảy ra bởi các thiết bị công nghệ đa số là nhập khẩu, khó có thể định giá chính xác, đặc biệt với những dự án quy mô lớn, khối lượng trang thiết bị công nghệ nhiều, phức tạp thì việc quản lý rủi
ro cũng trở nên khó khăn hơn Chính vì vậy mà để quản lý tốt rủi ro này cán bộ quản lý rủi ro cần có kinh nghiệm thực tế, nhạy bén với thị trường…
- RR trong tổ chức quản lý
RR trong tổ chức quản lý là những rủi ro như mô hình tổ chức quản lý chưa khoa học, hợp lý, chưa phát huy hết hiệu quả, trong quá trình thực hiện còn xảy ra nhiều sai sót như tai nạn lao động, thiếu nguyên vật liệu cung ứng đầu vào…Những rủi ro đó sẽ dẫn đến việc lãng phí, không đạt hiệu quả như mong muốn, mất cơ hội hoặc chệch hướng thị trường mục tiêu…
- RR trong phân tích tài chính
RR trong phân tích tài chính là khi tổng vốn đầu tư không đủ, vốn không đáp ứng kịp tiến độ dự kiến hoặc các chỉ tiêu kết quả, hiệu quả không tính chính xác, sai lệch khiến việc đánh giá, ra quyết định vay vốn cũng sai lầm Chính vì vậy mà các kết quả, hiệu quả của dự án phải được xem xét, tính toán chính xác, tránh sai sót nhầm lẫn gây ra những hậu quả không đáng có
- RR đến môi trường và xã hội
RR đến môi trường và xã hội xảy ra khi hoạt động kinh doanh của dự án có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường xung quanh và dân cư nơi dự án hoạt động như rác thải làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống khu dân cư xung quanh…RR đến môi trường và xã hội xảy ra sẽ gây ảnh hưởng lớn đến tiến độ
dự án do vướng phải kiện tụng của dân cư, của báo chí, cơ quan địa phương… Chính vì vậy rủi ro này cần được nhận diện và đưa ra biện pháp phòng ngừa rõ ràng
- RR nằm bên ngoài dự án ( rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng)
RR nằm bên ngoài dự án bao gồm rủi ro về chính sách và rủi ro về điều kiện kinh tế vĩ mô
RR về chính sách là rủi ro xảy ra khi chính sách kinh tế có liên quan đến đầu
Trang 27tư thay đổi, chỉnh sửa ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kinh doanh của dự án như: chính sách tiền tệ, chính sách tài chính, chính sách đầu tư, sự thay đổi định mức kỹ thuật, sự thay đổi về ngành nghề lĩnh vực nhận ưu đãi đầu tư…
RR về điều kiện kinh tế vĩ mô là những thay đổi biến động về các chỉ tiêu vĩ
mô như rủi ro lạm phát, rủi ro lãi suất, rủi ro về tỷ giá hối đoái, rủi ro về tình hình chính trị đất nước…
Ngoài ra còn một số rủi ro khác cũng ảnh hưởng đến kết quả, hiệu quả dự án như: thiên tai, cháy nổ, thay đổi xu hướng tiêu dùng, thị hiếu…
c.RR đối với tài sản đảm bảo
- RR về pháp lý
Là loại rủi ro xảy ra khi có những vấn đề đối với tài sản đảm bảo như tính không hợp lệ, sai lệch hoặc có những giấy tờ, thủ tục thiếu sót liên quan đến tài sản đảm bảo…RR này được phát hiện dựa vào các tài liệu thông tin liên quan tài sản đảm bảo và các thông số kỹ thuật để so sánh, đối chiếu với thực tế để đưa ra kết luận chính xác nhất
- RR định giá
RR định giá là loại rủi ro xảy ra khi định giá tài sản đảm bảo không đúng giá trị thực, cao hoặc thấp hơn giá trị thực tế, nhất là với những tài sản đảm bảo là những trang thiết bị công nghệ cao, phức tạp, nhập khẩu từ nước ngoài về RR xảy
ra thì khi chủ đầu tư không có khả năng trả nợ hay có nợ xấu thì ngân hàng sẽ khó thu hồi đủ vốn, gây thiệt hại lớn
- RR thanh khoản
RR thanh khoản xảy ra khi tài sản đảm bảo không thể chuyển thành tiền mặt khi chủ đầu tư không có khả năng trả nợ, gây nợ xấu mà ngân hàng phải phát mãi tài sản đảm bảo Khi xảy ra loại rủi ro này thì ngân hàng sẽ không thu hồi được nợ, gây thiệt hại lớn thậm chí là phá sản nếu dự án là dự án có quy mô vốn lớn Chính
vì vậy mà ngay từ đầu cán bộ ngân hàng không những xem xét tính khả thi của dự
án mà còn phải chú trọng xem xét khả năng thanh khoản của tài sản đảm bảo
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến QLRR hoạt động cho vay DNVVN
Công tác QLRR hoạt động cho vay DNVVN tại ngân hàng là một trong những nhiệm vụ quan trọng đối với bất kỳ ngân hàng nào bởi lẽ phạm vi hoạt động
Trang 28của QLRR khá rộng, giám sát và quản lý hầu hết tất cả các khâu trong quá trình cho vay đồng thời hoạt động QLRR còn liên quan đến trách nhiệm của rất nhiều bộ phận của ngân hàng Chính bởi lý do đó mà hoạt động QLRR chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau bao gồm cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan như: các nhân tố thuộc về ngân hàng (năng lực, kinh nghiệm của cán bộ công nhân viên của ngân hàng, rủi ro trong quy trình cho vay…), các nhân tố thuộc về khách hàng, các nhân tố liên quan đến kinh tế - xã hội…
Sau đây sẽ cụ thể đi xem xét từng nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động QLRR trong các ngân hàng thương mại:
1.2.3.1 Nhóm nhân tố chủ quan bao gồm
Các nhân tố bên trong ngân hàng
- Nhân sự: Cán bộ, công nhân viên trong ngân hàng là một trong những nhân
tố vô cùng quan trọng, ảnh hưởng lớn đến chất lượng hoạt động kinh doanh trong các NHTM Tất cả các nghiệp vụ có liên quan đến quy trình cho vay như thẩm định các điều kiện tín dụng, đánh giá doanh nghiệp cho đến thẩm định tài sản đảm bảo của doanh nghiệp… đòi hỏi cán bộ của ngân hàng phải có trình độ chuyên môn cao, nắm bắt được kinh tế thị trường, có kinh nghiệm, đức phẩm chất tốt, đầu óc phân tích và dự báo nhạy bén để đưa ra những kết quả tốt, hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất, đảm bảo chất lượng các khoản vay
- Công tác kiểm soát nội bộ: Trong nội bộ ngân hàng là một cơ cấu tổ chức
phức tạp đòi hỏi cán bộ ngân hàng cần phải theo dõi, kiểm soát chặt chẽ tình hình nội bộ, nắm bắt kịp thời thông tin để kịp thời phát hiện xử lý và tránh gây những hậu quả nghiêm trọng xảy ra Không những thế, công tác kiểm soát nội bộ tốt cũng
sẽ đảm bảo cho hoạt động quản lý rủi ro trong ngân hàng diễn ra hiệu quả
- Cơ cấu tổ chức: mỗi ngân hàng sẽ có một cơ cấu tổ chức khác nhau nên ít
nhiều cũng sẽ tác động đến quy trình quản lý rủi ro Như đã nói ở những phần trên, hoạt động QLRR là khá phức tạp, liên quan đến nhiều bộ phận, phòng ban nên việc phân chia trách nhiệm công việc của từng cán bộ trong ngân hàng cũng sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả của công tác QLRR Nếu ngân hàng có một cơ cấu tổ chức rõ ràng, khoa học thì việc quản lý rủi ro cũng trở nên suôn sẻ hơn nhưng ngược lại, một cơ cấu tổ chức không rõ ràng, thiếu khoa học thì hoạt động quản lý rủi ro sẽ kém hiệu quả gây ên những tổn thất không đáng có cho ngân hàng
- Đội ngũ lãnh đạo: lãnh đạo là người trực tiếp điều hành, quản lý giám sát
Trang 29vậy đây cũng là nhân tố quan trọng tác động lên chất lượng của hoạt động quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DNVVN Mọi quyết định, chỉ đạo từ phía ban lãnh đạo khi có những biến động hay tình thế cấp bách là rất quan trọng liên quan đến hoạt động cho vay và xử lý rủi ro…
1.2.3.2 Nhân tố khách quan
Các nhân tố bất khả kháng
- Công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát của NHNN: NHNN là cơ quan
quản lý, giám sát và quy định các hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại như: lãi suất huy động, lãi suất cho vay, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, bảo đảm tiền vay… nhằm đảm bảo hiệu quả kinh doanh của ngân hàng nhưng vẫn hài hòa với lợi ích của các khách hàng Tuy nhiên những quy định này không phải lúc nào cũng phù hợp với điều kiện kinh doanh của từng ngân hàng mà đôi khi còn làm ngân hàng còn gặp những rủi ro trong hoạt động tín dụng nên ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro tại ngân hàng
- Các nhân tố liên quan môi trường kinh doanh: Môi trường kinh doanh bao
gồm các yếu tố như: tình hình kinh tế - xã hội, lãi suất, tỷ giá, lạm phát…là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động tín dụng của ngân hàng Những thay đổi môi trường kinh doanh ít nhiều cũng gây khó khăn cho ngân hàng trong công tác thẩm định, đánh giá, quản lý rủi ro trong quy trình cho vay nên cần phải có những chính sách kịp thời để đảm bảo an toàn tín dụng
1.2.4 Sự cần thiết của hoạt động quản lý rủi ro trong cho vay các DNVVN
1.2.4.1 Kinh doanh trong lĩnh vực Ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, tiềm ẩn nhiều rủi ro
Các NHTM là tổ chức trung gian tài chính đứng giữa vòng vây của bốn nhóm đối tượng có vốn và cần vốn trong nền kinh tế là: Hộ gia đình, Doanh nghiệp, Nhà Nước và các doanh nghiệp FDI Hoạt động của các NHTM là kinh doanh các dịch vụ lưu chuyển vốn và các tiện ích ngân hàng khác Số vốn của các NHTM là
vô cùng bé so với tổng tài sản có của Ngân hàng cho dù hệ số an toàn có đạt 8% đi chăng nữa Thực chất hoạt động kinh doanh chính của NHTM là dùng uy tín của mình để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi và cho vay những tổ chức kinh tế có nhu cầu sử dụng vốn Tuy vậy hoạt động kinh doanh này của các NHTM không hề đơn giản mà tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, chịu tác động từ tình hình phát triển nền kinh tế, hoạt động kinh doanh của khách hàng…Chính vì vậy đòi hỏi công tác quản lý rủi ro phải chặt chẽ để kiểm soát rủi ro ở mức hợp lý
Trang 301.2.4.2.Hiệu quả kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào mức độ rủi ro
Hoạt động cho vay của NHTM là hoạt động kinh doanh chính và mang lại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng Trong quy trình cho vay sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro
mà có những rủi ro tác động bởi những yếu tố bất khả kháng khó mà tránh khỏi Nếu tỷ lệ rủi ro thấp thì lợi nhuận kinh doanh sẽ cao và ngược lại, tỷ lệ rủi ro cao thì lợi nhuận sẽ thấp và thậm chí là bị thua lỗ, phá sản Chính vì vậy, hàng năm ngân hàng phải trích các khoản dự phòng rủi ro để phòng và hạn chế tác động của rủi ro đến kết quả kinh doanh của ngân hàng
1.2.4.3 QLRR tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao kết quả kinh doanh
Trong các NHTM, công tác QLRR đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Thậm chí một số Ngân hàng coi công tác QLRR là bộ phận đầu não, thành một khối kinh doanh trong cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Hoạt động quản lý rủi ro sẽ giúp ngân hàng chủ động được hoạt động kinh doanh của mình, nắm bắt được tình hình huy động cũng như cho vay, tạo điều kiện tốt để phòng ngừa và hạn chế rủi ro đến mức tối thiểu Chính vì vậy mà các cán bộ nhân viên thuộc khối QLRR cần phải có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế, đạo đức nghề nghiệp và cả một hệ hống công nghệ tiên tiến phục vụ tốt nhất cho công tác QLRR Hơn thế nữa Ngân hàng cũng phải có kế hoạch hành động rõ ràng, đúng hướng, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cá nhân bộ phận trong toàn hệ thống ngân hàng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1 của chuyên đề thực tập đã trình bày về khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa và hoạt động QLRR trong cho vay đối với các DNVVN tại NHTM Từ những nắm bắt cơ bản về lịch sử hình thành phát triển, cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ, tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh và hoạt động QLRR trong cho vay đối với các DNVVN tại NHTM để bám sát phân tích đánh giá thực trạng QLRR trong hoạt động cho vay theo
dự án của DNVVN tại NHTMCP Công thương – Chi nhánh Đống Đa rồi từ đó tìm ra những nguyên nhân, tồn tại và đưa ra những kiến nghị, giải pháp phòng ngừa
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QLRR TRONG CHO VAY THEO DỰ ÁN CỦA DNVVN TẠI NHTM CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG
VIETINBANK - CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA
2.1 Thực trạng hoạt động cho vay theo dự án của DNVVN tại NHTM cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa
2.1.1 Cơ cấu DNVVN vay vốn theo dự án tại Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa
Ở Việt Nam,tính tới hiện nay thì số lượng DNVVN chiếm khoảng 98%
số lượng doanh nghiệp của cả nước chính vì vậy DNVVN là đối tượng khách hàng quan trọng của Chi nhánh Tuy rằng doanh số thu được từ đối tượng khách hàng là DNVVN chiếm khoảng một phần ba doanh số từ hoạt động cho vay theo dự án và bằng một phần hai doanh số cho vay theo dự án các doanh nghiệp lớn nhưng số lượng DNVVN đến với Chi nhánh lại đông đảo và đa dạng hơn rất nhiều so với khách hàng là doanh nghiệp, tập đoàn lớn
Các doanh nghiệp lớn khi vay theo dự án thường là những khoản vay lớn, đời dự án dài, thời gian thu hồi vốn lâu nên mang nhiều rủi ro tiềm ẩn còn với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì khoản vay theo dự án không lớn bởi dự án của các DNVVN thường là dự án nhỏ, vốn ít nên nếu có rủi ro thiệt hại cũng là
ít hơn Chính vì vậy mà các DNVVN là đối tượng tiềm năng của Chi nhánh
Dưới đây là cơ cấu các DNVVN vay vốn theo dự án tại Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa ba năm gần đây, từ năm 2010 đến năm 2012
Trang 32Bảng 2.1: Cơ cấu các DNVVN vay vốn theo dự án tại Ngân hàng Công thương
Chi nhánh Đống Đa
Số lượng
Tỷ trọng (%)
Số lượng
Tỷ trọng (%)
Số lượng
Tỷ trọng (%)
Nguồn: Báo cáo hoạt động tín dụng của Ngân hàng Công thương – Chính nhánh
Đống Đa giai đoạn 2010 - 2012
Kể từ khi hình thành và phát triển, số lượng dự án của các DNVVN vay vốn đầu tư tại Chi nhánh tăng đều hàng năm So với năm 1988, khi Chi nhánh thành lập có 25 dự án của các DNVVN vay vốn thì đến cuối năm 2012 số lượng
dự án đã tăng lên là 120 dự án của các DNVVN Nhìn vào bảng số liệu trên của Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa cho thấy ba năm gần đây từ năm 2010 đến năm 2012 thì loại hình Công ty TNHH luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, sau đó là Công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân
và sau cùng là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều đó được giải thích là ở nước ta hiện nay có ba loại hình doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn là Công ty TNHN, Công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân, còn các Doanh nghiệp Nhà nước và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nên ít doanh nghiệp được xếp vào DNVVN Mặc dù rằng số dự án của các DNVVN có tăng lên qua các năm nhưng vẫn không xứng với tổng số DNVVN đang có nhu cầu
Trang 33vay vốn đầu tư bởi kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, lạm phát kéo dài, lãi suất vay cao, ngân hàng thắt chặt tín dụng nên các DNVVN rất khó khăn trong việc vay vốn để đầu tư cho các dự án.
2.1.2 Doanh số cho vay của DNVVN tại Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa
Trong những năm gần đây, từ năm 2010 đến năm 2012, doanh số cho vay các DNVVN tại Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa tăng đều qua các năm
Bảng dưới đây sẽ thể hiện doanh số cho vay các DNVVN tại Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa giai đoạn 2010 – 2012:
Bảng 2.2 Doanh số cho vay các DNVVN tại Ngân hàng Công thương – Chi
nhánh Đống Đa giai đoạn 2010 - 2012
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2011/2010 2012/2011
Tuyệt đối
Tương đối (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%)
Tổng doanh
số cho vay 4.504,4 5.107,6 6.325,2 603,2 13,4 1.217,6 23,8Doanh số
Nguồn: Báo cáo hoạt động tín dụng của Ngân hàng Công thương - Chi nhánh
Đống Đa giai đoạn 2010 – 2011
Trang 34Nhìn vào bản số liệu trên có thể thấy:
Doanh số cho vay các DNVVN tại Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa giai đoạn 2010 – 2011 tăng mạnh cả về số lượng lẫn tỷ trọng Có được kết quả này là do sự nỗ lực hết mình của toàn thể cán bộ nhân viên toàn Chi nhánh trong duy trì mối quan hệ với khách hàng thân thiết và tìm kiếm những khách hàng mới Bên canh đó là nhu cầu vay vốn cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sau khủng hoảng kinh tế từ năm 2008
Sang năm 2012, doanh số cho vay các DNVVN có vẻ chững lại bởi những năm trước ngân hàng đã quá chú trọng vào tăng trưởng tín dụng, mở rộng quy mô cho vay kể cả những doanh nghiệp có những dự án vay vốn không mấy khả thi nên đến năm 2012, nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phải đóng cửa, những doanh nghiệp còn trụ lại được với thị trường thì cũng hoạt động cầm chừng, rất khó khăn Chính vì vậy mà sang năm 2012, Chi nhánh chú trọng hơn chất lượng tín dụng, kiểm soát các khoản vay, thắt chặt tín dụng cho nên doanh số cho vay của Chi nhánh có phần sụt giảm, giảm lợi nhuận của ngân hàng
2.1.3 Dư nợ cho vay theo dự án của các DNVVN tại Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa giai đoạn 2010 - 2012
Bảng 2.3 Dư nợ cho vay theo dự án của các DNVVN tại Ngân hàng Công
thương – Chi nhánh Đống Đa của NHCT Đống Đa phân theo đối
Tỷ trọng (%)
Trang 35Biểu đồ 2.1 Dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN tại Ngân hàng Công
thương – Chi nhánh Đống Đa
Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy dư nợ cho vay theo dự án của các DNVVN tăng quan các năm từ năm 2010 đến năm 2012 Năm 2011, dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN là 1343 tỷ đồng, chiếm khoảng 33,01% tổng
dự nợ Cho đến năm 2012, thì con số này tiếp tục tăng, tổng dư nợ cho vay theo
dự án của các DNVVN đạt 2023 tỷ đồng, chiếm 33,59% tổng dư nợ Qua phân tích số liệu trên cho thấy dư nợ tín dụng của ngân hàng tăng ngày càng nhanh, được kết quả như vậy cũng nhờ sự nỗ lực và quyết tâm của cán bộ nhân viên của chi nhánh và ngân hàng Công thương đã tiến hành tốt các chính sách hỗ trợ DNVVN của NHNN và Chính phủ trong tình hình nền kinh tế khó khăn như mấy năm vừa qua.Trong những năm tới, Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa cũng sẽ tích cực hơn, đề ra những phương án, mục tiêu để đạt được những hiệu quả tốt nhất về tăng trưởng tín dụng trong cho vay theo dự án của DNVVN
Trang 362.1.4 Cơ cấu dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN của Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa
Cơ cấu dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN phân theo loại tiền
Bảng 2.4 Cơ cấu dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN theo loại tiền giai
Tỷ trọng(%)Tổng dư nợ
(Nguồn: Phòng tổng hợp Ngân hàng Công thương Đống Đa)
Biểu đồ 2.2 Dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN phân theo loại tiền
Nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN bằng VND chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của DNVVN Điều đó cho thấy DNVVN hoạt động trên thế giới khá ít mà đa số là các doanh nghiệp, tập đoàn lớn Tuy nhiên thì trong ba năm vừa qua dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN bằng VND có xu hướng giảm còn dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN bằng ngoại tệ
có xu hứng tăng lên cũng cho thấy tỷ lệ DNVVN hoạt động vay vốn bằng ngoại tệ cũng đang tăng dần lên Cụ thể, năm 2010 dư nợ cho vay bằng ngoại tệ là 9,6% nhưng đến năm 2012 thì tỷ lệ này là 14,53%
Trang 37 Cơ cấu dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN theo thời hạn
Bảng 2.5 Dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN theo thời hạn
( Nguồn: Phòng quản tổng hợp Ngân hàng Công thương Đống Đa)
Biểu đồ 2.3 Dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN phân theo thời hạn
Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN theo thời hạn ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ cho vay theo
dự án của DNVVN và sẽ có xu hướng tăng trong những năm tới Điều này được giải thích là do các dự án của DNVVN phần lớn là dự án vay vốn ngắn hạn đáp ứng cho nhu cầu quay vòng vốn và kịp thời vốn lưu động cho dự án, đảm bảo dự án đúng tiến độ và dự án có hiệu quả Còn các khoản vay vốn dài hạn cho dự án của các DNVVN thường là vào những dự án đầu tư trang thiết bị, công nghệ, tài sản cố định cho doanh nghiệp mà những dự án này rất ít đối với những DNVVN Tỷ trọng
dư nợ trung và dài hạn DNVVN có xu hướng giảm là do các dự án đầu tư vay vốn trung và dài hạn thường mang lại hiệu quả chưa cao nên ngân hàng khá e ngại khi cho DNVVN vay vốn đầu tư dài hạn
Cơ cấu dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN phân theo thành phần
Trang 38Tỷ trọng (%)
DN ngoài QD 376,36 62,31 851,8 63,43 1301,2 64,32
( Nguồn: Phòng tổng hợp Ngân hàng Công thương Đống Đa)
Biểu đồ 2.4 Dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN phân theo thành phần kinh tế
Trang 39Nhìn vào bảng số liệu trên cho ta thấy: Dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN thuộc DNNN chiếm tỷ trọng nhỏ và có xu hướng giảm qua các năm còn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì lại có xu hướng tăng dần cho thấy
cơ cấu cho vay theo dự án các DNVVN là phù hợp với xu thế phát triển kinh tế đất nước cũng như xu hướng tín dụng của ngân hàng là dần chuyển sang các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh bởi Doanh nghiệp quốc doanh thường sử dụng vốn có hiệu quả tuy nhiên cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Vì vậy mà Chi nhánh cũng phải thận trọng với những khoản vay của Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Cơ cấu dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN phân theo tài sản đảm bảo
Bảng 2.7 Cơ cấu dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN phân theo tài sản đảm
bảo giai đoạn 2010 - 2012
Tỷ trọng (%)Tổng dư nợ
Trang 40Biểu đồ 2.5 Cơ cấu dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN
phân theo tài sản đảm bảo
Dựa vào bảng số liệu trên thì có thể thấy trong suốt 3 năm gần đây, tỷ lệ dư
nợ cho vay theo dự án của DNVVN có tài sản đảm bảo luôn chiếm tỷ trọng cao nhưng lại có xu hướng giảm dần qua các năm Điều này được giải thích là do DNVVN có năng lực tài chính thấp nên đa số tiếp cận với nguồn vốn tín dụng bằng tín chấp hoặc là thông qua bảo lãnh nên tỷ lệ dư nợ cho vay theo dự án của DNVVN giảm dần Tuy nhiên thì đối tượng khách hàng là các DNVVN là những khách hàng lâu năm, khách hàng thân thiết nên Chi nhánh luôn tạo những điều kiện tín dụng để tạo mối quan hệ bền chặt với nhóm khách hàng này