Vốn là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình hoạt động kinh doanh mọi doanh nghiệp cũng như và các Ngân hàng thương mại (NHTM) với tư cách là một doanh nghiệp, một chế tài trung gian hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ thì vốn lại có một vai trò hết sức quan trọng. NHTM là đơn vị chủ yếu cung cấp vốn thu lãi, vì vậy các NHTM rất chú trọng đến vấn đề huy động vốn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển, nhu cầu về vốn của các cá nhân cũng như các tổ chức kinh tế là rất lớn. Đứng trước tình hình đó, hệ thống NHTM đang phấn đấu nhằm thực hiện có hiệu quả chiến lược huy động vốn trong nước và nguồn vốn từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Để tăng cường huy động vốn các ngân hàng cần nghiên cứu các hình thức huy động, các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn như: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn qua thời gian; nguồn vốn có chi phí hợp lý; sự thay đổi cơ cấu của những nguồn vốn mà Ngân hàng muốn tăng cường huy động qua thời gian. Cũng như phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn. Phòng Giao Dịch Hà Đông – Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Á Châu là một đơn vị ngân hàng non trẻ. Sau hơn sáu năm đi vào hoạt động, Phòng đã đạt được những thành công nhất định trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên để có thể có được chỗ đứng vững chắc hơn trong hệ thống ngân hàng thì PGD cần đẩy nhanh hơn nữa hoạt động kinh doanh của mình, và công tác cơ bản đầu tiên và vô cùng quan trọng đó là công tác huy động vốn Và trong định hướng phát triển của PGD Hà Đông, tăng cường huy động vốn vẫn là ưu tiên hàng đầu. Đây là một hoạt động vô cùng cần thiết góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế, và để đảm bảo đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh cho ngân hàng. Thời gian gần đây do những biến động của nền kinh tế và do chính sách kinh tế của Chính phủ, thêm vào đó là sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt không chỉ riêng hệ thống NHTM mà còn từ sự tham gia ngày càng nhiều của các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Từ đó đòi hỏi PGD Hà Đông - Ngân hàng TMCP Á Châu phải có những giải pháp huy động vốn đúng đắn thích hợp mới đáp ứng được nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Chính vì vậy em đã lựa chọn nghiên cứu về đề tài "Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Phòng Giao Dịch Hà Đông -Ngân hàng TMCP Á Châu” cho chuyên đề thực tập của mình trong thời gian thực tập tại PGD Hà Đông
Trang 1TR¦êNG §¹I HäC KINH TÕ QuèC D¢N
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
BẢNG
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 : Biểu đồ tăng trưởng nguồn vốn PGD Hà Đông 2010 - 2012
Error: Reference source not foundBiểu đồ 2.2: Biểu đồ huy động vốn theo loại hình khách hàng Error:
Reference source not found
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức PGD Hà Đông Ngân hàng TMCP Á
Châu Error: Reference source not found
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Vốn là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình hoạt động kinh doanh mọi doanh nghiệp cũng như và các Ngân hàng thương mại (NHTM) với tư cách là một doanh nghiệp, một chế tài trung gian hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ thì vốn lại có một vai trò hết sức quan trọng
NHTM là đơn vị chủ yếu cung cấp vốn thu lãi, vì vậy các NHTM rất chú trọng đến vấn đề huy động vốn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển, nhu cầu về vốn của các cá nhân cũng như các tổ chức kinh tế là rất lớn Đứng trước tình hình đó, hệ thống NHTM đang phấn đấu nhằm thực hiện có hiệu quả chiến lược huy động vốn trong nước và nguồn vốn từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế
Để tăng cường huy động vốn các ngân hàng cần nghiên cứu các hình thức huy động, các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn như:Tốc độ tăng trưởng huy động vốn qua thời gian; nguồn vốn có chi phí hợp lý; sự thay đổi cơ cấu của những nguồn vốn mà Ngân hàng muốn tăng cường huy động qua thời gian Cũng như phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn
Phòng Giao Dịch Hà Đông – Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Á Châu là một đơn vị ngân hàng non trẻ Sau hơn sáu năm đi vào hoạt động, Phòng đã đạt được những thành công nhất định trong hoạt động kinh doanh Tuy nhiên để có thể có được chỗ đứng vững chắc hơn trong hệ thống ngân hàng thì PGD cần đẩy nhanh hơn nữa hoạt động kinh doanh của mình, và công tác cơ bản đầu tiên và vô cùng quan trọng đó là công tác huy động vốn
Và trong định hướng phát triển của PGD Hà Đông, tăng cường huy động vốn vẫn là ưu tiên hàng đầu Đây là một hoạt động vô cùng cần thiết góp phần
Trang 5nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế, và để đảm bảo đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh cho ngân hàng.
Thời gian gần đây do những biến động của nền kinh tế và do chính sách kinh tế của Chính phủ, thêm vào đó là sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt không chỉ riêng hệ thống NHTM mà còn từ sự tham gia ngày càng nhiều của các tổ chức tài chính phi ngân hàng Từ đó đòi hỏi PGD Hà Đông - Ngân hàng TMCP Á Châu phải có những giải pháp huy động vốn đúng đắn thích hợp mới đáp ứng được nhu cầu vốn cho nền kinh tế Chính vì vậy em đã lựa
chọn nghiên cứu về đề tài "Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Phòng Giao Dịch Hà Đông -Ngân hàng TMCP Á Châu” cho chuyên đề thực tập
của mình trong thời gian thực tập tại PGD Hà Đông
Kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng tăng cường huy động vốn tại PGD Hà Đông - Ngân hàng TMCP Á Châu.
Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại PGD Hà Đông - Ngân hàng TMCP Á Châu.
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại
1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, nó cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nó nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau Nghiệp vụ kinh doanh của NHTM rất phong phú và đa dạng với sự phát triển của khách hàng, khoa học kỹ thuật kinh tế và xã hội, hoạt động của NHTM cũng có nhiều phương pháp mới, nhưng các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản không thay đổi là nhận tiền gửi và hoạt động cho vay, đầu tư Qua NHTM các chính sách tài chính tiền tệ của Quốc gia sẽ được thực hiện một cách nhanh chóng và cũng nhờ nó mà việc kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp theo đúng luật pháp được dễ dàng hơn Sự ra đời, tồn tại và pháp triển của Ngân hàng luôn gắn liền với sự phát triển của kinh tế và đời sống xã hội Trong cơ chế thị trường, các NHTM và các tổ chức tín dụng cũng là các doanh nghiệp nhưng chúng là doanh nghiệp đặc biệt vì tái sản trong quá trình kinh doanh của các NHTM đều phụ thuộc vào khách hàng hóa mà các Ngân hàng kinh doanh là một hàng hóa đặc biệt, nó rất nhậy cảm với sự thay đổi của thị trường và tình hình kinh tế xã hội
1.1.2 Đặc điểm ngân hàng thương mại
NHTM là loại hình kinh doanh với mục đích kiếm lời (bao gồm 2 hình thức chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng) Trong đó, hoạt
Trang 7động kinh doanh tiền tệ được biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khác nhau để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi
nhuận Còn hoạt động dịch vụ Ngân hàng được biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối và chứng khoán để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời hạn nhất định nhằm mục đích thụ hưởng tiền công dịch vụ do khách hàng chi trả dưới dạng phí hay hoa hồng
NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện, nghĩa là chỉ khi nào NHTM thoả mãn đầy đủ những điều kiện khắt khe do pháp luật quy định
( vốn pháp định, phương án kinh doanh, ) thì mới được phép hoạt động
trên thị trường
NHTM là loại hình kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều so với các loại hình kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu sắc mang tính chất dây truyền đối với nền kinh tế Sở dĩ nói như vậy là vì trong hoạt động Ngân hàng, đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ, do các NHTM phải tiến hành huy động vốn của người khác để cấp tín dụng cho khách hàng và trên nguyên tắc NHTM chỉ có thể đòi tiền của người vay sau một thời hạn nhất định, nên
đã tạo ra khả năng rủi ro cao cho hoạt động Ngân hàng, kéo theo đó là sự rủi
ro đối với người gửi tiền ở NHTM, cũng như rủi ro đối với nền kinh tế Vì vậy, hoạt động Ngân hàng Ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới thường được điều chỉnh và kiểm soát hết sức chặt chẽ bằng những đạo luật riêng biệt, nhằm đảm bảo cho hoạt động này được vận hành an toàn và hiệu quả trong nền kinh tế thị trường
1.1.3 Vai trò của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Thực tế cho
thấy, để phát triển kinh tế các đơn vị kinh tế cần phải có một lượng vốn lớn
Trang 8đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác Nhưng điều khó khăn hơn lợi ích là cần có người đứng ra tập trung tiền nhàn dỗi ở mọi nơi mọi lúc và kịp thời cung ứng cho nơi cần vốn Bằng vốn huy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất Nhờ có hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại
và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm cho xã hội
Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường Trong cơ chế thị trường, đòi hỏi sự phát triển của tín dụng Ngân hàng đã làm biến đổi hoạt động trong các nhà máy, xí nghiệp các dây chuyền sản xuất hiện đại năng suất cao, thực hiện chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến Các doanh nghiệp với vốn tự có rất ít ỏi bởi vậy tín dụng ngân hàng còn cung cấp một phần vốn không nhỏ trong việc tăng cường nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp
Ngân hàng thương mại là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.Cùng với sự vận động của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng được chia làm hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng thương mại (NHTM) NHTM được Nhà nước cấp vốn cho hoạt động và sử dụng như công cụ để quản lý hoạt động tiền tệ, điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia.Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng thương mại trong hệ thống từ đó góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông và thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế
Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế.Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, sự hội nhập
Trang 9kinh tế quốc gia với thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững Một trong các điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy sự hội nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đó là nền tài chính quốc gia Nền tài chính quốc gia là cầu nối với nền tài chính quốc tế thông qua hoạt động của Ngân hàng thương mại trong các lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác Đặc biệt là các hoạt động thanh toán quốc tế buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng Nhà nước của Ngân hàng thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó Ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
1.1.4 Chức năng của Ngân hàng thương mại
* Chức năng trung gian tín dụng
Với chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thương mại làm "cầu nối" giữa người thừa vốn và người thiếu vốn và nó đã không chỉ đem lại lợi ích cho những người dư thừa vốn và những người thiếu vốn mà còn đem lại lợi ích kinh tế cho bản thân nó và nền kinh tế Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới Lợi nhuận này chính là cơ sở cho Ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển Với chức năng này, Ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh
*Chức năng trung gian thanh toán
Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra thanh toán hộ cho khách hàng bằng cách chuyền tiền từ tài khoan này sang tài
khoản khác theo yêu cầu của họ Thông qua chức năng này Ngân hàng đóng
Trang 10vai trò là người "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tiền của khách hàng, chi tiền hộ cho khách hàng Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì chức năng này của ngân hàng ngày càng được mở rộng.
Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống Ngân hàng thương mại góp phần phát triển nền kinh tế Khi khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng
*Chức năng tạo tiền
Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: Từ một
số dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớn hơn so với lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng
Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dư Với số tiền này sau khi đã để lại một khoản dự trữ bắt buộc, ngân hàng sẽ đem đi đầu tư, cho vay từ đó nó sẽ chuyển sang vốn tiền gửi của ngân hàng khác Với vòng quay của vốn thông qua chức năng tín dụng và thanh toán của ngân hàng Ngân hàng thương mại thực hiện được chức năng tạo tiền
1.2 Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm huy động vốn tại Ngân hàng thương mại
Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại là một hoạt động
quan trọng của Ngân hàng thương mại nhằm thu hút, huy động những giá trị tiền tệ từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua các quá trình thực hiện các nghiệp vụ ký thác, các nghiệp vụ khác của Ngân hàng
Trang 11phục vụ cho hoạt động kinh doanh Ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi đến kỳ hạn (nếu là tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn (nếu là tiền gửi không kỳ hạn) Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng nguồn vốn này chứ không có quyền sở hữu.
Vốn huy động đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình thức: Nhận tiền gửi (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm); phát hành các công cụ nợ (tín phiếu, trái phiếu); và nguồn vốn đi vay Ngoài ra vốn của ngân hàng còn được hình thành thông qua việc làm uỷ thác, đại lý cho các
tổ chức trong và ngoài nước hoặc cung cấp các phương tiện thanh toán như thẻ rút tiền tự động từ máy ATM,
Nhìn chung nguồn vốn của ngân hàng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nhưng trong đó nguồn vốn huy động từ tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm khoảng từ 70% - 80% và nó có tính biến động Nhất là đối với loại tiền gửi không kỳ hạn và vốn ngắn hạn, hơn nữa vốn huy động chịu tác động lớn của thị trường và môi trường kinh doanh trên địa bàn hoạt động Vì vậy Ngân hàng thương mại cần phải đi sâu tìm hiểu, phân tích nguồn hình thành vốn này, dự đoán trước tình hình cung cầu vốn để có đối sách phù hợp
1.2.2 Các hình thức huy động vốn tại Ngân hàng thương mại
* Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi
- Tiền gửi không kỳ hạn Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng
mà khách hàng không có thoả thuận trước về thời gian rút tiền Ngân hàng phải trả một mức lãi suất thấp hoặc không phải trả một lãi cho số tiền gửi này Bởi vì, tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng rất biến động, khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào, do đó ngân hàng không chủ động sử dụng số vốn này, ngân hàng phải dự trữ một số tiền để đảm bảo có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu cầu Tiền gửi không kỳ hạn gồm hai loại:
Trang 12Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng
để thực hiện các khoản thanh toán về tiền mua hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng
Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: Là loại tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm bảo đảm an toàn về tài sản Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý cũng là tài sản của người ký thác, họ có quyền rút bất kỳ lúc nào, ngân hàng luôn luôn phải đảm bảo có thể thanh toán, lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán
- Tiền gửi có kỳ hạn Là loại tiền gửi, khách hàng gửi vào ngân hàng có
sự thoả thuận trước về thời hạn rút tiền Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi tương đối ổn định vì ngân hàng xác định được thời gian rút tiền của khách hàng để thanh toán cho khách hàng đúng thời hạn Do đó ngân hàng có thề chủ động sử dụng số tiền gửi đó vào mục đích kinh doanh trong thời gian ký kết Đối với loại tiền gửi này, ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1 tháng,
3 tháng, 6 tháng mục đích là tạo cho khách hàng có được nhiều kỳ hạn gửi phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ có Chính vì là loại tiền gửi mà ngân hàng có quyền sử dụng nó trong thời gian nhất định nên loại tiền gửi này được trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn
- Tiền gửi tiết kiệm Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng
nhằm hưởng lãi Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng cấp cho khách hàng một cuốn sổ, khách hàng phải quản lý và mang theo mỗi khi đến ngân hàng giao dịch
Xét về bản chất, tài khoản tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập của cá nhân người lao động mà họ chưa đưa vào tiêu dùng, và là một dạng đặc biệt để tích luỹ tiền tệ thay cho hình thức cất trữ vàng, hàng hoá Tiền gửi tiết kiệm có ba loại :
Trang 13Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác Số dư tiền gửi này không lớn, nhưng ít biến động, vì vậy đối với loại tiền gửi này các Ngân hàng thương mại thường trả lãi suất cao hơn với tiền gửi thanh toán.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về thời gian gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn Loại hình tiết kiệm này khá quen thuộc ở Việt Nam, các Ngân hàng thương mại Việt Nam thường huy động tiết kiệm với thời hạn phong phú từ ba tháng đến một năm
Tiết kiệm dài hạn: Đây là loại tiền gửi phổ biến ở một số nước công nghiệp Loại tiết kiệm này có tính ổn định cao bởi vì thời gian gửi tiền từ một năm trở lên, do đó ngân hàng chủ động sử dụng nguồn vốn này, nó tạo cho ngân hàng có tính chủ động sử dụng vốn cho mục đích vốn dài hạn Để thu hút vốn này, ngân hàng thường phải trả lãi suất cao
* Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá
Phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn của NHTM dưới hình thức phát hành các chứng từ như: Chứng chỉ tiền gửi ( kỳ phiếu), trái phiếu,
Các NHTM nhận thấy rằng, người gửi tiền rất nhạy cảm với những thay đổi trong lãi suất huy động của ngân hàng Vì vậy khi cần vốn, một NHTM có thể phát hành giấy tờ có giá với một mức lãi suất hấp dẫn hơn các loại nghiệp
vụ huy động thông thường khác nhằm huy động được kịp thời lượng vốn cần thiết Mức lãi được trả cho các công cụ này sẽ được thoả thuận trực tiếp giữa NHTM và khách hàng hoặc được ấn định ở một mức độ nhất định mà người gửi tiền có thể chấp nhận được, đồng thời đảm bảo hiệu quả kinh doành cho ngân hàng
Trang 14Thông thường, phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn theo sáng kiến riêng của từng NHTM với hình thức và kỳ hạn rất đa dạng nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu khách hàng và huy động được vốn cho ngân hàng Để tìm hiểu kỹ hơn chúng ta sẽ xem xét hai công cụ cơ bản là: Kỳ phiếu và Trái phiếu ngân hàng.
- Kỳ phiếu là một loại giấy nhận nợ do NHTM quốc doanh phát hành
nhằm huy động vốn trong xã hội một cách linh hoạt Căn cứ vào mục đích, nhu cầu cụ thể mà ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu bằng VNĐ hay USD.Nhu cầu phát hành kỳ phiếu thường phát sinh khi ngân hàng muốn có nguồn vốn đủ điều kiện để tài trợ các dự án có quy mô, trọng điểm nhằm phục
vụ kịp thời cho đầu tư phát triền của đất nước hoặc vì mục đích kinh doanh của ngân hàng như: Đầu tư chứng khoán, kinh doanh vàng bạc, ngoại tệ mà các nguồn huy động khác chưa đáp ứng được Khi đó ngân hàng có thể xin phép phát hành bằng từ trình gửi NHNN Trong tờ trình Xin phép phát hành
kỳ phiếu phải trình bày đầy đủ các nội dung sau:
+ Lý do xin phát hành
+ Kế hoạch sử dụng và nhu cầu sử dụng vốn
+ Các loại kỳ phiếu xin phát hành ( về kỳ hạn, phương thức trả lãi)
+ Thời gian phát hành
+ Tỷ lệ lãi cho từng loại kỳ phiếu
+ Tính toán hiệu quả kinh tế cho từng loại kỳ phiếu.
Phát hành kỳ phiếu là một nghiệp vụ huy động vốn có tính hiệu quả cao, hấp dẫn người mua và NHTM luôn chủ động trong việc bổ sung vốn hạn khi cần thiết
-Trái phiếu là một loại công cụ nợ do NHTM phát hành nhằm tài trợ vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Thông thường việc phát hành trái phiếu phải được sự cho phép của Ngân hàng trung ương Kỳ hạn của trái
Trang 15phiếu rất phong phú: 7 năm, 10 năm, 20 năm, Chủng loại cũng rất đa dạng như: Trái phiếu có lãi suất điều chỉnh, trái phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu
có lãi suất cố định, trái phiếu có thể chuyển đổi sang cổ phiếu, Người sở hữu
có thể bán trái phiếu trên thị trường thứ cấp trước khi trái phiếu đó hết hạn.Trái phiếu Ngân hàng được chuyển nhượng quyền sở hữu dưới các hình thức mua bán, cho, tặng, thừa kế Người sở hữu có thể dùng trái phiếu làm thế chấp tiền vay nếu được người cho vay chấp nhận
Trái phiếu Ngân hàng có thề phát hành dưới các hình thức: vô danh, ghi
sổ ghi danh Trái phiếu vô danh thuộc quyền sở hữu của người có trái phiếu
và được tự do chuyển nhượng, chủ sở hữu trái phiếu ghi danh và ghi sổ muốn chuyển nhượng thì phải làm thủ tục Ở Ngân hàng ( nơi mua trái phiếu)
Trái phiếu được các NHTM phát hành với kỳ hạn trên 1 năm Tuy nhiên, thời hạn cụ thể sẽ do các NHTM quyết định tuỳ theo phương án sử dụng vốn Trái phiếu phát hành cùng một đợt được ghi cùng thời hạn và được thanh toán vào cùng thời điểm đáo hạn Mệnh giá của trái phiếu là số tiền ghi trên trái phiếu lúc phát hành và có giá trị tối thiểu là 50.000 VND
Các loại mệnh giá lớn hơn được xác định bằng bội số của mệnh giá tối thiểu
Lãi suất của trái phiếu do NHTM ấn định trên cơ sở quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường sao cho có thể khuyến khích, động viên được người gửi vốn, người vay có thể chấp nhận được và NHTM đảm bảo hiệu quả kinh doanh Phương thức trả lãi cũng được các NHTM áp dụng một cách linh hoạt: Trả lãi trước, Trả lãi sau, Trả lãi định kỳ
NHTM muốn được phép phát hành trái phiếu cần phải hội đủ các điều
+ Hoạt động ổn định ít nhất 2 năm và chứng minh được hoạt động kinh
doanh của đơn vị được quản lý có hiệu quả
+ Có phương án kinh doanh cụ thể
Trang 16+ Cần phải có vốn điều lệ đủ lớn theo pháp định
+ Được phép bằng văn bản của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Sau khi đã hội đủ các điều kiện cần thiết, NHTM phải làm thủ tục xin phép NHNN về việc phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật
Nguồn vốn huy động được từ nghiệp vụ phát hành trái phiếu không chịu
sự điều chỉnh của quy định dự trữ bắt buộc Hơn nữa, nó là nguồn có tính ổn định cao, đáng được quan tâm nếu muốn mở rộng nguồn vốn huy động trung
và dài hạn tại một NHTM Bằng cộng cụ này, các NHTM có thể chủ động tạo được một khối lượng vốn như mong muốn một cách nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu vốn cấp bách đầu tư cho các công trình lớn của quốc gia
* Vay Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng khác.
Khi cần vốn thì các NHTM có thể đi vay trực tiếp từ các tổ chức tín dụng khác, Ngân hàng nước ngoài, từ công ty mẹ, Nhưng dù vay ở nguồn nào thì nhìn chung chi phí cho các khoản vay trực tiếp thường cao hơn chi phí phải trả cho các hình thức huy động vốn khác
-Vay từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Bộ tài chính (BTC)
+ Vay từ NHNN: Trong quan hệ giữa NHTM và NHNN thì NHNN có
tư cách là Ngân hàng của các Ngân hàng, là " Người cho vay cuối cùng" đối với các NHTM Thông thường các NHTM chỉ được vay NHNN để bù đắp những thiếu hụt ngắn hạn, tạm thời dưới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu tái cấp vốn Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt, NHNN vẫn cho NHTM vay để cho vay lại nền kinh tế theo kế hoạch của Nhà nước với một mức lãi suất ưu đãi Nhưng khoản vay này thường bị hạn chế số lượng, đặc biệt là khi chính sách tiền tệ quốc gia đang thắt chặt
+ Vay từ Bộ Tài chính: Mặc dù đã có Tổng cục đầu tư phát triển nhưng Bộ tài chính vẫn có sự hỗ trợ cho các chương trình tín dụng Ngân hàng Hàng năm, các địa phương được phân bổ một số vốn trung và dài hạn cho các công
Trang 17trình phục vụ các mục tiêu quốc kế dân sinh Nguồn này sẽ được Bộ Tài chính chuyển sang Ngân hàng Đầu tư và Phát triển hoặc của NHTM quốc doanh khác dưới hình thức quỹ đầu tư phát triển để cho các đối tượng này vay với lãi suất ưu đãi Nhưng cũng có những dự án thuộc danh mục Chính phủ chỉ định nhưng NHTM sẽ lo vốn đầu tư toàn bộ Do đó NHTM có thể vay một phần từ Bộ Tài chính để tài trợ cho các dự án này, Bộ Tài chính sẽ chuyển tiền
để cấp bù phần chênh lệch giữa lãi suất cho vay trung và dài hạn của NHTM
là lãi suất ưu đãi để NHTM không bị lỗ trong kinh doanh
- Vay từ các NHTM và Tổ chức tín dụng khác
Ngoài nghiệp vụ vay từ NHNN và.Bộ Tài chính thì các NHTM có thể vay mượn lẫn nhau hoặc vay từ các Công ty Bảo hiểm để đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh dựa trên nguyên tắc:
Các NHTM phải hoạt động hợp pháp
Thực hiện việc đi vay và cho vay theo hợp đồng tín dụng
Vốn vay phải được bảo đảm bằng thế chấp, cầm cố hay xin bảo lãnh của
NHNN
Nguồn vay mượn này thường có chi phí cao, kỳ hạn trung hạn là chủ yếu phụ thuộc nhiều vào quan hệ cũng như uy tín của NHTM đi vay
- Vay từ nước ngoài
Theo tinh thần Nghị định 90/1998/NĐ-CP ngày 7/11/1998 thì các NHTM có thể vay vốn ở Ngân hàng nước ngoài để cho vay lại trong nước Các NHTM Việt Nam hiện có quan hệ đại lý và quan hệ thanh toán rộng rãi với các Ngân hàng trong khu vực và trên thế giới nên nghiệp vụ này tiến hành cũng khá thuận lợi Lãi suất vay được áp dụng theo lãi suất trên thị trường tiền tệ thế giới Tuy nhiên, khi vay thì các NHTM Việt Nam phải chấp hành một hạn mức tín dụng do nước ngoài quy định Hạn mức này phải được Chính phủ hoặc NHNN Việt Nam bảo lãnh Theo Nghị định 90/CP, thì mức
Trang 18bảo lãnh vay vốn nước ngoài cho một tổ chức tín dụng không quá 6 lần vốn tự
có của tổ chức đó Nhưng hạn mức trên phải trừ đi số nợ trước chưa trả đến thời điềm đến thời điểm vay mới Như vậy muốn tận dụng hạn mức tín dụng của nước ngoài, các NHTM Việt Nam phải thực hiện tốt khâu hoàn trả
Các khoản vay từ Ngân hàng nước ngoài của các NHTM Việt Nam đều
do NHNN trực tiếp kiểm soát và quản lý Vì vậy, các hồ sơ vay vốn đều phải qua NHNN xét duyệt Các NHTM được quyền chủ động tìm kiếm các nguồn vay từ nước ngoài, qua đó góp phần quan trọng trong việc tài trợ các hoạt động kinh doanh ngân hàng
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn tại NHTM
* Nhân tố khách quan
- Sự ổn định và phát triển của nền kinh tế:
Động thái của nền kinh tế chính là cơ sở đầu tiên để người gửi tiền ra quyết định nên gửi tiền vào Ngân hàng, tích trữ vàng, USD hay mua sắm các tài sản khác Trong điều kiện nền kinh tế bất ổn định, giá cả và sức mua của đồng tiền biến động mạnh thì người dân có xu hướng tích trữ vàng, USD hoặc các dạng tài sản khác thay vì đem số tiền đó gửi tại NHTM Ngược lại, một nền kinh tế phát triển ổn định với tỷ lệ lạm phát hợp lý thì người dân sẽ có cái nhìn khả quan hơn và xu hướng tiền gửi ở các NHTM tăng lên là một điều tất yếu
- Nhân tố tiết kiệm trong nền kinh tế:
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ rõ " Để tạo vốn cho đầu tư phát triển, giải pháp cơ bản và lâu dài là làm ăn có hiệu quả, phát triển kinh tế, thực hành tiết kiệm kể cả trong chi tiêu của Nhà nước, trong sản xuất kinh doanh và trong tiêu dùng của dân cư Thực tế cho thấy, người dân có thu nhập càng cao thì lượng tiền dành cho tiết kiệm có thể càng lớn, đặc biệt là khì thu nhập bình quân đầu người đã đạt đến một mức độ nhất định thì tỷ lệ tiết kiệm
Trang 19không phải tăng lên theo tương quan tỷ lệ với sự gia tăng của thu nhập mà tăng với một tỷ lệ lớn hơn so với thu nhập do nhu cầu thiết yếu lúc này được thoả mãn hoàn toàn và lượng tiền dư ra sẽ tăng nhanh Tuy nhiên, lượng tiền tiết kiệm có được gửi vào NHTM hay không còn phụ thuộc vào tâm lý tiêu dùng các dân cư Họ có thể đem gửi Ngân hàng, giữ tiền mặt, vàng, ngoại tệ hoặc mua các tài sản khác.
Bên cạnh nguồn tiết kiệm từ dân cư thì nguồn tiết kiệm từ các tổ chức kinh tế- xã hội cũng rất quan trọng NHTM có thể huy động nguồn vốn này thông qua nghiệp vụ phát hành trái phiếu Do đó để NHTM thực hiện tổ chức năng trung gian tài chính, phục vụ đầu tư phát triển thì đòi hỏi các tổ chức, cá nhân và cả nhà nước phải có chính sách tiết kiệm hợp lý và coi tiết kiệm là quốc sách hàng đầu
- Chính sách của Nhà nước:
Đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn của các NHTM Bởi vì khi Nhà nước khuyến khích việc mở rộng huy động vốn thì sẽ có các chính sách văn bản hướng dẫn cụ thể Từ đó, các NHTM sẽ có các căn cứ pháp lý để thực hiện nghiệp vụ này một cách thuận lợi hơn Ngược lại, khi Nhà nước không khuyến khích thì tất yếu công tác này
sẽ rất khó có khả năng tồn tại và phát triển
Hiện nay, Nhà nước ta đã thấy được sự cần thiết của việc huy động vốn
và đã ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể nhằm khuyến khích các NHTM ngày càng mở rộng huy động vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
- Nhu cầu vốn của nền kinh tế:
Nền kinh tế đòi hòi nhiều vốn cho đầu tư phát triến, ngoài vốn ngắn hạn còn rất nhiều vốn Song tự bản thân nó không thể đáp ứng đủ lượng vốn cần thiết, NHTM với vai trò là cầu nối giữa người thiếu vốn và người thừa vốn đã
Trang 20góp phần cung cấp một nguồn vốn lớn cho phát triển kinh tế Ở nước ta, thị trường chứng khoán mở ở dạng sơ khai do đó việc đáp ứng nhu cầu tín dụng của nền kinh tế thông qua hệ thống NHTM vẫn chiếm vị trí quan trọng và cấp thiết.
- Cơ cấu dân cư và vị trí địa lý:
Ở những địa điểm dân cư đông đúc, các thành phố lớn có nhiều doanh nghiệp hoạt động và kinh tế phát triển thì NHTM có thể huy động được nhanh hơn và nhiều hơn những nơi kém phát triển Đặc biệt ở những thị trường sôi động, có độ nhạy cảm cao với lãi suất và tiện ích khách do nghiệp vụ huy động vốn của NHTM đem lại thì ở đó việc mở rộng và bổ sung nguồn vốn của NHTM sẽ thuận lợi hơn các vùng nông thôn hay miền núi
* Nhân tố chủ quan
- Uy tín của NHTM:
Người gửi khi xa rời vốn liếng một thời gian dài để gửi vào NHTM, người gửi thường lo sợ trước sự biến động thường xuyên của nền kinh tế Do
đó họ thường có sự cân nhắc và lựa chọn Ngân hàng nào được họ thừa nhận
là an toàn và thuận lợi nhất hay nói cách khác là có uy tín nhất đối với người gửi tiền Thông thường, người gửi tiền đánh giá uy tín của NHTM qua các tiêu thức cơ bản như: Sự hoạt động lâu năm, quy mô, trình độ quản lý, công nghệ, Do đó các NHTM cần nâng cao uy tín thông qua các nghiệp vụ của mình, từng bước thoả mãn tối đa nhu cầu của người gửi tiền Khi đã tin tưởng vào một NHTM nào đó, tất yếu họ sẽ tạm xa rời vốn liếng của mình để gửi vào Ngân hàng hưởng lãi Không phải ngẫu nhiên mà nhân dân ta có câu tục ngữ "Chọn mặt gửi vàng", và trong hoạt động ngân hàng chữ "Tín" và “lòng tin" là rất quan trọng
- Chính sách lãi suất cạnh tranh:
Bao gồm cả lãi suất huy động và cho vay Đây là một chính sách quan
Trang 21trọng của NHTM, nó đòi hỏi phải có sự linh hoạt, vừa hấp dẫn người gửi , đồng thời phải đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng Thông thường, quy mô của tiền gửi vào ngân hàng biến động tỷ lệ thuận đặc biệt thì quy luật này bị phá vỡ Chẳng hạn khi lãi suất huy động giảm nhưng người gửi vẫn thu được một khoản lợi tức sau khi đã trừ đi tỷ lệ trượt giá thì vốn huy động của ngân hàng vẫn có thể tăng lên Như vậy có thể nói lãi suất huy động có ảnh hưởng lớn đến quy mô tiền gửi vào NHTM, đặc biệt là tiền gửi tiết kiệm Vì người dân thường quan tâm đến lãi suất tiết kiệm để so sánh nó với tỷ lệ trượt giá của đồng tiền và khả năng sinh lời của các hình thức đầu tư khác như cồ phiếu, trái phiếu, Từ đó dân chúng sẽ đưa ra quyết định có nên gửi tiền vào
ngân hàng hay không Gửi bao nhiêu và dưới hình thức nào .
Đối với các tổ chức kinh tế - xã hội thì ít nhạy cảm hơn đối với lãi suất
mà NHTM huy động mà họ quan tâm nhiều tới công nghệ ngân hàng, thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng Tuy nhiên, lãi suất và tính tiện ích cũng như thanh khoản của trái phiếu ngân hàng cũng được các tổ chức này đặc biệt quan tâm
Trang 22của các NHTM hiện nay.
- Công tác cân đối vốn của Ngân hàng:
Một chiến lược huy động vốn đúng đắn phù hợp với kế hoạch sử dụng vốn trong cùng thời kỳ, sẽ tạo điều kiện cho các NHTM đạt được mục tiêu tối
đa hoá lợi nhuận và tăng trưởng nguồn vốn đó chính là công tác cân đối vốn của Ngân hàng Trong quá trình đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển tình hình công tác cân đối vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với bất cứ NHTM nào Thông qua cân đối vốn, NHTM sẽ biết được thực trạng và có những dự đoán nhu cầu biến động vốn trong tương lai Từ đó có thể đưa ra chính sách huy động thích hợp về số lượng cũng như là về loại tiền và kỳ hạn huy động Qua đó sẽ nâng cao tính chủ động của NHTM trong công tác huy động vốn
- Chính sách quảng cáo:
Chính sách quảng cáo đóng vai trò quan trọng đối với tất cả các ngành trong thời đại ngày nay, trong đó không loại trừ ngành Ngân hàng Để tạo được hình ảnh đẹp trong con mắt khách hàng thì NHTM cần phải thực hiện đồng bộ nhiều yếu tố Trong đó không chỉ chú trọng đến các hình thức quảng cáo như: Quảng cáo trên tạp chí, Pano, áp phích, Intemet, mà còn cần có sự kết hợp với các chính sách như: Chính sách khách hàng, chính sách sản phẩm, Việc tuyền truyền, quảng cáo để mọi tầng lớp dân cư hiểu biết về các thông tin là rất cần thiết Trên cơ sở hiểu biết công tác huy động của Ngân hàng thì dân chúng mới có thể nhiệt tình hưởng ứng
- Ngoài một số chính sách cơ bản trên, nghiệp vụ huy động vốn của NHTM còn chịu sự tác động của một số chính sách như: Chính sách khách hàng, các dịch vụ ngân hàng, Trong đó các dịch vụ huy động vốn như: Tư vấn, chiết khấu, kèm theo nghiệp vụ huy động vốn có vai trò hỗ trợ quan trọng Qua đó nhằm tạo ra những tiện ích hấp dẫn khách hàng và có thể tăng
Trang 23sức cạnh tranh trong công tác huy động vốn n của NHTM.
1.3 Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng thương mại
Tăng cường huy động vốn là việc Ngân hàng thực hiện những biện pháp nhằm mục đích gia tăng nguồn vốn huy động một cách hợp lý theo chủ chương của Ngân hàng qua từng thời kỳ, từng giai đoạn thông qua các hình thức huy động vốn: Nhận tiền gửi (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm); phát hành các công cụ nợ (tín phiếu, trái phiếu); và nguồn vốn đi vay và những hoạt động nhằm thu hút ngày càng nhiều lượng khách hàng cá nhân, tổ chức đến với ngân hàng mình
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh mức độ tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng thương mại
Để đo lường được mức độ tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng thương mại, ta có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:
-Tốc độ tăng trưởng huy động vốn qua thời gian: Ngân hàng cần xem xét
cụ thể tốc độ tăng trưởng huy động của từng loại vốn qua thời gian để biết được công tác huy động vốn có đạt mục tiêu đề ra và có những biện pháp cụ thể nhằm tăng cường huy động vốn
- Sự thay đổi cơ cấu của những nguồn vốn mà Ngân hàng muốn tăng cường huy động qua thời gian Dựa vào những ưu thế và đặc điếm của mình, Ngân hàng xác định được nguồn vốn huy động nào cần tăng cường Qua các thời kỳ, xem xét tỷ trọng và mức độ thay đổi tỷ trọng của nguồn vốn huy động đó trong tổng nguồn vốn huy động Sự tăng lên về tỷ trọng cho thấy tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng đã phát huy hiệu quả Nếu qua một
Trang 24quãng thời gian nhất định mà Ngân hàng nhận thấy tỷ trọng nguồn vốn cần tăng cường không có nhiều thay đổi hoặc giảm sút, Ngân hàng sẽ có những biện pháp kịp thời nhằm cải thiện hoặc có những điều chỉnh theo hướng đi khác Ví dụ: NH muốn tăng tiền gửi kỳ hạn trên 1 năm, vậy cơ cấu của tiền gửi kỳ hạn trên 1 năm thay đổi qua các năm như thế nào, có tăng lên hay không? Từ đó, NH mới đưa ra được các phương án tốt hơn để tăng cường huy động nguồn vốn đó phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình.
- Đa dạng các phương thức huy động vốn: Ngân hàng cung cấp tới khách hàng ngày càng nhiều sản phẩm khác nhau cho thấy mức độ tăng cường huy động vốn của ngân hàng càng được cải thiện Khách hàng sẽ có nhiều lựa chọn phù hợp hơn, ngân hàng có thể đáp ứng được nhiều yêu cầu khác nhau
từ mọi đối tượng khách hàng Qua đó, ngân hàng sẽ ngày càng thu hút được nhiều khách hàng đến với đơn vị mình hơn, và tăng cường huy động vốn sẽ thu được những thành cộng nhất định
1.3.3 Các nhân tố tác động đến tăng cường HĐV TẠI NHTM
* Các nhân tố khách quan
-Tình hình kinh tế - xã hội: Hoạt động huy động vốn nói chung hay tăng cường huy động vốn đều bị các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập dự tính của người lao động, tâm lý người gửi tiền, chu
kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế tác động trực tiếp Khi nền kinh tế có sự trượt giá của đồng tiền dẫn đến việc nguồn vốn nhàn rỗi hầu như sẽ được chuyển thành những tài sản có giá trị bền vững hơn để an toàn hơn Như thế tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn
-Môi trường pháp lý và các chính sách vĩ mô: Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chủ trương, phương hướng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại Vì thế nó cũng tác động tới tăng cường huy động vốn tại
Trang 25Ngân hàng Các NHTM xây dựng các chiến lược kình doanh cho riêng mình phải dựa trên cơ sở tuân thủ pháp luật và chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước như chính sách lãi suất, chính sách đầu tư, tiết kiệm, Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ theo hướng nâng cao năng lực, vai trò hiệu quả và theo sát thị trường, phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác thì mới tạo điều kiện và thúc đẩy phát triển các thị trường tiền tệ cũng như hoạt động của hệ thống ngân hàng Mặt khác, việc xây dựng một môi trường pháp lý lành mạnh, thông thoáng cũng là một nhân tố quan trọng góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn của các NHTM.
* Các nhân tố chủ quan
- Chính sách sản phẩm: Để thực hiện tốt công tác huy động vốn nói chung và tăng cường huy động vốn nói riêng, các Ngân hàng thường đưa ra nhiều hình thức huy động vốn đa dạng Khối lượng vốn mà Ngân hàng huy động được phụ thuộc trực tiếp vào các hình thức huy động vốn mà ngân hàng
áp dụng Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn sẽ tạo những cơ hội để người gửi lựa chọn, đáp ứng được các nhu cầu của người gửi Mỗi ngân hàng đều tìm cho mình những hình thức huy động vốn phù hợp với điều kiện kinh
tế, xã hội, tâm lý dân cư vùng mà ngân hàng đặt địa điểm, đồng thời phù hợp với yêu cầu sử dụng cũng như dễ dàng quản lý có hiệu quả nguồn vốn của mình Khi hình thức huy động vốn đa dạng có nghĩa là số lượng vốn huy động được tăng lên và chi phí huy động có xu hướng giảm xuống
- Chính sách lãi suất: Lãi suất là một trong các yếu tố kinh tế có tác động mạnh đến việc thu hút vốn Lãi suất huy động vốn thường là mối quan tâm hàng đầu của cá nhân và tổ chức muốn gửi tiền vào ngân hàng Điều này hoàn toàn hợp lý vì trong nền kinh tế lĩnh vực có lợi nhuận cao hơn bao giờ cũng thu hút được nhiều người tham gia đầu tư hơn Tuy tăng cường huy động vốn
Trang 26không chỉ phụ thuộc vào lãi suất cao mà còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như kỳ hạn, mức độ rủi ro, điều kiện thanh toán, của Ngân hàng nhưng với lãi suất cao, linh hoạt, hợp lý thì luôn có tác dụng kích thích người gửi tiền.
- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: Trong một ngân hàng, nghiệp
vụ huy động vốn chịu tác động trực tiếp từ các hoạt động về sử dụng vốn Vì thế tăng cường huy động vốn cũng chịu tác động từ các hoạt động này Mỗi ngân hàng đều có một chiến lược kinh doanh riêng theo từng thời kỳ, tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động của bản thân Ngân hàng và điều kiện môi trường kinh doanh Từ đó Ngân hàng có thể đưa ra chiến lược tăng cường hay thu hẹp huy động vốn cho phù hợp với chính sách mở rộng hay thu hẹp tín dụng của Ngân hàng trong thời kỳ đó Cơ cấu nguồn vốn có thể thay đổi về tỷ
lệ các khoản mục cấu thành, chi phí huy động cỏ thể tăng hay giảm Nếu chiến lược kinh doanh được xây dựng đúng đắn phù hợp với điều kiện bản thân Ngân hàng, các nguồn vốn được khai thác tối đa và hợp lý thì tăng cường huy động vốn phát huy hiệu quả
- Trình độ công nghệ Ngân hàng: được thể hiện qua các yếu tố sau:
Thứ nhất: các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung ứng
Thứ hai: Trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên Ngân hàng
Thứ ba: Cở sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng
-Trình độ công nghệ Ngân hàng ngày càng cao, khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng về dịch vụ được Ngân hàng cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền tại Ngân hàng Đây là một yếu tố rất quan trọng giúp Ngân hàng cạnh tranh phi lãi suất vì khách hàng mà ngân hàng phục vụ không chỉ quan tâm đến lãi suất
mà còn quan tâm đến chất lượng và loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung ứng.-Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng là điều kiện để thực hiện tốt các nghiệp vụ Cán bộ Ngân hàng phải có chuyên môn tốt để có thể quản lý
Trang 27tốt nguồn vốn, thực hiện tốt công việc sử dụng vốn góp phần nâng cao chất lượng huy động vốn.
- Uy tín của Ngân hàng: Một ngân hàng lớn, sẵn có uy tín sẽ có lợi thế hơn trong hoạt động huy động vốn, qua đó tăng cường huy động vốn sẽ dễ dàng hơn Thậm chí trong điều kiện lãi suất tiền gửi tại Ngân hàng có uy tín thấp hơn đôi chút, những người có tiền vẫn lựa chọn Ngân hàng đó để gửi mà không tìm những nơi trả lãi hấp dẫn hơn vì họ tin rằng ở đây đồng vốn của mình sẽ tuyệt đối an toàn
- Ngoài một số nhân tố trên, tăng cường huy động vốn tại NHTM còn chịu tác động của một số chính sách như: Chính sách khách hàng, chính sách quảng cáo, Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng đạt hiệu quả khi Ngân hàng có được chính sách khách hàng và quảng cáo hợp lý
Trang 28CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI
PGD HÀ ĐÔNG – NGÂN HÀNG Á CHÂU
2.1 Khái quát về phòng giao dịch Hà Đông – Ngân hàng TMCP Á Châu
2.1.1 Lý do ra đời và quá trình phát triển
* Lý do ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
NHTMCP ¸ Châu (ACB) được thành lập theo giấy phép số 0032/NH –
GP do ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp ngày 24/4/1993, và giấy phép số 533/GP – UB do ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/5/1993 Ngày 4/6/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động
NHTMCP ACB có trụ sở chính được đạt tại 422 Nguyễn Thị Minh Khai
- Quận 3 – TP.Hồ Chí Minh
Kể từ ngày 31/12/2010 vốn điều lệ của ACB là 9.376.965.060.000 đồng Với mạng lưới kênh phân phối lớn và ngày càng mở rộng, đến nay mạng lưới này của ACB gồm 325 chi nhánh và phòng giao dịch tại những vùng kinh tế phát triển trên toàn quốc
Cơ cấu tổ chức của ACB:
- Sáu khối: khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp, ngân quỹ, phát triển kinh doanh, vận hành, quản trị nguồn lực
- Bốn ban: kiểm toán nội bộ, chiến lược, đảm bảo chất lượng, chính sách
và quản lý tín dụng
- Hai phòng: tài chính, thẩm định tài sản
Nhắc đến ACB là nhớ ngay đến một ngân hàng luôn áp dụng những chuẩn mực quốc tế cào trong quản trị điều hành, biết thay đổi không ngừng để ngày một hoàn thiện Đó là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên ở Việt Nam sớm sử dụng dịch vụ kiểm toán quốc tế độc lập chỉ sau hai năm thành lập Đó là ngân hàng TMCP ở Việt Nam đI tiên phong trong việc thành lập
Trang 29hội đồng tín dụng để xem xét và quyết định các khoản vay.
Trong chiến lược phát triển dài hạn, ACB đạt tham vọng trở thành một trong ba tập đoàn tài chính – ngân hàng hàng đầu Việt Nam vào năm 2015 với quy mô tổng tài sản trên 300.000 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu 15.000 tỷ đồng, lợi nhuận 7.000 tỷ đồng Tập đoàn ngân hàng á Châu sẽ có hai mũi nhọn Đó là ngân hàng bán lẻ được phát triển từ khối dịch vụ ngân hàng của ACB hiện nay và ngân hàng đầu tư chuyên nghiệp sẽ phát triển từ công ty Chứng
khoáng ACB (ACBS)
* Lý do ra đời và phát triển của Phòng giao dịch Hà Đông
Căn cứ vào Quyết định số 796/TCQĐ - PTCN, 08 ngày 17/3/2008 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị ngân hàng TMCP á Châu về việc thành lập Phòng giao dịch Hà Đông trực thuộc ngân hàng TMCP Á Châu – chi nhánh Hà Nội
Từ khi gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam có những bước chuyển mình rõ rệt Nền kinh tế phát triển khiến các ngân hàng không ngừng đổi mới
về cả sản phẩm, chất lượng phục vụ và cả quy mô nhằm thu hút được khách hàng Ngân hàng Á Châu nhận ra được tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam, ACB liên tục mở rộng mạng lưới các chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc nhằm cung cấp các sản phẩm dịch vụ đến nhiều hơn các đối tượng khách hàng, đặc biệt là khách hàng cá nhân Nằm trong kế hoạch mở rộng mạng lưới của ACB, Phòng Giao Dịch Hà Đông – Chi nhánh Hà Nội được thành lập PGD được đặt tại số 13 Quang Trung – Hà Đông – TP Hà Nội đi vào hoạt động ngày 28/5/2008 Hà Đông là quận tập trung nhiều cửa hàng buôn bán sầm uất, dân cư đông đúc, mật độ phương tiện giao thông qua lại lớn PGD nằm ở mặt đường, địa điểm rất thích hợp để quảng bá hình ảnh, thu hút khách hàng đến giao dịch Tại thời điểm đó, trên địa bàn quËn Hà Đông, mới chỉ có ít PGD của các Ngân hàng Vì vậy, để khai thác tối đa mọi tiềm năng phát triển của khu vực này thì việc mở PGD Hà Đông là cần thiết
Trang 30Nội dung hoạt động của PGD Hà Đông:
- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn dưới các hình thức tiền gửi
có kỳ hạn, không kỳ hạn
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
- Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá
- Làm dịch vụ thanh toán giữa các ngân hàng, thực hiện kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc
Thanh toán quốc tế, các dịch vụ ngân hàng khác theo ủy quyền của Tổng giám đốc ngân hàng TMCP á Châu
Từ khi đi vào hoạt động, cùng với đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực PGD
Hà Đông đã nhanh chóng tiếp cận với thị trường và không ngừng đổi mới, tự hoàn thiện mình để thích nghi với các môI trường kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường Tuy nhiên do PGD mới được thành lập và đi vào hoạt động được hơm bốn năm nên chưa phát huy được hết thế mạnh của mình Vì vậy trong thời gian tới, PGD Hà Đông cần phải triển khai và có những chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn
Trang 312.1.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức và chức năng, nhiệm vụ các phòng ban của phòng giao dịch Hà Đông
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức PGD Hà Đông Ngân hàng TMCP Á Châu
* Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban, bộ phận:
-Bộ phận kế toán giao dịch:
Chức năng: là bộ phận thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng,
tổ chức hạch toán kế toán theo quy định của Nhà nước và của ngân hàng á Châu
Nhiệm vụ: quản lý hệ thống giao dịch trên may, thực hiện các giao dịch trực tiếp với khác hàng, thực hiện công tác liên quan đến thanh tán bù trừ, thanh toán điện tử liên ngân hàng, lập và phân tích báo cáo cuối ngày, làm các báo cáo theo quy định
Trang 32Chức năng: là bộ phận có chức năng giúp giám đốc giám sát, kiểm tra, kiểm toán các mặt hoạt động kinh doanh cua PGD nhằm đảm bảo viêc thực hiện theo đúng pháp luật của Nhà nước và cơ chế quản lý của ngành.
Nhiệm vụ: thực hiện, kiểm tra, kiểm sát, kiểm toán theo chương trình, kế hoạch hoặc chỉ đạo trực tiếp của giám đốc PGD về tổ chức thực hiện quy trình nghiệp vụ, chế độ, thể lệ tại PGD theo quy định của Nhà nước, NHNN
- Khách hàng cá nhân:
Chức năng: trực tiếp giao dịch với khách hàng là các cá nhân, để khai thác, huy động vốn bằng VNĐ và ngoại tệ, xử lý các nghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với chế độ, thực hiện thể lệ hiện hành và hướng dẫn của Ngân hàng á Châu
Nhiệm vụ: khai thác, huy động nguồn vốn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ từ khách hàng là cá nhân, tiếp thị hỗ trợ khách hàng, thực hiện thẩm định và tính hạn mức tín dụng cho khác hàng, quản lý hạn mức đó đưa ra cho từng khách hàng, thực hiện nghiệp vụ cho vay và xử lý giao dịch, nắm cập
Trang 33nhật phân tích toàn diện về thông tin khách hàng theo quy định, quản lý các khoản vay, cho vay, bảo lãnh.
- Khách hàng doanh nghiệp:
Bộ phận khách hàng doanh nghiệp có chức năng và nhiệm vụ tương tự
bộ phận khách hàng cá nhân, nhưng khách hàng là các doanh nghiệp
- Bộ phận hỗ trợ khách hàng:
Bộ phận này có chức năng và nhiệm vụ tương tự bộ phận hỗ trợ ở trên, nhưng đây lµ tư vấn, hỗ trợ khách hàng về hoạt động tín dụng của ngân hàng
*Mối quan hệ giữa các phòng ban
Các phòng ban luôn kết hợp ăn ý, chặt chẽ với nhau để cùng nhau thực hiện tốt các hoạt động của ngân hàng Có trách nhiệm xử lý công việc và tự chủ trong phạm vi nhiệm vụ được phân công Có trách nhiệm phối kết hợp với những phòng ban có liên quan để luôn hoàn thành tốt công việc
Luôn tạo điều kiện, giúp đỡ các bộ phận khác trong khả năng cho phép, tuyệt đối không đùn đẩy trách nhiệm gây cản trở, khó khăn cho các bộ phận cũng như đơn vị khác thực hiện nhiệm vụ
Cơ cấu tổ chức của các phòng ban ngày càng được cải tiến để ngày càng phục vụ tốt hơn cho nhiệm vụ của một ngân hàng đa năng, hiện đại và ngày càng có nhiều sản phẩm mới, đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng trong
cơ chế thị trường
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch Hà Đông
PGD Hà Đông được thành lập vào năm 2008 một năm nền kinh tế Việt Nam có những biến động lớn, diễn biến nhanh theo chiều hướng bất lợi, năm
mà hệ thống ngân hàng Việt Nam phải gánh chịu nhiều áp lực mà trước đây chưa từng gặp phải Thực tế này khiến PGD không tránh khỏi những khó khăn nhất định khi mới góp mặt trên thị trường đầy biến động khó lường.Tuy nhiên, là một thành viên của ngôi nhà cchung ACB, PGD Hà Đông