LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cấp thiết của đề tài. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận luôn luôn là cái đích của các doanh nghiệp, nó chi phối đến mọi hoạt động của doanh nghiệp. Minh chứng cho nhận định trên là một ngành kinh doanh trên lĩnh vực rất nhạy cảm: “Lĩnh vực tiền tệ” và đại diện cho ngành kinh doanh ấy là ngành Ngân hàng. Hoạt động của ngành Ngân hàng được coi là mạch máu của nền kinh tế, do đó đảm bảo cho quá trình luân chuyển vốn giữa các thành phần kinh tế được diễn ra trôi chảy, thuận lợi hơn. Sự lành mạnh của hoạt động Ngân hàng là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế chính trị và cũng là điều kiện để khai thác tốt những tài nguyên, tiềm lực của nguồn kinh tế. Ngân hàng thương mại ( NHTM ) là tổ chức tín dụng được thành lập theo Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi,sử dụng tiền gửi cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Trong các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng thì tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng nhưng mặt trái của nó cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro đối với bản thân Ngân hàng, đó chính là rủi ro tín dụng. Đặc biệt, rủi ro của Ngân hàng dễ dẫn đến rủi ro hệ thống gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Do đó, để hạn chế những rủi ro thì các Ngân hàng đã tiến hành áp dụng hàng loạt các biện pháp đảm bảo nghiã vụ trả nợ của khách hàng. Một trong những biện pháp quan trọng nhất đó là bảo đảm tín dụng. Lấy tài sản bảo đảm là một trong những căn cứ quan trọng để Ngân hàng xác định hạn mức cho vay đối với khách hàng. Ngân hàng coi " Bảo đảm tín dụng" là nguồn trả nợ thứ hai sau nguồn trả nợ từ "thu nhập từ hoạt động kinh doanh của khách hàng". Cùng với sự gia nhập của tổ chức thương mại thế giới, thị trường tiền tệ Việt Nam cũng đón nhận sự gia nhập của nhiều tổ chức tín dụng quốc tế, đặc biệt là chi nhánh, phòng giao dịch của các Ngân hàng lớn trên thế giới. Điều này đặt ra nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức cho Ngân hàng Việt Nam. Dưới áp lực cạnh tranh, các Ngân hàng thương mại Việt Nam thường coi lãi suất là công cụ cạnh tranh đắc lực và tương đối hiệu quả. Bên cạnh đó, một số Ngân hàng đã bắt đầu nới lỏng các điều kiện cho vay nhằm thu hút các khách hàng mới. Một trong những điều kiện đó là điều kiện về tài sản bảo đảm. Hiện nay đã có những Ngân hàng cho vay không cần tài sản bảo đảm đối với một số đối tượng khách hàng cụ thể. Hình thức cho vay không cần đảm bảo bằng tài sản thu hút được một số lượng khách hàng đáng kể, song nó cũng đem đến cho Ngân hàng những rủi ro tiềm ẩn. Vì vậy, điều minh chứng rõ nhất là khi uy tín của khách hàng giảm sút thì tài sản bảo đảm là căn cứ duy nhất đảm bảo việc thu hồi lại nguồn gốc cho Ngân hàng. Cho nên, tài sản bảo đảm có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Tuy nhiên, thực tế việc áp dụng các quy định về tài sản bảo đảm còn nhiều khó khăn, không những từ phía khách hàng, Ngân hàng mà cả từ phía Chính phủ và các bộ ngành có liên quan. Xuất phát từ tình hình thực tế của thị trường tiền tệ Việt Nam và cụ thể là tại NHNo&PTNT Sông Cầu, tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ sở các vấn đề lý thuyết về bảo đảm tín dụng, cùng với các kiến thức do thầy cô truyền thụ trên lớp và thêm nữa là sự quan tâm giúp đỡ của ban lãnh đạo và cán bộ nhân viên của NHNo & PTNT Sông Cầu, tỉnh Thái Nguyên, em đã chọn đề tài “Giải pháp tăng cường bảo đảm tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Sông Cầu – Thái Nguyên” để làm chuyên đề báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
-& ư
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đề tài: Giải pháp tăng cường bảo đảm tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn Sông Cầu – Thái Nguyên
Giáo viên hướng dẫn : Ths Phan Thị Hạnh Sinh viên thực hiện: Nông Văn Tâm
Lớp: Tài chính – Ngân hàng; Khoá: 40
Thái Nguyên Tháng 5/2011
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cấp thiết của đề tài.
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận luôn luôn
là cái đích của các doanh nghiệp, nó chi phối đến mọi hoạt động của doanh nghiệp Minh chứng cho nhận định trên là một ngành kinh doanh trên lĩnh vực rất nhạy cảm: “Lĩnh vực tiền tệ” và đại diện cho ngành kinh doanh ấy là ngành Ngân hàng Hoạt động của ngành Ngân hàng được coi là mạch máu của nền kinh tế, do đó đảm bảo cho quá trình luân chuyển vốn giữa các thành phần kinh tế được diễn ra trôi chảy, thuận lợi hơn Sự lành mạnh của hoạt động Ngân hàng là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế chính trị và cũng là điều kiện để khai thác tốt những tài nguyên, tiềm lực của nguồn kinh tế
Ngân hàng thương mại ( NHTM ) là tổ chức tín dụng được thành lập theo Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi,sử dụng tiền gửi cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Trong các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng thì tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng nhưng mặt trái của nó cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro đối với bản thân Ngân hàng, đó chính là rủi ro tín dụng Đặc biệt, rủi ro của Ngân hàng dễ dẫn đến rủi ro hệ thống gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân Do đó, để hạn chế những rủi ro thì các Ngân hàng đã tiến hành áp dụng hàng loạt các biện pháp đảm bảo nghiã vụ trả nợ của khách hàng Một trong những biện pháp quan trọng nhất
đó là bảo đảm tín dụng Lấy tài sản bảo đảm là một trong những căn cứ quan trọng
để Ngân hàng xác định hạn mức cho vay đối với khách hàng Ngân hàng coi " Bảo đảm tín dụng" là nguồn trả nợ thứ hai sau nguồn trả nợ từ "thu nhập từ hoạt động kinh doanh của khách hàng"
Cùng với sự gia nhập của tổ chức thương mại thế giới, thị trường tiền tệ Việt Nam cũng đón nhận sự gia nhập của nhiều tổ chức tín dụng quốc tế, đặc biệt là chi nhánh, phòng giao dịch của các Ngân hàng lớn trên thế giới
Điều này đặt ra nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức cho Ngân hàng Việt Nam Dưới áp lực cạnh tranh, các Ngân hàng thương mại Việt Nam thường coi lãi suất là công cụ cạnh tranh đắc lực và tương đối hiệu quả Bên cạnh đó, một số
Trang 4Ngân hàng đã bắt đầu nới lỏng các điều kiện cho vay nhằm thu hút các khách hàng mới Một trong những điều kiện đó là điều kiện về tài sản bảo đảm Hiện nay đã có những Ngân hàng cho vay không cần tài sản bảo đảm đối với một số đối tượng khách hàng cụ thể Hình thức cho vay không cần đảm bảo bằng tài sản thu hút được một số lượng khách hàng đáng kể, song nó cũng đem đến cho Ngân hàng những rủi
ro tiềm ẩn Vì vậy, điều minh chứng rõ nhất là khi uy tín của khách hàng giảm sút thì tài sản bảo đảm là căn cứ duy nhất đảm bảo việc thu hồi lại nguồn gốc cho Ngân hàng Cho nên, tài sản bảo đảm có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Tuy nhiên, thực tế việc áp dụng các quy định về tài sản bảo đảm còn nhiều khó khăn, không những từ phía khách hàng, Ngân hàng mà cả từ phía Chính phủ và các bộ ngành có liên quan Xuất phát từ tình hình thực tế của thị trường tiền tệ Việt Nam và cụ thể là tại NHNo&PTNT Sông Cầu, tỉnh Thái Nguyên Trên cơ sở các vấn đề lý thuyết về bảo đảm tín dụng, cùng với các kiến thức do thầy cô truyền thụ trên lớp và thêm nữa là sự quan tâm giúp đỡ của ban lãnh đạo và cán bộ nhân viên của NHNo & PTNT Sông Cầu, tỉnh Thái Nguyên, em
đã chọn đề tài “Giải pháp tăng cường bảo đảm tín dụng tại Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn Sông Cầu – Thái Nguyên” để làm chuyên đề báo
cáo thực tập tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài trình bày hai nội dung chính sau:
- Thực trạng bảo đảm tín dụng tại NHNo&PTNT Sông Cầu
- Đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của công tác bảo đảm tín dụng tại NHNo&PTNT Sông Cầu
3 Phương pháp sử dụng.
Đề tài sử dụng các phương pháp như:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp khảo sát
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
4 Kết cấu của đề tài.
Ngoài lời mở đầu và kết luận, báo cáo gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về bảo đảm tín dụng trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại
Trang 5Chương II: Thực trạng bảo đảm tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Sông Cầu, tỉnh Thái Nguyên.
Chương III: Giải pháp tăng cường bảo đảm tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sông Cầu tỉnh Thái Nguyên
Trang 6CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1- Sự cần thiết thực hiện bảo đảm tín dụng tại các NHTM:
1.1.1- Khái niệm Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng mà nhiệm vụ chủ yếu là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền gửi này
để cho vay và thực hiện các dịch vụ khác của Ngân hàng
1.1.2- Khái niệm Bảo đảm tín dụng:
Bảo đảm tín dụng là việc thiết lập các cơ sở kinh tế và pháp lý, tạo điều kiện cho Ngân hàng thỏa mãn nhu cầu thu hồi tín dụng đã cấp trong trường hợp người vay không thực hiện trả nợ theo quy định
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, “cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khỏan tiền với nguyên tắc hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác” Như vậy có thể thấy hoàn trả tín dụng là điều kiện quan trọng nhất khi thực hiện mục tiêu kinh doanh của Ngân hàng Để thu hồi được nợ, Ngân hàng phải xem xét một cách thận trọng uy tín và năng lực của Khách hàng để xác định các hình thức cho vay thích hợp Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, rủi
ro tín dụng là rủi ro dễ dẫn đến tổn thất lớn nhất cho Ngân hàng Quan trọng hơn nữa, rủi ro của một Ngân hàng có thể dẫn đến rủi ro toàn hệ thống, điều này tác động rất xấu đến toàn bộ nền kinh tế Vì vậy, cần thiết phải thực hiện các biện pháp bảo đảm tín dụng nhằm bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của khách hàng đi vay
Bảo đảm tín dụng hay còn gọi là bảo đảm tiền vay là việc bảo vệ quyền lợi của người cho vay dựa trên cơ sở thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền sở hữu của người đi vay hoặc bảo lãnh của người thứ ba
Trang 7Tóm lại, bất kỳ tài sản hoặc quyền về tài sản được phép giao dịch mà có khả năng tạo ra lưu chuyển tiền tệ đều có thể dùng làm bảo đảm Tuy nhiên, nhìn từ góc
độ của người cho vay, tài sản bảo đảm phải có 3 đặc trưng sau:
- Giá trị của bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm
- Tài sản phải có sẵn trên thị trường tiêu thụ
- Có đầy đủ cơ sở pháp lý để cho người vay có quyền ưu tiên về xử lý tài sản
1.1.3- Sự cần thiết thực hiện đảm bảo tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại:
* Đối với Ngân hàng:
- Bảo đảm tín dụng giúp cho Ngân hàng bảo đảm an toàn trong cấp tín
dụng.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính không cho vay tiền của bản thân mình mà Ngân hàng huy động vốn từ khách hàng để cấp tín dụng nên trách nhiệm hàng đầu là bảo vệ lợi ích của người gửi tiền Mặc dù phần lớn các Ngân hàng đều dự tính trước những rủi ro có thể xảy ra nhưng những rủi ro này vẫn phải được kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ số tiền mà Ngân hàng đã huy động được Tài sản bảo đảm góp phần kiểm soát hạn chế của các rủi ro trên
Thực chất, bảo đảm tín dụng là thiết lập những cơ sở pháp lý để có thêm nguồn trả nợ thứ hai Trong cho vay kinh doanh, nguồn trả nợ thứ nhất là từ doanh thu thực tế đối với vay ngắn hạn, từ khấu hao và lợi nhuận đối với cho vay trung dài hạn Trong cho vay tiêu dùng, nguồn thu nợ thứ nhất là thu nhập cá nhân như tiền công, tiền lương, các khoản thu nhập tài chính (lãi tiền gửi, cổ tức, trái tức) và các khoản thu nhập khác Các nguồn thu nợ thứ nhất này thể hiện dưới hình thức lưu chuyển tiền tệ của người đi vay Trong hoạt động kinh doanh có muôn ngàn lý
do dẫn đến nguồn thu nợ thứ nhất không thể thực hiện được, nếu không có một nguồn bổ sung thứ hai thì tất yếu Ngân hàng sẽ gặp rủi ro Vì vậy để bảovệ lợi ích của mình Ngân hàng thường yêu cầu người đi vay phải có bảo đảm tín dụng, ngoại trừ những khách hàng thật sự hoạt động tốt và có mối quan hệ tín dụng thường xuyên với Ngân hàng
Trang 8- Bảo đảm tín dụng giúp Ngân hàng tạo lập quan hệ tín dụng với khách
hàng.
Khi quyết định cho vay Ngân hàng phải phân tích đánh giá khách hàng dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó bảo đảm tín dụng được coi là một trong những tiêu chuẩn xét duyệt cho vay và giới hạn cho vay đối với khách hàng
Tuy nhiên, đây không phải là tiêu chuẩn mang tính bắt buộc khi cấp tín dụng cho khách hàng, nó chỉ là một trong những điều kiện cấp vốn TSBĐ giúp cho khách hàng củng cố thêm lòng tin đối với Ngân hàng Lòng tin là một trong những đặc trưng quan trọng của hoạt động tín dụng, do vậy lòng tin chính là một trong những căn cứ để Ngân hàng quyết định cho vay
- Bảo đảm tín dụng nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của người vay vốn
trong việc quản lý và sử dụng tiền vay (Gắn trách nhiệm vật chất của người đi vay trong quá trình sử dụng vốn)
Trong nền kinh tế, chủ thể kinh doanh (người vay vốn) khó có thể tránh hết được các rủi ro Do vậy, khi đem tài sản của mình ra làm bảo đảm cho khoản vay
họ sẽ có trách nhiệm hơn trong việc quản lý và sử dụng vốn vay, vì khi không trả được khoản vay họ sẽ bị mất TSBĐ đó TSBĐ thường có giá trị lớn hơn khoản vay Mặt khác, BĐTD giúp Ngân hàng giảm thiểu những rủi ro đạo đức có thể xảy ra Đây được coi là ý nghĩa quan trọng nhất của BĐTD
- BĐTD là tiêu chuẩn bổ sung những mặt hạn chế của nhà quản trị tín dụng
cũng như phòng tránh những diễn biến không thuận lợi của môi trường kinh doanh.
Nâng cao năng lực thẩm định của cán bộ nhân viên Ngân hàng khi thực hiện bảo đảm tiền vay Để phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để bảo đảm cho nguồn trả nợ thứ hai có thể bù đắp được các tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra thì việc định giá tài sản bảo đảm là hết sức quan trọng
Tuy nhiên, việc định giá TSBĐ thường có ý nghĩa hơn trong trường hợp cho vay đối với khách hàng tư nhân, ít uy tín hoặc những doanh nghiệp nhỏ mới thành lập, làm ăn không ổn định Đối với những doanh nghiệp lớn có chính sách quản lý hiệu quả, có sản phẩm và dịch vụ được thị trường chấp nhận, có lợi nhuận tương đối ổn định và có tình hình tài chính tốt, lành mạnh, uy tín thanh toán nợ cũ thì đó là những khách hàng tiềm năng Trong trường hợp này, Ngân hàng sẵn sàng cho vay
Trang 9không cần có TSBĐ hoặc TSBĐ có giá trị nhỏ hơn giá trị khỏan vay Do vậy, cán
bộ tín dụng cần vận dụng bảo đảm tiền vay một cách linh hoạt trong từng điều kiện
cụ thể nhằm đảm bảo an toàn cho Ngân hàng đồng thời thu hút các khách hàng tốt
* Đối với khách hàng:
- Người gửi tiền: Bảo đảm tín dụng cho người vay gửi tiền tăng thêm niềm
tin vào Ngân hàng, yên tâm hơn về khoản tiết kiệm của mình
- Người vay vốn: Khách hàng vay vốn phải sử dụng tài sản của mình để bảo
đảm cho khoản vay, do đó họ sẽ có trách nhiệm hơn trong quản lý, sử dụng vốn vay Vì vậy, bảo đảm tín dụng là động lực thúc đẩy khách hàng vay vốn sử dụng vốn vay có hiệu quả, đúng mục đích để có khả năng trả nợ và nhận lại tài sản của mình
* Đối với nền kinh tế: Bảo đảm tiền vay được thực hiện tốt sẽ có vai trò hạn
chế nợ quá hạn, nợ khó đòi, hạn chế rủi ro tín dụng Ngân hàng là một tổ chức tín dụng, có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế Do vậy, bảo đảm tín dụng góp phần giữ cho nền kinh tế hoạt động lành mạnh, hạn chế những tổn thất Mặt khác, BĐTD giúp cho Ngân hàng tăng thêm uy tín thu hút được người gửi tiền để cho vay mở rộng sản xuất kinh doanh thúc đẩy nền kinh tế phát triển
1.2- Những nội dung cơ bản về bảo đảm tín dụng:
1.2.1- Các hình thức bảo đảm tín dụng:
Bộ luật dân sự năm 2005 xác định “Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ dân sự bao gồm: Cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín
chấp” Tuy nhiên, hiện nay các Ngân hàng thương mại chủ yếu áp
dụng 2 hình đảm tín dụng cơ bản là bảo đảm đối vật (trong đó có 3 phương thức chính là cầm cố, thế chấp tài sản của khách hàng vay vốn và bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay) và bảo đảm đối nhân (hay còn gọi là bảo lãnh)
Trang 10* Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch cầm cố tài sản:
Bên cầm cố tài sản:
- Quyền của bên cầm cố tài sản (Theo điều 331 - Luật dân sự năm 2005)
1 Yêu cầu bên nhận cầm cố đình chỉ việc sử dụng tài sản cầm cố trong trường hợp quy định tại khỏan 3 điều 333 của Bộ luật này, nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị;
2 Được bán tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý;
3 Được thay thế tài sản cầm cố bằng một tài sản khác nếu có thỏa thuận;
4 Yêu cầu bên nhận cầm cố giữ TSCC trả lại TSCC khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt;
5 Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với TSCC
- Nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản (Theo điều 330 - Luật dân sự 2005).
1 Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận;
2 Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với TSCC (nếu có) trong trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền hủy Hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với TSCC;
3 Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo đảm, giữ gìn tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Bên nhận cầm cố:
- Quyền của bên nhận cầm cố tài sản (Theo điều 333 - Luật dân sự 2005)
1 Yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật TSCC trả lại tài sản đó;
2 Yêu cầu xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ
3 Được khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu thỏa thuận;
4 Được thanh toán chi phí hợp lý bảo đảm tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho bên cầm cố
- Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố (Theo điều 332 - Luật dân sự)
1 Bảo đảm, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố;
Trang 112 Không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố; không được đem tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác;
3 Không được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu không được bên cầm cố đồng ý;
4 Trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác;
* Những loại tài sản cầm cố thông dụng để đảm bảo tiền vay:
Cầm cố hàng hóa: Cho vay cầm cố hàng hóa là nghiệp vụ cho vay có bảo
đảm áp dụng phổ biến tại các NHTM hiện nay vì hình thức này có nhiều ưu thế hơn bảo đảm bằng bất động sản:
- Khi khách hàng không thanh toán được nợ đúng hạn, Ngân hàng có thể bán được
hàng hóa một cách dễ dàng hơn so với bất động sản;
- Giúp cho các doanh nghiệp thực hiện dự trữ vật tư hàng hóa theo chu kỳ và
thời vụ nhằm ổn định sản xuất và đáp ứng được nhu cầu của thị trường
Để phát huy ưu thế trên đây Ngân hàng thường chấp nhận các hàng hóa có
đủ các điều kiện sau đây được dùng làm thế chấp để vay vốn:
+ Hàng hóa có giá cả ổn định
+ Hàng hóa dễ tiêu thụ trong hiện tại và tương lai
+ Hàng hóa được phép lưu thông và khách hàng được phép kinh doanh loại hàng hóa đó
Trên thực tế, hàng hóa cầm cố thông dụng bao gồm:
- Nguyên vật liệu dùng cho sản xuất
- Hàng hóa tiêu dùng và xuất khẩu
- Thiết bị máy móc, xe cộ thông dụng
Các Ngân hàng thường cầm cố các loại hàng hóa mới (chưa sử dụng) và chỉ chấp nhận các loại hàng hóa đã sử dụng với điều kiện thị trường chấp nhận một cách rộng rãi, ví dụ như phương tiện vận chuyển phổ cập
Việc quản lý hàng hóa cầm cố được thực hiện theo các cách sau:
- Quản lý tại kho Ngân hàng
- Quản lý kho của khách hàng cầm cố
- Quản lý tại kho của bên thứ ba
Trang 12Chiết khấu ký hóa thương phiếu: Là hình thức cho vay có bảo đảm bằng
quyền về tài sản xuất phát từ hợp đồng ký thác bằng hàng hóa Các công ty kinh doanh kho được pháp luật cho phép ký gửi hàng hóa của các doanh nghiệp
Khi người ký thác hàng hóa có nhu cầu vốn ngắn hạn, họ có thể đến Ngân hàng xin vay nợ trên cơ sở bảo đảm bằng hàng hóa đã ký thác tại công ty kinh doanh kho Ngân hàng căn cứ vào biên lai ký hóa phiếu - hai chứng từ của công ty kinh doanh kho giao cho người khác ký thác, để quyết định cho vay bằng một tỷ lệ nhất định của giá trị hàng hóa
Chiết khấu ký hóa phiếu tương đối an toàn và có nhiều thuận lợi vì các lý do sau:
- Ký hóa phiếu đại diện cho một lượng hàng hóa có được lưu trữ tại các kho
an toàn, mặt khác các hàng hóa thường xuyên được bảo hiểm đầy đủ
- Ngân hàng ít bị rủi ro về hư hỏng và mất mát hàng hóa, vì tại đây việc quản
lý đã có một đội ngũ nhân sự có năng lực về kiểm soát và bảo quản hàng hóa
- Chiết khấu ký hóa phiếu sẽ tạo điều kiện cho NHTM có thêm nguồn vốn thông qua tái chiết khấu ở Ngân hàng trung ương
Cầm cố các chứng khoán: Cho vay cầm cố chứng khoán là một nghiệp vụ
cho vay đơn giản, khách hàng chuyển giao chứng khoán cho Ngân hàng để nhận tiền vay Khi đáo hạn khách hàng trả nợ cho Ngân hàng và nhận lại các chứng khoán đã cầm cố Hình thức cầm cố này rất phổ biến ở các nước trên thế giới Riêng ở nước ta do thị trường chứng khóan mới phát triển nên hình thức này mới trong quá trình hình thành, tuy nhiên trong vài năm tới hình thức này hứa hẹn sẽ phát triển rất nhanh
Các loại chứng khoán cầm cố: Công trái, tín phiếu kho bạc, trái phiếu đô thị,
cổ phiếu, trái phiếu công ty, các loại giấy nợ khác
Về phía Ngân hàng, khi nhận hồ sơ xin vay cầm cố bằng chứng khoán, Ngân hàng phải nghiên cứu mức độ rủi ro của từng loại chứng khoán, đặc biệt đối với các chứng khoán công ty Giá trị của các chứng khoán phần lớn được xác định theo giá thị trường chứng không phải theo mệnh giá của chúng và đây là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi phải có các chuyên gia chứng khoán mới có khả năng định giá được
Trang 13Thông thường đối với các chứng khóan Nhà nước, tỷ lệ cho vay so với giá trị định giá cao hơn so với các chứng khóan công ty, vì chứng khóan công ty thường
có mức độ rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất cao hơn, hay nói cách khác các chứng khóan công ty có khả năng hòan trả thấp và có giá trị biến động với biên độ cao
Đảm bảo bằng tiền gửi: Tiền gửi dùng làm bảo đảm cho khỏan ứng trước
của Ngân hàng thường là tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm, còn đối với tiền gửi thanh toán khi dùng làm bảo đảm cho Ngân hàng phải được chuyển sang một tài khỏan phong tỏa Tiền gửi là tài sản bảo đảm an toàn và ít tốn kém vì lý do sau:
- Không cần định giá;
- Chi phí phát sinh trong việc quản lý tiền gửi bảo đảm không đáng kể;
- Việc xử lý tài sản để thu hồi nợ khi khách hàng không có khả năng trả nợ tương đối đơn giản
Với hình thức bảo đảm này thì tỷ trọng cho vay của Ngân hàng tương đối cao và mức cho vay được tính dựa vào công thức:
Tv =
TG (1+r1)
1+r2
Trong đó: Tv: Số tiền cho vay tối đa
TG: Mệnh giá của tiền gửi
r1: Lãi suất tiền gửi
r2: Lãi suất cho vay
Lãi suất tiền gửi được sử dụng trong công thức trên là lãi suất Ngân hàng chấp nhận thanh toán khi phải thanh lý tiền gửi để trả nợ Thông thường mức lãi suất này nhỏ hơn mức lãi suất tiền gửi theo hợp đồng và thậm chí bằng 0 Mức lãi suất cụ thể được quy định phụ thuộc vào từng Ngân hàng
Trong trường hợp tiền vay và tiền gửi bảo đảm là hai loại tiền khác nhau thì phải có một mức dự phòng về thay đổi tỷ giá hối đoái
Trong trường hợp tiền gửi được ký thác ở một Ngân hàng khác hoặc chi nhánh khác thì Ngân hàng cho vay phải thẩm tra tính hiện thực của tiền gửi đó, đồng thời phải có sự xác nhận của Ngân hàng nhận ký thác chấp nhận cho phép Ngân hàng cho vay được phép thu nợ từ khoản tiền gửi của khách hàng trong trường hợp khách hàng không thanh toán tiền vay đúng hạn
Trang 14Bảo đảm bằng vàng: Là hình thức bảo đảm trong cho vay cá nhân Vàng
dùng bảo đảm được ký gửi và bảo quản tại Ngân hàng Phần lớn các NHTM Việt Nam đều có nghiệp vụ kinh doanh vàng, đây là một điều kiện thuận lợi cho việc phân kim và định giá vàng làm cơ sở để xác định mức cho vay Đối với các Ngân hàng hoặc chi nhánh không có nhân viên kỹ thuật về vàng nhất thiết phải nhờ đến dịch vụ phân kim và định giá của các công ty kinh doanh vàng
Bảo đảm bằng chuyển nhượng các khoản phải thu: Các khoản nợ của
người thứ ba đối với khách hàng vay vốn được coi là tài sản bảo đảm cho các khoản vay ngắn hạn Việc bảo đảm bằng chuyển nhượng các khoản phải thu được thực hiện theo hai cách:
- Bảo đảm không thông báo (chuyển nhượng nợ kín): Các khoản phải thu dùng làm bảo đảm chỉ có sự thỏa thuận giữa Ngân hàng và khách hàng vay vốn chủ
nợ của khoản phải thu, mà không thông báo cho con nợ biết về sự cầm cố này Theo cách này, khách hàng vay vốn cam kết sẽ chuyển giao cho Ngân hàng khi con
nợ thanh toán
- Bảo đảm có thông báo (chuyển nhượng nợ mở): Theo cách này, việc cầm
cố khỏan phải thu phải thông báo cho con nợ biết và người này phải thanh toán trực tiếp cho Ngân hàng thay vì thanh toán cho chủ nợ - người vay vốn
Bảo đảm bằng chuyển nhượng các khoản phải thu không phải là hình thức bảo đảm có độ an toàn cao Vì vậy, khi thực hiện việc cho vay theo hình thức này Ngân hàng phải nghiên cứu và đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn sau:
- Tính liêm khiết của khách hàng vay vốn;
- Bản chất và đặc tính của các khoản phải thu;
- Xác định mức độ rủi ro của khoản phải thu để định tỷ trọng cho vay Nếu rủi ro thấp thì tỷ trọng cho vay cao và ngược lại
Đối với các nước phát triển, cho vay có bảo đảm bằng chuyển nhượng các khoản phải thu tương đối phát triển, điều này tạo điều kiện để mở rộng tín dụng Riêng ở Việt Nam hình thức này chưa phổ biến do việc thanh toán qua Ngân hàng còn rất hạn chế, do đó Ngân hàng không thể kiểm soát được các khoản chi trả của con nợ với khách hàng vay vốn
Bảo đảm bằng hợp đồng nhận thầu: Các công ty xây dựng hoặc các công ty
thiết bị vật tư có hợp đồng về xây dựng hoặc hợp đồng về cung cấp, nếu thiếu vốn
Trang 15để thực hiện hợp đồng có thể nhượng lại hợp đồng đó cho Ngân hàng để được tài trợ vốn ngắn hạn Cho vay bảo đảm bằng hợp đồng nhận thầu đôi lúc cũng có rủi ro cho Ngân hàng, rủi ro này xuất phát từ những nguyên nhân sau:
- Người nhận thầu không đủ khả năng thực hiện hợp đồng
- Chủ đầu tư hay người nhận thầu chính không sẵn lòng thanh toán khi bên nhận thầu đã thực hiện theo hợp đồng
Các hợp đồng nhận thầu xây dựng hoặc cung cấp hàng hóa cho các tổ chức Nhà nước được coi là an toàn hơn so với các hợp đồng tư nhân, tuy nhiên trong một
số trường hợp cũng có thể gặp rủi ro thanh toán chậm
b) Thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay vốn:
* Khái niệm:
Theo Luật dân sự năm 2005: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi
là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên thế chấp) và không chuyển giao tài sản
đó cho bên thế chấp.”
* Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia thế chấp tài sản:
Bên thế chấp tài sản:
- Quyền của bên thế chấp tài sản (Theo điều 349 - Luật dân sự 2005).
1 Được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng thuộc tài sản thế chấp theo thỏa thuận;
2 Được đầu tư để làm tăng giá trị của tài sản thế chấp;
3 Được bán,thay thế tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh Trong trường hợp bán tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh thì quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, số tiền thu được hoặc tài sản hình thành từ số tiền thu được trở thành tài sản thế chấp thay thế cho số tài sản đã bán
4 Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý
5 Được cho thuê, mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo với bên thuê, bên mượn biết về tài sản cho thuê, cho mượn đang được dùng để thế chấp và phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết;
Trang 166 Nhận lại tài sản thế chấp do người thứ ba giữ, khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
- Nghĩa vụ của bên thế chấp (Theo điều 348 - Luật dân sự 2005)
1 Bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp;
2 Áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục, kể cả phải ngừng việc khai thác công dụng tài sản thế chấp nếu do việc khai thác đó mà tài sản thế chấp có nguy cơ mất giá trị hoặc giảm sút giá trị;
3 Thông báo cho bên nhận thế chấp về các quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp, nếu có; trong trường hợp không thông báo thì bên nhận thế chấp
có quyền hủy hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp;
4 Không được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp từ trường hợp quy định tài khỏan 3 và khỏan 4 điều 349 của Bộ luật này
Bên nhận thế chấp:
- Quyền của bên nhận thế chấp (Theo điều 351 - Luật dân sự 2005)
1 Yêu cầu bên thuê, bên mượn tài sản thế chấp trong trường hợp quy định tại khỏan 5 điều 349 của Bộ luật này phải chấm dứt việc sử dụng tài sản thế chấp, nếu việc sử dụng làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản đó;
2 Được xem xét, kiểm tra trực tiếp tài sản thế chấp, nhưng không được cản trở hoặc gây khó khăn cho việc sử dụng, khai thác tài sản thế chấp
3 Yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng TSTC
4 Yêu cầu bên thế chấp áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn tài sản, giá trị tài sản trong trường hợp có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản do việc khai thác, sử dụng;
5 Yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản
đó cho mình để xử lý trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa
vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ;
6 Giám sát, kiểm tra quá trình hình thành tài sản trong trường hợp nhận thế chấp tài sản hình thành trong tương lai;
7 Yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định tại điều 355 hoặc khoản 3 điều 324 của Bộ luật này và được ưu tiên thanh toán
Trang 17- Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp (Theo điều 350 - Luật dân sự 2005)
1 Trong trường hợp các bên thỏa thuận bên nhận thế chấp giữ giấy tờ về tài sản thế chấp thì khi chấm dứt thế chấp phải hoàn trả cho bên thế chấp giấy tờ về tài sản thế chấp
2 Yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm xóa đăng ký trong các trường hợp quy định tại các 355,356 và 357 của Bộ luật này
Bên thứ ba giữ tài sản thế chấp:
- Quyền của người thứ ba giữ tài sản thế chấp (theo điều 353 - Luật dân sự
cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản thế chấp;
3 Giao lại tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp hoặc bên thế chấp theo thỏa thuận
*Các loại thế chấp:
Căn cứ vào Luật Dân sự: Có 2 loại thế chấp sau:
Thế chấp pháp lý: Là hình thức thế chấp trong đó người đi vay (người thế
chấp) thỏa thuận chuyển quyền sở hữu cho Ngân hàng khi không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ Theo hình thức này, khi người đi vay không thanh toán được nợ Ngân hàng được quyền bán tài sản hoặc cho thuê với tư cách là người chủ sở hữu
mà không cần thực hiện các thủ tục tố tụng để nhờ sự can thiệp của Tòa án
+Ưu điểm: - Đảm bảo cho Ngân hàng thu hồi nợ bằng cách bán tài sản thế
chấp
- Không bị các chủ nợ khác tham gia chia phần đối với số tiền bán TS
Trang 18+ Nhược điểm: - Tốn kém chi phí đăng ký và công chứng
- Mỗi hợp đồng vay gắn với một hợp dồng thế chấp riêng biệt vì vậy khi cấp tín dụng theo hợp đồng vay mới lại phải lập lại hợp đồng thế chấp
Thế chấp công bằng (thế chấp thông thường): Là hình thức thế chấp trong đó
Ngân hàng chỉ nắm giữ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm cho món vay Khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng, việc xử lý tài sản phải dựa trên sự thỏa thuận của người đi vay và người cho vay hoặc phải nhờ đến sự can thiệp của Tòa án nếu
có tranh chấp
+ Ưu điểm:
- Thủ tục đơn giản, chi phí cho thủ tục thế chấp thấp
- Khi thay đổi điều kiện vay theo hợp đồng mới không cần lập lại hợp đồng thế chấp
+ Nhược điểm:
- Tốn kém thời gian và chi phí liên quan đến Tòa án để có thể bán TS
- Có thể bị các chủ nợ khác tham gia chia phần trên số tiền bán TSTC
Căn cứ vào thứ tự thế chấp:
- Thế chấp thứ nhất: Là việc thế chấp tài sản để bảo đảm cho món thứ thứ
nhất Cần lưu ý rằng, thế chấp thứ nhất không có nghĩa là lần đầu tiên đem tài sản
đi thế chấp cho một khoản vay, mà thế chấp thứ nhất được xác định trong mối tương quan giữa các khoản vay có thế chấp, tức là việc sử dụng một tài sản làm bảo đảm cho nhiều khoản vay và thế chấp cho khoản vay đầu tiên đang tồn tại gọi là thế chấp thứ nhất
- Thế chấp thứ hai: Là hình thức thế chấp trong đó người đi vay sử dụng
phần giá trị chênh lệch giữa giá trị tài sản thế chấp với khoản nợ thứ nhất được bảo đảm bằng tài sản đó để bảo đảm cho khỏan nợ thứ hai
Trong thế chấp để thực hiện nhiều nghĩa vụ (thế chấp thứ nhất và thế chấp thứ hai ) có một số điểm cần lưu ý sau:
- Trong trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp để thanh toán một khoản nợ đến hạn, thì các khỏan nợ khác chưa đến hạn cũng được coi là đến hạn
- Thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự đăng ký thế chấp
Trang 19Căn cứ vào phạm vi thế chấp:
- Thế chấp toàn bộ bất động sản: Là hình thức thế chấp bất động sản trong
đó nếu bất động sản có vật phụ thì vật phụ cũng thuộc tài sản thế chấp
- Thế chấp một phần bất động sản: Với hình thức thế chấp này, nếu bất động
sản có vật phụ thì vật phụ chỉ thuộc tài sản thế chấp nếu có thỏa thuận
Riêng đối với thế chấp quyền sử dụng đất thì nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng trồng vườn cây và các tài sản khác của người thế chấp gắn liền với đất chỉ thuộc tài sản thế chấp nếu có thỏa thuận
c) Cầm cố, thế chấp bằng tài sản hình thành trong tương lai:
Cầm cố, thế chấp bằng tài sản hình thành trong tương lai có thể được hiểu là việc khách hàng vay dùng chính tài sản hình thành trong tương lai làm tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với tổ chức tín dụng
Theo Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm thì: “Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm.”
1.2.1.2- Bảo đảm đối nhân (bảo lãnh)
* Khái niệm: Theo điều 361 - Bộ luật dân sự “Bảo lãnh là việc người thứ ba
(sau đây gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay thế cho bên có nghĩa vụ(sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
Người bảo lãnh là người thực hiện nghĩa vụ thay cho người đi vay đối với người cho vay ( Ngân hàng) Người bảo lãnh có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Một bảo lãnh có thể có nhiều người cùng tham gia bảo lãnh Trong trường hợp này, những người tham gia bảo lãnh phải liên đới chịu trách nhiệm và Ngân hàng cho vay có quyền yêu cầu bất cứ ai trong số những người bảo lãnh phải thực hiện toàn
bộ nghĩa vụ trả nợ
Người nhận bảo lãnh là người chủ nợ, người hưởng thụ bảo lãnh, trong quan
hệ tín dụng thì đó là các Ngân hàng cho vay
Trang 20Người được bảo lãnh là người đi vay, người có nghĩa vụ phải thanh toán nợ cho Ngân hàng cho vay.
(2)(1) Trong quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và người đi vay được thể hiện trên hợp đồng tín dụng, Ngân hàng là người có quyền yêu cầu người đi vay thanh toán nợ khi đáo hạn
(2) Ngưởi bảo lãnh và người đi vay thỏa thuận về việc bảo lãnh, việc thực hiện nghĩa vụ thay khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ
(3) Người bảo lãnh cam kết với Ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho người đi vay khi khoản nợ đáo hạn mà người đi vay không thực hiện được
* Phân loại bảo lãnh
Căn cứ vào hình thức bảo lãnh:
- Bảo lãnh bằng tài sản: Là hình thức bảo lãnh trong đó bên bảo lãnh phải có tài
sản để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Việc bảo lãnh bằng tài sản có thể kèm theo biện pháp thế chấp hoặc cầm cố tài sản để thực hiện nghĩa vụ
-Bảo lãnh bằng uy tín: Là hình thức bảo lãnh chỉ dựa vào uy tín của người
bảo lãnh Theo quy định hiện hành bên bảo lãnh không phải là tổ chức tín dụng chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình Còn các tổ chức tín dụng có thể bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh
Căn cứ vào phạm vi bảo lãnh:
- Bảo lãnh toàn bộ: Là hình thức bảo lãnh trong đó người bảo lãnh cam kết
thực hiện thay toàn bộ nghĩa vụ của người được bảo lãnh nếu người đó không thực hiện được nghĩa vụ của mình khi đến hạn
- Bảo lãnh một phần: Là hình thức bảo lãnh trong đó người bảo lãnh chỉ
cam kết thực hiện thay một phần nghĩa vụ khi người được bảo lãnh không thực hiện được nghĩa vụ của mình Trong trường hợp này phải ghi rõ số tiền bảo lãnh
Trang 21Căn cứ vào nghĩa vụ phải bảo lãnh:
- Bảo lãnh riêng biệt: Là hình thức bảo lãnh được áp dụng cho một số tiền
vay cụ thể theo hợp đồng tín dụng và được hạch toán riêng trên tài khoản cho vay
- Bảo lãnh duy trì: Là hành vi bảo lãnh cho một loạt các giao dịch và mức
bảo lãnh theo hạn mức tối đa
1.2.2- Quy trình thực hiện bảo đảm tín dụng:
Sơ đồ: Quy trình thực hiện bảo đảm tín dụng
1.2.2.1 Nhận và kiểm tra hồ sơ bảo đảm: Quy trình tín dụng bắt đầu từ khâu lập
hồ sơ tín dụng Trong giai đoạn này CBTD yêu cầu khách hàng vay vốn lập các tài liệu liên quan đến khách hàng, phương án kinh doanh và tài sản bảo đảm Việc nhận và kiểm tra hồ sơ TSBĐ là một phần trong khâu lập hồ sơ tín dụng Với bước này nhiệm vụ chủ yếu của CBTD là kiểm tra về tính đầy đủ của hồ sơ bảo đảm so với hồ sơ tín dụng
1.2.2.2 Thẩm định tài sản bảo đảm:
Ngân hàng sẽ phải thẩm định đánh giá tài sản khi áp dụng phương pháp cho vay có TSBĐ đối với khách hàng Việc thẩm định đánh giá tài sản có ý nghĩa rất quan trọng nhằm xác định tính hợp pháp của giao dịch bảo đảm, bảo vệ quyền lợi của cả khách hàng và Ngân hàng, làm cơ sở để định giá tài sản
*Việc thẩm định các điều kiện của tài sản bảo đảm phải thực hiện trên các khía cạnh sau:
- Thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên bảo đảm
- Được phép giao dịch và không có tranh chấp
Nhận và
kiểm tra hồ
sơ bảo đảm
Thẩm định TSBĐ
Định giá TSBĐ
Lập hợp đồng bảo đảm
Xác định mức cho vay
Trang 22- Được mua bảo hiểm đối với những tài sản Nhà nước quy định phải mua bảo hiểm.
- Xem xét, đánh giá tính thị trường của tài sản bảo đảm
- Đánh giá xu hướng biến động giá trị tài sản
- Đánh giá giá trị tài sản
* Việc thẩm định tài sản bảo đảm thực hiện dựa vào 3 nguồn thông tin:
- Hồ sơ tài liệu và thông tin do khách hàng cung cấp: Đây là nguồn thông tin chủ yếu để xem xét đánh giá tình trạng và giá trị của tài sản bảo đảm, vì vậy cần cố gắng thu thập càng nhiều càng tốt Tuy nhiên, cùng cần chú ý, nguồn thông tin của khách hàng luôn có ý muốn chủ quan để làm tốt hồ sơ tín dụng do đó cũng cần chú
ý đánh giá mức độ chính xác của nguồn thông tin này
- Khảo sát thực tế: Khảo sát thực tế nhằm khẳng định lại các thông tin mà khách hàng cung cấp và phát hiện những vấn đề mới cần thẩm định tiếp Kết quả khảo sát thực tế phải được lập thành biên bản làm việc và có ít nhất hai chữ ký nhằm đảm bảo tính khách quan của việc thẩm định
Các nguồn khác (Chính quyền địa phương, công an, tòa án, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm…): Thực tế cho thấy những thông tin lấy từ nguồn này thường mang tính chất khách quan và chính xác cao Kết quả buổi làm việc với cơ quan hữu quan cũng phải ghi chép lại, có chữ ký của ít nhất hai người và được lưu giữ cùng các hồ sơ khác
Lưu ý: Việc xác định tính chất pháp lý về quyền sở hữu tài sản hoặc quyền
sử dụng đất thực ra không quá phức tạp nhưng ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn và xảy ra nhiều rủi ro liên quan đến thủ tục pháp lý do những nguyên nhân sau:
- Nhiều loại tài sản chưa thực hiện đăng ký tài sản và cấp giấy chứng nhận về quyền sở hữu tài sản như nhà ở vùng nông thôn, các cơ sở kinh doanh Riêng đối với doanh nghiệp Nhà nước việc thế chấp chỉ dựa trên cơ sở giấy xác nhận của cơ quan quản lý vốn Nhà nước
- Các cơ quan quản lý Nhà nước chưa quản lý hết tài sản có đăng ký hoặc quản lý phân tán ở nhiều đơn vị Từ đó không xác định được một cách chắc chắn các giấy tờ hợp pháp về sở hữu tài sản Như trường hợp có cá nhân có 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng nó để thế chấp cho hai Ngân hàng
Trang 23- Đất đã giao cho cá nhân và tổ chức sử dụng nhưng chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Sự thiếu đồng bộ này sẽ dẫn đến tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong các hợp đồng thế chấp.
1.2.2.3- Định giá tài sản bảo đảm:
Về nguyên tắc, việc định giá tài sản bảo đảm phải thực hiện theo giá thị trường Nếu định giá cao hơn giá thị trường có thể sẽ dẫn đến khi phát mại tài sản thế chấp (hoặc chuyển quyền sở hữu cho Ngân hàng) trong trường hợp khách hàng không trả được nợ không thu hồi đủ gốc, lãi và các khoản chi phí khác Nếu định giá thấp hơn giá thị trường thì an toàn cho Ngân hàng nhưng sẽ ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng và làm suy yếu tính cạnh tranh trong việc thu hút khách hàng Định giá tài sản là một công việc phức tạp đòi hỏi phải có cán bộ
có chuyên môn và nhiều kinh nghiệm Đối với tài sản có giá trị lớn, phức tạp cần thiết phải thuê các tổ chức tư vấn để thực hiện việc định giá tài sản thế chấp
1.2.2.4- Xác định mức cho vay tối đa theo giá trị tài sản bảo đảm:
Có 3 căn cứ để Ngân hàng xác định mức cho vay đối với một khách hàng đó là: Nhu cầu vốn của khách hàng, khả năng đáp ứng nhu cầu của Ngân hàng và giá trị của tài sản bảo đảm TSBĐ là nguồn thu nợ thứ hai vì vậy thông thường giá trị tài sản thế chấp khi thanh lý dưới hình thức chuyển nhượng để thu hồi nợ (phát mại hoặc chuyển quyền sở hữu cho Ngân hàng) phải lớn hơn số tiền vay ban đầu cộng với lãi và các chi phí liên quan khác Như vậy, giá trị tài sản TSTC dùng để tính toán ở đây là giá trị dự kiến cho tương lai, tuy nhiên để đơn giản hóa việc tính toán các NH thường điều chỉnh tỷ lệ cho vay so với giá của TSTC Đối với tài sản có giá trị ổn định thì áp dụng tỷ lệ cho vay cao, còn đối với các TSTC có xu hướng giảm giá hoặc giá cả biến động thất thường thì áp dụng tỷ lệ cho vay thấp Các Ngân hàng được quyền quyết định tỷ lệ cho vay thích hợp so với giá trị TSBĐ, trừ trường hợp thế chấp bằng tài sản hình thành trong tương lai (theo quy định của Thông tư
số 06/2000/TT-NHNN ngày 4/4/2000)
* Nguyên tắc khi cấp tín dụng:
- Mức tín dụng cấp phải nhỏ hơn giá thị trường của TSBĐ (để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi vay và các chi phí liên quan khác trong trường hợp đi vay không trả được nợ)
- Duy trì tỷ lệ cho vay trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng tín dụng
Trang 24Hiện nay các Ngân hàng thường áp dụng tỷ lệ cho vay so với giá trị tài sản bảo đảm là 50 - 70%.
1.2.2.5- Lập hợp đồng bảo đảm:
Hợp đồng bảo đảm tín dụng thường được ký kết cùng với hợp đồng tín dụng sau khi các giấy tờ thủ tục liên quan được hoàn tất Tùy theo hình thức bảo đảm và loại tài sản bảo đảm mà hợp đồng bảo đảm được lập riêng hay nằm trong hợp đồng tín dụng, phải có công chứng của Nhà nước theo quy định và đăng ký giao dịch bảo đảm hay không
1.2.2.6- Tái định giá tài sản bảo đảm và xử lý sau tái định giá:
Thực tế, TSBĐ có những mức biến động giá nhất định hoặc bất thường trong suốt thời gian khách hàng vay vốn Sự biến động này được ghi nhận tại một tài khoản ngoại bảng của phòng kế toán Trong cho vay trung dài hạn, hàng năm phải đánh giá lại giá trị của TSBĐ nhằm duy trì tỷ lệ cho vay trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng Nếu giá trị của TSBĐ bị giảm sút thì Ngân hàng phải xử lý theo một trong hai cách sau:
- Yêu cầu khách hàng vay vốn bổ sung TSBĐ
- Thu hồi phần nợ thiếu bảo đảm
Giá trị thu hồi = Nợ gốc - Nợ gốc * Giá trị tái định giá
Giá trị định giá ban đầu
1.2.2.7- Giải chấp (hay: xử lý tài sản bảo đảm khi đáo hạn)
Khi hợp đồng tín dụng hết thời hạn có hai tình huống xảy ra:
- Thứ nhât, khách hàng thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi cho NH, khi đó
NH tiến hành các thủ tục giải chấp và thanh lý hợp đồng tín dụng nhằm trả lại các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hay trả lại tài sản cầm cố cho khách hàng
- Thứ hai, khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình Với trường hợp này NH phải tiến hành xử lý TSBĐ để thu hồi nợ gốc, lãi và các chi phí liên quan khác Việc xử lý tài sản là một biện pháp thu hồi nợ khó đòi, tuy nhiên vấn đề đặt ra là khi nào thì phát sinh việc xử lý TSBĐ Không phải cứ khi nào phát sinh tình trạng khách hàng không trả nợ đúng hạn thì NH tiến hành xử lý tài sản bảo đảm Thông thường NH sẽ tiến hành xem xét khả năng trả nợ của khách hàng và
Trang 25cho gia hạn nợ nếu xét thấy khó khăn của khách hàng chỉ là tạm thời và vẫn còn có khả năng thanh toán Mục tiêu của NH không phải là bắt nợ khách hàng mà là cố gắng tối đa để khách hàng trả nợ cho mình Ngân hàng có thể cấp thêm vốn sau khi xem xét dự án và khả năng kinh doanh của khách hàng, đồng thời với những khoản cấp vốn bổ sung này NH phải theo dõi sát sao việc sử dụng vốn Việc xem xét đến TSBĐ chỉ nên áp dụng khi NH đánh giá khách hàng không còn khả năng trả nợ, phương án kinh doanh của khách hàng không còn tính khả thi hoặc doanh nghiệp bị phá sản.
* Nguyên tắc giải chấp (Xử lý tài sản bảo đảm):
- Khi đến hạn mà khachs hàng vay, bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với TCTD thì tài sản bảo đảm được xử lý để thu hồi nợ
- Tài sản bảo đảm phải được xử lý theo các phương thức mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, trường hợp các bên không xử lý được theo các phương thực
đã thỏa thuận thì TCTD có quyền:
+ Bán, chuyển nhượng tài sản cầm cố, thế chấp để thu hồi nợ;
+ Yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, nếu bên bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thì xử lý tài sản của bên bảo lãnh để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
- TCTD có quyền chuyển giao quyền thu hồi nợ và ủy quyền cho bên thứ ba
xử lý TSBĐ tiền vay; Trong trường hợp này bên thứ ba cũng có quyền xử lý TSBĐ tiền vay để thu hồi nợ như TCTD
- Trường hợp một tài sản bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ trả nợ, nếu phải xử lý TSBĐ để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ trả nợ khác tuy chưa đến hạn cũng được coi là đến hạn và được xử lý TSBĐ tiền vay để thu hồi nợ Thứ tự thanh toán được tiến hạn theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc thứ tự xác lập hợp đồng tín dụng
- Trường hợp xử lý TSBĐ theo thỏa thuận phải được tiến hành nhanh chóng, công khai, bảo đảm lợi ích của các bên, nếu tài sản không xử lý được do không thống nhất được giá bán thì TCTD có quyền quyết định giá bán tài sản để thu hồi hợ
Trang 26- Các chi phí phát sinh từ việc xử lý TSBĐ do khách hàng vay, người bảo lãnh chịu Tiền thu từ xử lý TSBĐ sau khi trừ đi chi phí xử lý thì TCTD thu nợ theo
tứ tự: Nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn, các chi phí khác (nếu có), TSBĐ tiền vay sau khi
xử lý nếu không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì khách hàng vay, bên bảo lãnh phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã cam kết
- Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm tạo điều kiện hỗ trợ các bên xử lý TSBĐ tiền vay để thu hồi nợ cho TCTD
- Việc xử lý TSBĐ tiền vay là biện pháp để thu hồi nợ không phải là hoạt động kinh doanh tài sản của TCTD
1.3- Cơ sở pháp lý để thực hiện bảo đảm tín dụng tại các NHTM Việt Nam:
Ngày 29/12/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 163/2006/NĐ-CP; Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật dân sự năm 2005 về việc xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và
xử lý tài sản bảo đảm Nghị định 163 ra đời thay thế Nghị định số
165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm Nghị định 163 cũng bãi bỏ Nghị định 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các TCTD, bãi bỏ Nghị định 85/2002/NĐ-CP về việc sửa đổi bổ sung một số điều của NĐ 178/1999/NĐ-CP Nghị định 163 về giao dịch bảo đảm với các quy định mới của Bộ luật dân sự 2005
Nó đánh dấu bước phát triển mới của luật pháp Việt Nam trong thời kỳ kinh tế hội nhập
Tuy nhiên, do Bộ luật dân sự mới đi vào có hiệu lực được 3 năm các văn bản pháp lý quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Bộ luật dân sự còn ít và chưa thật
sự đồng bộ Đặc biệt hình thức bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay còn rất nhiều khúc mắc trong quá trình thực hiện và chưa có các văn bản hướng dẫn thực hiện chi tiết
Tóm lại, các giao dịch bảo đảm hiện nay được thực hiện theo Bộ luật dân sự 2005
và Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm Bên cạnh đó các NHTM có thể ban hành các quyết định nhằm cụ thể hóa Nghị định 163 như NHNo&PTNT Việt Nam có quyết định số 1300/QĐ-TDHo ngày 3/12/2007 về việc ban hành quy định thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay trong hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Trang 271.4 Các nhân tố tác động đến thực hiện đảm bảo tín dụng tại NHTM
Trong nền kinh tế nước ta mới ra nhập tổ chức thương mại WTO do còn mới
mẻ hội nhập kinh tế quốc tế chịu sự tác động của thị trường khu vực và thế giới
Do vậy diễn biến về kinh tế khu vực và thế giới đều có ảnh hưởng và phụ thuộc vào sự phát triển hay suy thoái mà tính tích cực hay tiêu cực đến nền kinh tế nước ta, cụ thể như:
Cuối năm 2008 đầu năm 2009 do ảnh hưởng suy thoái kinh tế và hủng hoảng tài chính, Chính phủ đã có Quyết định số 31 và 443 nhằm hỗ trợ lãi suất tiền vay nhằm kích thích kinh tế phát triển
Cuối 2010 đầu 2011 nền kinh tế khu vực và thế giới lạm phát cao ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống của nhân dân Chính phủ đã có Nghị Quyết số 11/CP nhằm kiểm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô đảm bảo an sinh xã hội cũng dẫn đến hoạt động của các tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn
Do lạm phát cao nên lãi xuất huy động từ nền kinh tế ở mức cao và cho vay
ra lãi xuất ở mức cao dẫn đến doanh nghiệp SXKD đã khó khăn lại càng khó thêm gấp đôi ba lần và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có chỉ đạo tăng trưởng tín dụng năm 2010 đưa về dưới 20% (Năm 2011 trên 30%) cũng ảnh hưởng đến quy mô thu hẹp cho vay của các TCTD
Ngoài ra còn 1 số văn bản cũng ảnh hưởng đến hoạt động của TCTD như: thông tư số 13 và số 19 của Ngân hàng Nhà nước về việc quy định các tỷ lệ an toàn tín dụng trong hoạt động của các Tổ chức tín dụng cũng ảnh hưởng đến quy mô hoạt động tín dụng Như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao huy động vốn cũng ảnh hưởng đến mở rộng hay thu hẹp quy mô tín dụng
Trang 28
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TẠI NHNo&PTNT
SÔNG CẦU – THÁI NGUYÊN
2.1- Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh tín dụng tại NHNo&PTNT Sông Cầu, tỉnh Thái Nguyên:
2.1.1- Sự ra đời và phát triển của NHNo&PTNT Sông Cầu, tỉnh Thái Nguyên:
Đất nước ta đang trong thời kỳ biến đổi mạnh mẽ của nền kinh tế, thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình
trạng kém phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống Đồng thời quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đang diễn ra hết sức sôi động Điều đó đồng nghĩa với sự cạnh tranh đã, đang và sẽ diễn ra ngày càng khốc liệt trong toàn bộ nền kinh
tế
Trong xu thế phát triển chung của đất nước và quá trình hội nhập với thế giới, ngành ngân hàng đóng góp một vai trò hết sức to lớn Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội lâu dài một cách có hiệu quả, ngành Ngân hàng nói chung
và hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn Việt Nam nói riêng đã từng bước củng cố, cải tiến và phát triển toàn hệ thống
Với những nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan, Ngân hàng Nông nghiệp
& phát triển nông thôn Sông Cầu (NHNo & PTNT Sông Cầu) tỉnh Thái Nguyên đã được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 25 tháng 07 năm 2003 theo Quyết định
số 187/QĐ-HĐQT-TCCB của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo & PTNT Việt
Nam, trên cơ sở sáp nhập Công ty Vàng bạc đá quý tỉnh Thái Nguyên vào Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên (NHNo & PTNT tỉnh Thái Nguyên)
2.1.2- Chức năng và nhiệm vụ của NHNo&PTNT Sông Cầu:
NHNo & PTNT Sông Cầu là đơn vị hạch toán trực thuộc NHNo & PTNT tỉnh Thái Nguyên Có quyền tự chủ trong kinh doanh phân cấp của NHNo &PTNT Việt Nam Chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi với NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên
Trang 29Về chức năng của NHNo & PTNT Sông Cầu: Là một chi nhánh trực thuộc NHNo & PTNT tỉnh Thái Nguyên quản lý Vì vậy, NHNo & PTNT Sông Cầu đi vào hoạt động với nhiệm vụ được giao là:
* Huy động vốn:
- Huy động vốn, nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi
thanh toán (bằng VNĐ, USD, EUR….)
- Phát hành những chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu Ngân hàng.
- Tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ, vốn ủy thác do NHNo & PTNT tỉnh Thái
Nguyên chuyển xuống
* Cho vay:
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằngVNĐ.
- Cho vay cầm cố chứng từ có giá, cho vay các chương trình dự án kinh tế
của tỉnh và các dự án theo chỉ định của Chính Phủ
- Cho vay ngoại tệ (USD) đối với cá nhân và gia đình người đi lao động xuất
khẩu ở nước ngoài
* Thực hiện các dịch vụ Ngân hàng:
- Thanh toán chuyển tiền điện tử, rút tiền, chuyển khoản tự động qua thẻ
ATM
- Bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
- Chuyển tiền qua mạng Western Union, mua bán ngoại tệ.
* Tổ chức kiểm tra, kiểm soát, báo cáo thống kê theo quy định:
NHNo & PTNT Sông Cầu đã và đang cố gắng hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả để nhằm khắc phục và vượt qua những khó khăn, không ngừng gia tăng nguồn vốn và mở rộng mạng lưới kinh doanh, sử dụng linh hoạt nguồn vốn
nhằm mục tiêu “Phát triển, an toàn và hiệu quả”.
2.1.3 Mô hình, cơ cấu tổ chức bộ máy của NHNo&PTNT Sông Cầu – Thái Nguyên:
* Mô hình:
Bộ máy điều hành NHNo&PTNT Sông Cầu được thể hiện trên mô hình như
sau:
Trang 30
* Cơ cấu tổ chức.
Điều hành NHNo & PTNT Sông Cầu là một đồng chí Giám đốc và một đồng chí Phó giám đốc giúp việc cho Giám đốc, đồng thời trực tiếp chỉ đạo một số phòng nghiệp vụ theo sự phân công của Giám đốc Điều hành các phòng nghiệp vụ là các Trưởng, phó phòng NHNo & PTNT Sông Cầu có 21 cán bộ nhân viên làm việc trong 03 phòng nghiệp vụ
Với cơ cấu tổ chức cùng đội ngũ cán bộ như vậy NHNo & PTNT Sông Cầu
đã đi vào hoạt động một cách có hiệu quả Đạt được những thành tựu đó là nhờ vào
sự điều hành, quản lý sáng suốt của Ban lãnh đạo cùng với sự năng nổ, nhiệt tình của tất cả các phòng ban chuyên trách đã tạo cho ban Giám đốc có những cơ sở vững chắc trong quyết định của mình để duy trì và phát triển các hoạt động theo
đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để đẩy mạnh nền kinh tế - xã
hội của địa phương trong thời kỳ mở cửa và hội nhập nền kinh tế Quốc tế
* Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của các phòng chuyên môn nghiệp vụ:
- Chức năng:
+ Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn theo quy định.
+ Chỉ đạo nghiệp vụ, trực tiếp kiểm tra, kiểm soát hoạt động nghiệp vụ tại
các phòng giao dịch trực thuộc
- Nhiệm vụ cơ bản của các phòng chuyên môn nghiệp vụ:
Phòng kinh doanh: Là đầu mối tham mưu cho Giám đốc xây dựng các kế
hoạch kinh doanh ngắn hạn, trung và dài hạn theo định hướng kinh doanh của
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÒNG KINH
DOANH PHÒNG KẾ TOÁN- NGÂN QUỸ PHÒNG HÀNH CHÍNH
Trang 31NHNo Đây cũng là phòng trực tiếp quản lý cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn đảm bảo các cơ cấu về kỳ hạn, loại tiền tệ, loại tiền gửi… và quản lý các hệ số an toàn theo quy định Bên cạnh việc thẩm định và đề xuất cho vay các dự án theo phân cấp
ủy quyền, phòng kế hoạch kinh doanh còn chịu trách nhiệm marketing tín dụng bao gồm thiết lập, phát triển mở rộng hệ thống khách hàng, giới thiệu các sản phẩm tín dụng, dịch vụ cho khách hàng, chăm sóc, tiếp nhận yêu cầu và ý kiến phản hồi của khách hàng…
Phòng Kế toán - Ngân quỹ: Thực hiện nghiệp vụ thanh toán trong và ngoài
nước theo quy định, hạch toán kế toán, hạch toán thống kê, xây dựng các chỉ tiêu
kế hoạch tài chính, tổng hợp và lưu trữ hồ sơ theo quy định
Phòng Hành chính – nhân sự: Tham mưu giúp việc cho ban giám đốc
trong việc bố trí, điều động, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, tiếp nhận cán bộ Thực hiện các chế độ chánh sách đối với cán bộ nhân viên trong ngân hàng Quản
lý bảo quản tài sản của chi nhánh như: ô tô, kho vật liệu dự trữ của cơ quan theo đúng chế độ
Nhìn chung về số lượng, chất lượng trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ nhân viên ngày càng được nâng cao Điều này khẳng định quyết tâm của Ngân hàng trong việc đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng thông qua việc hoàn chỉnh và nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Đồng thời đáp ứng mục tiêu của NHNo & PTNT tỉnh Thái Nguyên trong việc mở rộng hoạt động, phát triển cả về chất lượng và quy mô của hệ thống NHNo & PTNT toàn tỉnh Thái Nguyên
2.1.4- Kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT Sông Cầu:
2.1.4 1- Về công tác huy động vốn:
Nguồn vốn kinh doanh là yếu tố không thể thiếu được với mọi loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là đối với tổ chức kinh doanh tiền tệ như Ngân hàng Hiểu rõ được tầm quan trọng của nguồn vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh, NHNo&PTNT Sông Cầu đã không ngừng thực hiện các biện pháp để nhằm chủ động vốn cho hoạt động tín dụng và kinh doanh như: đa dạng hóa phương thức huy động vốn, đơn giản hóa thủ tục, đổi mới phong cách phục vụ… Chính vì vậy mà công tác huy động vốn của Ngân hàng trong nhiều năm qua luôn thu được những kết quả khả quan Cụ thể là:
Trang 32Bảng 1: Tình hình huy động vốn qua các năm 2008 – 2010
Đơn vị tính: Triệu đồngNguồn vốn huy Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
1 NV theo loại tiền 122.090 100 122.036 100 140.570 100
Nội tệ 107.830 88,32 108.247 88,7 125.871 89,54Ngoại tệ (quy đổi) 14.260 11,68 13.789 11,3 14.699 10,46
(Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết HĐKD các năm 2008 – 2010)
NHNo&PTNT Sông Cầu với chức năng hoạt động chủ yếu là phục vụ sự phát triển nông nghiệp – nông thôn, NH đã tích cực huy động vốn trong địa bàn thành phố Thái Nguyên bằng nhiều hình thức, đồng thời đẩy mạnh huy động vốn trên địa bàn hoạt động bằng nhiều biện pháp để khai thác tiềm lực vốn của các thành phần kinh tế
* Năm 2008:
Tổng nguồn vốn huy động tính đến 31/12/2008 là 122.090 triệu đồng so với chỉ tiêu kế hoạch giao cho Ngân hàng Sông Cầu đạt 100% kế hoạch Nguyên nhân chính là do ngân hàng đã nắm bắt kịp thời thông tin kinh tế xã hội và phương hướng, chủ động tìm kiếm khách hàng, thực hiên đồng bộ các bộ phận nghiệp vụ
kỹ thuât như: quảng cáo, tiếp thị… Nguồn vốn huy động từ dân cư là 99.755 triệu
Trang 33đồng, tương ứng tỷ lệ tăng là 81,71% Ngòai ra, tiền gửi của các TCKT cũng đạt 22.335 triệu đồng ứng với tỷ lệ đạt là 18,29%.
* Năm 2009:
Tổng vốn huy động năm 2009 đạt 122.036 triệu đồng so với chỉ tiêu kế hoạch giao cho NHNo Sông Cầu đạt 86% so với năm 2008 giảm 0,1% Do năm 2009 thị trường có nhiều biến động phức tạp, giá cả tăng làm ảnh hưởng bất lợi cho công tác huy động vốn Nguồn vốn huy động từ dân cư là 106.720 triệu đồng, tỷ lệ tăng 6,98% Tiền gửi của các TCKT cũng đạt 15.316 triệu đồng ứng với tỷ lệ 12,55%
* Năm 2010:
Tổng số vốn huy động trong năm 2010 là 140.570 triệu đồng, trong đó vốn huy động từ dân cư đạt 122.142 triệu dồng, tăng 15.422 triệu đồng so với năm 2009 Vốn huy động có kỳ hạn dưới 12 tháng tăng 20.015 triệu đồng so với năm 2009 Tiền gửi của các TCKT cũng đạt 18.428 triệu đồng ứng với tỷ lệ 13,11% Công tác huy động vốn năm 2010 tại NHNo&PTNT Sông Cầu đã được chú trọng đầu tư đưa
ra các biện pháp nhanh nhạy, linh hoạt trong điều hành lãi suất nhằm thu hút nguồn vốn tăng trưởng ổn định, đảm bảo tốt tốc độ tăng trưởng vốn tín dụng
Với quy mô tăng trưởng và cơ cấu nguồn vốn hợp lý, đã khẳng định sự phát triển
đa dạng các sản phẩm nghiệp vụ huy động vốn của NHNo&PTNT Sông Cầu phù hợp với thị hiếu người gửi tiền và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường
2.1.4.2- Về công tác sử dụng vốn:
Nếu như hoạt động huy động vốn là nguồn đầu vào quan trọng đáp ứng nhu cầu hoạt động của NH thì hoạt động sử dụng vốn là hoạt động cơ bản để tạo ra lợi nhuận cho NH bù đắp các chi phí chung, chi phí đầu vào của NH và một phần lợi nhuận dư ra mà NH thu được Để đứng vững trong nền kinh tế phát triển đầy cạnh tranh như hiện nay, các Ngân hàng buộc phải xây dựng chiến lược kinh doanh cho mình một cách hợp lý và NHNo&PTNT Sông Cầu cũng vậy Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, NHNo&PTNT Sông Cầu tiến hành phân phối vốn sao cho có hiệu quả nhất Đối tượng cho vay của NHNo&PTNT Sông Cầu chủ yếu là cho vay kinh
tế hộ gia đình, các nhân sản xuất kinh doanh Ngoài ra, NHNo&PTNT Sông Cầu cho vay các doanh nghiệp, công ty TNHH, Công ty cổ phần Tình hình dư nợ trong 3 năm 2008 - 2010 của Ngân hàng được thể hiện qua bảng sau:
Trang 34Bảng 2: Tình hình dư nợ qua các năm 2008 - 2010
Đơn vị: Triệu đồng
Số dư Cơ cấu
(%) Số dư
Cơ cấu (%) Số dư
Cơ cấu (%)
1 Theo thời gian 185.26
(Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết HĐKD các năm 2008 - 2010)
Qua bảng số liệu trên có thể thấy NH đã tận dụng tối đa nguồn vốn huy động, mức
sử dụng vốn luôn đạt 100%, dư nợ tín dụng không ngừng tăng trưởng qua các năm
* Năm 2008: Tổng dư nợ tính đến 31/12/2008 là 185.267 triệu đồng so với đầu
năm tăng 7.986 triệu đồng, tương ứng tỷ lệ tăng là 4,3%, so với kế hoạch giao cả năm đạt 100%
Dư nợ theo thời gian:
- Dư nợ ngắn hạn (Cả nội tệ và ngoại tệ): 144.050 triệu đồng chiếm 77,75% tổng
dư nợ
- Dư nợ trung hạn: 41.217 triệu đồng chiếm 22,25% tổng dư nợ
Dư nợ ngắn hạn của NH chiếm tỷ trọng tương đối cao trên tổng dư nợ Tuy nhiên, đang có xu hướng giảm dần Điều này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới
và nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao năng lực canh tranh, phù hợp với sự phát triển của đất nước
Trang 35Dư nợ theo thành phần kinh tế:
- Dư nợ của các DNNQD đạt 56.549 triệu đồng, chiếm 30,52% tổng dư nợ
- DN của các hộ gia đình cá thể lên đến 128.718 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 69,48% tổng dư nợ
NHNo&PTNT Sông Cầu hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Bởi vậy dư nợ của các hộ gia đình cá thể chiếm một tỷ trọng tương đối cao
* Năm 2009: Tổng dư nợ đến 31/12/2009 đạt 202.495 triệu đồng tăng 17.228 triệu
đồng so với năm 2008
Dư nợ theo thời gian:
- Dư nợ ngắn hạn (cả nội - ngoại tệ): 154.283 triệu đồng (tương đương tăng 76,19% tổng dư nợ), còn so với năm 2008 tăng 10.233 triệu đồng
- Dư nợ trung hạn là 48.212 triệu đồng, tăng so với năm 2008 là 6.995 triệu đồng
Dư nợ theo thành phần kinh tế:
- NHNo Sông Cầu tiếp tục đẩy mạnh cho vay đối với khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, do đó dư nợ của nhóm thành phần DNNQD: 57.984 triệu đồng, chiếm 28,63% tổng dư nợ
- Dư nợ của các hộ gia đình cá thể tăng 15.793 triệu đồng so với năm 2008, dư nợ của các hộ gia đình cá thể chiếm 71,37% tổng dư nợ năm 2009
NH đã đẩy mạnh cho vay đối với các doanh nghiệp song do đặc thù hoạt động trên lĩnh vực nông thôn nên dư nợ của các hộ gia đình cá thể vẫn chiếm một tỷ trọng cao
* Năm 2010:
Dư nợ theo thời gian:
- Dư nợ ngắn hạn tăng so với năm 2009 là 31.699 triệu đồng, chiếm 77,5% tổng dư
nợ của năm 2010
- Dư nợ trung hạn cũng tăng đáng kể, tăng 5.783 triệu đồng so với năm 2009 Điều này khá phù hợp với cơ cấu nguồn vốn NH huy động được trong năm 2010
Dư nợ theo thành phần kinh tế:
- Dư nợ của các DNNQD chiếm tỷ trọng 32% tổng dư nợ, đạt mức 76.793 triệu đồng
Trang 36- Tỷ trọng dư nợ của hộ gia đình cá thể trong tổng dư nợ giảm từ 71,37% năm 2009 xuống còn 68% năm 2010 Dư nợ của hộ gia đình cá thể tăng 18.673 triệu đồng so với năm 2009.
Với phương châm đa dạng hóa các sản phẩm, các loại hình tín dụng để phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn – đó luôn là mặt trận hàng đầu và là phương châm hoạt động của NHNo&PTNT Sông Cầu NH luôn tập trung vốn, mở rộng tín dụng đối với các thành phần kinh tế hoạt động chủ yếu trên các lĩnh vực phát triển kinh tế nông nghiệp Phương châm hoạt động này dã giúp NHNo&PTNT Sông Cầu ngày một phát triển bền vững
Qua đây, có thể thấy sự chuyển biến tích cực trong hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT Sông Cầu, hoạt động sử dụng nguồn vốn ở NH đang ngày một chuyển dịch theo hướng tích cực để luôn giữ vai trò và khẳng định được vị trí của mình trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn
2.1.4.3- Về tình hình nợ xấu của Ngân hàng:
Có thể nói các rủi ro trong hoạt động tín dụng là loại rủi ro cố hữu, luôn gắn liền với các ngân hàng thương mại và NHNo&PTNT Sông Cầu cũng không nằm ngoài quy luật này Trong suốt quá trình hoạt động, NHNo&PTNT SÔng Cầu luôn tuân thủ tuyệt đối các quy định về hoạt động tín dụng do Ngân hàng Nhà nước ban hành và các quy chế của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thônViệt Nam
về cho vay và bảo đảm tiền vay Công tác phân loại và đánh giá khách hàng, phân loại khoản vay, hệ thống phê duyệt và kiểm soát tín dụng được Ban lãnh đạo Ngân hàng đặc biệt chú trọng Các công cụ sử dụng để kiểm soát chất lượng tín dụng cũng được tăng cường và hiện đại hoá Vì vậy chất lượng tín dụng của Ngân hàng luôn ở mức an toàn , điều này được thể hiện cụ thể ở bảng dưới đây:
Bảng 3: Tình hình nợ xấu qua các năm 2008 – 2010
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Trang 37Trong những năm gần đây, NHNo&PTNT Sông Cầu đã có những đổi mới trong hoạt động quản lý, giám sát việc sử dụng vốn vay Chính vì vậy tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của NH luôn ở mức thấp < 2% Qua các năm, tỷ lệ này luôn có chiều hướng giảm Năm 2008 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của NH là 186 triệu đồng tương ứng với 0,1% Đến năm 2009 tỷ lệ này là 0,42% Và năm 2010 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của NH đã giảm xuống còn 26 triệu đồng tương ứng với 0,01% Có thể thấy, tỷ lệ nợ xấu của NH luôn ở mức thấp Điều này thể hiện hiệu quả tín dụng tại NHNo&PTNT Sông Cầu rất tốt, đồng thời cũng thể hiện được hướng phát triển bền vững của NH.
2.1.4.4- Kết quả kinh doanh của NHNo Sông Cầu:
Trước những khó khăn, thử thách của nền kinh tế nhưng cùng với tinh thần đoàn kết và trí tuệ tập thể, NHNo&PTNT Sông Cầu đã đạt được những bước tăng trưởng đáng khích lệ Điều đó được thể hiện cụ thể trong bảng kết quả kinh doanh năm 2008 – 2010:
Bảng 4: Kết quả kinh doanh các năm 2008 - 2010
Tỷ trọng (%)
(Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết HĐKD các năm 2008 - 2010)
Năm 2008 mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta có nhiều biến động nhưng chênh lệch thu - chi của NH vẫn đạt
Trang 38mức 7.907 triệu đồng, đạt 100% kế hoạch Trong đó, tổng thu là 51.040 triệu đồng, thu từ lãi chiếm 50.696 triệu đồng tương ứng 99,33%.
Năm 2009, mức chênh lệch thu – chi của NH tăng 2.053 triệu đồng Trong
đó, thu từ lãi là 52.943 triệu đồng, thu dịch vụ tăng 118 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 0,87% Chi trả lãi là 33.287 triệu đồng tương ứng 76,62%
Năm 2010 tổng thu của NH tăng lên 57.152 triệu đồng, tăng 7,02% so với năm
2009 Trong đó thu từ lãi tăng 4.011 triệu đồng, thu dịch vụ tăng 186 triệu đồng Chênh lêch thu – chi là 11.427 triệu đồng, tăng 14,73% so với năm 2009
Với những kết quả đạt được đã khẳng định sự phát triển của NHNo&PTNT Sông Cầu trong giai đoạn hiện nay Trong hoàn cảnh khó khăn thử thách, đội ngũ cán bộ nhân viên của NH đã nỗ lực phấn đấu hết mình vượt qua khó khăn để đạt được những thành tựu trên mọi lĩnh vực, vượt chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra
2.2- Thực trạng bảo đảm tín dụng tại NHNo&PTNT Sông Cầu – Thái Nguyên: 2.2.1- Quy trình bảo đảm tín dụng tại NHNo&PTNT Sông Cầu.
2.2.1.1- Các hình thức bảo đảm tín dụng tại Ngân hàng Sông Cầu:
Thực hiện theo chủ trương hướng dẫn của NHNo&PTNT Việt Nam và NHNo Thái Nguyên, hiện nay NHNo&PTNT Sông Cầu căn cứ vào năng lực tài chính của khách hàng vay, tính khả thi, hiệu quả của khoản vay và tình hình thực tế
để lựa chọn một hoặc một số biện pháp bảo đảm tiền vay sau:
- Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản:
+ Cầm cố, thế chấp taì sản của khách hàng vay
+ Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
+ Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
- Các biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay không có tài sản bảo đảm:
+ Ngân hàng chủ động lựa chọn khách hàng đủ điều kiện để cho vay không
Trang 39*Nhận và kiểm tra hồ sơ tài sản bảo đảm:
- Tư vấn: Cán bộ tín dụng hướng dẫn, giải thích cụ thể để khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh có thể hiểu đầy đủ các trách nhiệm và nghĩa vụ cơ bản của bên vay đối với TSBĐ
- Nhận và kiểm tra tài sản bảo đảm: Khi nhận hồ sơ TSBĐ, CBTD kiểm tra
sơ bộ các yếu tố sau nhằm tránh tình trạng khách hàng phải bổ xung sửa chữa nhiều lần:
+ Đủ loại và đủ số lượng theo yêu cầu;
+ Có chữ ký và dấu xác nhận của cơ quan liên quan;
+ Phù hợp về mặt nội dung giữa các tài liệu khác nhau trong hồ sơ;
+ Các loại giấy tờ cụ thể trong bộ hồ sơ TSBĐ
*Thẩm định tài sản bảo đảm: CBTD căn cứ vào các thông tin từ khách hàng cung
cấp, thông tin thu thập và các nguồn thông tin khác như chính quyền địa phương,
cơ quan công an… để tập trung làm rõ các vấn đề sau:
- Quyền sở hữu tài sản bảo đảm của khách hàng vay/bên bảo lãnh: CBTD phải kiểm tra xem khách hàng vay/bên bảo lãnh có xuất trình đủ các loại giấy tờ chứng minh quyền sở hữu/quyền sử dụng tài sản dùng làm TSBĐ không Cần hết sức lưu ý trong trường hợp đồng sở hữu tài sản… Khi khảo sát thực tế hoặc thu thập thông tin từ những nguồn khác cần tìm cách kiểm chứng lại quyền sở hữu TSBĐ của khách hàng vay/bên bảo lãnh
- Tài sản hiện không có tranh chấp: Việc khẳng định TSBĐ hiện có tranh chấp hay không là khá phức tạp, vì vậy ngoài việc tự xem xét thẩm định,CBTD yêu cầu khách hàng vay/bên bảo lãnh xác nhận bằng văn bản khẳng định tài sản hiện không có tranh chấp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về cam kết của mình
-Tài sản được phép giao dịch: Ngoài các tài sản thông dụng được mua bán tự
do trên thị trường, chi nhánh cần hết sức thận trọng khi xem xét các loại TSBĐ có tính đặc biệt chuyên dụng, quý hiếm
- Tài sản dễ chuyển nhượng: Mục tiêu cho vay của Ngân hàng là thu hồi đủ
nợ gốc và lãi từ việc thực hiện phương án sản xuất kinh doanh mà không phải là TSBĐ Tuy nhiên CBTD cần thẩm định kỹ tính dễ chuyển nhượng của TSBĐ để dễ dàng xử lý (khi cần phải thực hiện)
Trang 40Xác định giá trị của tài sản bảo đảm: Xác định giá trị của TSBĐ nhằm làm
cơ sở xác định mức cho vay tối đa và tính tóan khả năng thu hồi nợ vay trong trường hợp buộc phải xử lý TSBĐ
Khả năng thu hồi nợ vay trong trường hợp phải xử lý TSBĐ: CBTD rà soát toàn bộ hồ sơ giấy tờ do khách hàng vay/ bên bảo lãnh cung cấp, đề xuất các điều khoản cần quy định rõ ràng trong hợp đồng bảo đảm nhằm bảo đảm quyền lợi của Ngân hàng trong trường hợp buộc phải xử lý TSBĐ
Đề xuất các biện pháp quản lý TSBĐ an toàn và hiệu quả: Tùy từng trường hợp cụ thể, BCTD đề xuất bên nào giữ TSBĐ thì hợp lý Ngân hàng cần giữ các loại giấy tờ gì? Phương án kiểm tra TSBĐ như thế nào? Thời gian kiểm tra… Ngoài ra CBTD cũng cần đề xuất hướng xử lý trong một số trường hợp như thỏa thuận rút bớt hay bổ sung TSBĐ, thời điểm Ngân hàng có quyền xử lý TSBĐ, quyền được bảo đảm cùng lúc nhiều nghĩa vụ khác nhau…
* Xác định giá trị tài sản bảo đảm tiền vay
- Xác định giá trị tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất:
+ Tại từng thời điểm, Tổng giám đốc sẽ ban hành quy định cụ thể về việc định giá tài sản là quyền sử dụng đất
+ NH tham khảo khung giá đất do UBND thành phố ban hành giá đất thực tế chuyển nhượng tại địa phương tại thời điểm thế chấp để thỏa thuận với khách hàng vay vốn/bên bảo lãnh về giá trị TSBĐ
+ Giá đất chuyển nhượng thực tế tại địa phương được xác định dựa trên giá chuyển nhượng đăng báo, giá chuyển nhượng tham khảo tại phòng địa chính của
xã, phường, giá chuyển nhượng của công ty kinh doanh chuyển nhượng địa ốc và các nguồn thông tin khác Các thông tin tham khảo thu thập được sao chụp hoặc ghi chép đầy đủ và lưu trữ trong hồ sơ thế chấp, bảo lãnh
+ Đối với đất do Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế thuê mà đã trả tiền thuê trong cả thời gian thuê hoặc cho một thời gian dài nhiều năm thì giá trị quyền sử dụng đất được thế chấp bảo lãnh bao gồm tiền đền bù thiệt hại, giải phóng mặt bằng khi được Nhà nước cho thuê đất (nếu có), tiền thuê đất đã trả cho Nhà nước sau khi trừ đi tiền thuê đất cho thời gian đã sử dụng