Xuất phát từ cơ sở trên, được sự phân công của khoa Chăn nuôi - Thú y, bộ môn Nuôi trồng Thủy sản - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng 3
Trang 1- -
NGUYỄN VĂN TRỌNG
Tên đề tài:
“NGHIấN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA 3 NỀN GIÁ THỂ KHÁC NHAU TỚI
TỶ LỆ SỐNG, KHẢ NĂNG BÁM VÀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA
HÀU TBD TẠI TRẠI GIỐNG THỦY SẢN XÃ HẠ LONG
HUYỆN VÂN ĐỒN - TỈNH QUẢNG NINH”
KHểA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chớnh quy Chuyờn ngành: Nuụi trồng thủy sản Khoa: Chăn nuụi Th y
Khoỏ học: 2011 - 2015
Thỏi Nguyờn, năm 2015
Trang 2- -
NGUYỄN VĂN TRỌNG
Tên đề tài:
“NGHIấN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA 3 NỀN GIÁ THỂ KHÁC NHAU TỚI
TỶ LỆ SỐNG, BÁM VÀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA HÀU TBD TẠI
TRẠI GIỐNG THỦY SẢN XÃ HẠ LONG HUYỆN VÂN ĐỒN
TỈNH QUẢNG NINH”
KHểA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chớnh quy Chuyờn ngành: Nuụi trồng thủy sản Lớp: 43 NTTS
Khoa: Chăn nuụi Th y Khoá học: 2011 - 2015 Giảng viờn hướng dẫn: TS Trần Thị Hoan
Thỏi Nguyờn, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của các tổ chức và cá nhân Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả sự quan tâm và giúp đỡ đó
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo Trần Thị Hoan người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện
đề tài vừa qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể thầy giáo cô giáo trong khoa Chăn nuôi - Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ kỹ thuật, cán bộ, công nhân đâng công tác tại trại giống tại trại giống Thủy sản xã Hạ Long - huyện Vân Đồn - tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tận tình giúp đỡ hướng dẫn chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài đó
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bạn bè đồng nghiệp, những người thân của tôi đã hết lòng giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành đợt thực tập
và làm khóa luận tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn và gửi lời chào kính trọng nhất!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Trọng
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn quan trọng đối với sinh viên nhằm mục đích kiểm tra chất lượng học tập của sinh viên, củng cố lại kiến thức giúp cho sinh viên tự trang bị cho mình kiến thức thực tiễn và khả năng thực hành, trên
cơ sở những kiến thức đã được học Qua đó tự mình tổng hợp lại kiến thức,
xử lí và vận dụng một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội của từng địa phương Để có thể đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn sản xuất
Xuất phát từ cơ sở trên, được sự phân công của khoa Chăn nuôi - Thú
y, bộ môn Nuôi trồng Thủy sản - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng 3 nền giá thể khác nhau tới
tỷ lệ sống, tỷ lệ bám và khả năng sinh trưởng của Hàu TBD tại trại giống Thủy sản xã Hạ Long - huyện Vân Đồn - tỉnh Quảng Ninh”
Mặc dù đã cố gắng hết khả năng nhưng do điều kiện thời gian có hạn, hiểu biết và kỹ năng còn hạn chế nên khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
Bảng 4.1 Công thức môi trường dinh dưỡng nuôi cấy tảo phòng
thí nghiệm 26
Bảng 4.2 Dụng cụ và thời gian đo các yếu tố môi trường 27
Bảng 4.3 Công thức môi trường nuôi cấy tảo sinh khối 27
Bảng 4.4 Đặc điểm các loài tảo được sử dụng làm thức ăn cho quá trình sản xuất giống Hàu 29
Bảng 4.5 Tỷ lệ các loại tảo làm thức ăn cho ấu trùng Hàu 29
Bảng 4.6 Tình hình dịch bệnh của Hàu giống và kết quả điều trị 31
Bảng 4.7a Công tác phục vụ sản xuất giống Hàu 32
Bảng 4.7b Kết quả phục vụ sản xuất giống Hàu 33
Bảng 4.7c Kết quả phục vụ sản xuất giống Hàu 34
Bảng 4.8 Tỷ lệ sống các giai đoạn ương nuôi của ÂT Hàu 35
Bảng 4.9 Số lượng Hàu bám trên các loại giá thể 36
Bảng 4.10 Tỷ lệ bám của Hàu giống trên các nền giá thể khác nhau 36
Bảng 4.11 Chiều rộng trung bình của Hàu bám/ 1 dây giá thể 38
Bảng 4.12 Chiều dài trung bình của Hàu bám/ 1 dây giá thể 38
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Hình thái bên trong của Hàu TBD 5
Hình 2.2 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng Hàu 9
Hình 2.3 Ấu trùng Trochophore 10
Hình 2.4 Ấu trùng chữ D (Veliger) 11
Hình 2.5 Ấu trùng đỉnh vỏ (Umbo) 12
Hình 2.6 Ấu trùng bám spat) 13
Trang 8MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Hệ thống phân loại 3
2.1.2 Đặc điểm phân bố 3
2.1.3 Đặc điểm hình thái cấu tạo 4
2.1.4 Phương thức sống 5
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng: 6
2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng 7
2.1.7 Đặc điểm sinh sản 8
2.1.8 Giới thiệu khái niệm nền giá thể và ảnh hưởng các các nền giá thể tới tỷ lệ sống, tỷ lệ bám và khả năng sinh trưởng của Hàu TBD và tại sao nên
sử dụng các nền giá thể như: Hàu TBD, Hà cửa sông, Điệp giấy khi
cho Hàu bám 14
Trang 92.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước 15
2.2.1 Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới 15
2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 16
2.2.3 Các nghiên cứu trên địa bàn 19
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 20
3.4.1 Phương pháp bố trí nghiệm 20
3.4.1.1 Ảnh hưởng của các nền giá thể khác nhau tới tỷ lệ sống
của Hàu TBD 21
3.4.1.2 Ảnh hưởng của các nền giá thể khác nhau tới tỷ lệ bám của Hàu TBD 21 3.4.1.3 Ảnh hưởng của các nền giá thể khác nhau tới kích thước trung bình của Hàu giống 22
3.4.2 Phương pháp theo dõi hoặc thu thập thông tin 22
3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 22
3.4.4 Phương pháp xử lí số liệu 23
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 24
4.1.1 Nội dung phục vụ sản xuất 24
4.1.2 Phương pháp tiến hành 24
4.1.2.1 Tiêu chí lựa chọn Hàu bố mẹ và cách cho đẻ 24
4.1.2.2 Kỹ thuật nuôi cấy tảo làm thức ăn cho Hàu 25
4.1.2.3 Phương pháp quản lý và chăm sóc Hàu giống 29
4.1.2.4 Cách cho bám và thu hoạch 30
Trang 104.1.2.5 Cách phòng và trị một số bệnh cho Hàu 30
4.1.3 Kết quả phục vụ sản xuất 32
4.2 Kết quả nghiên cứu 35
4.2.1 Ảnh hưởng của các nền giá thể khác nhau tới tỷ lệ sống Hàu TBD 35
4.2.2 Ảnh hưởng của các nền giá thể khác nhau tới tỷ lệ bám của Hàu TBD 36
4.2.3 Ảnh hưởng của các nền giá thể khác nhau tới kích thước trung bình của Hàu giống 37
Phần 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Tồn tại 41
5.3 Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tiếng Việt
II Tiếng Anh
PHỤ LỤC
Trang 11Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nước ta với bờ biển dài 3260 km, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông, lạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển Trong nội địa hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và các hồ thủy lợi, thủy điện đã tạo cho nước ta có tiềm năng lớn về diện tích mặt nước Với tiềm năng lớn đó đã tạo cho nước ta
cơ hội phát triển ngành nuôi trồng thủy sản
Hàu TBD là động vật thân mềm hai mảnh vỏ, thịt thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao, có chứa nhiều protein, glucid, canxi, magie, đặc biệt là kẽm Hàu TBD có tính ưu việt cao như: tốc độ sinh trưởng nhanh, vỏ mỏng,
tỷ lệ thịt tương đối cao, trung bình từ 20 - 50% khối lượng cơ thể
Đây là đối tượng nuôi mới ở nước ta, nhưng sức tiêu thụ của thị trường rất lớn, với giá bán dao động từ 25.000 - 40.000đ/kg cả vỏ Mặc dù có giá trị kinh tế cao, nhưng nguồn lợi này từ tự nhiên không nhiều Chúng phân bố chủ yếu ở các vùng Quảng Ninh, Hải Phòng, Khánh Hòa, Phú Yên Do nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng nên nguồn lợi Hàu TBD từ tự nhiên bị khai thác nghiêm trọng nên việc phát triển nuôi Hàu TBD là việc làm rất cần thiết
Đứng trước tình hình thực tế như vậy, để đáp ứng nhu cầu nuôi ngày càng cao thì vấn đề con giống cần phải được chú trọng Việc thu gom con giống Hàu TBD trong tự nhiên là điều rất khó thực hiện và dễ gây nhầm lẫn với các loài khác Do vậy để thúc đẩy và nâng cao năng suất và chất lượng giống Hàu TBD hơn nữa, ta cần tìm ra những nền giá thể tốt và phù hợp nhất trong quá trình cho Hàu bám vì chúng có ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ sống, khả năng bám và khả năng sinh trưởng của Hàu TBD, kết hợp với thời gian cho phép của đợt thực tập nên chúng tôi quyết định chọn và nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của 3 nền giá thể khác nhau tới tỷ lệ sống, tỷ lệ
Trang 12bám và khả năng sinh trưởng của Hàu TBD tại trại giống Thủy sản xã Hạ Long - huyện Vân Đồn - tỉnh Quảng Ninh”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu của đề tài
- Góp phần hoàn thiện quy trình sinh sản nhân tạo Hàu TBD tại trung tâm
- Tìm ra đƣợc nền giá thể thích hợp nhất để sử dụng nuôi Hàu TBD
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Áp dụng đầy đủ quy trình kỹ thuật trong sản xuất Hàu TBD giống
1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: góp phần làm rõ đặc tính sống bám của Hàu TBD
- Ý nghĩa thực tiễn: hoàn thiện quy trình sản xuất giống Hàu TBD và chuyển giao công nghệ cho bà con ngƣ dân
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
- Ở Việt Nam phân bố nhiều ở vùng biển Quảng Ninh (Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long) và Hải Phòng (vịnh Cát Bà) Ở các tỉnh Miền Trung và Miền Nam thì Hàu TBD chủ yếu phân bố ở vịnh Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa)
- Vị trí phân bố: thường ở các vùng cửa sông, eo vinh, đầm phá, nơi nước lưu thông, ít sóng gió
- Điều kiện môi trường: Hàu là loài phân bố rộng nhiệt, rộng muối Thích ứng với độ mặn từ 5 - 30 ppt, nhiệt độ từ 7 - 350C, pH từ 7.5 - 8.5
Trang 142.1.3 Đặc điểm hình thái cấu tạo
Cấu tạo ngoài
- Hàu TBD là loài có kích thước lớn nhất trong các loài Hàu có trên thế giới, kích thước trung bình từ 8 - 20cm, có sức sinh trưởng nhanh có thể đạt 100mm trong 12 tháng đầu đời, tuổi thọ có thể đạt 13 năm
- Hàu TBD có dạng giống với Hàu cửa sông (C.rivularis), tuy nhiên
Hàu TBD có tỉ lệ chiều cao và chiều dài lớn hơn từ 1/2 - 1/3 hàu cửa sông
- Cơ thể Hàu được bao bọc bởi 2 vỏ cứng chắc Vỏ trái lớn hơn và thường bám vào nền đá, có dạng hình chén Vỏ phải nhỏ và phẳng Đỉnh vỏ ở phía trên và có bản sừng gắn giữa hai vỏ Vỏ Hàu có 3 lớp: lớp sừng ngoài mỏng, dễ bóc và cấu trúc hoàn toàn bằng protein Lớp giữa dày nhất là tầng
đá vôi với cấu trúc gồm cacbonate calcium kết tinh gắn chắc trên thể protein Lớp trong cùng mỏng, bóng sang và rất cứng là tầng xà cừ (Nguyễn Chính, 1996) [6]
- Hình dạng của vỏ rất khác nhau phụ thuộc vào môi trường sinh sống Nếu Hàu sống riêng rẽ trên nền đáy mềm thì vỏ nhẵn và kéo dài Nếu phân bố trên nền đáy cứng thì vỏ có hình ống, nhăn, vỏ trái tròn hơn và lõm sâu Khi Hàu phân bố tập trung vỏ có hình dạng méo mó Thông qua hình dạng vỏ Hàu
có thể xác định được trạng thái của chất đáy Hàu sống ở vúng có độ mặn cao
có vỏ cứng hơn vùng có độ mặn thấp
- Hình thái vỏ Hàu TBD
Vỏ Hàu TBD tương đối lớn và không đều nhau giữa 2 vỏ, chúng dài
và có hình gần Oval, những sọc đối xứng của 2 vỏ thịt bắt đầu từ những mấu lồi
Cơ khép vỏ hình bầu dục Trên bề mặt phần trước bụng và phần lưng của vỏ thường có những hốc lõm sâu
Màu vỏ ngoài hơi vàng trắng và có những sọc màu nâu, phía trong
vỏ có màu trắng sữa
Trang 15 Cấu tạo bên trong
- Xúc tu có dạng những nếp gấp hình nón với màu hơi ngả vàng và những chấm nâu
- Ruột màu đen, tim có màu ngà hơi vàng
Hình 2.1 Hình thái bên trong của Hàu TBD
1 Tim 2 Cơ khép vỏ 3 Hậu môn 4 Vỏ phải
5 Xoang nước ra 6 Mang 7 Màng áo phải 8 Màng áo trái
9 Ruột 10 Dạ dày 11 Tuyến sinh dục 12 Bản lề
13 Miệng
2.1.4 Phương thức sống
Phương thức sống của Hàu thay đổi theo giai đoạn phát triển của cơ thể
- Ấu trùng phù du sống trôi nổi: (giai đoạn này bắt đầu từ lúc trứng bắt
đầu thụ tinh đến khi ấu trùng bắt đầu xuất hiện mầm chân bám) Ấu trùng có
Trang 16khả năng bơi lội nhờ vào hoạt động của vành tiêm mao, thời kỳ này dài hay ngắn phụ thuộc rất lớn vào thức ăn và nhiệt độ nước
- Trưởng thành sống bám cố định: Ấu trùng bò lê nếu gặp được vật bám phù hợp như: Đá, vỏ động vật thân mềm, san hô chết… Hàu sẽ tự tiết ra
tơ chân để bám và sau đó nó sẽ tiết ra các keo dính để cố định vỏ trái trên vật bám Giai đoạn này thường kéo dài 1 - 2 ngày (Cao Văn Viện và Nguyễn Tác
An, 2006) [10]
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng:
Thức ăn của Hàu thay đổi khác nhau tùy thuộc vào phương thức sống của từng giai đoạn:
- Giai đoạn sống trôi nổi: Thức ăn của ấu trùng ở giai đoạn này thường
là các loại thực vật phù du kích thước nhỏ (2 - 8 m) như nanochloropsis,
Isochrysis, Chaetocesros, Pavlov, Chlorella, Cryptomonas, Monas, Platymonas…
Trong sản xuất giống thức ăn nhân tạo là một vấn đề cần chú trọng và nghiên cứu sâu sắc hơn nữa
- Giai đoạn trưởng thành: Theo kết quả nghiên cứu thức ăn của Hàu người
ta thấy rằng: Thức ăn của Hàu gồm có các sinh vật phù du, mùn bã hữu cơ, và các chất hòa tan trong nước như aminoaxit, muối khoáng (đặc biệt là muối canxi
rất cần thiết cho sự hình thành vỏ) Thực vật phù du (phytoplankton) chủ yếu là tảo silic: Melosira, Coscinodiscus, Navicula, Chaetoceros, Skeletonema… Động vật phù du (zooplankton) bao gồm ấu trùng giun nhiều tơ, Copepoda nhỏ, Rotifer
và các loại ấu trùng Copepoda, Polychaeta (Nguyễn Chính, 1980) [5]
Phương thức bắt mồi: Hàu là loài sống cố định nên phương thức bắt mồi bị động theo hình thức lọc nhiều lần (Chestinnt, 1946) không có khả năng chọn lọc thức ăn về chất lượng nhưng có khả năng chọn lọc kĩ càng thức ăn theo kích thước lớn nhỏ Hàu bắt mồi trong quá trình hô hấp dựa vào cấu tạo đặc biệt của mang Khi hô hấp nước có trong mang theo thức ăn qua bề mặt
Trang 17mang, các hạt thức ăn được giữ lại ở mang nhờ các tiêm mao và dịch nhờn được tiết ra ở các tiêm mao Các hạt thức ăn có kích thước nhỏ sẽ được dịch nhờn của các tiêm mao quấn dần về phía miệng, còn hạt thức ăn quá lớn tiêm mao không giữ được sẽ bị dòng nước cuốn đi khỏi bề mặt mang, sau đó tập trung ở mép màng áo và bị màng áo đẩy ra ngoài Mặc dù Hàu bắt mồi thụ động nhưng cách bắt mồi như vậy chúng có thể chon lọc được thức ăn theo kích thước (FAO, 2003)
2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng
Sự sinh trưởng của Hàu phụ thuộc vào yếu tố ngoại cảnh, trong đó yếu
tố nhiệt độ, thức ăn và độ mặn ảnh hưởng trực tiếp tới sự sinh trưởng phát triển của ấu trùng theo: Byung Ha Park và ctv (1998) Ngoài ra sự sinh trưởng của Hàu còn phụ thuộc vào các nền giá thể mà chúng bám
Ví dụ:
- Ở vùng biển nhiệt đới có nhiệt độ ấm, tốc độ sinh trưởng của Hàu rất nhanh và quá trình sinh trưởng diễn ra quanh năm Thí dụ loài Hàu
Crassostrea paraibanensis có thể đạt chiều cao 15cm trong một năm Ở vùng
ôn đới quá trình sinh trưởng diễn ra trong mùa xuân - hè, mùa thu - đông gần như không sinh trưởng
- Khi ở nhiệt độ 19 - 20 0C, giai đoạn phù du cùa Hàu kéo dài khoảng 3 tuần Ở nhiệt độ 27 0
- Một đặc điểm nổi bật của Hàu vùng nhiệt đới là sinh trưởng rất nhanh trong 6 - 12 tháng đầu tiên sau đó chậm dần
Trang 182.1.7 Đặc điểm sinh sản
Giới tính: có 3 dạng là đực, cái, lưỡng tính
- Giới tính của chúng thay đổi theo vòng đời Đối với Hàu TBD, chúng
là loài lưỡng tính có yếu tố đực chín trước Chúng thường tham gia sinh sản lần đầu tiên là con đực sau đó chuyển thành cái
- Các yếu tố môi trường, đặc biệt là thức ăn có thể ảnh hưởng đến giới tính của Hàu TBD Trong điều kiện thức ăn dồi dào, chúng có xu hướng chuyển từ giới tính đực sang cái và ngược lại trong điều kiện thức ăn hạn chế hay chúng tập trung thành từng quần thể với mật độ quá lớn thì toàn bộ đàn Hàu có thể là con đực và một số ít là cá thể lưỡng tính
Tuổi thành thục: Hàu TBD tham gia sinh sản lần đầu sau khoảng 1 năm, kích thước 70 - 100 mm và 1 con Hàu TBD cái có thể sinh ra 50 - 100 triệu trứng trong một lần đẻ Quá trình thụ tinh diễn ra trong môi trường nước và mất khoảng 10 - 15 phút sau đẻ trứng ở nhiệt độ 250
C (Nimpis, 2002; Reise, 1998) Phương thức sinh sản: Tùy theo loài mà hình thức sinh sản khác nhau
Giống Crassotrea và Saccostrea thì đẻ trứng và tinh trùng ra môi trường nước,
quá trình thụ tinh và phát triển ấu trùng diễn ra trong nước Đối với nhóm
Ostrea thì quá trình thụ tinh và phát triển ấu trùng diễn ra trong màng áo của cơ
thể mẹ đến giai doạn diện bản, hoặc muộn hơn mới ra khỏi cơ thể mẹ
Mùa vụ sinh sản: Ở vùng nhiệt đới sau một năm đã thành thục và tham gia sinh sản Mùa vụ sinh sản diễn ra quanh năm, nhưng có hai mùa đẻ rộ là
vụ 1 từ tháng 4 - 6 và vụ 2 từ tháng 8 - 10 hàng năm Mùa vụ sinh sản ở vùng nhiệt đới thường ít tập trung và kéo dài hơn so với vùng ôn đới
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của Hàu TBD:
- Quá trình sinh sản của Hàu TBD chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: nhiệt độ, thức ăn, tỷ trọng nước, độ mặn… Tuy nhiên yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đó là nhiệt độ Theo Byung Ha Park và ctv (1998) nghiên cứu sự thành thục của Hàu TBD tại Hàn Quốc cho thấy, yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
Trang 19sự thành thục là nhiệt độ, nhiệt độ tăng cao thời gian chin của tuyến sinh dục càng rút ngắn Còn theo thí nghiệm của Loosanoff về ảnh hưởng nhiệt độ đến
sự phát triển của tuyến sinh dục Hàu Mỹ C.virginica cho thấy ở nhiệt độ 100
C thì Hàu sau 35 ngày mới thành thục, nhưng tỷ lệ thành thục thấp Muốn tuyến sinh dục chín thì nhiệt độ thấp nhất là 15,80C, ở 20 - 250
C sau 5 ngày Hàu bắt đầu thành thục nhưng tỷ lệ đẻ thấp chỉ đạt 24%, ở 300
C sau 3 ngày Hàu đã thành thục và cho tỷ lệ sinh sản cao
- Độ mặn: có quan hệ chặt chẽ đến sinh sản đến sinh sản của Hàu Độ mặn cũng chịu ảnh hưởng riêng lẻ cùng với nhiệt độ và thức ăn đồng thời ảnh hưởng đến sự thành thục của tuyến sinh dục Tuy nhiên khi nhiệt độ thích hợp và Hàu đã thành thục nhưng độ mặn chưa thich hợp thì Hàu vẫn chưa sinh sản rộ (Lê Thị Mai Anh, 2009) [1]
- Thức ăn: Trong môi trường giàu dinh dưỡng thì khả năng tích lũy glucogen tang do đó sự tích lũy noãn hoàng trong buồng trứng của Hàu tang theo vì vậy mà Hàu TBD thành thục sớm và có khả năng sinh sản tốt hơn Ngược lại, trong môi trường nghèo đinh dưỡng thì khả năng thành thục sinh dục và sinh sản của Hàu kém đi
Các giai đoạn phát triển của ấu trùng Hàu TBD:
Hình 2.2 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng Hàu
Trang 201 Ấu trùng Trochophore (ấu trùng bánh xe):
- Soi trên kính hiển vi bắt đầu thấy các cơ quan nội bắt đầu hình thành,
ấu trùng giai đoạn này dinh dưỡng chủ yếu bằng noãn hoàng
Kích thước ấu trùng dao động từ 50 - 55 ( m)
Trang 212 Ấu trùng chữ D (Veliger)
Hình 2.4 Ấu trùng chữ D (Veliger)
- Ấu trùng chữ D xuất hiện sau 16 -24 giờ kể từ khi thụ tinh, ấu trùng
có dạng chữ D, có 2 nắp mảnh vỏ và có vành tiêm mao giữa 2 nắp vỏ, ấu trùng vận động nhanh nhờ sự vận động của vành tiêm mao miệng
- Thời gian biến thái ấu trùng chữ D TỪ 20 - 24 giờ, khi vận động ấu trùng thò vành tiêm mao ra ngoài, hoạt động liên tục của các tiêm mao làm cơ thể chuyển động
- Giai đoạn này ấu trùng sống trôi nổi, kéo dài từ 2 - 4 ngày và kích thước ấu trùng dao động từ 70 - 80 m
Nhiệt độ thích hợp cho ấu trùng phát triển là 25 - 28 0
C
Độ mặn 23 -26 ‰, thích hợp nhất là 24 ‰ (Phùng Bảy và cs, 2010) [3] Mật độ ương ban đầu thích hợp là 2000 ấu trùng chữ D/lít nước biển
- Thức ăn của giai đoạn này là các loại tảo Nanochloropsis oculata;
Isochrysis galbana; chaetoceros calcitrans, với tàn suất cho ăn 2 lần/ngày
Trang 22Thời kì này chia làn 3 giai đoạn nhỏ:
- Giai đoạn tiền đỉnh vỏ:
+ Giai đoạn này ấu trùng xuất hiện mầm cơ khép vỏ
+ Nhìn hình dạng ngoài trên cạnh thẳng chữ D hơi lồi ra ở giữa
+ Hình dạng này khác với giai đoạn âu trùng hình chữ D không nhiều + Quan sát trên kính hiển vi có thể thấy ruột, dạ dày và một số cơ quan thăng bằng trong suốt Nhìn qua kính thấy nội tạng của áu trùng có màu xanh hoặc màu nâu (màu của thức ăn là tảo )
+ Kích thước ấu trùng: dao động từ 110 - 130 m
- Giai đoạn trung đỉnh vỏ:
+ Giai đoạn này đỉnh vỏ nhô lên rất rõ, càng về sau các ụ nhô của đỉnh
vỏ càng cao, phần cạnh thẳng chữ D bị đẩy cong lên về phía trước và phình ra hai bên đỉnh
+ Hai nắp vỏ có độ cong khác biệt, nắp trước phẳng nắp sau cong
Trang 23 Kích thước ấu trùng dao động từ 135 - 170 m
- Giai đoạn hậu đỉnh vỏ:
+ Hình dạng: ấu trùng có hình dạng hình elip, viền quanh hai nắp vỏ có màu hồng nhạt
+ Đặc trưng của giai đoạn này là điểm mắt xuất hiện ở dưới cơ quan thăng bằng
+ Càng về phía cuối giai đoạn, đỉnh vỏ càng lớn, nhô cao hơn Tỷ lệ giữa chiều cao và chiều dài lớn hơn rất nhiều so với giai đoạn chữ D
+ Cuối hậu kỳ đỉnh vỏ xuất hiện mắt màu đen, cơ khép vỏ chân
+ Cuối giai đoạn ấu trùng có xu hướng xuống đáy, ấu trùng chuyển từ đời sống bơi lội sang đời sống bò lê ở đáy
- Phương thức sống của ấu trùng: thức ăn cho giai đoạn này là hỗn hợp
3 loại tảo: 1/3 Nanochloropsis oculata, 1/3 Isochrysis galbana, 1/3
chaetoceros calcitrans
- Kích thước ấu trùng dao động từ 180 - 280 micromet
- Cho ăn 60000 - 80000 tế bào/ml
4 Ấu trùng bám (Spat)
Hình 2.6 Ấu trùng bám spat)
Trang 24- Đặc điểm nhận dạng ấu trùng: Sau khi xuất hiện chân bò, hoạt động bơi của ấu trùng giảm dần, ấu trùng chuyển sang bò dưới đáy, lúc này vành tiêm mao và điểm mắt thoái hóa dần (Hoàng Bích Đào, 2005) [7]
- Phương thức sống: Ấu trùng chuyển sang hoàn toàn sống bám
- Thức ăn cho giai đoạn này là hỗn hợp 3 loài tảo: 1/3 Tetraselmis
chuii, 1/3 Isochrysis galbana, 1/3 chaetoceros calcitrans
- Cho ăn 60000 - 80000 tế bào/ml
- Quan sát trên kính hiển vi: Thấy hình thành các tơ chân, màng áo, cơ khép vỏ và một số cơ khác
- Kích thước ấu trùng dao động từ 285 - 340 m
2.1.8 Giới thiệu khái niệm nền giá thể và ảnh hưởng các các nền giá thể tới tỷ lệ sống, tỷ lệ bám và khả năng sinh trưởng của Hàu TBD và tại sao nên sử dụng các nền giá thể như: Hàu TBD, Hà cửa sông, Điệp giấy khi cho Hàu bám
Nền giá thể: Nền giá thể sử dụng trong nuôi trồng thủy sản (nuôi nhuyễn thể) là các vật bám được làm từ nhiều chất liệu khác nhau: Vỏ các loài nhuyễn thể như vỏ Hàu, Hà, Sò, Điệp Hoặc từ các chất liệu khác như: Tấm nhựa PVC, các tấm ximent, thanh tre, nứa…
Ảnh hưởng của các nền giá thể tới TLS và tỷ lệ bám của Hàu TBD: Việc sử dụng các nền giá thể khác nhau khi cho Hàu bám có ảnh hưởng trực tiếp tới TLS và tỷ lệ bám của Hàu TBD Vì số lượng Hàu giống bám trên các nền giá thể khác nhau có sự chênh lệch rõ rệt
Ảnh hưởng của các nền giá thể tới khả năng sinh trưởng của Hàu TBD: Các nền giá thể chỉ ảnh hưởng tới TLS và tỷ lệ bám của Hàu, ảnh hưởng đôi chút đến khả năng sinh trưởng của Hàu Khả năng sinh trưởng của Hàu phụ thuộc chủ yếu vào một số yếu tố như: Nhiệt độ, độ mặn, thức ăn…
Tại sao nên sử dụng các nền giá thể như: Hàu TBD, Hà cửa sông, Điệp giấy khi cho Hàu TBD bám: Vì các nền giá thể này dễ kiếm trong tự nhiên, rẻ
Trang 25tiền, thân thiện với môi trường và quan trọng nhất là chúng cho hiệu quả cao khi cho Hàu bám
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.2.1 Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới
Năm 1879, Brook đã cho Hàu đẻ thành công và nuôi được ấu trùng bơi lội tự do Sau đó cũng có nhiều nghiên cứu tiến hành ương nuôi ấu trùng Hàu trong phòng thí nghiệm, nhưng mãi đến năm 1920, Wells mới thành công trong kỹ thuật ương nuôi ấu thể Spat (trích Abbott, R.T và Dance, 1990) [12]
Để làm cơ sở cho việc sử dụng vật bám trong sản xuất nhân tạo cũng như cải tiến phương pháp thu giống ngoài tự nhiên Ito (1990) [14] đã sử dụng những vật liệu sẵn có, rẻ tiền như thanh tre và tấm pro xi măng để thu giống Hàu S.cucullata tại Indonesia Kết quả cho thấy rằng Hàu TBD bám trên tấm pro xi măng nhiều hơn so với thanh tre Năm 2000, Yulianda và Atmadtipurs
đã kết luận rằng độ gờ và các loại vật bám có ảnh hưởng trực tiếp đén mật độ bám của giống Hàu Muỗng Thí nghiệm của họ đã cho thấy Hàu bám nhiều nhiều hơn trên những vật bám là những viên đá có bề mặt gồ ghề hơn vật bám
là những vỏ sò
Ngoài ra, còn có những nghiên cứu sản xuất Hàu TBD bám đơn: như tại Mỹ, ÂT được nuôi đến giai đoạn hậu ÂT đỉnh vỏ người ta dùng bột vỏ Hàu, vỏ điệp, các hạt có kích thước 300 - 500 m cho ấu trùng Spat bám vào
và thu được con giống dạng bám đơn (Hylleberg và Kilburn, 2003) [13]
Hay tại Úc, còn có phương pháp tạo giống Hàu TBD đơn bằng cách cho ÂT bám vào những tấm nhựa hình sóng gơn, đợi đến khi con giống lớn lên đạt kích thước khoảng 50mm, người ta uốn cong tấm nhựa này lúc này con giống tách rời tạo thành con giống đơn
Hay tại Pháp, Zar (1990) [18] còn dùng phương pháp kích thích Hàu xuống đáy mà không cần bám bằng LHG khi Hàu ở giai đoạn đỉnh vỏ
Trang 26Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu tạo giống đa bội thể một số loại (động vật thân mềm) 2 mảnh vỏ đã được bắt đầu từ thập kỷ 80 của thế kỷ
20 Xuất phát từ việc kích thích cho đẻ bằng các phương pháp sốc hoặc xử lí hóa chất đã tạo ra sự biến đổi đặc biệt Một số đặc tính di truyền nhưng lại đem kết quả bất ngờ về sức sống và khả năng sinh trưởng (Hàu tam bội đã mất đi khả năng sinh sản, sinh trưởng nhanh, thịt nhiều, khả năng chống chịu bệnh tốt và có độ béo quanh năm) (Vararin vongpanich, 2000) [17]
2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam các nghiên cứu về sử dụng các nền giá thể mới và tốt hơn trong quy trình sản xuất Hàu TBD giống còn chưa được chú trọng và rất nhiều hạn chế Dưới đây là một số các công trình nghiên cứu về: Sản xuất giống Hàu TBD nhân tạo, sản xuất giống Hàu nhân tạo bằng phương pháp bám đơn gồm (phương pháp sử dụng hóa chất và phương pháp xay nhỏ giá thể), công nghệ Hàu tứ bội thể để sản xuất Hàu tam bội thể… Được thực hiện qua các năm trở lại đây:
- Ở Việt Nam, nghề khai thác thủy sản đã có từ lâu đời nhưng nó chỉ mới được phát triển trong thời gian gần đây Hàu TBD phân bố ở những vùng bãi triều thấp tới độ sâu 10m nước ở những vùng thuộc tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng (Lê Thị Mai Anh, 2009) [1]
- Tác giả Nguyễn Chính (1996) [6] cho biết: khi điều tra đánh giá tình hình phân bố của động vật thân mềm hai mảnh vỏ trong đầm phá Nam Trung
Bộ, đã tìm thấy Hàu TBD phân bố ở đầm Cù Mông, đàm Ô Loan với tần số bắt gặp rất thấp
- Việt Nam là một trong những nước có sản lượng nuôi ĐVTM lớn nhất trên thế giới ĐVTM được xem là đối tượng chủ lực trong chiến lược nuôi biển của nước ta hiện nay Với vai trò quan trọng như vậy, trong mấy năm gần đây đã có nhiều tác giả tập trung nghiên cứu về ĐVTM Trong đó, nghiên cứu về việc sản xuất giống nhân tạo và ương nuôi ấu trùng được quan
Trang 27tâm nhiều nhất Việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học sinh sản hay sinh thái thì ít được đề cập trong các tài liệu Có chăng đó chỉ là những tài liệu tiếng Việt được dịch từ các thứ tiếng khác nhau như tiếng Trung, tiếng Nhật hay Anh… Điều đó chứng tỏ rằng: Việc nghiên cứu sản xuất giống hay nuôi thương phẩm ở nước ta chưa thực sự phổ biến Việc nuôi Hàu TBD chỉ là tự phát, xuất phát từ giá trị kinh tế của Hàu, người ta nuôi Hàu TBD chỉ dựa theo kinh nghiệm và may rủi (Lê Minh Viễn và Phạm cao Vinh, 2006) [11]
- Do Hàu TBD không phân bố tự nhiên ở Việt Nam nên việc nuôi phụ thuộc hoàn toàn vào con giống nhân tạo Vì vậy việc đưa ra giải pháp cũng cần được quan tâm nhằm đưa nghề nuôi Hàu TBD phát triển mạnh tạo ra sản lượng lớn để xuất khẩu Hiện nay, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 đang thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm Hàu TBD phục vụ sản xuất”
- Nhiều nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo phục vụ cho nghề nuôi Hàu TBD cũng đã được tiến hành Năm 2001 - 2004, bộ Khoa học và Công Nghệ đã cấp kinh phí cho Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 thực hiện đề
tài “Nghiên cứu sản xuất giống nuôi Hàu (Crassotrea) thương phẩm”, do kĩ
sư Hà Đức Thắng làm chủ nhiệm bao gồm 3 chi nhánh: Miền Bắc do kĩ sư Hà Đức Thắng đảm nhiệm, miền Trung do tiến sĩ Lê Trọng Phấn phụ trách và miền Nam do tiến sĩ Lê Minh Viễn đảm nhiệm
- Năm 2002, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 đã được tiếp nhận công nghệ sản xuất giống Hàu TBD từ trung tâm nghề cá Cromila, bang New South Wales (Úc), đã cho đẻ và nuôi thành con giống nhưng tỉ lệ sinh sản quá thấp (6 con cái, 10 con đực tham gia sinh sản trong số 200 con chuyển sang)
Tỷ lệ sống ÂT đến con giống còn thấp (20 vạn con giống/ 12 triệu ÂT chữ D, tương đương 1.7%) ( trích dẫn Phùng Bảy, 2007) [2]
- Năm 2003 - 2004, nhờ sự quan tâm hỗ trợ đặc biệt của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh,
Trang 28Công ty NTTS & Thương Mại Viễn Thành đã nghiên cứu thành công đề tài
“Sản xuất thử Hàu giống bám đơn bằng sinh sản nhân tạo và nuôi Hàu thương phẩm” tại xã đảo Long Sơn (TP Vũng Tàu) Lợi dụng đặc tính khi chuyển từ giai đoạn sống bám Hàu chỉ bám 1 lần, các nhà nghiên cứu của Công ty Viễn Thành đã dùng các hạt chuyên được dùng để chế tạo đặc biệt có kích thước
300 - 600 m tạo ra những con Hàu TBD giống bám đơn khác với tập quán bám chùm ngoài tự nhiên
- Năm 2003 - 2007 con giống ưu thế lai đã được Công ty TNHH NTTS
& Thương Mại Viễn Thành, sản xuất thành công với số lượng ban đầu là 4 triệu con giống Con giống ưu thế lai, có sức chống chịu cao, chịu qua nhiều đợt dịch khốc liệt vào các năm 2003 - 2005 - 2006 - 2007
- Năm 2008, Trung Tâm Khuyến Nông - Khuyến Ngư quốc gia, đã cấp kinh phí thực hiện dự án “Nhập công nghệ Hàu tứ bội thể để sản xuất Hàu tam bội thể” Cơ quan chuyển giao công nghệ là Công Ty 4Cs BREEDING TECHNOLOGIES, INC (“4Cs”), Hoa Kỳ Cơ quan tiếp nhận công nghệ là Viện Nghiên Cứu NTTS 3, Công Ty NTTS &Thương Mại Viễn Thành Đề tài được
thực hiện trên đối tượng Hàu C.gigas, C.rivularis, C.belcheri và C.iredalei Qua
2 năm thử nghiệm (2008 - 2009), đơn vị tiếp nhận đã sản xuất được 2 triệu con giống đơn (bằng phương pháp xay nhỏ và hóa chất Epinephrine) loài Hàu
C.gigas và C.iredalei Trong đó, phương pháp dùng hóa chất cho Hàu đơn với
tốc độ sinh trưởng chậm hơn so với phương pháp xay nhỏ (Phùng Bảy và cs, 2009) [3] Hàu TBD giống mang đi nuôi tại các địa phương được đánh giá cao ở
3 khía cạnh: hình dáng đẹp, sinh trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao Dự án đã tạo ra được 500 con Hàu tam bội với kích thước hiện tại 6 - 8 cm của hai loài Hàu
TBD và và C.iredalei vẫn đang tiếp tục đến năm 2011
- Năm 2010, Viện Nghiên Cứu NTTS 3 đã phối hợp cùng Trung Tâm Khuyến Nông - Khuyến Ngư Bình Định và Trung Tâm giống Thủy sản Bình Định, thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống bám đơn và thử