Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y tôi đã tiến hành thực hiện khoá luận tốt nghiệp: "Đánh giá tình hình nuôi cá chép nội tro
Trang 1NGUYỄN THỊ HÀ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NUÔI CÁ CHÉP NỘI TRONG MÔI TRƯỜNG RUỘNG LÚA TẠI XÃ HIỆP HÒA HUYỆN VŨ THƯ - TỈNH THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản Khoa: Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2011 – 2015
Thái Nguyên - năm 2015
Trang 2NGUYỄN THỊ HÀ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NUÔI CÁ CHÉP NỘI TRONG MÔI TRƯỜNG RUỘNG LÚA TẠI XÃ HIỆP HÒA HUYỆN VŨ THƯ - TỈNH THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản Lớp: K43 - NTTS
Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2011 – 2015
Giảng viên hướng dẫn: TS Hà Văn Doanh Khoa CNTY - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên - năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với phương trâm: “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội” Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên hàng năm tổ chức cho sinh viên năm cuối đi thực tập tốt nghiệp Đây là cơ hội quý báu để sinh viên tiếp cận và làm quen với công việc sẽ làm sau khi ra trường Được vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn Từ đó nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân
Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y tôi đã tiến hành thực hiện khoá luận tốt
nghiệp: "Đánh giá tình hình nuôi cá chép nội trong môi trường ruộng lúa tại xã Hiệp Hòa huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình"
Đây là lần đầu tiên tôi thực hiện một khoa luận Vì vậy, khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý và phê bình từ quý thầy, cô giáo, các bạn sinh viên để khoá luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y Đặc biệt cảm ơn sự tận tình giúp đỡ của thầy giáo
TS Hà Văn Doanh - giảng viên khoa CNTY – ĐHNL – TN là người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình thực hiện khoá luận
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến Ban lãnh đạo xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình và toàn thể bà con nhân dân 3 thôn: Phương Cáp, Đức Hiệp và An Để đã tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 1 tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Hà
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Mối quan hệ giữa chiều dài cơ thể và ngày tuổi của cá chép 8
Bảng 4.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 31
Bảng 4.2: Chiều dài thân của cá chép nội 33
Bảng 4.3: Chiều cao của cá chép nội (n = 40 con/lô thí nghiệm, đơn vị: mm) 34
Bảng 4.4: Khối lượng của cá chép nội qua các kỳ cân 36
Bảng 4.5: Tốc độ sinh trưởng của cá chép nội 38
Bảng 4.6: Tỷ lệ sống của cá chép nội 39
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ trong, pH của môi trường đến khả năng sinh trưởng của cá chép nội 40
Bảng 4.8: Hiệu quả chăn nuôi cá chép nội 42
Bảng 4.9: So sánh hiệu quả kinh tế của cây lúa với mô hình nuôi ghép lúa-cá 44
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Cá chép (Cyprinus carpio) 5
Hình 2.2: Ảnh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan lên sức khỏe cá Theo Swingle (1969) dẫn bởi Boyd (1990) 12
Hình 2.3 : Ảnh hưởng của pH đến đời sống cá ( Trương Quốc Phú, 2006) 13
Hình 2.4 : Đĩa secchi 23
Hình 4.1:Biểu đồ tốc độ tăng trưởng chiều dài thân của cá chép nội 33
Hình 4.2 : Biểu đồ tốc độ tăng trưởng chiều cao của cá chép nội 35
Hình 4.3: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng khối lượng của cá chép nội 37
Hình 4.4: Biểu đồ so sánh chi phí, doanh thu và lợi nhuận giữa cây lúa và mô hình nuôi kết hợp lúa – cá 45
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
SNN & PTNT : Sở nông ngiệp và phát triển nông thôn STTL : Sinh trưởng tích lũy
STTĐ1 : Sinh trưởng tuyệt đối
STTĐ2 : Sinh trưởng tương đối
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Những đặc điểm chung của cá chép nội 4
2.1.2 Vấn đề môi trường nuôi cá chép nội 11
2.2 Tình hình nghiên cứu cá chép nội trong nước và trên thế giới 14
2.2.1 Tình hình nghiên cứu cá chép nội trên thế giới 14
2.2.2 Tình hình nghiên cứu cá Chép nội trong nước 16
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
3.2.1 Thời gian 20
Trang 83.2.2 Địa điểm thực hiện đề tài 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 20
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
3.4.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 21
3.4.3 Các công thức tính 24
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 25
Phần 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC 26
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 26
4.1.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất 26
4.1.2 Biện pháp thực hiện 26
4.1.3 Kết quả phục vụ sản xuất 27
4.1.4 Chẩn đoán và điều trị bệnh 31
4.1.5 Kết luận và bài học kinh nghiệm 32
4.2 Kết quả nghiên cứu chuyên đề 32
4.2.1 Kích thước các chiều đo của cá chép nội 32
4.2.2 Khối lượng của cá chép nội qua các kỳ cân 36
4.1.3 Tốc độ sinh trưởng của cá chép nội 38
4.2.4 Tỷ lệ sống của cá chép nội 39
4.2.5 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến khả năng sinh trưởng của cá chép nội 40
4.2.6 Tình hình mắc bệnh của cá chép nội và kết quả phòng trị bệnh 42
4.2.7 Hiệu quả chăn nuôi cá chép nội 42
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, thời
kỳ đang đẩy mạnh phát triển nền kinh tế, đặc biệt là phát triển nhanh nền kinh tế khu vực nông thôn Để làm được điều này đòi hỏi Nhà nước, địa phương phải có một chiến lược phát triển đúng đắn, kết hợp với việc khai thác sử dụng các dạng tài nguyên có hiệu quả trong đó bao gồm cả diện tích mặt nước
Việt Nam có đường bờ biển trên 3260 km, 12 đầm phá, hệ thống sông ngòi, ao hồ tự nhiên dày đặc Nó được xem như những dải lụa uốn lượn trên đất nước Việt Nam và đóng vai trò quan trọng trong đời sống của hàng triệu người dân Dưới sức ép của việc phát triển đô thị, công nghiệp, dân sinh thì hơn 50% diện tích ao hồ sông ngòi đã bị giảm vì những nguyên nhân do con người gây ra Hệ thống ao hồ đã bị khai thác quá mức hoặc chuyển sang sử dụng dưới hình thức khác: nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng nhiều tòa nhà cao tầng, các khu công nghiệp mọc lên xâm lấn diện tích nuôi trồng thủy sản
Mặc dù vậy hàng năm, ngành thủy sản đã cung cấp một lượng lớn nguồn thực phẩm an toàn, giàu dinh dưỡng cho con người, đảm bảo an ninh thực phẩm cho những hộ nuôi quy mô nhỏ và đóng góp tới 35% lượng tiêu thụ protein của người Việt Nam Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản hàng năm tăng trưởng 10% và góp phần đáng kể cho thu nhập từ nguồn xuất khẩu của
cả nước (Bộ Thuỷ sản, 2007)
Với nghề nuôi cá nước ngọt, cá Chép là loài cá truyền thống có khả năng chống chịu bệnh tốt và thích nghi với các điều kiện khí hậu rất cao, có thể sinh trưởng và phát triển tốt trong các ao, hồ, đầm đặc biệt là trong mô hình nuôi ghép lúa – cá, tại xã Hiệp Hòa là một xã thuần nông nghiệp, có diện tích ruộng chiêm trũng rộng, nguồn nước dồi dào đã có nhiều mô hình nuôi
Trang 10ghép lúa – cá mang lại hiệu quả kinh tế cao Trên cùng đơn vị diện tích ruộng thu được nhiều sản phẩm, tận dụng được diện tích mặt nước, giảm bớt rất nhiều chi phí trung gian, tăng thu nhập cho các hộ chăn nuôi
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cùng với lòng mong muốn góp phần trí tuệ nhỏ bé của mình nhằm phát triển ngành nuôi trồng thủy sản tại địa phương nên tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình nuôi cá chép nội trong môi trường ruộng lúa tại xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Xác định được khả năng phát triển của cá chép nội trong mô hình nuôi
kết hợp cá – lúa tại xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế của mô hình từ đó tư vấn cho các hộ
chăn nuôi
- Yêu cầu của đề tài: Phải bố trí thí nghiệm, theo dõi nghiêm ngặt các
chỉ tiêu trong một vụ lúa
- Xác định được khả năng sống, sinh trưởng và phát triển của cá chép nội
- Đánh giá được hiệu quả của mô hình nuôi
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
- Đề tài đóng góp thêm những tư liệu khoa học về khả năng sinh trưởng
của cá chép nội trong ruộng nuôi kết hợp lúa – cá
- Góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi cá chép nội
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Góp phần nâng cao thu nhập cho trang trại, hộ dân nuôi cá chép nội trong ruộng nuôi kết hợp lúa – cá
- Giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và nâng cao kiến thức về quy trình kỹ thuật nuôi cá chép nội, từ đó giúp sinh viên củng cố và nâng cao kiến thức chuyên môn cho bản thân
Trang 11- Giúp bản thân vận dụng vào thực tiễn các kiến thức đã học, rèn luyện tay nghề nâng cao kinh nghiệm cho bản thân
- Kết quả của đề tài là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp các hộ chăn nuôi
cá chép nội áp dụng quy trình kỹ thuật này vào trong quá trình sản xuất để cho năng suất và chất lượng cao
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Những đặc điểm chung của cá chép nội
Loài: Cyprinus carpio Linnaeus
Giống cá chép Cyprinus có ba loài phụ đang phát triển mạnh trên thế giới và ở nước ta (Hội nghề cá Việt Nam, 2007) [9]
• Cá chép vẩy: Cyprinus carpio Linnaeus đây là loài cá nuôi phổ biến ở
nước ta, thân bao phủ một lớp vẩy đều đặn, chịu đựng rét cao, ở vùng Bắc Liên Xô nhiệt độ có lúc xuống không độ nó vẫn sống được vài ngày
• Cá chép kính: Cyprinus curpeospecularis Cá chép kính có bộ vẩy
không hoàn chỉnh, thường mỗi bên hông chỉ có ba hàng vẩy, vẩy mọc tập trung ở đường bên Vẩy to, nhỏ không đều, hàng giữa thường có vẩy rất to xếp không có thứ tự, thân ngắn, lưng cao do đó có nhiều thịt
• Cá chép trần: Cyprinus carpionudus, có nơi còn gọi là cá chép da vì thân hoàn toàn không có vẩy bao bọc hoặc chỉ có rất ít và mọc lưa thưa
2.1.1.2 Hình thái cấu tạo
Hình thái cấu tạo ngoài của cá chép nội
Một số đặc điểm hình thái chung của cá chép được thể hiện qua hình:
Trang 13Hình 2.1: Cá chép (Cyprinus carpio)
Cá chép Việt Nam có tên khoa học là Cyprinus carpio L, có sự phân bố
rộng và nhiều biến dị rất phong phú về hình thái lẫn màu sắc
Tùy theo khu vực địa lý phân bố mà các loại hình cá chép có một số đặc điểm hình thái khác biệt nhau.Tuy nhiên, chúng có vài đặc điểm chung như sau:
Thân cá hình thoi, mình dây, dẹp bên Viền lưng cong, thuôn hơn viền bụng Đầu cá thuôn, cân đối Mõm tù Có hai đôi râu: Râu mõm ngắn hơn đường kính mắt, râu góc hàm bằng hoặc lớn hơn đường kính mắt Mắt vừa phải ở hai bên, thiên về phía trên của đầu Khoảng cách hai mắt rộng và lồi Miệng ở mút mõm, hướng ra phía trước, hình cung khá rộng, rạch miệng chưa tới viền trước mắt Hàm dưới hơi dài hơn hàm trên Môi dưới phát triển hơn môi trên Màng mang rộng gắn liền với eo Lược mang ngắn, thưa Răng hầu phía trong là răng cấm, mặt nghiền có vân rãnh rõ
Khởi điểm của vây lưng sau khởi điểm vây bụng, gần mõm hơn tới gốc vây đuôi, gốc vây lưng dài, viền sau hơi lõm, tia đơn cuối là gai cứng rắn chắc
và phía sau có răng cưa Vây ngực, vây bụng và vây hậu môn ngắn chưa tới các gốc vây sau nó Vây hậu môn viền sau lõm, tia đơn cuối hoá xương rắn
Trang 14chắc và phía sau có răng cưa Hậu môn ở sát gốc vây hậu môn Vây đuôi phân thuỳ sâu, hai thuỳ hơi tầy và tương đối bằng nhau
Vẩy tròn lớn Đường bên hoàn toàn, chạy thẳng giữa thân và cuống đuôi Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ dài Lưng xanh đen, hai bên thân phía dưới đường bên vàng xám, bụng trắng bạc Gốc vây lưng và vây đuôi hơi đen Vây đuôi và vây hậu môn đỏ da cam
Công thức vẩy đường bên: 30
5 2 1 4
6 5
33
Công thức vây: D: III, 18-22; A: III, 5-6; P: 1, 13-16; V: 1, 6-9
Công thức răng hầu: II3 – 3II, đôi khi I23 – 32I
Hiện nay cá chép có thân cao nhất là dạng cá chép vẩy và cá chép trần Ukraina
Cá chép Châu Âu chia làm 4 nhóm vẩy:
• Chép vẩy: Vẩy phủ toàn thân một lớp đều đặn
• Chép đốm: Vảy lớn, phân bố rải rác không theo một quy luật nhất định (chép kính Hungari)
• Chép kính: Có hàng vẩy to đều đặn, xếp dọc theo đường bên, ngoài ra còn có những hàng vẩy ở trên lưng và bụng
• Chép trần: Nói chung toàn thân không có vẩy, nếu có chỉ có một hàng vẩy nhỏ trên lưng Ở nước ta không thấy có loại cá này
Hình thái cấu tạo trong của cá chép
- Mang (hệ hô hấp): Nằm dưới xương nắp mang trong phần đầu bao gồm các lá mang gần xương cung mang
- Tim (hệ tuần hoàn): Nằm phía trước khoang thân ứng với vây ngực
- Hệ tiêu hoá (thực quản, dạ dày, ruột, gan): Ruột dài nằm trong ổ bụng phân hoá rõ rệt thành thực quản, dạ dày, ruột, có gan tiết mật
- Bóng hơi: Trong khoang thân, sát cột sống
Trang 15- Thận (hệ bài tiết)
- Tuyến sinh dục (hệ sinh sản): Hai dải, sát cột sống Trong khoang thân, ở cá đực là 2 dải tinh hoàn, ở cá cái là hai buồng trứng phát triển trong mùa sinh sản
- Hệ thần kinh
2.1.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá ăn nhiều loại thức ăn nhưng thức ăn chủ yếu là sinh vật đáy như: Nhuyễn thể, giun, ấu trùng, côn trùng trong điều kiện thiếu thức ăn chúng sử dụng mùn bã hưu cơ cỏ non chìm trong nước và chúng cũng ăn nhiều loại thức ăn do con người cung cấp như bột ngũ cốc các loại, bột cá bột tôm, rau bèo, phân động vật, tấm cám…Cá chép thuộc loài cá nuôi phân bố tầng đáy,
ăn động vật hoặc ăn tạp thiên về động vật, thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển (Đỗ Thị Thanh Hương và cs, 2000) [5] Cá có phổ thức ăn rất rộng, khi phân tích thành phần thức ăn trong ruột cá chép cho thấy mùn bã hữu cơ chiếm tới 70%, kế đến là nhuyễn thể và thấp nhất là động vật giáp xác (Ngô Thị Mai Hương và cs, 2008) [6]
Tính ăn cá chép có sự thay đổi theo từng giai đoạn phát triển và sự hoàn thiện dần của hệ thống men tiêu hóa trong cơ thể
- Cá mới nở dinh dưỡng bằng noãn hoàng
- Sau khi nở 3 – 4 ngày, cá dài từ 6 – 7,2 mm, bóng hơi đầy khí, cá phân bố ở lớp nước mặt là chính Cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài, thức ăn
thích hợp là các động vật phù du có kích cỡ nhỏ như luân trùng (Rotifera), giáp xác râu ngành (Cladocera), cá cũng có thể ăn được các loại thức ăn tự
chế khác như bột đậu nành, bột huyết, lòng đỏ trứng nghiền nát
- Từ 4 – 6 ngày chiều dài L = 7 – 10 mm, ăn sinh vật phù du cỡ nhỏ sống ở lớp nước giữa là chính
Trang 16- Từ 6 – 10 ngày chiều dài L = 10 – 13,5 mm, các vây hình thành rõ ràng, hàm trên bắt đầu xuất hiện răng sừng Cá đã chủ động bắt mồi, ăn sinh vật đáy, sinh vật phù du, ấu trùng, côn trùng cỡ nhỏ
- Từ 10 – 25 ngày chiều dài L = 15 – 25 mm, toàn thân có vẩy bao bọc, mồm xuất hiện chồi râu Cá hoàn toàn chủ động bắt mồi Thành phần thức ăn
bắt đầu thay đổi, thức ăn chủ yếu là sinh vật đáy (Benthos) cỡ nhỏ
Tuy nhiên nhiệt độ thích hợp cho cá chép từ 24 – 280C
Môi trường có nhiệt độ dưới 120
C cá chép chậm lớn, ăn ít và dưới 50C
cá ngừng bắt mồi
2.1.2.4 Đặc điểm chung về sinh trưởng và phát triển
Ở cá chép sự tăng trưởng phụ thuộc vào chế độ thức ăn của vùng nước, giai đoạn phát triển của cơ thể
Khi còn nhỏ cá tăng trưởng theo chiều dài, khi trưởng thành cá tăng trọng lượng nhanh hơn (Ngô Thị Mai Hương và cs, 2008) [6]
Ngoài ra thức ăn và nhiệt độ là 2 nhân tố quyết định đến mức tăng trưởng của cá (Phương Thảo, 2013) [12]
Theo Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I (1998) [15], sự phát triển của cá chép lúc nhỏ được ghi nhận theo bảng:
Bảng 2.1 Mối quan hệ giữa chiều dài cơ thể và ngày tuổi của cá chép
Ngày sau khi nở Chiều dài cơ thể (mm)
Trang 17Tốc độ tăng trưởng trong điều kiện bình thường
Tập tính sinh sản: Cá chép thành thục trong các ao hồ đầm sông ruộng vào mùa mưa thường ngược dòng tới bãi cỏ hoặc các loại thực vật thủy sinh khác đẻ vào đấy Trứng cá chép dính vào các cây cỏ, sinh vật đó rồi phát triển thành cá bột Cá chép thường đẻ vào sáng sớm, lúc mặt trời chưa mọc, có khi kéo dài tới 8 – 9 giờ sáng hoặc đến trưa
Điều kiện thích nghi cho cá chép đẻ trứng: Nhiệt độ nước từ 20 – 230
là một quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể có mối quan hệ mật thiết với yếu
tố môi trường nước, đặc biệt là nhiệt độ Tuổi thành thục của cá chép có sự khác nhau khi chúng sống ở những vùng có nhiệt độ khác nhau Ví dụ: Ở vùng nhiệt đới cá chép có thể tham gia sinh sản lần đầu khi được 1 năm tuổi,
ở vùng lạnh cá chép phải đến 2 - 3 năm mới thành thục và thường đẻ ít lần trong năm hơn so với cá chép vùng nhiệt đới (Phương Thảo, 2013) [12] Một
ví dụ khác: Cá chép sống ở Châu Âu phải mất 3 - 4 năm tuổi mới thành thục, khi đưa về vùng nhiệt đới ở Việt Nam hay Indonesia thì khoảng 1 - 1,5 tuổi đã thành thục Nhiệt độ thích hợp cho cá chép sinh sản dao động từ 24 – 300C và hàm lượng oxy hòa tan là 4 - 6 mg/L (Phương Thảo, 2013) [12]
Trang 18Ngoài yếu tố nhiệt độ ảnh hưởng sự thành thục cá chép thì yếu tố chất lượng thức ăn cũng không kém phần quan trọng Nếu trong quá trình nuôi vỗ, thành phần và chất lượng thức ăn không cân đối, không phù hợp với từng giai đoạn phát triển sinh dục, không phù hợp với tính ăn của loài sẽ ảnh hưởng đến quá trình thành thục
Cá chép thuộc loại đẻ trứng dính, sau 1 năm tuổi cá có thể tham gia sinh sản lần đầu Cá chép đẻ nhiều lần trong năm Mùa sinh sản của cá thường tập trung vào các tháng đầu năm (tháng 3 - 5) và vào giữa mùa mưa (tháng 8 - 9) Trong sinh sản nhân tạo cá chép sinh sản được quanh năm Sự thành thục
và sinh sản của cá chép chịu tác động đồng thời của 2 yếu tố: Điều kiện bên ngoài và bên trong Nếu thiếu một trong hai yếu tố đó, cá chép không thể sinh sản được (Ngô Thế Anh và cs, 2013) [1] Khi cá đã thành thục tốt, nhu cầu sinh thái sinh sản cần để cá chép đẻ trứng, ngoài sự có mặt của giới tính thì giá thể và dòng nước là không thể thiếu được Cá đẻ tự nhiên trong môi trường nếu đủ các điều kiện sau:
• Có cá đực và cá cái thành thục
• Có cây cỏ thủy sinh hay giá thể làm tổ
• Có điều kiện môi trường nước thích hợp
Sức sinh sản của cá chép, cá càng lớn sức sinh sản của cá càng cao Trong tự nhiên, sức sinh sản của cá chép dao động trong khoảng 100.000 - 150.000 trứng/1kg cá cái, đường kính trứng cá đo được sau khi trương nước
từ 1,1 - 1,2 mm, số lượng trứng của cá phụ thuộc vào khối lượng cá
Trang 192.1.2 Vấn đề môi trường nuôi cá chép nội
2.1.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là nhân tố ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến các hoạt động sống như: Sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản và di cư của thủy sinh vật, đặc biệt là đối với cá vì cá là sinh vật biến nhiệt (Trương Quốc Phú, 2006) [7] Nhiệt độ của cá chỉ chênh lệch với nhiệt độ môi trường khoảng 1,5 – 10C (Ngô Ngọc Cát và cs, 2006) [4]
Đối với cá khi nhiệt độ môi trường tăng cá sẽ tăng cường trao đổi chất, cường độ hô hấp, tuyến sinh dục chín nhanh, phôi phát triển nhanh và gây ra nhiều dị hình Sự thay đổi nhiệt độ đột ngột quá cao hoặc quá thấp có thể gây chết cá Nhiệt độ thấp làm chết cá được gọi là ngưỡng nhiệt độ dưới, nhiệt độ cao làm chết cá được gọi là ngưỡng nhiệt độ trên Mỗi loài có các ngưỡng nhiệt độ khác nhau và trong cùng một loài ở các giai đoạn khác nhau thì ngưỡng nhiệt độ cũng hoàn toàn khác nhau Phạm vi nhiệt độ thích ứng thay đổi tùy theo loài động vật, tuổi và thời gian sinh trưởng Cá con có phạm vi nhiệt độ thích ứng cao hơn cá trưởng thành Thông thường nhiệt độ thích ứng của đa số các loài cá nuôi từ 20 – 300C Giới hạn cho phép là từ 10 – 40 0C nếu nhiệt độ cao hơn 400C hoặc thấp hơn 100C ít loài cá nào có khả năng sống sót (Trương Quốc Phú, 2006) [7]
Khi nhiệt độ tăng cá sẽ tăng cường trao đổi chất nên nhu cầu oxy cũng tăng do đó làm giảm oxy trong nước, khi đó sẽ làm giảm khả năng kết hợp hemoglobine và oxy Để thỏa mãn nhu cầu oxy cá phải tăng cường đưa nước qua mang được thực hiện bằng cách tăng tần số hô hấp đồng thời gia tăng lượng máu đến mang và huy động hồng cầu từ kho dự trữ đến hệ thống tuần hoàn làm gia tăng khả năng vận chuyển oxy trong máu Khi nhiệt độ tăng quá cao cá không lấy đủ oxy dẫn đến chết Ở nhiệt độ cao 250C số lượng oxy cung
cấp cho cơ thể qua da chỉ còn một nửa so với nhiệt độ thấp Ở 160C lượng oxy
cung cấp cho cơ thể được lấy qua da lớn hơn qua mang (Đỗ Thị Thanh Hương và cs, 2000) [5]
Trang 20Cá chép thuộc nhóm rộng nhiệt, có thể chịu đựng nhiệt độ từ 0 – 400C
Cá sống được ở bên dưới lớp nước đóng băng vào mùa đông ở Châu Âu và nhiệt độ cao vào mùa hè ở vùng nhiệt đới
Tuy nhiên nhiệt độ thích hợp cho cá chép là từ 24 – 28 0C
Môi trường có nhiệt độ dưới 120
số khuếch tán trong nước nhỏ hơn rất nhiều so với ngoài không khí
Theo Swingle (1969) [9] thì nồng độ oxy hòa tan trong nước lý tưởng cho tôm cá là trên 5ppm Tuy nhiên, nếu hàm lượng oxy hòa tan vượt quá mức độ bão hòa thì cá sẽ bị mắc bệnh bọt khí trong máu, làm tắc nghẽn các mạch máu dẫn đến não và tim đưa đến sự xuất huyết ở các vây, hậu môn Do
đó theo dõi sự biến động oxy trong ao là rất cần thiết (Trương Quốc Phú, 2006) [7]
Hình 2.2: Ảnh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan lên sức khỏe cá Theo
Swingle (1969) dẫn bởi Boyd (1990) [16]
Cá chỉ sống trong thời gian ngắn
Cá sẽ chết nến thời gian kéo dài
Cá sống nhưng sinh trưởng chậm
Hàm lượng thích hợp
0 0,3
Trang 212.1.2.3 pH
pH là một trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn trực tiếp và gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật như: Sinh trưởng, tỷ lệ sống, sinh sản và dinh dưỡng pH thích hợp cho thủy sinh vật là từ 6,5 – 9 được thể hiện qua hình:
Hình 2.3: Ảnh hưởng của pH đến đời sống cá (Trương Quốc Phú, 2006)
Khi pH môi trường quá cao hoặc quá thấp đều không thuận lợi cho sự phát triển của thủy sinh vật Tác động chủ yếu của pH khi quá cao hay quá thấp là làm thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi muối – nước giữa cơ thể và môi trường ngoài Do đó pH là nhân tố quyết định giới hạn phân bố của các loài thủy sinh vật
pH có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của phôi, quá trình dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản của cá Cá sống trong môi trường pH thấp sẽ chậm phát dục, nếu pH quá thấp sẽ không đẻ hay đẻ rất ít (Trương Quốc Phú, 2006) [7]
Độ pH thích hợp cho cá chép sinh trưởng và thát triển trong khoảng từ
7 – 8, nhưng cá cũng có thể sống được trong điều kiện pH từ 6 – 8,5 (Trương Quốc Phú, 2006) [7]
2.1.2.4 Độ mặn
Độ mặn được định nghĩa là tổng chất rắn hòa tan (TDS) trong nước Độ mặn là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố, sinh sản, dinh dưỡng, tỷ lệ sống và di cư của thủy sinh vật (Trương Quốc Phú, 2006) [7]
Chết Sinh trưởng
chậm
Sinh trưởng tốt
Sinh trưởng chậm Chết
Trang 22Mỗi loài thủy sinh vật nói chung, chỉ sống ở nới có nồng độ muối thích hợp Thông qua các hoạt động sống của cơ thể, nồng độ muối dịch cơ thể luôn luôn có quan hệ chặt chẽ với nồng độ muối ở môi trường ngoài Điều hòa muối là quá trình hoạt động của cơ thể đảm bảo cho dịch cơ thể giữ nguyên được nồng độ và thành phần muối nhất định của mình chống lại những biến đổi của môi trường ngoài Tùy theo khả năng thích ứng với sự biến đổi của nồng độ muối mà thủy sinh vật có thể chia thành 2 nhóm: Nhóm thích ứng rộng muối và hẹp muối Khả năng này thùy thuộc vào thành phần loài Khi nồng độ muối ở môi trường ngoài giảm đi đột ngột, chênh lệch áp suất thẩm thấu giữa cơ thể thủy sinh vật và môi trường ngoài tăng lên đột ngột nước sẽ ngấm vào cơ thể và thủy sinh vật sẽ bị trương lên, dễ chết Trong quá trình điều hòa muối ở thủy sinh vật, có thể thấy rằng: nồng độ muối của dịch cơ thể của thủy sinh vật bao giờ cũng trong khoảng 5 – 8‰, thấp nhất là 5‰ điều kiện để bảo đảm cho thủy sinh vật còn sống được bình thường Ở thủy sinh vật nước ngọt, sức sống tăng lên khi nồng độ muối hạ thấp dưới 5 – 8‰ Có thể cho rằng nồng độ muối 5 - 8‰ là ngưỡng sinh lý chung ở thủy sinh vật, cần thiết cho các quá trình sống trong cơ thể có thể tiến hành được (Đặng Ngọc Thanh, 1974) [10]
2.2 Tình hình nghiên cứu cá chép trong nước và trên thế giới
2.2.1 Tình hình nghiên cứu cá chép trên thế giới
Trên thế giới, Linnaeus là người đầu tiên mô tả về cá chép Nó có nguồn gốc ở châu Âu và châu Á, loài cá chép ở châu Âu có nguồn gốc hoang
dã ở vùng Danubian và có tên khoa học Cyprinus carpio Cá chép phân bố
rộng trên nhiều vùng địa lý, từ vùng cận nhiệt đới đến nhiệt đới Cá sống chủ yếu trong nước ngọt nhưng cũng sống được ở nước lợ có nồng độ muối thấp Chúng có thể sống được ở độ cao 1.500m so với mặt nước biển Loài cá này
đã được đưa vào các môi trường khác trên toàn thế giới Nó có thể lớn tới độ
Trang 23dài tối đa khoảng 1,2 mét và cân nặng tối đa 37,3 kg cũng như tuổi thọ cao nhất được ghi lại là 47 năm Những giống sống trong tự nhiên hoang dã có xu hướng nhỏ và nhẹ hơn khoảng từ 20 - 33% các kích cỡ và khối lượng cực đại
Mặc dù cá chép có thể sống được trong nhiều điều kiện khác nhau, nhưng nói chung nó thích môi trường nước rộng với dòng nước chảy chậm cũng như có nhiều trầm tích thực vật mềm (rong, rêu) Là một loại cá sống thành bầy, chúng
ưa thích tạo nhóm khoảng từ 5 cá thể trở lên Nguyên thủy, chúng sinh trưởng ở vùng ôn đới trong môi trường nước ngọt hay nước lợ với pH khoảng 7,0 - 7,5 và khoảng nhiệt độ lý tưởng là 3 - 24 °C (Boyd, 1990) [16]
Cá chép, cũng giống như các biến thể khác của nó, như cá chép kính (không vảy, ngoại trừ một hàng vảy lớn chạy dọc theo thân, có nguồn gốc
ở Đức), cá chép da (không vảy, trừ phần gần vây lưng) và cá chép nhiều vẩy,
là những loại cá ăn tạp và chúng ăn gần như mọi thứ khi chúng bơi ngang qua, bao gồm các loại thực vật thủy sinh, côn trùng, giáp xác (bao gồm
cả động vật phù du) hoặc cá chết
Tại một số quốc gia, do thói quen sục sạo dưới bùn của chúng để tìm mồi nên chúng bị coi là nguyên nhân gây ra sự phá hoại thảm thực vật ngầm cũng như sự phá hủy môi trường sinh thái của nhiều quần thể thủy cầm và cá bản địa Tại Úc có các chứng cứ mang tính giai thoại và các chứng cứ khoa học cho thấy việc đưa cá chép vào đây là nguyên nhân gây ra nước đục vĩnh cửu và giảm sút thảm thực vật ngầm trong hệ thống sông Murray - Darling, với hậu quả nghiêm trọng cho hệ sinh thái của sông, chất lượng nước và các loài cá bản địa Do điều này, nó được những người đánh cá trong những khu vực này gọi là 'pig' (lợn) của cá nước ngọt Tuy nhiên, ở những nơi khác nó được những người câu cá đánh giá cao do kích thước và chất lượng thịt Ngoài ra, loài cá này cũng được dùng rộng khắp trên thế giới như một loại
Trang 24thực phẩm Người ta hiện nay đánh bắt chúng cả trong tự nhiên lẫn trong môi trường nuôi thả Thịt của nó được dùng cả ở dạng tươi và dạng đông lạnh
Là loài cá đẻ trứng nên một con cá chép cái trưởng thành có thể đẻ tới 300.000 trứng trong một lần đẻ Cá bột bị nhiều loài cá ăn thịt khác săn bắt,
chẳng hạn cá chó (Esox lucius) và cá vược miệng to (Micropterus salmoides)
(Boonbharm, 1977) [2]
Tại Cộng hòa Czech, cá chép là một món ăn truyền thống trong bữa ăn tối vào dịp lễ Nôen
2.2.2 Tình hình nghiên cứu cá Chép nội trong nước
Nuôi cá ao hồ nhỏ: Là một nghề có tính truyền thống gắn với nhà nông,
từ phong trào ao cá Bác Hồ đến phong trào VAC Xu hướng diện tích ao đang
bị thu hẹp do nhu cầu phát triển xây dựng nhà ở Đối tượng cá nuôi khá ổn định: Trắm, chép, trôi, mè, trê lai, rô phi nguồn giống sinh sản hoàn toàn chủ động Năng suất cá nuôi đạt bình quân trên 3 tấn/ha
Nghề nuôi thuỷ sản ao hồ nhỏ đã phát triển mạnh, là một mũi nhọn để xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, nhất là ở các thành phố, trung tâm dịch vụ góp phần điều chỉnh cơ cấu canh tác ở các vùng ruộng trũng, tăng thu nhập và giá trị xuất khẩu
Vấn đề khó khăn là sự phụ thuộc của năng suất vào điều kiện thời tiết, khí hậu cộng với vấn đề trình độ của người nuôi chưa được giải quyết thích hợp đã dẫn đến sự không ổn định của sản lượng nuôi Các giống đã đưa vào nuôi là: Cá chép, trôi, mè, trắm, lươn, ếch, ba ba, cá sấu Tuy nhiên, do thiếu quy hoạch, không chủ động nguồn giống, thị trường không ổn định đã hạn chế khả năng phát triển
Nuôi cá mặt nước lớn: Đối tượng nuôi thả chủ yếu là cá chép, trắm, ngoài ra còn thả ghép cá trôi, cá rô phi Do khó khăn trong khâu bảo vệ và giá cá thấp nên lượng cá thả vào hồ nuôi có xu hướng giảm
Trang 25Hình thức nuôi chủ yếu hiện nay là nuôi cá kết hợp với cấy lúa trong các ao đầm Hình thức này đã tận dụng được diện tích mặt nước, tạo ra việc làm tăng thu nhập, góp phần ổn định đời sống cho nhân dân lao động ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung
Nuôi cá ruộng trũng: Tổng diện tích ruộng trũng có thể đưa vào nuôi cá theo mô hình cá - lúa khoảng 580.000 ha Năm 1998, diện tích nuôi cá khoảng 154.200 ha Năng suất và hiệu quả nuôi cá ruộng trũng khá lớn
Đây là một hướng cho việc chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, xoá đói giảm nghèo ở nông thôn
- Cá chép ở Việt Nam là loài có nhiều dạng hình khác nhau, tuy nhiên
cá lưu giữ là loài cá chép trắng Cá chép là đối tượng nuôi quan trọng trong ao
hồ, được nghiên cứu rất nhiều nhằm tạo giống lai kinh tế, tạo ra các dòng cá
có giá trị kinh tế cao
- Cá chép là loài có giá trị kinh tế, thịt cá thơm ngon nhất là sau mùa cá được vỗ béo, được nhiều người nuôi và người tiêu dùng ưa thích Đây là đối tượng nuôi quan trọng trong ao, hồ, đầm, ruộng, lồng bè Cá có thể nuôi đơn hoặc nuôi ghép đều cho năng suất và hiệu quả rất cao Loài cá này còn được nuôi để diệt ấu trùng muỗi Cá còn dùng làm cá cảnh trong công nghệ di truyền màu sắc
- Sản lượng cá chép tự nhiên đã và đang giảm sút hết sức nghiêm trọng
do khai thác quá mức Mặt khác do việc nhập giống, lai tạo, cá ra các vùng nước tự nhiên và lai tạp làm mất dần nguồn gen quý hiếm, bản địa của đàn cá chép trắng Việt Nam
- Do vậy việc lưu giữ dòng thuần cá chép trắng Việt Nam làm nguyên liệu cho chọn giống, lai tạo các thế hệ con lai kinh tế là hết sức cần thiết và mang ý nghĩa thực tiễn to lớn
Trang 26 Tình hình nghiên cứu tại địa phương
Kết quả sản xuất, kinh doanh:
- Về sản xuất cá bột: Sản lượng cá bột các loài 101,2 triệu con, bằng 101% so với cùng kỳ năm 2012 Trong đó, cá rô phi 29,8 triệu con đạt 118%
kế hoạch, bằng 126% so với năm 2012, cá trắm cỏ 21,6 triệu con, cá chép 30,8 triệu con
- Cá hương, cá giống các loài đạt 22,8 triệu con, bằng 114% so với năm
2012, đạt 104% so với kế hoạch Trong đó cá rô phi 21,4 triệu con, bằng 124% so với năm 2012, đạt 125% kế hoạch
- Cá thịt: Sản lượng đạt 20,7 triệu con, bằng 123% so với năm 2012, đạt 112% so với kế hoạch Trong đó cá chép chiếm 18,3 triệu con, đạt 115%
so với kế hoạch
Tổng doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2013 đạt 2.324 triệu đồng, bằng 110% so với năm 2012, đạt 101% so với kế hoạch, thu nhập của người lao động bình quân đạt 3,8 triệu đồng/người/tháng
Ngoài việc đẩy mạnh sản xuất, các đơn vị trực thuộc còn tích cực làm dịch vụ các loài cá như cá rô đồng miền Bắc, miền Nam, cá trê lai, trắm đen,
cá chim trắng… phục vụ cho phong trào nuôi trong tỉnh
Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Đối với cá chép thị trường tiêu thụ trong tỉnh chiếm trên 90 % và tiêu thụ ở các tỉnh ngoài như Hải Dương, Bắc Ninh, Hải Phòng, Sơn La…
Công tác kỹ thuật
- Chỉ đạo các đơn vị thực hiện nghiêm túc quy trình, quy phạm kỹ thuật đối với sản xuất giống các đối tượng thủy sản nước ngọt do Trung tâm đang sản xuất Công tác duy trì chất lượng được đặc biệt quan tâm với phương châm không chạy theo sản lượng, bằng mọi cách phải giữ vững được chất lượng sản phẩm, không đưa ra thị trường những sản phẩm không đạt chất lượng
Trang 27- Toàn bộ đàn cá bố mẹ của Trung tâm hiện đang khai thác đều được nhập từ Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I - Bắc Ninh, được cơ quan thú
y kiểm dịch và được nuôi vỗ đúng quy trình kỹ thuật Trong đó cá loài cá chép, cá rô phi và cá trắm là những đối tượng sản xuất chủ yếu
- Kiên quyết chỉ đạo các đơn vị trong việc nâng cấp chất lượng đàn cá chép hiện có tại các đơn vị Trung tâm đã mời chuyên gia của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I – Bắc Ninh về trực tiếp tuyển chọn lại đàn cá chép
bố mẹ, chỉ đạo các đơn vị quản lý, chăm sóc tốt đàn cá chép mới nhập về các năm trước, đưa vào khai thác năm 2013 và các năm tiếp theo Thực hiện thí điểm công thức lai chéo đàn chép và kết quả đạt được hết sức khả quan, chất lượng đàn cá chép đã được người nuôi chấp nhận và đánh giá cao
Trang 28Phần 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cá chép nội
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- 3 mô hình nuôi ghép kết hợp lúa – cá trong 1 xã
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.2.1 Thời gian
- Từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 5 năm 2015
3.2.2 Địa điểm thực hiện đề tài
- Tại xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tốc độ sinh trưởng, kích thước các chiều đo qua từng giai đoạn nuôi
- Đánh giá tỷ lệ nuôi sống (%)
- Đánh giá tình hình mắc bệnh của cá chép nội
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
Thôn An Lạc chọn mô hình nuôi của gia đình ông Đào Xuân Duyên
Thôn Đức Hiệp chọn mô hình nuôi của gia đình ông Phạm Đức Quý
Trang 29- Trực tiếp theo dõi các chỉ tiêu tại các lô thí nghiệm
Số diện tích (S) của từng lô thí nghiệm: (I): 3,24 ha; (II): 2,16 ha; (III): 3,96 ha
Số cá thả /lô: (I): 6480 con; (II): 4320 con; (III): 7920 con
Thời gian bắt đầu thả 20 tháng 1 năm 2015, thời gian thu hoạch 20 tháng 5 năm 2015
Hàng ngày kiểm tra theo dõi nuôi dưỡng, thức ăn, môi trường của ruộng (mực nước, độ trong…) phát hiện cá chết
So sánh kết quả: Lấy số liệu bình quân của các lô thí nghiệm
3.4.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu
3.4.2.1 Khả năng tăng trưởng về kích thước các chiều đo và phương pháp tiến hành
Theo dõi khả năng tăng trưởng về chiều dài thân cá
Đo chiều dài thân cá (mm) gồm L và L0, trong đó: L là chiều dài tổng cộng được đo từ mút mõm đến hết tia vây đuôi dài nhất, L0 là chiều dài chuẩn được đo từ mút mõm đến hết phần phủ vẩy cuối vây đuôi Trong nghiên cứu này tôi tiến hành đo chiều dài chuẩn (L0) của cá chép nội qua các tháng nuôi
Phương pháp tiến hành: Dùng vợt vớt 3 mẫu cá trong giai ở các vị trí khác nhau (tầng trên và đáy giai) thả vào chậu đã chứa sẵn nước sạch để chuẩn bị kiểm tra (số cá kiểm tra n=40 con/lô)
Trang 30Sau đó đặt lần lượt từng cá thể lên thước dẹt hoặc thước giấy kẻ ô ly (có chia vạch chính xác đến mm) để đo Chiều dài thân cá được tính từ đầu mút mõm đến hết phần phủ vẩy cuối vây đuôi
Theo dõi khả năng tăng trưởng về chiều cao của cá
Phương pháp tiến hành: Dùng vợt vớt 3 mẫu cá trong giai ở các vị trí khác nhau (tầng trên và đáy giai) thả vào chậu đã chứa sẵn nước sạch để chuẩn bị kiểm tra (số cá kiểm tra n=40 con/lô) Đo chiều cao của từng cá thể
từ gốc vây lưng xuống phần bụng (khoảng cách cao nhất thân cá)
3.4.2.2 Khả năng tăng trưởng về khối lượng và phương pháp tiến hành
Đo khối lượng cá gồm P và P0, trong đó P là khối lượng toàn bộ cơ thể
cá, P0 là khối lượng cơ thể cá đã bỏ ruột Trong nghiên cứu này tôi tiến hành
đo khối lượng toàn bộ cơ thể (P) của cá chép nội qua các tháng nuôi
Phương pháp tiến hành: Trước khi tiến hành cân cần ngừng cho cá ăn ít nhất 6 giờ Dùng vợt có đường kính từ 350 mm đến 500 mm làm bằng lưới sợi mềm không gút, mắt lưới từ 3 mm đến 5 mm vớt cá (số cá kiểm tra n=40 con/lô), sau đó đưa lên từ từ cho róc hết nước rồi thả vào xô hoặc chậu đã cân
bì (dùng cân đồng hồ 2 kg chính xác đến 5g để xác định khối lượng) Cân xác định khối lượng của xô hoặc chậu chứa cá rồi trừ đi khối lượng của bì để xác định khối lượng của cá Tính khối lượng bình quân của cá thể trong mẫu Cân con to nhất, nhỏ nhất để xác định độ đồng đều của đàn cá nuôi
3.4.2.3 Phương pháp đo pH, đo nhiệt độ của nước, đo độ sâu bằng các dụng
cụ chuyên ngành
- Đo nhiệt độ nước dùng nhiệt kế thông thường (0 – 100 0C)
Cách tiến hành: Dùng cốc đong lấy nước ở mỗi vị trí khác nhau của ao sau đó dùng nhiệt kế thông thường từ 0 – 100 0
C để xác định nhiệt độ Hàng
ngày đo sáng chiều sau đó lấy giá trị trung bình
- Đo pH dùng giấy quỳ tím: Dùng cốc đong lấy nước ở mỗi vị trí khác
nhau của ao Sau đó xé 1 mẩu giấy quỳ rồi nhúng vào nước cần đo, nước sẽ
Trang 31đổi màu, đem so với bảng màu tiêu chuẩn trên nắp hộp sẽ biết được độ pH trong ao nuôi
- Đo độ đục độ trong bằng đĩa secchi, quy tắc bàn tay
Có nhiều cách xác định trong và độ đục của nước, nhưng kỹ thuật phổ biến nhất choviệc nuôi thủy sản là sử dụng đĩa secchi để đo độ trong
Cách đo độ đục độ trong bằng đĩa secchi:
Cấu tạo đĩa secchi gồm: Đĩa secchi dạng hình tròn làm bằng vật liệu không thấm nước (inox, thiếc, ) chia đĩa làm 4 phần đều nhau, sơn hai màu đen và trắng xen kẽ nhau Đĩa được treo trên một que hay trên một sợi dây có đánh dấu khoảng cách mỗi khoảng chia là 5 hoặc10cm
Khi đo, cầm đầu dây thả từ từ cho đĩa ngập nước và ghi nhận lần 1 khoảng cách từ mặt nước đến đĩa khi không còn phân biệt được hai màu đen trắng trên mặt đĩa Sau đó cho đĩa secchi sâu hơn vị trí vừa rồi và kéo lên đến khi vừa phân biệt được hai màu đen trắng, ghi nhận khoảng cách lần 2
Độ trong của nước ao đo bằng đĩa secchi là trung bình của hai lần ghi nhận khoảng cách
Hình 2.4: Đĩa secchi
Trang 32Cách đo độ đục độ trong bằng bàn tay: Khi đo đặt bàn tay sao cho bàn tay và cổ tay tạo thành góc 900 sau đó thả từ từ tay xuống vị trí cần đo đến khi bắt đầu không còn phân biệt được các ngón tay thì ta ghi nhận khoảng cách lần 1 Sau đó lại đưa tay xuống vị trí sâu hơn rồi từ từ đưa tay lên đến khi bắt đầu phân biệt được các ngón tay thì ghi nhận khoảng cách lần 2 Độ trong của nước ao là trung bình của 2 lần ghi nhận đó
3.4.3 Các công thức tính
- Công thức tính tốc độ sinh trưởng:
Sinh trưởng tích lũy: Được xác định bằng cách cân, đo cá qua các tuần nuôi: dùng thau cân khối lượng nước ban đầu, thả 100 con cá vào cân khối lượng sau đó lấy giá trị trung bình
Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng và kích thước cơ thể cá tăng lên trong một đơn vị thời gian và được tính theo công thức sau:
Sinh trưởng tuyệt đối A =
1 2
1 2
t t
V V
Trong đó: A: sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
V1: KL ứng với thời điểm bắt đầu
V2: KL ứng với thời điểm kết thúc
t1 và t2: Là thời điểm bắt đầu khảo sát và kết thúc
Sinh trưởng tương đối: Là tỉ lệ phần trăm (%) của khối lượng, thể tích, các chiều đo của cơ thể tăng ở thời kỳ cuối so với thời kỳ đầu cân đo và
được tính theo công thức sau:
Sinh trưởng tương đối: R(%) = 100
2
2 1
V V
Trong đó: R: sinh trưởng tương đối (%)
V1: KL ứng với thời điểm bắt đầu
Trang 33V2: KL ứng với thời điểm kết thúc
t1 và t2: Là thời điểm bắt đầu khảo sát và kết thúc
- Công thức tính hiệu quả kinh tế:
A = B – C (đơn vị: vnđ)
trong đó : A là hiệu quả kinh tế đạt được
B là số tiền thu được
C là số tiền chi ra trong quá trình nuôi
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thí nghiệm được xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học của Nguyễn Văn Thiện (2007) [11] và phần mềm Minitab 14 với các tham số thống kê như số trung bình cộng (X ), độ lệch tiêu chuẩn (s), sai số của số trung bình (mX) và hệ số biến dị (Cv)
Trang 34Phần 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC
4.1 Công tác phục vụ sản xuất
4.1.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất
Được sự giúp đỡ của nhà trường, khoa chăn nuôi thú y, với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn cùng với sự nhất trí tạo điều kiện của UBND xã Hiệp Hòa tôi đã xây dựng nội dung thực tập như sau:
- Tìm hiểu tình hình chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
- Tham gia công tác vệ sinh thú y, phòng chống dịch bệnh tại địa bàn
xã cùng với cán bộ thú y
- Chẩn đoán và điều trị bệnh thủy sản
- Thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình nuôi cá chép nội trong môi trường ruộng lúa tại xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình”
4.1.2 Biện pháp thực hiện
Để thực hiện tốt nội dung, trong thời gian thực tập chúng tôi đề ra biện pháp thực hiện như sau:
- Lên kế hoạch cụ thể đối với từng nội dung công việc
- Tuân thủ mọi nội quy, quy chế của nhà trường và nơi thực tập
- Bản thân tích cực về nhiều mặt:
+ Bám sát địa bàn nơi thực tập, tìm hiểu tình hình nuôi trồng thủy sản + Đọc tham khảo các tài liệu để năng cao kiến thức
+ Tăng cường học hỏi các cán bộ cơ sở để năng cao tay nghề
+ Thường xuyên xin ý kiến chỉ đạo của thầy hướng dẫn
+ Vận dụng các kiến thức đã học vào việc tư vấn khoa học kỹ thuật trong nuôi trồng thủy sản cho các hộ nuôi trên địa bàn
Trang 354.1.3 Kết quả phục vụ sản xuất
Được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn và các cán bộ địa phương, cùng với sự nỗ lực của bản thân trong thời gian phục vụ sản xuất đã đạt được kết quả như sau:
4.1.3.1 Công tác tuyên truyền khoa học kỹ thuật trong nuôi trồng thủy sản
Tuyên truyền vận động bà con thải loại những con giống không đủ phẩm chất Vận động bà con xây dựng ao nuôi đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo vệ sinh thú y, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế của từng hộ gia đình Hướng dẫn bà con cách sử dụng, phối hợp thức ăn và tận dụng các nguồn thức ăn sẵn có ở địa phương
Tuyên truyền cho người dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của việc phòng bệnh cho thủy sản để tránh lây lan dịch bệnh, hạn chế tổn thất trong chăn nuôi
4.1.3.2 Công tác phòng bệnh
Công tác phòng bệnh là vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc đảm bảo
an toàn dịch bệnh cho thủy sản với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh, tránh được sự lây lan dịch bệnh từ vùng này sang vùng khác, làm giảm thiểu đáng kể về kinh tế của người dân do dịch bệnh gây ra
Để bảo đảm nuôi trồng thuỷ sản an toàn, Sở NN&PTNT Thái Bình xây dựng các biện pháp phòng chống dịch, đặc biệt lưu ý đến vấn đề môi trường, giám sát, phát hiện dịch bệnh, thanh kiểm tra, kiểm dịch vận chuyển giống thủy sản, vệ sinh khử trùng môi trường nuôi
Về biện pháp chống dịch, Ngành nông nghiệp lưu ý các địa phương khẩn trương khai báo nếu xảy ra dịch bệnh Thực hiện “3 không”: Không giấu dịch, không xả thải nước ao đầm, sản xuất giống bị bệnh chưa qua xử
lý ra ngoài môi trường, không xả bỏ thủy sản chết, thủy sản bệnh ra ngoài môi trường
Trang 36Về cơ chế hỗ trợ, tỉnh hỗ trợ hóa chất xử lý môi trường trước vụ nuôi
và xử lý khi có dịch bệnh xảy ra:
Cải tạo đáy ao:
Sau khi dọn sạch chất thải trong ao thì dùng hóa chất (giai đoạn này chủ yếu là vôi) để nâng pH nước (đặc biệt khi mưa lớn), tăng độ kiềm, khử phèn trong đất và nước, diệt tạp, sát khuẩn bờ ao, đáy ao, làm trong nước, giảm CO2, phân hủy mùn bã đáy ao…
Vôi bao gồm các loại:
- Vôi nông nghiệp CaCO3: Là dạng đá vôi, vỏ sò, san hô được xay nhuyễn thành bột Vôi nông nghiệp làm tăng pH đất nhưng ít tăng pH nước nên dùng tốt trong cải tạo ao Liều lượng từ 7 – 10 kg/100m2
- Vôi tôi Ca(OH)2: Dùng cải tạo ao, tăng pH đất và có ảnh hưởng lớn đến pH nước nên sử dụng chủ yếu để cải tạo ao, nhất là khi pH đất < 5 Liều lượng từ 7 – 10 kg/100m2
- Đá vôi, vôi sống CaO: Có tác dụng tăng pH mạnh nên chỉ dùng cải tạo ao, không dùng cho ao đang nuôi tôm
- Vôi đen Dolomite CaMg(CO3)2: Nguồn gốc từ đá vôi đen Dolomite
có khoảng 4 % magiê nên có tác dụng tăng hệ đệm trong ao nuôi tôm mà ít ảnh hưởng đến pH của môi trường, thường được sử dụng đối với những ao có
độ kiềm thấp Tuy nhiên, do giá thành cao nên loại vôi này ít được sử dụng Liều lượng sử dụng thường là 200 kg/ha
Cách sử dụng: Rải vôi đều khắp đáy ao và bờ ao, rải nhiều hơn ở những chỗ còn nước hoặc còn vết bùn đen (Tùy thuộc vào từng loại vôi và pH đất, môi trường đáy ao mà có liều lượng sử dụng phù hợp)
Xử lý nước trước khi thả giống
Sau khi lấy nước vào ao đủ yêu cầu, cần xử lý nước trước khi thả giống với các loại hoá chất và phân bón sau:
Trang 37- Thuốc tím (KMnO4): Là một trong những hóa chất được sử dụng khá phổ biến trong nuôi trồng thủy sản, có khả năng oxy hóa chất hữu cơ, vô cơ
và diệt vi khuẩn nên được dùng nhiều trong cải tạo ao nuôi tôm Ngoài ra thuốc tím còn có tác dụng tăng hàm lượng oxy trong nước, giảm chất hữu cơ trong ao nuôi
- Cách dùng: Khi cải tạo ao sử dụng từ 20 – 50 kg/ha, tạt đều khắp ao
và để ít nhất sau 24 giờ mới tiến hành gây màu nước
- Formol: Là hóa chất khử trùng mạnh Bằng cách làm đông cứng protein formol có tác dụng diệt khuẩn với hầu hết các loại sinh vật như nấm,
vi khuẩn, ngoại ký sinh trùng nên được dùng diệt khuẩn trong quá trình cải tạo ao (Lê Văn Cát, 1999) [3]
Cách dùng: Tạt đều xuống ao với liều lượng khoảng 300 lít/ha
- BKC (Benzalkonium Chlorinde): Là chất độc đối với vi khuẩn, virus, nấm và một số ngoại ký sinh trùng, hiệu quả nhanh hơn Formol BKC cũng
có thể diệt được các bào tử (Lê Văn Cát, 1999) [3]
Cách dùng: Liều lượng sử dụng khi cải tạo ao là 3 - 5 ppm (30 - 50 kg/ha) Ngoài ra còn có thể sử dụng các loại hóa chất khác như: BKC, Iodine… Lưu ý: Chỉ sử dụng một trong các loại hoá chất trên (hoặc thuốc tím, hoặc Formol hoặc Chlorine, hoặc BKC, hoặc Iodine) và nếu sử dụng Chlorine
để diệt trùng thì trước đó mấy ngày không nên sử dụng vôi vì vôi làm tăng
pH, giảm khả năng diệt trùng của Chlorine
Bón phân gây màu:
- Phân vô cơ (như urê, NPK, DAP, lân) để gây màu nước cho ao, tạo nguồn thức ăn tự nhiên ban đầu cho tôm và hạn chế sự phát triển của rong đáy
Cách dùng: Hoà tan phân vô cơ vào nước rồi tạt đều khắp ao vào buổi sáng (8 - 10 giờ sáng) Loại phân urê (45:0:0), liều lượng 20 kg/ha; NPK (20:20:0) liều lượng 20 kg/ha, DAP liều lượng 10 - 15 kg/ha bón 1 lần/ngày
Trang 38và liên tục đến khi gây được màu nước tốt Trong trường hợp ao nuôi bị lên phèn, nghèo dinh dưỡng, tảo khó gây màu, có thể dùng thêm lân với liều lượng 0,8 ppm (8kg/ha)
- Phân hữu cơ: Có nhiều loại phân hữu cơ có thể dùng để gây màu nước hiệu quả như phân bò, phân gà, cám sống, bột cá, bột đậu nành… Cách dùng: Các loại phân chuồng phải ủ hoai, ngâm trong nước qua đêm rồi tạt đều khắp đáy ao với liều lượng Phân chuồng hoai mục 30 - 40kg hoặc phân xanh 15 - 20kg
- Chế phẩm sinh học: Sử dụng chế phẩm sinh học như MD BIO CAPGA, MD BIO PROTEIN, BLUEMIX, gây màu nước, nuôi các phiêu sinh là đặc dụng nhất, vì nó chủ động đưa vào nước ao nuôi một hệ vi sinh vật
có lợi, nhằm giúp các loại tảo có ích phát triển và hạn chế các loại tảo có hại Cách dùng: Liều lượng sử dụng theo yêu cầu của nhà sản xuất
Lưu ý: Không được sử dụng chế phẩm sinh học cùng một lúc với các loại hoá chất có tính diệt khuẩn như BKC, thuốc tím, Chlorine, Iodine, kháng sinh
Thả giống
Tắm cho cá trước khi thả: Tắm cho cá trong dung dịch muối ăn nồng độ 2- 3% trong thời gian 5 - 10 phút hoặc dùng thuốc tím nồng độ 0,001 - 0,002% (1gam thuốc tím hoà trong 50 - 100 lít nước sạch) tắm trong 10 - 20 phút hoặc dung dịch CuSO4 nồng độ 0,5 - 0,7 gam/m3 nước trong 20 - 30 phút
Mật độ thả cá phù hợp: Nếu thả quá dày môi trường nước thiếu oxy cá cũng không lớn được Tuỳ vào hình thức nuôi, thả cá trong ao nước tĩnh (thả đơn một loại hay ghép nhiều loại) 1con/m2
mặt nước Cá chép 0,2con/m2
, trắm đen 15m2/con Nuôi ghép ao nước chảy khoảng 3 - 5con/m2
Nên mua giống cá ở những cơ sở sản xuất lớn có uy tín nhiều năm Vận chuyển cá giống vào lúc trời mát
Trang 39Khi thả cá giống, đầu tiên nên ngâm túi nilon đựng cá vào trong nước
ao hồ định nuôi khoảng 15 - 20 phút, nhằm mục đích để nhiệt độ trong túi nilon bằng nhiệt độ môi trường nuôi, tạo điều kiện cho cá làm quen với môi trường sống mới, tránh hiện tượng stress làm cá bị sốc dẫn đến chết Sau đó
mở một đầu túi, cho nước chảy từ từ vào, để cá bơi tự nhiên ra, khi cá ra khỏi bao 1/2 -2/3 số con mới dốc túi cho cá ra hết Nếu có điều kiện, nên quây lưới mắt nhỏ vào một góc ao hồ, thả cá giống vào đó, chăm sóc chu đáo khoảng 20-30 ngày, bồi dưỡng cho cá giống tăng cường sức khoẻ, làm quen với môi trường sống mới, thì tỷ lệ sống của cá sẽ cao hơn
Kết quả phục vụ sản xuất được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất
STT Nội dung công việc ĐVT lƣợng Số
Kết quả
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)
1
Cải tạo ao, diệt tạp
- Vôi bột (CaCO3) m2
93600 93600 100
2 - Tắm cho cá trước khi thả
(bằng nước muối 2-3%) Con 18720 18720 100
Trang 40Qua bảng 4.1 cho thấy: Để đạt được kết quả trên, đó là nhờ sự giúp đỡ tận tình của cán bộ thú y xã, sự động viên khích lệ và tín nhiệm của nhân dân địa phương, sự phấn đấu hết mình của bản thân mạnh dạn đưa khoa học vào thực tế
4.1.5 Kết luận và bài học kinh nghiệm
Qua thời gian thực tập tốt nghiệp tại xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, được sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và các cán bộ thú y xã
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trực tiếp, tiếp xúc với thực tế sản xuất
và cung cấp số liệu điều tra cơ bản, đồng thời với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã thu được một số kết quả nhất định như:
- Củng cố hệ thống lại được phần lý thuyết thông qua thực tế ở cơ sở
- Biết được các phương pháp phòng chống dịch bệnh cho thủy sản
- Sử dụng thành thạo một số loại hóa chất, phân bón
Cũng qua thực tế sản xuất đã giúp tôi hiểu được những khó khăn vướng mắc của những người làm công tác nuôi trồng thủy sản
Bên cạnh những kết quả về đã đạt được, bản thân còn nhận thấy nhiều hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm trong thực tế, thấy cần phải học hỏi thêm nhiều thông qua các đồng nghiệp đi trước, các tài liệu, tiếp cận với thực tế nhiều hơn, không ngừng nâng cao kiến thức chuyên môn và tay nghề để góp phần phục vụ tốt cho công tác sau này
4.2 Kết quả nghiên cứu chuyên đề
4.2.1 Kích thước các chiều đo của cá chép nội
Để đánh giá khả năng tăng trưởng về kích thước các chiều đo của cá chép nội chúng tôi đã kết hợp với các chủ hộ tiến hành cân đo và đạt được kết quả như sau: