1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống

58 321 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 896,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực tập đề tài tốt nghiệp cuối khóa, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy hướng dẫn PGS.TS Từ Trung Kiên, cùng với sự quan tâm giúp đỡ của Nhà trường, các thầ

Trang 1

NGUYỄN THỊ LAN Tên đề tài:

“ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA CÁ RÔ PHI ĐƠN

TÍNH ĐƯỜNG NGHIỆP ƯƠNG TỪ GIAI ĐOẠN

CÁ HƯƠNG LÊN CÁ GIỐNG”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nuôi trồng thủy sản

Khóa học : 2011 – 2015

Thái nguyên - năm 2015

Trang 2

NGUYỄN THỊ LAN Tên đề tài:

“ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA CÁ RÔ PHI ĐƠN

TÍNH ĐƯỜNG NGHIỆP ƯƠNG TỪ GIAI ĐOẠN

CÁ HƯƠNG LÊN CÁ GIỐNG”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nuôi trồng thủy sản

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập đề tài tốt nghiệp cuối khóa, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy hướng dẫn PGS.TS Từ Trung Kiên, cùng với sự quan tâm giúp đỡ của Nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi – Thú y và các cán bộ trong Trung tâm Giống thủy sản Hà Nội đã gúp đỡ tôi thu nhận được nhiều kiến thức mới, đồng thời đây còn là thời gian giúp tôi làm quen,

áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế, làm cơ sở nền tảng cho tôi trong cuộc sống cũng như trong công việc chuyên môn sau này

Nhân dịp này tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu Nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi – Thú y, đặc biệt là sự chỉ bảo quan tâm hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Từ Trung Kiên và các cán bộ trong Trung tâm giống thủy sản Hà Nội đã giúp đỡ tôi không chỉ

về chuyên môn mà còn giúp đỡ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt hời gian thực tập

Nhân dịp này tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn tới các bạn sinh viên lớp K43 – Nuôi trồng thủy sản đã trao đổi và giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập Đồng thời qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và người thân đã giúp

đỡ và động viên tôi suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 06 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Lan

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Với phương châm đào tạo (học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn) để đào tạo người cán bộ khoa học kỹ thuật vừa có trình độ lý luận cao vừa có tay nghề chuyên môn vững vàng nhằm đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Chính vì vậy, giai đoạn thực tập tốt nghiệp trước khi ra trường của mỗi sinh viên các trường Đại học nói chung và sinh viên của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng là không thể thiếu trong chương trình đào tạo của Nhà trường Để từ đó sinh viên củng cố lại kiến thức, nâng cao tay nghề chuyên môn, tạo lòng hăng say nhiệt tình với nghề nghiệp, rèn luyện được tính tự lập và trách nhiệm của bản thân trong công việc, giúp sinh viên áp dụng khoa học kỹ thuật vào công tác nghiên cứu

và phục vụ sản xuất khi ra trường

Xuất phát từ cơ sở đó được sự nhất trí của Ban Giám hiệu nhà trường, sự phân công của Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi-Thú y, được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của Trung tâm Giống Thủy sản Hà Nội

tôi đã tiến hành chuyên đề nghiên cứu: “Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính Đường Nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống”

Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế chưa có nhiều nên khóa luận tốt nghiệp này không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự góp ý, bổ sung của các thầy cô giáo và bạn bè để bài khóa luận được hoàn thiện hơn

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Một số loài cá rô phi có giá trị kinh tế cao trong NTTS 5

Bảng 2.2: Nhu cầu protein trong khẩu phần ăn của một số loài cá rô phi 9

Bảng 2.3: Phân biệt cá đực và cá cái qua đặc điểm hình thái bên ngoài 13

Bảng 2.4: Lượng thức ăn cho cá ăn trong giai doạn xử lý giới tính đực 15

Bảng 2.5: Sản lượng cá rô phi nuôi ở một số nước trên thế giới 22

Bảng 2.6: Hiện trạng diện tích, số lượng lồng bè nuôi cá rô phi ở các vùng 25 Bảng 4.1: Kết quả phục vụ sản xuất 33

Bảng 4.2 Tỷ lệ nuôi sống 34

Bảng 4.3: Kích thước các chiều đo của cá (mm) 35

Bảng 4.4 Khối lượng tích lũy 36

Bảng 4.5 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối 37

Bảng 4.6 Tiêu thụ thức ăn qua các giai đoạn 38

Bảng 4.7 Môi trường ương nuôi cá qua các giai đoạn 39

Bảng 4.8: Hiệu quả kinh tế ương nuôi cá 42

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Cá rô phi Đường Nghiệp 4

Hình 2.2: Phân biê ̣t cá rô phi đực, cái bằng mắt thường 13

Hình 2.3: Phân biê ̣t cá rô phi đực, cái 14

Hình 2.4: Biểu đồ sản lượng cá rô phi trên thế giới năm 2013 18

Hình 4.1: Đồ thị tăng kích thước cơ thể cá 35

Hình 4.2: Đồ thị biến động độ pH trong quá trình ương cá rô phi 40

Hình 4.3: Đồ thị biến động nhiệt độ nước trong quá trình ương nuôi 41

Hình 4.4: Đồ thị biến động về độ trong của nước trong quá trình ương nuôi 41

Hình 4.5: Đồ thị biến động oxy hòa tan trong quá trình ương nuôi 42

Trang 7

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1.Đặt vấn đề 1

1.2.Mục đích nghiên cứu 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa của khoa học 3

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cở sở khoa học và pháp lý của đề tài 4

2.1.1 Phân loại 4

2.1.2 Đặc điểm hình thái 5

2.1.3 Môi trường sống 6

2.1.4 Đặc điểm về dinh dưỡng 8

2.1.5 Tốc độ sinh trưởng 10

2.1.6 Đặc điểm sinh sản 11

2.2 Chu kỳ sinh sản của cá rô phi 12

2.3 Tập tính sinh sản 13

2.4 Xử lý cá bột bằng hormone 17α – Methyltestosteron 14

2.5 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 15

2.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 15

2.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 23

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27

3.2.1 Địa điểm 27

3.2.2 Thời gian 27

Trang 8

3.3 Nội dung nghiên cứu 27

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 27

3.4.1 Phương pháp điều tra 27

3.4.2 Phương pháp theo dõi 27

3.4.3 Phương pháp tính các chỉ tiêu 29

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 30

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 32

4.1.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất 32

4.1.2 Biện pháp thực hiện 32

4.1.3 Kết quả phục vụ sản xuất 33

4.1.4 Kết luận và bài học kinh nghiệm 33

4.2 Kết quả nghiên cứu đề tài 34

4.2.1 Tỷ lệ nuôi sống qua các giai đoạn 34

4.2.2 Kích thước cá qua các thời kỳ 35

4.2.3 Tiêu thụ thức ăn 38

4.2.4 Thay đổi môi trường trong quá trình ương nuôi 38

4.2.5 Hiệu quả kinh tế 42

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Đề nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1.Đặt vấn đề

Cá rô phi là tên gọi chung của khoảng 80 loài cá thuộc họ Cichlidae, có nguồn gốc Châu Phi Mặc dù cá có nguồn gốc từ châu Phi, nhưng chúng lại được nuôi tập trung chủ yếu ở 2 khu vực chính đó là các nước châu Á và Nam

Mỹ, trong đó sản lượng cá rô phi ở các nước châu Á chiếm đến 80% sản lượng cá rô phi trên toàn thế giới Hiện có khoảng trên 100 nước trên thế giới nuôi cá rô phi với các loài khác nhau nhưng chủ yếu tập trung vào loài cá rô phi vằn Cá rô phi được coi là đối tượng nuôi thuỷ sản có tiềm năng to lớn cho tiêu thụ nội địa và cho xuất khẩu nên đang được đầu tư nghiên cứu phát triển mạnh trong thế kỷ 21 (Fitzsimmons, 2000)[16]

Nước ta có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích mặt nước tiềm năng phong phú, tuy nhiên vẫn chưa được khai thác một cách có hiệu quả Những năm gần đây sản lượng nuôi thuỷ sản của cả nước không ngừng tăng cao và đa dạng về sản phẩm Hiện nay diện tích nuôi và sản lượng cá rô phi ở nước ta cũng đang phát triển mạnh Tuy nhiên, miền Bắc Việt Nam lại gặp khó khăn khi nuôi cá rô phi đó là mùa đông lạnh: mùa

vụ nuôi ngắn, kích thước thương phẩm nhỏ do tâm lý sợ cá bị chết rét do đó

đã thu hoạch từ sớm Để đẩy nhanh và đưa cá rô phi thành đối tượng nuôi chủ lực ở miền Bắc, trong tương lai cần phải khắc phục được những nhược điểm của hình thức canh tác hiện nay Việc xem xét khả năng chịu lạnh của cá rô phi được xem như là một trong những khía cạnh khoa học để dần nâng cao khả năng chịu lạnh của cá rô phi

Trong những năm vừa qua có nhiều công trình nghiên cứu thành công nhằm phát huy những đặc tính ưu việt đáp ứng nhu cầu của người nuôi như công trình nghiên cứu cho ra công nghệ sản xuất giống cá rô phi toàn đực thông qua

Trang 10

sử dụng hormon, lai xa, tạo con siêu đực Chọn giống là một trong những biện pháp nhằm tăng khả năng thích ứng của động vật với điều kiện môi trường mới

Cá rô phi đơn tính dòng Đường Nghiệp thuộc đời con lai F1 nguồn gốc Philipin có tỷ lệ đực rất cao có thể đạt 100%, chúng có kích thước, trọng lượng cơ thể lớn, mình ngắn, đầu nhỏ, lưng cao, mắt lồi và sếch, mõm gẫy, mồm vểnh ngược lên, thịt dày không có xương răm, mùi vị cá thơm ngon thuộc loại cá sạch,

có giá trị kinh tế cao So với cá rô phi thông thường, cá rô Đường Nghiệp có khả năng lớn nhanh tốc độ siêu tốc tối đa nặng từ 3,5 đến 4kg/ con Loại cá rô này có khả năng chịu đựng nhiệt và lượng oxi trong nước thấp hơn thông thường Có thể nuôi trong môi trường nước ngọt, nước lợ, nước mặn, tốc độ sinh trưởng nhanh ít bệnh tật chịu rét cao Khi cá từ 2 đến 3 kg/ con vẫn phát triển lớn bình thường Dùng thức ăn công nghiệp có hệ số từ 1 đến 1,2kg thức ăn / 1kg cá Hiện nay cá rô phi Đường Nghiệp Philipin là đối tượng nuôi chính trên thế giới và được chọn là đối tượng số 1 cho nghề nuôi cá rô phi sạch xuất khẩu

Cá rô phi đơn tính dòng Đường Nghiệp hiện nay được bà con nông dân áp dụng nuôi thành công Nó đạt năng suất cao và mang lại giá trị kinh tế giúp bà con cải thiện cuộc sống Hiện nay cá rô Đường Nghiệp Philipin là đối tượng nuôi

chính trên thế giới và được chọn là đối tượng số 1 cho nghề nuôi cá rô phi sạch

xuất khẩu tại nước ta

Trước sự gia tăng diện tích nuôi cá rô Đường Nghiệp như hiện nay, vấn đề cần thiết cần được giải quyết hiện nay là làm sao tăng được năng suất ương để đáp ứng đủ nhu cầu cho người nông dân về số lượng và chất lượng con giống, giảm giá thành sản phẩm nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất giống để nghề nuôi cá rô Đường Nghiệp được ổn định Một trong hương nghiên cứu cho mục tiêu này là trình độ và kỹ thuật ương phải đảm bảo Xuất phát từ tình hình thực tế trên tôi

thực hiện đề tài  Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính Đường

Nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống 

Trang 11

1.2.Mục đích nghiên cứu

Thấy được hiệu quả kinh tế của ương cá rô phi đơn tính Đường Nghiệp

từ hương lên giống

Thấy được năng suất giống của cá rô phi đơn tính Đường Nghiệp

Xác định tỷ lệ sống và sự phát triển của cá giai đoạn từ cá hương lên cá giống

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Bổ sung thêm các thông tin về kỹ thuật ương cá rô phi đơn tính Đường Nghiệp Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ương giai đoạn từ cá hương lên cá giống

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa của khoa học

Hoàn thiện quy trình kỹ thuật ương cá hương lên cá giống

Thấy được các yếu tố gây ảnh hưởng chính lên tỷ lệ sống và sự phát triển của cá ở giai đoạn từ cá hương lên cá giống

Thấy được khả năng chịu đựng và thích nghi với môi trường mới của cá

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Xác định được năng suất và giá trị kinh tế của cá rô phi đơn tính Đường Nghiệp Kết quả của đề tài có thể áp dụng trong công tác sản xuất giống cá nước ngọt ở quy mô trang trại và nông hộ

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cở sở khoa học và pháp lý của đề tài

2.1.1 Phân loại

Dựa vào đặc điểm sinh sản, người ta chia cá rô phi thành 3 giống:

Tilapia (cá đẻ cần giá thể)

Sarotherodon (Cá bố hay cá mẹ ấp trứng trong miệng)

Cá rô và Oreochromis (Cá mẹ ấp trứng trong miệng)

Cá rô phi hiện đang nuôi phổ biến ở Việt Nam thuộc:

Bộ cá vược Perciformes

Bộ phụ Percoidae

Họ Cichlidae

Giống Oreochromis

Loài Cá rô phi vằn O.niloticus

Hình 2.1: Cá rô phi Đường Nghiệp

Theo thống kê có khoảng 80 loài cá rô phi được phân loại thuộc 3 giống

chính, đó là: Tilapia, Sarotherodon, Oreochromis, nhưng theo đánh giá chỉ có

Trang 13

khoảng 10 loài có giá trị kinh tế trong nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) (Magintosh và Little, 1995)[20]

Giống Tilapia: Đẻ trứng bám vào giá thể (tổ đẻ) bằng cỏ rác Sau khi đẻ, cá

đực và cá cái cùng tham gia bảo vệ tổ Giống này phân bố chủ yếu ở Tây Phi và Trung Phi

Giống Sarotherodon: Đào tổ đẻ trứng, chỉ có cá đực ấp trứng trong miệng

Giống này phân bố chủ yếu ở Bắc Phi

Giống Oreochromis: Cá đực đào tổ đẻ, chỉ có cá cái ấp trứng trong miệng

đến khi cá nở thành cá bột Giống này phân bố rải rác ở miền Đông, Trung Phi

Hiện nay có 3 loài chính được phổ biến tại Việt Nam là :

Cá rô phi cỏ Oreochromis mossambicus, được nhập vào Việt Nam năm

1953 từ Thái Lan

Cá rô phi vằn (Rô phi Đài Loan O.niloticus) được nhập vào Việt Nam

năm 1974 từ Đài Loan

Cá rô phi đỏ (red Tilapia), có màu hồng được nhập vào Việt Nam năm

Oreochromis O niloticus, O urelepishorno, O mossambicurum,

O aureu, O Andersoni, O.macrochir, O.spilurus

2.1.2 Đặc điểm hình thái

Cá rô có thân hình màu hơi tím, vảy sáng bóng, có 9-12 sọc đậm song song nhau từ lưng xuống bụng Vi đuôi có màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bố khắp vi đuôi Vi lưng có những sóc trắng

Trang 14

chạy song song trên nền xám đen Viền vi lưng và vi đuôi có màu hồng nhạt

Có kích thước, trọng lượng co thể lớn, mình ngắn, đầu nhỏ, lưng cao, mắt lồi và sếch, mõm gẫy, mồm vểnh ngược lên, thịt dày không có xương răm, mùi vị cá thơm ngon thuộc loại cá sạch, có giá trị kinh tế cao

2.1.3 Môi trường sống

Nhiệt độ:

Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của cá rô phi từ 20-32o

C, thích hợp nhất là 25-320

C Khả năng chịu đựng với biến đổi nhiệt độ cũng rất cao từ

8-420C, cá chết rét ở 5,50C và bắt đầu chết nóng ở 42o

C Nhiệt độ càng thấp thì

cá càng giảm ăn, ức chế sự tăng trưởng và tăng rủi ro nhiễm bệnh

Theo Bardach và cs (1972)[12], nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của trứng và cá con sau khi nở Nhiệt độ thấp hay cao vượt quá giới hạn cho phép đều ảnh hưởng đến sự phát triển của tuyến sinh dục, sức sống của cá con Nhiệt độ tối thiểu để cá rô phi sinh sản là 20o

C Biên độ nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của phôi cá rô phi là 25-30o

C và cho cá con là 28-30oC

Cá rô phi là loài cá có nguồn gốc nhiệt đới nên khả năng thích nghi với nhiệt

độ cao tốt hơn với nhiệt độ thấp Biên độ nhiệt của cá rô phi rất rộng 11 –

42oC (Bardach và cs, 1972)[12] Nhiệt độ cho cá rô phi sinh trưởng và phát triển là 28 – 30o

C (Lê Quang Long, 1964)[ 7] Ở nhiệt độ thấp hơn 15,5oC cá

rô phi ngừng hoạt động và hoàn toàn ngừng ăn Quá trình sinh sản của cá rô phi chỉ xảy ra khi nhiệt độ nước trên 22o

C, nhiệt độ thích hợp cho cá rô phi sinh sản là 26 – 29oC Ở nhiệt độ nước dưới 20o

C tuyến sinh dục ngừng phát triển (Chervinski, 1982)[15]

Độ mặn:

Cá rô phi là loài rộng muối, có khả năng sống được trong môi trường nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và nước mặn có độ muối

từ 0-40‰

Trang 15

Trong môi trường nước lợ (độ mặn 10-25‰) cá tăng trưởng nhanh, mình dày, thịt thơm ngon

pH:

Môi trường có độ pH từ 6,5-8,5 thích hợp cho cá rô phi, nhưng cá có thể chịu đựng trong môi trường nước có độ pH thấp bằng 4 Cá rô phi có khả năng sống được ở biên độ pH từ 4 – 11 (Chervinski, 1982)[15], nhưng pH thấp hoặc cao quá giới hạn thích hợp đều không có lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cá rô phi Giá trị pH = 4 – 6,5 ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cá rô phi, khi giá trị pH bằng 6,5 khả năng sinh sản của cá giảm đi rõ rệt (Bongco, 1991)[14]

Oxy hoà tan:

Cá rô phi có thể sống được trong ao, đìa có màu nước đậm, mật độ tảo dày, có hàm lượng chất hữu cơ cao, thiếu oxy Yêu cầu hàm lượng oxy hoà tan trong nước của cá rô phi ở mức thấp hơn 5-10 lần so với tôm sú

Theo Pha ̣m Anh Tuấn (1996)[10], trong môi trường có hàm lượng oxy hòa tan thấp cá sẽ giảm tiêu thu ̣, giảm các hoạt động trao đổi chất và giảm tốc

đô ̣ sinh trưởng Vì vậy, để nuôi cá rô phi thương phẩm đạt hiệu quả cao , khi

cá đạt 200g/con ao cần phải được su ̣c khí vào sáng sớm lúc 5 -6 giờ sáng

Cá rô phi có khả năng sống ở những vùng nước có hàm lượng oxy hòa tan thấp nhờ khả năng sử dụng oxy trên mặt nước Tilapia có thể sống trong

ao với hàm lượng oxy thấp hơn 1,0 mg/l, nhưng không thể sống kéo dài khi hàm lượng oxy thấp hơn 0,7 mg/l (Balarin và haller, 1982)[11] Hàm lượng oxy thấp nhất mà cá rô phi có thể sống trong một thời gian ngắn là 0,1 mg/l

đối với O.mossambicus và O.niloticus; 0,2 mg/l đối với O.aureus (Chervinski,

1982[15] Cá rô phi có thể chịu đựng được hàm lượng oxy hòa tan dưới 0,1 mg/l trong thờ i gian ngắn nhưng ngưỡng gây chết cho cá khoảng 0,1 – 0,3 mg/l (Vũ Đình Liệu, 2004)[6]

Trang 16

Độ trong của nước:

Nguồn nước phải ít đục hay độ trong cao Cách đo độ trong đơn giản nhất là đưa bàn tay vào trong nước đến khuỷu tay (cùi chỏ) và nhìn theo bàn tay, nếu còn nhìn thấy bàn tay là nguồn nước có độ trong thích hợp

Nếu muốn đo độ trong chính xác, có thể dùng đĩa hai màu (Secchi) Đĩa có dạng hình tròn, đường kính 20 phân (cm), được chia làm 4 ô trong đó 2 ô sơn trắng và hai ô sơn đen Gắn đĩa vuông góc với một thanh gỗ tại tâm điểm của đĩa hoặc dùng dây treo để thao tác dễ dàng Khi đo, thả đĩa chìm vào nước chầm chậm đến khi mắt thường không còn phân biệt giữa hai màu đen trắng trên mặt đĩa, sau đó hơi kéo nhẹ đĩa lên đến khi có thể phân biệt giữa hai màu đen trắng trên mặt đĩa thì dừng lại Đo khoảng cách từ mặt nước đến mặt đĩa chính là độ trong của nước Nếu nguồn nước có độ trong lớn hơn 30 là nguồn nước tốt

Qua quá trình thực nghiệm cho thấy tất cả các ao nuôi đều có độ trong thích hợp cho cá rô phi sinh trưởng và phát triển, giá trị độ trong dao động từ

20 - 40 cm Đây là độ trong thích hợp cho tất cả loài cá nước ngọt

2.1.4 Đặc điểm về dinh dưỡng

Tập tính ăn:

Tính ăn của cá rô phi thay đổi theo từng loài, từng giai đoạn phát triển

và môi trường nuôi

Khi còn nhỏ, cá rô phi ăn sinh vật phù du (tảo và động vật nhỏ) là chủ yếu (cá 20 ngày tuổi, kích thước khoảng 18mm) Khi cá trưởng thành ăn mùn

bã hữu cơ lẫn các tảo lắng ở đáy ao, ăn ấu trùng, côn trùng, thực vật thuỷ sinh Tuy nhiên, trong nuôi công nghiệp cá cũng ăn các loại thức ăn chế biến từ cá tạp, cua, ghẹ, ốc, bột cá khô, bột bắp, bột khoai mì, khoai lang, bột lúa, cám mịn, bã đậu nành, bã đậu phộng Trong thiên nhiên cá thường ăn từ tầng đáy

có mức sâu từ 1-2m

Trang 17

Theo Lê Văn Thắng (1999)[9], nhu cầu dinh dưỡng của cá rô phi thay đổi theo từng giai đoạn phát triển Trong các yếu tố dinh dưỡng thì protein đóng vai trò quan trọng nhất cả về số lượng và chất lượng Các loài cá khác nhau có nhu cầu protein khác nhau, ngay trong cùng một loài nhu cầu protein cũng khác nhau, giữa các độ tuổi và điều kiện môi trường nuôi khác nhau

Đối với cá nhỏ nhu cầu protein trong khẩu phần thức ăn nhiều hơn cá lớn, cá nuôi trong hệ thống nghèo thức ăn tự nhiên, đòi hỏi hàm lượng protein trong khẩu phần thức ăn cao hơn so với cá nuôi trong môi trường giàu thức ăn

tự nhiên hay trong ao có bón phân Nhu cầu protein của một số loài cá rô phi được thể hiện ở bảng 2.2

Bảng 2.2: Nhu cầu protein trong khẩu phần ăn của một số loài cá rô phi

Loài Giai đoạn Khẩu phần

Protein (%) Hệ thống nuôi Nguồn

Rô phi

hồng

Florida

Cá bột – cá thịt 20 – 30 Bể nước mặn

O.niloticus Cá nhỏ 24 Bể nước mặn Shiau và

Trang 18

Khẩu phần ăn:

Khẩu phần ăn của cá rô phi phụ thuộc vào loài, kích cỡ, mức năng lượng trong khẩu phần cho ăn, chất lượng nước, tần số và lượng thức ăn tự nhiên trong thủy vực Thực tế trong quá trình nuôi để đạt được hiệu quả, năng suất và sản lượng cao khi cá được cho ăn với khẩu phần hợp lý, phù hợp với từng điều kiện ao nuôi Thông thường khẩu phần ăn của cá giảm dần theo % khối lượng quần đàn khi cá đang tăng trưởng Tuy nhiên khẩu phần thức ăn của cá cần được điều chỉnh thường xuyên theo điều kiện thời tiết, chất lượng nước và tình trạng sức khỏe của cá

Khi nuôi trong ao, cá sử dụng thức ăn tự nhiên sẵn có kết hợp với thức

ăn chế biến, cá rô phi vằn đơn tính lớn nhanh từ tháng đầu đến tháng thứ 5-6 Sinh trưởng:

Cá rô phi là loài cá ăn tạp, khẩu phần ăn của chúng bao gồm hỗn hợp tảo phù du, động vật phù du, giun đất, côn trùng ở dưới nước, mùn bã hữu cơ

và có khi cả các loài phân hữu cơ (Zhong Lin, 1991) Đặc biệt cá rô phi thích

ăn ấu trùng muỗi, ở nhiều nơi nuôi cá rô phi vằn để diệt muỗi (Trần Văn Quỳnh, 1980)

Nghiên cứu về sinh trưởng ở Philippin đối với cá O niloticus dòng Israel, dòng

Singapor và dòng Đài Loan kết quả cho thấy dòng Israel có tốc đô ̣ sinh trưởng tốt nhất, kém nhất là dòng Đài Loan (Tayamen và cs, 1988)[21]

Trang 19

Sự sinh trưởng của cá rô phi mang tính chất đă ̣c trưng của loài, các loài

rô phi khác nhau có tốc đô ̣ sinh trưởng khác nhau Loài O.niloticus có tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh vượt trô ̣i so với các loài O mossambicus (Đa ̣i học Cần Thơ , 1994) Cá rô phi O.niloticus có tốc đô ̣ sinh trưởng nhanh nhất sau đó đến O galilaeus và O aureu (Low – McConnell, R.H 1982)[19]

Theo Nguyễn Việt Dũng (2008)[4], tốc đô ̣ sinh trưởng của cá rô phi còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ, môi trường nước, dinh dưỡng… Bón phân cho ao nuôi tạo thức ăn tự nhiên cho cá là một phương pháp có hiệu quả, tiết kiê ̣m chi phí và đang được áp du ̣ng nhiều để tăng sản lượng thủy sản Tuy nhiên lượng phân bón tùy vào tình hình cu ̣ thể của ao nuôi Ở Thái Lan, điều kiê ̣n tự nhiên tương tự như ở nước ta , đã bón phân theo tỷ lệ là 4kg N và 1kg P/ha/ngày Trong ao nuôi , bón phân mà không sử dụng thức ăn bổ sung thì vẫn có thể đạt năng suất cao Ở Brazil, nuôi cá rô phi đơn tính trong ao với

mâ ̣t đô ̣ 8000 con/ha (trọng lượng trung bình 25g/con) và cứ một tuần bón 500kg phân gà/ha Kết quả năng suất đa ̣t 1,35 tấn/ha sau 189 ngày nuôi, trọng lượng trung bình khi thu hoa ̣ch đa ̣t 1,86kg/con

Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt đô, mội trường nước, dinh dưỡng

Nhiệt độ và độ sâu nước ao cũng ảnh đến tốc độ tăng trưởng của cá rô phi Cá rô phi Đường Nghiệp có khả năng lớn nhanh tốc độ siêu tốc tối đa nặng từ 3,5 đến 4kg/ con

2.1.6 Đặc điểm sinh sản

Thành thục sinh dục: Trong điều kiện ao nuôi cá rô phi thành thục sinh dục vào tháng thứ 3, 4 khi cá có trọng lượng thông thường là 100-150g/con (cá cái) Vậy kích thước thành thục sinh dục của cá rô phi phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, điều kiện nhiệt độ và độ tuổi Cá nuôi trong mô hình thâm canh năng suất cao Cá cái tham gia sinh sản lần đầu khi trọng lượng đạt trên 200g trong khi đó ở điều kiện nuôi kém, cá cái bắt đầu đẻ khi trọng lượng cơ thể mới khoảng 100g

Trang 20

Sự phát dục và thành thục lần đầu của cá rô phi phụ thuộc vào các loài

cá, môi trường sống và chế độ dinh dưỡng của cá, nhìn chung cá rô phi

O.niloticus thành thục muộn hơn so với cá rô phi O.mossambicus (Macintosh

và Little, 1995)[20] Nếu trong điều kiện nuôi dưỡng thuận lợi, giàu dinh dưỡng, cá rô phi lớn nhanh và phát dục ở kích cỡ lớn, ngược lại nếu sống trong điều kiện nuôi dưỡng không đầy đủ, cá thành thục ở kích thước nhỏ (Low – McConell, 1982)[19] Trong tự nhiên cá rô phi thành thục lần đầu sau 4-6 tháng tuổi, khi cá đạt 100 -150g (Heppher và Pruginin, 1982 [17]; Nguyễn Công Dân, 1998 a,b [3])

2.2 Chu kỳ sinh sản của cá rô phi

Hầu hết các loài cá rô phi trong giống Orechromis đều tham gia sinh

sản nhiều lần trong 1 năm Trong điều kiện khí hậu ấm áp cá rô phi đẻ quanh năm (10, 11 lứa ở các tỉnh phía nam; 5-7 lứa ở các tỉnh phía bắc) Quan sát buồng trứng cá rô phi cho thấy: trong buồng trứng lúc nào cũng có tất cả các loại trứng,

từ loại non nhất đến loại chín sẵn sàng rụng để đẻ Vì vậy, trong tự nhiên ở các ao nuôi cá rô phi chúng ta gặp rất nhiều cá con ở các cỡ khác nhau (trừ ao nuôi cá rô phi đơn tính) Số lượng trứng mỗi lần đẻ từ vài trăm trứng đến khoảng 2000 trứng Chu kỳ sinh sản của cá rô phi thường kéo dài từ 3 - 4 tuần (tính từ lần đẻ này đến lần đẻ tiếp theo)

Chu kỳ sinh sản của cá rô phi có thể kéo dài 3 – 4 tuần, cá rô phi có thể sinh sản tới 12 lần trong 1 năm Khi nhiệt độ nước xuống dưới 20o

C cá ngừng sinh sản (Nguyễn Công Dân và Trần Văn Vỹ, 1996)[2] Sự hình thành và phát triển tuyến sinh dục của cá rô phi phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như tuổi cá,

cỡ cá, chế độ dinh dưỡng, nhiệt độ nước, độ muối Ở Việt Nam do điều kiện nhiệt đới nên cá sinh sản gần như quanh năm, riêng miền bắc nước ta có mùa đông nên thời điểm đầu vụ xuân và cuối vụ thu thường xảy ra hiện tượng cá

bố mẹ thì đẻ được nhưng trứng ấp kéo dài đến khi nở thành cá bột thì bị dị hình nhiều, đưa vào xử lý đơn tính đực hay bị bệnh nên hao nhiều, tỷ lệ sống chỉ đạt khoảng 10-30% Khả năng sinh sản của cá rô phi đơn tính Đường Nghiệp rất kém do chúng là con lai F1 Vì vậy, không cho sinh sản

Trang 21

2.3 Tập tính sinh sản

Ðến thời kỳ thành thục, vào mùa sinh sản các đặc điểm sinh sản thứ cấp của cá rô phi rất rõ Cá đực có màu hồng hoặc hơi đỏ ở dưới cằm, viền vây ngực, vây lưng và vây đuôi, khi đó ở con cái có màu hơi vàng Ngoài ra con cái xoang miệng hơi chễ xuống

Để phân biệt cá đực và cá cái của rô phi người ta dựa vào hình thái bên ngoài và phương pháp giải phẫu tuyến sinh dục

Bảng 2.3: Phân biệt cá đực và cá cái qua đặc điểm hình thái bên ngoài

(Lê Văn Thắng, 1999)[9]

ngậm trứng và con Màu sắc Vi lưng và vi đuôi sặc sỡ Màu nhạt hơn

Lỗ niệu sinh dục 2 lỗ: lỗ niệu sinh dục và

lỗ hậu môn

3 lỗ: lỗ niệu Lỗ sinh dục

và lỗ hậu môn Hình dạng huyệt Đầu thoát lỗ niệu sinh

dục dạng lồi, hình nón dài và nhọn

Dạng tròn hơi lồi và không nhọn như cá đực

Hình 2.2: Phân biê ̣t cá rô phi đực, cái bằng mắt thường

Trang 22

Hình 2.3: Phân biê ̣t cá rô phi đực, cái

Trang 23

Bảng 2.4: Lượng thức ăn cho cá ăn trong giai doạn xử lý giới tính đực

Lịch cho ăn Lượng cho ăn

(% theo trọng lượng cá)

Số lần cho ăn/ngày và thời gian cho ăn

(Nguồn: Trung tâm Quốc gia giống Thủy sản nước ngọt miền Bắc)

Trong thời gian xử lý giới tính, thường xuyên kiểm tra trọng lượng cá

và tình hình ao để điều chỉnh lượng thức ăn cho thích hợp, tránh thừa gây ô nhiễm nước

Theo dõi hoạt động của cá để biết tình hình sức khỏe và bệnh cá để có biện pháp kịp thời

2.5 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.5.1.1 Tình hình nghiên cứu chọn giống cá rô phi trên thế giới

Nhiều loài thuỷ hải sản có giá trị cao đang được rất nhiều nước quan tâm và chú trọng phát triển Đã có nhiều công trình nghiên cứu và đạt được một số kết quả đáng kể Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp chọn giống truyền thống đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới để nâng cao chất lượng giống theo tính trạng thì việc sử dụng công nghệ di truyền phân tử (ADN) cũng bắt đầu được sử dụng Việc kết hợp công nghệ di truyền phân tử với chọn giống truyền thống của công ty Genomar đã tạo ra dòng cá rô phi GST1

và GST3 có tốc độ tăng trưởng cao hơn (khoảng 20%) sau mỗi thế hệ, hệ số thức ăn thấp hơn, tỷ lệ sống đạt cao và giảm tỷ lệ cận huyết xuống dưới 3% ở mỗi thế hệ (Hans Magnus, 2004)

Trang 24

Từ năm 1997 trở lại đây, phương pháp chọn giống cá rô phi truyền thống đã được áp dụng chương trình chọn giống theo tính trạng, Trong đó chủ yếu tập trung vào tính trạng tăng trưởng để nâng cao chất lượng di truyền, đã được thực hiện ở nhiều nước khác nhau Cá rô phi dòng GIFT đã được bố trí nuôi thử nghiệm ở 5 nước thuộc khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Với mục đích khảo nghiệm chất lượng di truyền của đàn cá chọn giống thông qua việc nuôi để so sánh với các loài rô phi khác trong cùng điều kiện nuôi khác nhau Kết quả thu được rất đáng quam tâm, dòng GIFT có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn 15 – 20 % so với các dòng cá khác hiện đang được nuôi ở Việt Nam (Nguyễn công Dân và cs,1998)[3]

Đầu tiên là chương trình chọn giống nâng cao chất lượng di truyền cá

rô phi ở Phillipine, kết quả đã tạo ra cá rô phi dòng GIFT có tốc độ tăng trưởng vượt trội 75% so với quần đàn bố mẹ ban đầu sau 5 thế hệ chọn giống, đồng thời tỷ lệ sống cũng được nâng cao (Bentsen và cs, 1998)[13]

Ngoài ra, Phillipine cũng đầu tư nâng cao chất lượng di truyền của cá

rô phi thông qua việc lai tạo với tổ tiên của chúng để tạo ra sản phẩm là cá rô phi vằn GET EXELL tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao hơn ở các môi trường nuôi khác nhau (Taymen, 2004)[21]

Bên cạnh đó, phương pháp chọn giống để nâng cao tốc độ tăng trưởng

đã được thực hiện tại Malaysia với vật liệu chọn giống là cá rô phi dòng GIFT được nhập từ Phillipine đã cho kết quả tốt và sau mỗi thế hệ chọn giống cũng

đã thu được tốc độ tăng trưởng tăng khoảng 10% (Ponzoni và cs, 2005)

Cũng với vật liệu nghiên cứu là rô phi vằn Indonesia cũng đã đầu tư nghiên cứu để nâng cao chất lượng di truyền thông qua các tổ hợp lai khác nhau, kết quả là đã tạo ra được dòng cá Nila Jica có tốc độ sinh trưởng cao trong điều kiện môi trường nuôi của Indonesia (nguồn www.dkp.go.id) Chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng đã bắt đầu được thực hiện tại Malawi với

Trang 25

kết quả thu được tốc độ tăng trưởng tăng khoảng 7,2% sau mỗi thế hệ (Maluwa and Gjerde, 2005).

Còn tại một số nước châu Âu thì phương pháp chọn giống cũng đang được quan tâm trong những năm gần đây Tại Hà Lan phương pháp chọn giống truyền thống theo tính trạng đã thực hiện với mục đích nâng cao tỷ lệ phi lê và đã thu được kết quả tốt (Rutten và cs, 2005)

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng cá rô phi thương phẩm như: Chọn giống để làm chậm quá trình phát dục ở cá rô phi của tác giả Schwark và Langholz (1998) đang được thực hiện tại Trung Quốc, Ai Cập; chọn giống để tăng khả năng chịu lạnh tại Israel

2.5.1.2 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới

Cá rô phi là một đối tượng nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao bởi cá có tốc độ tăng trưởng nhanh, thích ứng với nhiều điều kiện nuôi khác nhau cũng như điều kiện môi trường khắc nghiệt; chất lượng thịt thơm ngon, chứa nhiều hàm lượng dinh dưỡng cần thiết và là một trong những đối tượng xuất khẩu

có giá trị cao (Nguyễn Dương Dũng, 2005)[5] Do đó, cá rô phi đã được nuôi rộng rãi trên 100 nước trên thế giới (FAO, 2004)[1], trong đó các dòng cá

thuộc loài rô phi vằn O niloticus (Nile tilapia) được quan tâm và chọn nuôi

rộng rãi

Cá rô phi hiện là đối tượng nuôi quan trọng thứ hai trong các loài cá nước ngọt chỉ đứng sau nhóm cá chép (Fitzsimons và Gonznlez, 2005)[16] Sản lượng cá rô phi nuôi trên thế giới tăng nhanh, trong 20 năm gần đây sản lượng cá rô phi nuôi trên thế giới tăng gần 8 lần, từ 200.000 tấn năm 1980, đến 400.000 tấn năm 1991 và đạt gần 1,6 triệu tấn năm 2003, giá trị ước tính khoảng 2,5 tỷ USD, dự đoán năm 2010 tổng giá trị cá rô phi nuôi toàn cầu đạt

5 tỷ USD (Fitzsimmon, 2005)[16]

Trang 26

Trong khi đó sản lượng cá rô phi khai thác từ tự nhiên trong nhiều năm

ổn định ở mức 500.000 tấn/năm

Hình 2.4: Biểu đồ sản lượng cá rô phi trên thế giới năm 2013

Số liệu thống kê năm 2012 của FAO về sản xuất cá rô phi trên toàn cầu

đã lên đến khoảng 4.507.002 tấn Trong năm 2013, nhiều nước đã tăng số lượng trang trại và năng suất hơn, đặc biệt ở Bangladesh, Indonesia, Ai Cập,

và Brasil Ước tính cho năm 2013 là 4.677 613 tấn Trung Quốc tiếp tục vị thế là nhà sản xuất lớn nhất (1.553.000 tấn vào năm 2012 và tăng dần đến 1.600.000 vào năm 2013) Xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ chậm lại trong năm 2013, nhưng tăng đáng kể ở Saharan châu Phi Ai Cập thông báo tăng sản xuất cá rô phi, với sản lượng 768.752 tấn trong năm 2012 và ước tính gần 800.000 tấn cho năm 2013 Một số nước trong khu vực Đông Nam Á tiếp tục

là nhà sản xuất và người tiêu dùng lớn Indonesia là nhà sản xuất cá rô phi lớn thứ ba trên thế giới (600.000 tấn) Indonesia là một nước xuất khẩu lớn, trong khi Việt Nam, Myanmar, và Philippines chỉ tiêu thụ cá rô phi trong nước Việt

Trang 27

Nam tăng sản lượng đáng kể, chủ yếu dựa trên cả hệ thống nuôi ghép với tôm biển để giảm độc lực của hội chứng tử vong sớm, hoặc luân canh với tôm, hoặc thay thế hoàn toàn tôm với cá rô phi Lồng trước đây sử dụng để nuôi cá tra cũng đã được chuyển đổi để sản xuất cá rô phi

Bangladesh đã tăng sản lượng cá rô phi với một tốc độ rất lớn trong những năm gần đây Trong năm 2002, sản lượng là dưới 10.000 tấn và đến năm 2012 nó đã vượt 136.000 tấn và 140.000 vào năm 2013

Sản xuất của Ecuador giảm như các trang trại nuôi cá rô phi chuyển đổi sang nuôi tôm để tận dụng lợi thế của giá tôm tăng lên Hoa Kỳ tiếp tục là một nhà sản xuất nhỏ nhưng tiêu thụ vẫn mạnh trong năm 2013 Cá rô phi là hải sản phổ biến thứ tư ở Mỹ, sau tôm, cá ngừ và cá hồi

Mặc dù có nguồn gốc từ châu Phi, nhưng châu Á và Nam Mỹ là những nơi tập trung nuôi và nghiên cứu cá rô phi chính Trong đó có các nước như Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Phillippinne ở khu vực châu Á, một số nước Trung Đông như Ai Cập, Israel, các nước khu vực Nam và Trung Mĩ như Brazil, Ecuado, Colombia, Nicaragua là những quốc gia sản xuất và tiêu thụ cá rô phi chủ yếu trên thế giới Năm 2003 sản lượng cá rô phi nuôi ở châu Á chiếm 80% sản lượng toàn cầu (Fitzsimmon, 2004)[16]

Sản lượng cá rô phi ở các quốc gia sản xuất ra hiện nay chủ yếu để tiêu thụ nội địa, ngoài ra xuất khẩu chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ Tuy nhiên trong những năm gần đây, thị trường xuất khẩu cá rô phi đã tăng một cách rõ rệt (Fitzsimmons, 2004)[16] Đây là một hướng mở ra cho xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam khi mà nhu cầu về loại cá này trên thế giới ngày càng tăng, do

đó để tiếp cận được thị trường tiềm năng này, chúng ta cần chú trọng phát triển mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng cá rô phi sản xuất ra để mau chóng chiếm lĩnh những thị trường xuất khẩu cá rô phi còn bỏ ngỏ

Trong số các quốc gia đang nuôi cá rô phi trên thế giới thì Trung Quốc

Trang 28

là nước có sản lượng rô phi tăng nhanh chóng, năm 1980 sản lượng cá rô phi nuôi là 9.000 tấn, năm 1985 là 29.000 tấn, năm 1995 là 320.000 tấn, chiếm khoảng 45% tổng sản lượng cá rô phi nuôi ở châu Á (FAO, 1997; Li Sifa, 1997) Năm 2002, sản lượng đó là 706.585 tấn và Trung Quốc trở thành siêu cường quốc về sản lượng cá rô phi Trung Quốc nuôi cá rô phi theo các hình thức khác nhau: nuôi ghép, nuôi đơn, nuôi trong ao hồ, trong ruộng lúa, trong lồng bè và chủ yếu nuôi ở các vùng nước ngọt (Báo cáo quy hoạch phát triển nuôi rô phi giai đoạn 2006 – 2015, bộ thuỷ sản)[1]

Tại Trung Quốc, rô phi được nuôi tập trung ở 4 tỉnh Đông Nam Quảng Đông (Fujian Guanxi và Hainan, Dey 2001) Con giống được sử dụng chủ

yếu là con lai giữa loài O niloticus và O aureus Rô phi được nuôi cả trong

hệ thống nuôi thâm canh và bán thâm canh, chúng có thể được nuôi đơn hoặc nuôi ghép với các loài cá khác trong ao nước ngọt, trong lồng… cá được thả với mật độ 2,5 con/m2, con giống có khối lượng trung bình là 4g

Philippin là một nước nuôi cá rô phi khá nhiều, năm 2003 sản lượng cá

rô phi đạt 135.996 tấn/230.000 ha Nuôi cá rô phi trong ao, lồng, các vùng nước ngọt và lợ: Sản lượng cá rô phi ở nước ngọt chiếm 56%, nuôi lồng nước ngọt chiếm 37% và nuôi nước lợ chiếm 7% tổng sản lượng Philippin là nước tiên phong ở châu Á về việc nuôi cá rô phi trong lồng trên hồ và sông, suối Việc thử nghiệm nuôi bắt đầu từ năm 1973, cả nước có khoảng 2000 ha lồng vào năm 2000, sản xuất ra 33.967 tấn rô phi thương phẩm Đây cũng là quốc gia đầu tiên trong khu vực sử dụng hormon chuyển đổi giới tính sản xuất ra con giống với tỉ lệ đực cao (từ 98 – 100%) góp phần nâng cao sản lượng cá

nuôi Nước này cũng là nước đầu tiên sử dụng giai lưới cho sản xuất giống cá

rô phi (Guerrero, 1997)

Thái Lan nuôi cá rô phi trong lồng rộng khắp miền Bắc và miền Trung Sau thời gian nuôi 90 ÷ 120 ngày, cá đạt kích cỡ 600 ÷ 700g và 120 ÷ 150

Trang 29

ngày, cá đạt kích cỡ 800 ÷ 900g với tỷ lệ sống 80 ÷ 90%, hệ số thức ăn là 1,0

÷ 1,8 (Phạm Anh Tuấn và cs, 2006)[10]

Các nước châu Mỹ bắt đầu quan tâm đến nuôi cá rô phi trong vòng 10 năm gần đây đặc biệt là sau rủi ro của nghề nuôi tôm do dịch bệnh gây ra Các nước vùng Trung Nam Mỹ như Mêhico, Brazil, Ecuador là những nước sản xuất cá rô phi chủ yếu ở khu vực này

Cá rô phi có nguồn gốc từ châu Phi nhưng nghề nuôi cá rô phi chỉ mới phát triển trong 10 năm qua Ai Cập là nhà sản xuất lớn nhất, năm 2003 đạt sản lượng 200.000 tấn, chiếm 90% sản lượng cá rô phi ở châu lục này Các quốc gia khác như Ghana, Kenya, Zimbabiwe…đều có sản lượng cá rô phi, tuy nhiên sản lượng này không đáng kể, chủ yếu là tiêu thụ nội địa

Sản lượng cá rô phi ở châu Âu không đáng kể do nhiệt độ thấp không thuận lợi để nuôi cá rô phi và ở đây đang nuôi nhiều loài cá có giá trị khác Theo thống kê của FAO, sản lượng cá rô phi nuôi ở châu Âu là 270 tấn (năm 1999) Hiện nay, Bỉ là nơi nuôi nhiều cá rô phi nhất với sản lượng đạt khoảng

300 tấn/năm

Nuôi cá rô phi trong lồng bè rất phổ biến tại một số nước như: Đài Loan, Indonesia, Phillipines, Malaysia, Thái Lan Đài Loan đã mở đầu phương thức nuôi rô phi trong lồng nổi, năng suất đạt 4,3-5,4 tấn/lồng/2 vụ/năm Lồng nổi

cỡ mắt lưới 1cm được thả cá giống cỡ 20-30g/con, mật độ 4.000-5.000 con/lồng, cho ăn tự động với thức ăn viên 3 lần/ngày, sau 4-5 tháng cá đạt cỡ thương phẩm 600g/con Mô hình nuôi lồng phát triển ở Inđonexia trong hồ nước ngọt lớn ở Java Tại đây Công ty Aquafarm Nusantara sản xuất gần 5.000 tấn/năm Philippines nuôi cá rô phi vằn trong lồng trên các hồ chứa Năm 1999 có 2.000 lồng, sản xuất 31.114 tấn cá Mật độ cá thả là 15-45 con/m2 trong lồng cố định, và 55-80 con/m2 trong lồng nổi, cỡ cá thả 0,5-2,0g/con, sau 3-5 tháng nuôi đạt năng suất 4-25kg/m2, cỡ cá 150-250g/con, tỷ

lệ sống đạt 80-90% (Phạm Anh Tuấn và cs,2006)[10]

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Cá rô phi Đường Nghiệp - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Hình 2.1 Cá rô phi Đường Nghiệp (Trang 12)
Bảng 2.3: Phân biệt cá đực và cá cái qua đặc điểm hình thái bên ngoài - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Bảng 2.3 Phân biệt cá đực và cá cái qua đặc điểm hình thái bên ngoài (Trang 21)
Hình 2.3: Phân biê ̣t cá rô phi đực, cái - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Hình 2.3 Phân biê ̣t cá rô phi đực, cái (Trang 22)
Hình 2.4: Biểu đồ sản lượng cá rô phi trên thế giới năm 2013 - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Hình 2.4 Biểu đồ sản lượng cá rô phi trên thế giới năm 2013 (Trang 26)
Bảng 4.1: Kết quả phục vụ sản xuất - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Bảng 4.1 Kết quả phục vụ sản xuất (Trang 41)
Bảng 4.3: Kích thước các chiều đo của cá (mm)  Thời gian - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Bảng 4.3 Kích thước các chiều đo của cá (mm) Thời gian (Trang 43)
Hình 4.2: Đồ thị biến động độ pH trong quá trình ương cá rô phi - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Hình 4.2 Đồ thị biến động độ pH trong quá trình ương cá rô phi (Trang 48)
Hình 4.4: Đồ thị biến động về độ trong của nước trong quá trình ương nuôi - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Hình 4.4 Đồ thị biến động về độ trong của nước trong quá trình ương nuôi (Trang 49)
Hình 4.3: Đồ thị biến động nhiệt độ nước trong quá trình ương nuôi - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Hình 4.3 Đồ thị biến động nhiệt độ nước trong quá trình ương nuôi (Trang 49)
Hình 4.5: Đồ thị biến động oxy hòa tan trong quá trình ương nuôi - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Hình 4.5 Đồ thị biến động oxy hòa tan trong quá trình ương nuôi (Trang 50)
Hình 4.1: Cá rô phi Đường nghiệp giai đoạn cá giống - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Hình 4.1 Cá rô phi Đường nghiệp giai đoạn cá giống (Trang 56)
Hình 4.2: Ao chứa cá giống để xuất bán - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Hình 4.2 Ao chứa cá giống để xuất bán (Trang 56)
Hình 4.3: Dùng nhiệt kế đo nhiệt độ nước - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Hình 4.3 Dùng nhiệt kế đo nhiệt độ nước (Trang 57)
Hình 4.4. Bán cá rô phi Đường Nghiệp giai đoạn cá giống - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Hình 4.4. Bán cá rô phi Đường Nghiệp giai đoạn cá giống (Trang 57)
Hình 4.5: Cám Cargill dùng cho cá - Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính đường nghiệp ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống
Hình 4.5 Cám Cargill dùng cho cá (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w