1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng phát hành trái phiếu quốc tế ở việt nam

27 1,3K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 140,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng phát hành trái phiếu quốc tế ở việt nam

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

BỘ MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Đề tài thảo luận THỰC TRẠNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ Ở

VIỆT NAM

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PHÙNG VIỆT HÀ

Trang 2

MỤC LỤC

Lời mở đầu………4

I. LÝ THUYẾT………4

1.1. Tổng quan về Tín dụng quốc tế……… 4

1.2. Các hình thức Tín dụng quốc Tế……….5

1.2.1. Nợ công và nợ nước ngoài……….5

1.2.2. Trái phiếu quốc tế và thị trường trái phiếu quốc tế………6

1.2.2.1. Trái phiếu quốc tế……… 6

1.2.2.2. Thị trường trái phiếu quốc tế……….7

II. TÌNH HÌNH PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY……… 12

II.1. Tình hình phát hành trái phiếu quốc tế của Việt Nam qua các giai đoạn…….12

II.1.1. Đợt phát hành đầu tiên năm 2005……….13

II.1.2. Năm 2007……… 15

II.1.3. Năm 2009……… 17

II.1.4. Năm 2014……… 20

II.2. Trái phiếu quốc tế của doanh nghiệp - Liên hệ thực tế CTCPXD Vinashin….22 II.2.1. Giới thiệu chung về doanh nghiệp Vinashin………22

II.2.2. Quá trình phát hành trái phiếu quốc tế của CTCPXD Vinashin……… 23

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG……… 25

III.1. Những tác động tích cực khi phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế…… 25

III.2. Những thách thức đối với kế hoạch phát hành trái phiếu ra thị trường tài chính quốc tế……… 26

Kết luận……….27

Tài liệu tham khảo……… 27

Trang 3

Việc huy động nguồn vốn trong và ngoài nước của Việt Nam đã đạt được kết quảhết sức khả quan Tuy nhiên, việc huy động vốn trong nước cũng chưa thật sự phát triểnmạnh, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn Do đó, để đẩy nhanh việc huy động nguồn huy độngdài hạn thì việc phát triển thị trường vốn trong thời gian sắp tới là cần thiết Đặc biệt làphát triển thị trường trái phiếu, đây là kênh dẫn vốn quan trọng để ổn định và phát triểnnền kinh tế đất nước.

Với tính cấp thiết của việc phát hành trái phiếu, nhóm 8 chọn đề tài “Thực trạngphát hành trái phiếu quốc tế của Việt Nam” nhằm đưa ra cái nhìn rõ hơn về thị trườngnày, từ đó có những giải pháp mang tính định hướng để việc phát triển trái phiếu quốc tếcủa Việt Nam hoạt động hiệu quả trong ngắn hạn và dài hạn trên thị trường vốn quốc tế

I LÝ THUYẾT

1.1 Tổng quát về Tín dụng quốc tế.

Lịch sử phát triển cho thấy, tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩmcủa nền sản xuất hàng hoá Nó tồn tại song song và phát triển cùng với nền kinh tế hànghoá và là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên những giaiđoạn cao hơn Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội, đã có nhiều kháiniệm khác nhau về tín dụng được đưa ra Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theokhái niệm cơ bản sau:

“Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận”.

Trang 4

Mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau:

- Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định Giá trị này

có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết

nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so vớitổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Nợ nước ngoài

Nợ nước ngoài là một khái niệm cần làm rõ để quản lý một cách hiệu quả, với cáchhiểu khác nhau sẽ cho số liệu khác nhau dẫn đến đánh giá và giải quyết vấn đề nợ khácnhau Theo quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài (Ban hành kèm nghị định số90/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 của Chính phủ) thì không gọi là nợ mà gọi là vay nướcngoài: “Vay nước ngoài là khoản vay ngắn, trung và dài hạn (có hoặc không có lãi) doNhà nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hoặc doanh nghiệp là pháp nhân Việt Nam (kể

cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) vay của tổ chức tài chính quốc tế, của Chínhphủ, của ngân hàng nước ngoài hoặc của tổ chức và cá nhân nước ngoài khác (sau đâygọi là bên cho vay nước ngoài)” Như vậy, theo cách hiểu này nợ nước ngoài là tất cả cáckhoản vay mượn của tất cả các pháp nhân Việt Nam đối với nước ngoài và không baogồm nợ của các thể nhân (nợ của cá nhân và hộ gia đình) Theo 8 tổ chức quốc tế nghiêncứu thống kê nợ nước ngoài, gồm Ngân hàng Thanh toán Quốc tế, Ban Thư ký Khối

Trang 5

Thịnh Vượng chung, Tổ chức Thống Kê Châu Âu, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Tổ chức Hợp tác

và Phát triển Kinh tế, Ban Thư ký Câu lạc bộ Paris, Hội nghị về Thương mại và Phát

triển của Liên Hiệp Quốc, nợ nước ngoài được thống nhất định nghĩa: “Tổng nợ nước

ngoài tại bất kỳ thời điểm nào, là tổng dư nợ của các nghĩa vụ nợ tại thời điểm đó, không bao gồm các nghĩa vụ nợ dự phòng, đòi hỏi người đi vay phải thanh toán nợ gốc có hay không có lãi trong tương lai và khoản nợ này là nợ của người cư trú với người không cư trú trong quốc gia”.

1.2.2 Trái phiếu quốc tế và thị trường trái phiếu quốc tế

1.2.2.1 Trái phiếu quốc tế

Khái niệm

Trái phiếu quốc tế là chứng chỉ vay nợ do nhà phát hành bao gồm chính phủ, chínhquyền địa phương các tổ chức kinh tế của một nước hay các tổ chức tài chính quốc tếphát hành trên thị trường vốn quốc tế nhằm huy động vốn từ các nhà đầu tư trên thế giới

Phân loại

Phân loại theo nhà phát hành

- Trái phiếu chính phủ - Trái phiếu doanh nghiệp, ngân hàng

- Trái phiếu của các tổ chức quốc tế

Phân loại theo thị trường phát hành

- Trái phiếu nước ngoài

- Trái phiếu châu Âu

Phân loại theo lãi suất

- Trái phiếu có lãi suất cố định

- Trái phiếu có lãi suất biến đổi

- Trái phiếu có lãi suất chiết khấu

Trang 6

c Lãi suất của các trái phiếu rất khác nhau, được quy định bởi các yếu tố:

+ Cung cầu vốn trên thị trường tín dụng Lượng cung cầu vốn đó lại tuỳ thuộc vàochu kỳ kinh tế, động thái chính sách của ngân hàng trung ương, mức độ thâm hụt ngânsách của chính phủ và phương thức tài trợ thâm hụt đó

+ Mức rủi ro của mỗi nhà phát hành và của từng đợt phát hành Cấu trúc rủi ro của lãisuất sẽ quy định lãi suất của mỗi trái phiếu Rủi ro càng lớn, lãi suất càng cao

+ Thời gian đáo hạn của trái phiếu Nếu các trái phiếu có mức rủi ro như nhau, nhìnchung thời gian đáo hạn càng dài thì lãi suất càng cao

1.2.2.2 Thị trường trái phiếu quốc tế - khái niệm, phân loại và diễn biến

Khái niệm và phân loại

Theo cách phân loại cơ bản thì thị trường trái phiếu quốc tế gồm có thị trường tráiphiếu nước ngoài (Foreign bond market), thị trường trái phiếu Châu Âu (EurobondMarket) Nói đơn giản, thị trường trái phiếu quốc tế là nơi mà các chủ thể phát hành vàchủ thể đầu tư đến từ nhiều quốc gia khác nhau Khi một trái phiếu do người không cư trúphát hành vào một quốc gia mà được định giá bằng bản tệ của quốc gia đó thì trái phiếu

đó gọi là trái phiếu nước ngoài và tạo nên thị trường trái phiếu nước ngoài Khi một tráiphiếu được do người không cư trú phát hành vào một quốc gia mà được định giá bằngđồng tiền không phải nội tệ quốc gia đó thì gọi là trái phiếu Châu Âu và tạo ra thị trườngtrái phiếu Châu Âu Global bond là loại trái phiếu được phát hành đồng thời ở nhiều quốcgia khác nhau, được định giá bằng nhiều loại tiền tệ, là nội tệ của các quốc gia được pháthành Do đó, có tài liệu phân loại Euro Bond là một phần của Global bond

Trang 7

II TÌNH HÌNH PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU QUỐC

TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Tình hình phát triển trái phiếu quốc tế của Việt Nam qua các giai đoạn

Trong giai đoạn hiện nay và những năm tới, nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệphóa hiện đại hóa đất nước ngày càng lớn Bên cạnh việc khai thác nguồn vốn đầu tư trongnước, cần phải huy động nguồn vốn từ nước ngoài bằng các hình thức khác nhau để đápứng nhu cầu phát triển đất nước Vì vậy, Việt Nam đã mạnh dạn tham gia thị trường tráiphiếu Quốc tế và đã thu được những tín hiệu đáng mừng song song với những lo ngại vàthách thức! Cùng điểm lại các đợt phát hành trái phiếu quốc tế của Việt Nam ra thịtrường thế giới, đặc biệt là lần phát hành đầu tiên vào năm 2005

2.1.1 Đợt phát hành đầu tiên 2005

Đề án phát hành trái phiếu quốc tế đã được Bộ Tài chính “thai nghén” từ cách đâyhơn 10 năm Năm 1994, ngay sau khi Trung Quốc phát hành trái phiếu lần đầu tiên ra thịtrường thế giới, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính bắt tay vào nghiên cứu, học hỏi kinhnghiệm để xây dựng đề án này Năm 2005, thời cơ đã đến khi các yếu tố “thiên-thời-địa-lợi” chín muồi: Kinh tế trong nước phát triển, nợ nước ngoài ở mức an toàn, thị trường tàichính thế giới ổn định cộng với nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngày một lớn

Việc Việt Nam lựa chọn thời điểm cuối tháng 10/2005 để phát hành trái phiếu là hếtsức đúng đắn bởi trong khi vay thương mại từ các ngân hàng trong nước đang ở một mặtbằng lãi suất cao thì việc huy động nguồn ngoại tệ từ bên ngoài với lãi suất thấp hơn sẽtạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế Đặc biệt, trong bối cảnh nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) đangngày càng bị thu hẹp dần và dự kiến đến năm 2010 sẽ “biến mất” khỏi cơ cấu vốn vay, thìtrái phiếu sẽ trở thành một kênh huy động vốn quan trọng cho đầu tư phát triển

"Hiếm thấy lần phát hành trái phiếu Chính phủ đầu tiên nào thu được thành công nhưcủa Việt Nam" là nhận định được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đưa ra Bằng chứng là sốlượng nhà đầu tư đặt mua trái phiếu lên tới trên 255 nhà đầu tư lớn (so với 150 nhà đầu tưmua trái phiếu của Chính phủ Indonesia đầu tháng 10/2005) Tính trung bình, mỗi nhàđầu tư chỉ mua được khoảng 20% lượng đặt mua, thậm chí có nhà đầu tư không muađược trái phiếu Việc nhiều nhà đầu tư lớn tham gia mua trái phiếu Việt Nam sẽ là điềukiện tốt để tăng tính thanh khoản cho trái phiếu khi giao dịch trên thị trường thứ cấp, tạothuận lợi cho những lần phát hành tiếp theo

Trang 8

Ngay ngày đầu tiên tại Hồng Kông (19/10), số lượng các nhà đầu tư đặt mua đã đạtkhoảng 1 tỷ USD, gấp 2 lần số lượng trái phiếu Chính phủ Việt Nam định phát hành Đếnngày 26/10, sau khi Chính phủ quyết định tăng khối lượng phát hành thêm 250 triệuUSD, số lượng các nhà đầu tư đặt mua đã tăng lên tới hơn gấp 3 lần từ mức trên 1 tỷUSD lên khoảng 3 tỷ USD Ngày định giá trái phiếu, 29/10, số lượng các nhà đầu tư đặtmua đã lên tới con số kỷ lục 4,5 tỷ USD, tức là gấp 6 lần mức Chính phủ Việt Nam pháthành trong đợt này Tất cả các nhà đầu tư quan trọng, có uy tín lớn trên thị trường tàichính thế giới từ Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ đều quan tâm tham gia đặt mua tráiphiếu của Chính phủ VN với số lượng lớn Đặc biệt lần này một số Ngân hàng trungương và các tổ chức đầu tư của Chính phủ các nước trong khu vực Châu Á đặt mua tới 50

- 100 triệu USD Trong đó có Ngân hàng dự trữ quốc gia Malaysia tính đến nay chưatừng mua trái phiếu Chính phủ của quốc gia nào thì nay đã đặt mua trái phiếu của Chínhphủ VN Đặc biệt, còn dùng cả tiền dự trữ để tham gia mua 50 triệu USD Điều nàychứng tỏ, sức hút mạnh mẽ của trái phiếu Việt Nam trên thị trường vốn quốc tế

Kết quả, 750 triệu USD trái phiếu đã được bán hết với lãi suất danh nghĩa là6,875%/năm; trong đó các nhà đầu tư châu Á nắm giữ 38%, châu Âu 32% và Mỹ là 30%.Trong số các nhà đầu tư này, các quỹ đầu tư tài chính là đối tượng quan tâm nhiều nhấtđến trái phiếu của Việt Nam (chiếm tới 52%), còn lại là ngân hàng (25%), các công tybảo hiểm (17%) và các tổ chức tài chính khác (7%)

Lãi suất coupon là 6,875%, giá bán là 99,223 USD Điều này có nghĩa là lãi suất thực

mà Việt Nam phải trả cho trái phiếu này là 7,13%/năm Mức lãi suất này được coi là thấp

so với các nước có mức tín nhiệm tương đương với Việt Nam Ở thời điểm hiện tại, lãisuất trái phiếu chính phủ của Indonesia là 7,717%/năm, Philippines là 8,59% Hầu hết cácnước Nam Mỹ như Brasil, Argentina, Colombia đều phải chịu mức lãi suất cao hơn 7,5%

So với một số nền kinh tế mạnh như Hàn Quốc, Úc, Nga thì mức lãi suất mà Việt Namphải chịu chỉ cao hơn từ 1,32-1,65%

30 giây sau khi được định giá phát hành ở thị trường sơ cấp, trái phiếu Chính phủ ViệtNam đã được giao dịch trên thị trường thứ cấp và giá trái phiếu đã tăng khoảng 5 điểm,sau 15 phút tăng lên 10 điểm và đến ngày 1/11 vẫn giữ ở mức tăng 10 điểm so với lúcđịnh giá phát hành

Việc phát hành trái phiếu quốc tế của Việt Nam thành công là một tín hiệu tích cực.Điều này thể hiện mức tín nhiệm của Việt Nam đã gia tăng làm cho các nhà đầu tư nướcngoài yên tâm hơn khi đầu tư vào Việt Nam Có thể sau sự kiện này, việc thu hút nguồnvốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) cũng như gián tiếp (FPI) sẽ gia tăng, thúc đẩy hơn

Trang 9

nữa kinh tế Việt Nam tăng trưởng Việc trái phiếu bán chạy trên thị trường quốc tế cũng

là điều kiện để Việt Nam có thể huy động thêm nguồn vốn, tăng cường đầu tư, thúc đẩy

cỗ máy tăng trưởng, khi mà nguồn vốn trong nước đang đi dần đến điểm bão hòa, khóhuy động hơn Việc phát hành trái phiếu quốc tế của Việt Nam sẽ có những tác tích cực.Tuy nhiên, nếu không có những giải pháp hợp lý, những bất lợi sẽ nổi lên, đôi khi triệttiêu hẳn những tác động tích cực, thậm chí còn làm cho tình huống trở nên tồi tệ hơn

Huy động trái phiếu có nghĩa là chính phủ đi vay ở nước ngoài Đã đi vay thì phải trả

mà còn phải trả với lãi suất cao Một khoản đi vay chỉ có thể trả được khi suất sinh lợi mà

nó làm ra tối thiểu phải bằng lãi suất đi vay Con số cụ thể ở đây là 7,125% Vấn đề đặt rađầu tiên đối với khoản vay này là phải sử dụng một cách hiệu quả Có nghĩa là, việc sửdụng khoản vốn này không được rơi vào vết xe đổ của các khoản vốn vay ODA

Đây là đợt phát hành TPQTCP lần đầu tiên của VN ra thị trường vốn quốc tế và giaodịch này khẳng định cam kết của VN hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế thế giới Đây làbước đi "khai phá" đầy thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận vào thị trườngvốn quốc tế Tín hiệu vui là thị trường quốc tế đã đón nhận mạnh mẽ và hi vọng giao dịchlần này sẽ khuyến khích hơn nữa sự quan tâm của các nhà đầu tư đối với VN Đợt huyđộng vốn từ Quốc tế lần đầu tiên của Việt Nam đã mang lại những dấu hiệu tốt song bêncạnh đó cần phải xem xét để sử dụng nguồn vốn ấy thật hợp lí, để không trở nên lãng phí,thành gánh nặng cho thế hệ sau

Theo Bộ Tài chính, trong giai đoạn 2006-2010, Việt Nam cần có nguồn vốn đầu tưkhoảng 140 tỷ USD, trong đó nguồn vốn trong nước là 91 tỷ USD – chiếm tỷ trọng 65%,phần còn lại khoảng 49 tỷ USD dự kiến huy động bổ sung từ các nguồn vốn bên ngoàinhư FDI – 13 tỷ USD, ODA – 11 tỷ USD và vay thương mại của Chính phủ, doanhnghiệp khoảng 25 tỷ USD

Bộ Tài chính đánh giá việc phát hành trái phiếu lần này sẽ tiếp tục khả quan do hệ sốtín nhiệm của Việt Nam năm 2006 - 2007 đã được cải thiện Công ty đánh giá hệ số tínnhiệm Moody’s nâng đánh giá về triển vọng cho Việt Nam từ “ổn định” lên “tích cực” là

Trang 10

tiền đề cho việc nâng hạng cho Việt Nam thời gian tới Ngoài ra, OECD cũng đã nângmức phân loại rủi ro cho Việt Nam từ bậc 5 lên bậc 4 giúp mức bảo hiểm tín dụng chocác khoản vay của Việt Nam giảm được khoảng 3%.

Bên cạnh đó, tình hình giao dịch trái phiếu Việt Nam trên thị trường thứ cấp sau đợtphát hành năm 2005 cũng khả quan Trái phiếu Chính phủ sau khi phát hành tăng giá liêntục lên 104% (tương đương mức lãi suất 6,4-6,5%) trong suốt thời gian dài Từ đầu nămđến nay, giá trái phiếu có xu hướng tăng ổn định, tại thời điểm ngày 24/4/2007, mức giá

đã đạt tới 107,5% - tương đương lãi suất 5,766%

Căn cứ vào các biến động thị trường và lãi suất trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ, Bộ Tàichính nhận định rằng năm 2007 là thời điểm thuận lợi để phát hành trái phiếu ra thịtrường vốn quốc tế

Ngày 5.6, Chính phủ đã thông qua đề án phát hành trái phiếu Chính phủ Việt Nam rathị trường vốn quốc tế năm 2007 với giá trị khoảng 1 tỉ USD có thời hạn 15 và 20 năm.Sau khi Văn phòng Chính phủ đã hoàn chỉnh các thủ tục để trình lên Thủ tướng, Thủtướng ký ban hành nghị quyết về vấn đề này

Bộ Tài chính lựa chọn khoảng 3 ngân hàng đầu tư nước ngoài hàng đầu làm đồng bảolãnh chính - đồng quản lý sổ đăng ký đầu tư theo hình thức chào thầu trực tiếp Đượcbiết, nguồn vốn 1 tỉ USD từ việc phát hành trái phiếu dự kiến được phân bổ cho dự ánNhà máy lọc dầu Dung Quất là 700 triệu USD (thời hạn vay 16 năm); cho dự án thủyđiện Xê Ca Mản 3 là 60 triệu USD (thời gian thu hồi vốn khoảng 10 năm) và cho dự ánmua tàu vận tải của Tổng công ty hàng hải Việt Nam (Vinalines) là 240 triệu USD

Có thể nói, năm 2007, thị trường trái phiếu Việt Nam vẫn giữ được tốc độ tăng trưởngkhá khả quan, bất chấp thị trường tài chính Việt Nam biến động, với quy mô tăng từ 11%GDP năm 2006 lên 13% GDP cuối 2007 Sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài đã tănglên đáng kể, khối này đã mua 50% khối lượng trái phiếu phát hành Mặc dù tính thanhkhoản của Thị Trường Trái Phiếu Việt Nam vẫn bị hạn chế do tồn tại quá nhiều loạinhưng tới năm 2008, khả năng phát triển của thị trường này vẫn được đánh giá là khá lớn.Đây sẽ là động lực cơ bản cho sự thành công của các kế hoạch phát hành Trái phiếu Quốctế

Mặc dù nhận thức rõ các lợi ích có thể đem lại từ phát hành trái phiếu quốc tế, songhiện nay, việc phát hành loại trái phiếu này đang gặp phải rất nhiều khó khăn trước mắt

Kế hoạch phát hành 1 tỷ USD trái phiếu ra thị trường quốc tế từ tháng 6/2007 đã bị hoãnlại, và vẫn chưa có doanh nghiệp nào tiếp tục thực hiện được hoạt động này Bắt nguồn từ

Trang 11

bối cảnh kinh tế toàn cầu, đặc biệt là nền kinh tế Mỹ gặp khó khăn, thị trường tài chínhquốc tế tạm rơi vào tình trạng trầm lắng khiến các nhà đầu tư Mỹ cũng như các nướckhác có phần dè dặt hơn trong việc tham gia đầu tư vào trái phiếu của các quốc gia khác.

Về phía bản thân các chủ thể trong nước, để phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tếthì hiện tại doanh nghiệp vẫn đang gặp các trở ngại nhất định về định giá hệ số tín nhiệm,

về năng lực tài chính, về khâu kiểm toán Điều quan trọng nhất lúc này là các doanhnghiệp Việt Nam phải chuẩn bị tất cả các điều kiện phát hành và chờ đến khi thị trườngphục hồi trở lại sẽ chớp lấy thời cơ doanh nghiệp Việt Nam phải xác định được nhà đầu

tư vào trái phiếu là ai để công bố công khai kế hoạch phát hành, mục đích huy động vốn,tình hình hoạt động một cách minh bạch Đây là điều kiện tối cần thiết để đẩy nhanhtiến trình thâm nhập thị trường vốn quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam, từ đó tạotiền lệ mở đường cho phát hành cổ phiếu và niêm yết quốc tế

2.1.3 Năm 2009

Đợt I

Ngày 13/02/09, Thủ tướng vừa ký ban hành Quyết định số 211/QĐ-TTg về việc phát

hành trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ trên thị trường vốn trong nước.

Theo đó, Bộ Tài chính sẽ quyết định khối lượng của từng đợt phát hành trên cơ sởnhu cầu vốn đầu tư cho các dự án trọng điểm và nhu cầu bù đắp bội chi ngân sách nhànước Và để huy động vốn cho các công trình trọng điểm phục vụ nhập khẩu thiết bị, máymóc Đồng thời, Thủ tướng cũng giao Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định lãi suất tráiphiếu cho từng đợt phát hành sau khi tham khảo ý kiến của Thống đốc Ngân hàng Nhànước

Kỳ hạn trái phiếu là 1 năm trở lên, được niêm yết và giao dịch tại sở giao dịch chứngkhoán Trái phiếu Chính phủ được phát hành theo phương thức bảo lãnh, đấu thầu hoặcbán lẻ thông qua hệ thống kho bạc Nhà nước

Ngày 12/3/2009, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 505/QĐ-BTC về việc pháthành trái phiếu đợt I năm 2009 Cụ thể, trái phiếu được phát hành, niêm yết, giao dịch vàthanh toán bằng đồng USD Mệnh giá trái phiếu: 100 USD/trái phiếu hoặc bội số của

100 USD Trong đó, loại trái phiếu phát hành dưới hình thức ghi sổ, huy động 100triệu USD kỳ hạn 1 năm; 100 triệu USD loại trái phiếu có kỳ hạn 2 năm và 100triệu USD loại trái phiếu có kỳ hạn 3 năm

Trang 12

Trái phiếu có lãi suất cố định áp dụng cho cả kỳ hạn; Lãi suất đặt thầu được tính theo

tỉ lệ phần trăm (%) và có phần thập phân tối đa là 2 chữ số; Lãi suất trần sẽ do Bộ trưởng

Bộ Tài chính quy định; Lãi suất trúng thầu được xác định trên sơ sở kết quả đấu thầu

Tiền lãi trái phiếu được thanh toán định kỳ hàng năm vào ngày phát hành trái phiếu;Tiền gốc trái phiếu được thanh toán một lần bằng mệnh giá khi đến hạn Ngân sách Nhànước đảm bảo nguồn thanh toán gốc, lãi trái phiếu khi đến hạn

Ngày 16/6, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ

bằng ngoại tệ năm 2009 khoảng 1 tỷ USD cho mục đích đầu tư cho các dự án trọng điểm

và bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước, theo Quyết định số 211/QĐ-TTg ngày 13/2/2009của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ trên thịtrường vốn trong nước

Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngânhàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục theo dõi quan hệ cung cầu trên thị trường để xem xétquyết định việc phát hành trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ tại thị trường vốn trongnước các đợt tiếp theo trong năm 2009 vào thời điểm thích hợp

Đợt II

Ngày 17/8, Bộ Tài Chính ban hành Quyết định 1958/QĐ- BTC về việc phát hành tráiphiếu Chính phủ bằng ngoại tệ đợt II năm 2009 Theo đó, Kho bạc Nhà nước phát hànhthêm trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ trên thị trường nội địa với tổng khối lượng pháthành là 250 triệu Thời gian phát hành từ ngày 20/8/2009 đến hết ngày 31/8/2009, trong

đó loại trái phiếu có kỳ hạn 1 năm có khối lượng 100 triệu USD; kỳ hạn 2 năm có khốilượng 100 triệu USD và kỳ hạn 3 năm có khối lượng 50 triệu USD

Trái phiếu sẽ được bán bằng mệnh giá là 100 USD/trái phiếu và được phát hành thôngqua hình thức đấu thầu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội Đợt phát hành trái phiếubằng ngoại tệ lần này nhằm mục đích đầu tư cho các dự án trọng điểm và bù đắp bội chiNgân sách Nhà nước

Kết quả hai đợt phát hành trái phiếu:

Đợt 1:

Trang 13

Nguồn từ HNX

Ngày đấu thầu

20/03/2009

24/03/2009

27/03/2009

Mức lãi suất đăng ký thấp nhất 1,50% 1,95% 2,15%

Mức lãi suất đăng ký cao nhất 6,00% 6.00% 7,00%

Khối lượng trúng thầu (triệu

Ngày đăng: 24/08/2015, 07:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w