1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

SO SÁNH kết QUẢ điều TRỊ PHẪU THUẬT gãy góc XƯƠNG hàm dưới GIỮA PHƯƠNG PHÁP CHAMPY THƯỜNG QUI và CHAMPY PHỐI hợp nút CHỈ THÉP CĂNG lực

3 347 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 223,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Y học thực hành 816 - số 4/2012 122 SO SáNH KếT QUả ĐIềU TRị PHẫU THUậT GãY GóC XƯƠNG HàM DƯớI GIữA PHƯƠNG PHáP CHAMPY THƯờNG QUI Và CHAMPY PHốI HợP NúT CHỉ THéP CĂNG LựC Nguyễn Quang

Trang 1

Y học thực hành (816) - số 4/2012 122

SO SáNH KếT QUả ĐIềU TRị PHẫU THUậT GãY GóC XƯƠNG HàM DƯớI

GIữA PHƯƠNG PHáP CHAMPY THƯờNG QUI Và CHAMPY PHốI HợP NúT CHỉ THéP CĂNG LựC

Nguyễn Quang Hải - Trường Đại học Y Dược Huế

Nguyễn Bắc Hùng, Nguyễn Mạnh Hà

Trường Đại học Y Hà Nội

Tóm tắt

Mục tiêu: so sánh kết quả điều trị phẫu thuật gãy

góc xương hàm dưới giữa phương pháp Champy

thường qui và Champy phối hợp nút chỉ thép căng lực

Phương pháp nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng có

đối chứng 98 bệnh nhân gãy góc xương hàm dưới,

chia 2 nhóm: nhóm I được phẫu thuật theo phương

pháp Champy thường qui (nhóm chứng); nhóm II được

phẫu thuật theo phương pháp Champy phối hợp nút

chỉ thép căng lực (đối chứng) Đánh giá kết quả ở 3

thời điểm: ngay sau mổ, sau mổ 3 và 6 tháng Nghiên

cứu tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương và Bệnh

viện Việt Nam – Cu Ba, Hà Nội từ 02/2009 – 08/2011

Kết quả: tuổi trung bình 23,95 ± 6,83, nam chiếm

79,6% và phân bố giới tính ở 2 nhóm là như nhau (p >

0,05) Nhóm II có kết quả tốt về mặt giải phẫu (đường

viền xương, 83,7%; khoảng hở giữa hai đầu gãy,

98,0%) và về mặt chức năng (há miệng tối đa, khớp

cắn) cao hơn nhóm I với p < 0,01 Tuy nhiên, biến

chứng sau mổ giữa hai nhóm không có sự khác biệt với

p >0,05 Kết quả tốt chung sau mổ 3 và 6 tháng (giải

phẫu, chức năng, thẩm mỹ và biến chứng) của nhóm II

vẫn cao hơn nhóm I với p < 0,01

Kết luận: kết hợp xương gãy góc hàm theo phương

pháp Champy phối hợp nút chỉ thép căng lực có kết

quả tốt hơn so với phương pháp Champy thường qui

Từ khóa: gãy góc xương hàm dưới, phương pháp

Champy, nút chỉ thép căng lực

summary

Objective: to compare the results of surgery of

mandibular angle fracture between the standard

Champy’s method and the Champy’s method

associating the tension wire loop

Methods: controlled clinical trial study 98 patients

with mandibular angle fractures were divided into two

group: Group I were operated by the standar

Champy’s method (control group); Group II were

operated by the Champy’s method associating loop of

tension wire (experimental group) Evaluation of results

at 3 times: immediately after surgery, 3 and 6 months

after surgery This study were performed at National

Hospital of Odonto-Stomatology and Vietnam–Cuba

Hospital in Ha Noi from 02/2009 to 08/2011

Results: average age 23,95 ± 6,83, males account

for 79,6%, gender distribution is similar in two groups

(p> 0.05) Group II had good results in terms of

anatomy (bone contour, 83.7%; gap between the ends

of fractures, 98.0%) and in terms of functions

(maximum degree of open-mouth and occlusion) were

higher than group I with p <0.01 However,

postoperative complications between the two groups

did not differ with p > 0.05 Generally good results 3

and 6 months after surgery (anatomy, function,

aesthetics and complications) of group II was higher in group I with p <0.01

Conclusions: Osteosynthesis of mandibular angle fractures with the Champy’s method associating the tension wire loop has better results than the standard Champy’s method

Keywords: mandibular angle fractures, Champy’s

method, tension wire loop

ĐặT VấN Đề

Gãy góc xương hàm dưới rất thường gặp và có tỷ lệ biến chứng rất cao, có thể đến 32% [3] Trên thế giới, hiện nay vẫn đang còn tranh luận về việc xác định phương pháp điều trị tốt nhất cho gãy góc hàm; tuy nhiên hiện nay đa số phẫu thuật viên có khuynh hướng lựa chọn phẫu thuật đường trong miệng và ít sang chấn phần mềm [2] Từ 1975, Champy dựa trên cơ sở của Michelet đưa ra phương pháp Champy” trong kết hợp xương gãy góc hàm, sau đó phương pháp này

được phổ biến rất nhanh khắp Châu Âu và Bắc Mỹ, khoảng 50 – 80% các phẫu thuật viên áp dụng phương pháp Champy [2] [3] Do phương pháp Champy có kỹ thuật đơn giản, sử dụng đường rạch trong miệng, ít gây sang chấn phần mềm và chỉ cần 1 nẹp vít nhỏ 2.0 mm [6] Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp Champy gặp phải một số hạn chế như khó nắn chỉnh bằng đường trong miệng, và sau mổ có hở

đường gãy góc hàm tại bờ dưới [7] Để khắc phục hạn chế trên, Wang R.C (2007) đã đưa ra phương pháp Champy phối hợp nút chỉ thép căng lực[8] ở nước ta,

đến nay chưa thấy có nghiên cứu nào về 2 phương pháp trên, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này

nhằm mục tiêu: so sánh kết quả điều trị phẫu thuật gãy góc hàm giữa phương pháp Champy thường qui và Champy phối hợp nút chỉ thép căng lực

ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

1 Đối tượng nghiên cứu: gồm 98 bệnh nhân chấn

thương hàm mặt có gãy góc xương hàm dưới điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương

và Bệnh viện Việt Nam - Cu Ba, Hà Nội từ 02/2009 đến 08/2011

* Tiêu chuẩn chọn: Bệnh nhân gãy góc xương hàm dưới một đường, đơn thuần hoặc phối hợp với đường gãy ở vị trí khác của xương hàm dưới Điều trị phẫu thuật trong vòng 7 ngày sau chấn thương [9] Kết hợp xương theo phương pháp Champy thường qui hoặc Champy phối hợp nút chỉ thép căng lực Theo dõi khi

điều trị và đánh giá sau khi ra viện

* Tiêu chuẩn loại trừ: không thuộc tiêu chuẩn chọn

2 Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu thử

nghiệm lâm sàng có đối chứng

Trang 2

Y học thực hành (816) - số 4/2012 123

Chúng tôi thu thập thông tin chung, khám lâm

sàng, X quang, đưa ra chẩn đoán xác định, và lên kế

hoạch phẫu thuật Bệnh nhân sắp xếp ngẫu nhiên vào

hai nhóm:

- Nhóm I: phẫu thuật kết hợp xương theo phương

pháp Champy thường qui

- Nhóm II: kết hợp xương theo phương pháp

Champy phối hợp nút chỉ thép căng lực

- Đánh giá kết quả ngay sau mổ, sau mổ 3 và 6

tháng dựa vào tiêu chuẩn đánh giá về giải phẫu, chức

năng, thẩm mỹ và biến chứng của Rudolf Seemann

(năm 2010) [9]:

Tiêu chí đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gãy

góc xương hàm dưới

Tiêu chí đánh giá Tốt Khá Kém

Giải

phẫu

- Đường viền xương trên

phim

- Khoảng hở giữa hai đầu

gãy

Đúng

< 1mm

Sai ≤ 1

mm 1- 2mm

Sai > 1

mm

> 2mm

Chức

năng

- Ăn nhai

- Cảm giác ở vùng KHX

- Há miệng

- Khớp cắn và cắn trung

tâm

Tốt Bình thường

> 3 cm

Đúng, chạm nhau 100%

Được Kích thích

2 – 3 cm

Đúng, hở bên gãy

Khó khăn

Đau

< 2 cm Sai, chạm nhau ≤50

% Thẩm

mỹ

- Khuôn mặt cân đối

- Sẹo vết mổ

Đẹp

Không Chấp nhận

Biến dạng Cần sửa lại Biến chứng Không Tạm thời Vĩnh viễn

3 Xử lý số liệu: dùng phần mềm thống kê SPSS

17.0 và các phép toán thông thường

KếT QUả Và BàN LUậN

1 Tuổi và giới: tuổi trung bình 23,95 ± 6,83 Nam

chiếm đa số 79,6% (78/98), phân bố giới tính ở 2 nhóm

như nhau với P > 0,05 Theo Rudolf Seemann: Nam

chiếm 80,43; tuổi 29.67 ± 12.12 [9]; Aleysson O Paza:

89,0% và 27 tuổi [1]; Kay-Uwe Feller: 82,7% và 29,1

tuổi [5] Kết quả chúng tôi so với Rudolf Seemann;

Kay-Uwe Feller không có sự khác biệt với P > 0,05; tuy

nhiên so với Aleysson thì tỷ lệ nam của chúng tôi thấp

hơn có ý nghĩa với P < 0,05 Vì vậy, gãy góc hàm hay

gặp ở nam, tuổi trung bình 20 – 30 tuổi

2 Đánh giá kết quả về mặt giải phẫu

- Kết quả về khoảng hở giữa hai đầu xương gãy

trên phim X quang sau mổ:

Nhóm I: tốt: 46,9% (23/49), khá: 36,7% (18/49),

kém: 16,3% (8/49)

Nhóm II: tốt: 98,0% (48/49), khá: 2,0% (1/49), kém:

0,0%

Kết quả so sánh thống kê giữa 2 nhóm:2

= 32,013,

p = 0,000…

Kết quả về khoảng hở giữa hai đầu gãy ngay sau

mổ ở nhóm I và II khác biệt có ý nghĩa thống kê, với

P<0,01 Có nghĩa là phương pháp kết hợp xương ở

nhóm II giúp 2 đầu xương gãy tiếp xúc nhau ở mức độ

tốt (< 1 mm) cao hơn nhóm I với P<0,01

Nút chỉ thép căng lực vừa nắn chỉnh hai đầu gãy

vừa nén ép hai đầu gãy lại với nhau vì thế giúp 2 đầu

gãy đúng cấu giải phẫu và áp khít sát nhau

- Kết quả về đường viền xương 2 đầu gãy trên phim

X quang sau kết hợp xương + Ngay sau phẫu thuật: Nhóm I: tốt: 38,8% (19/49),

khá: 51,0% (25/49), kém: 10,2% (5/49) Nhóm II: tốt: 83,7% (41/49), khá: 14,3% (7/49), kém: 2,0% (1/49)

+ 6 tháng sau mổ: Nhóm I: tốt: 32,7% (16/49), khá:

57,1,0% (28/49), kém: 10,2% (5/49) Nhóm II: tốt: 81,6% (40/49), khá: 16,4% (8/49), kém: 2,0% (1/49)

Đánh giá kết quả về đường viền xương ở cả 2 thời

điểm 3 và 6 tháng sau mổ, Nhóm II tốt hơn nhóm I với P<0,01 Chúng tôi thấy kết quả kém của nhóm I chủ yếu xảy ra ở gãy góc hàm di lệch nhiều, khi mổ lại nắn chỉnh bằng tay nên kết quả kém Còn đối với nhóm II tỉ

lệ tốt chiếm ưu thế do có sử dụng nút chỉ thép căng lực giúp cho việc nắn chỉnh và kết hợp xương theo Champy được dễ dàng và kết quả tốt

3 Đánh giá kết quả về mặt chức năng

- Kết quả đánh giá về mức độ há miệng tối đa ở thời

điểm 3 và 6 tháng sau mổ + 3 tháng sau mổ: Nhóm I: tốt: 77,6% (38/49), khá:

22,4% (11/49), kém: 0,0%

Nhóm II: tốt: 95,9% (47/49), khá: 4,1% (1/49), kém: 0,0%

+ 6 tháng sau mổ: Nhóm I: tốt: 81,6% (40/49), khá:

18,4% (9/49), kém: 0,0%

Nhóm II: tốt: 98,0% (48/49), khá: 2,0% (1/49), kém: 0,0%

So sánh mức độ há miệng tối đa của nhóm I và II ở thời điểm sau mổ 3 tháng (2

= 7,184, p = 0,007), sau

mổ 6 tháng (2

= 7,127, p = 0,008) đều khác biệt có ý nghĩa, với P < 0,01 Nghĩa là há miệng tối đa của nhóm

II cao hơn nhóm I với P < 0,01 Khi nắn chỉnh tốt hai

đầu gãy thì lồi cầu nằm đúng vị trí giúp há miệng tốt hơn

- Kết quả đánh giá về tình trạng khớp cắn sau mổ: + Ngay sau mổ: Nhóm I: tốt: 71,4% (35/49), khá:

28,6% (14/49), kém: 0,0%

Nhóm II: tốt: 95,9% (47/49), khá: 4,1% (2/49), kém: 0,0%

+ 6 tháng sau mổ: Nhóm I: tốt: 75,5% (37/49), khá:

24,5% (12/49), kém: 0,0%

Nhóm II: tốt: 98,0% (48/49), khá: 2,0% (1/49), kém: 0,0%

So sánh khớp cắn bệnh nhân của nhóm I và II ngay sau mổ (2= 10,756; p = 0,001) và 6 tháng sau mổ (2= 10,731; p = 0,001) khác nhau có ý nghĩa với P < 0,01; nghĩa là nhóm II có khớp cắn tốt hơn nhóm I với P<0,01 Hiện tượng khớp cắn đúng nhưng ở cắn trung tâm còn hở khớp vùng răng hàm bên gãy xảy ra chủ yếu ở nhóm I (28,6%, ngay sau phẫu thuật) thường do nắn chỉnh không tốt làm cho đoạn gãy phía cành lên di lệch lên trên và vào trong gây hở khớp vùng răng hàm

4 Đánh giá kết quả về biến chứng sau mổ: Biến

chứng chung xảy ra cho cả 2 nhóm là 7,14% (7/98) Trong đó nhóm I (10,2%) gồm: nhiễm khuẩn: 6,1% (3/49), rối loạn liền thương: 4,1% (2/49); nhóm II (4,1%) gồm: nhiễm khuẩn: 2,0 % (1/49), rối loạn liền thương: 2,0 % (1/49) Còn biến chứng gãy nẹp, gãy vít hoặc long vít kết hợp xương; chớp giả; chấn thương thần kinh nặng không gặp ở cả 2 nhóm So sánh về biến

Trang 3

Y học thực hành (816) - số 4/2012 124

chứng chung sau mổ giữa 2 nhóm không có sự khác

biệt với P > 0,05 (2= 1,385; p = 0,239)

Tỉ lệ biến chứng chung sau mổ của hai nhóm là

7,14%; so với Kay-Uwe Feller: 17,14% [5]; Rudolf

Seemann: 28,43% [9] cao hơn so với kết quả chúng tôi

với P < 0,05 Nhưng so với Jason Potter: 15,2% [4];

Pushkar Mehra: 7,14% [6] thì tỉ lệ không khác biệt so

với kết quả của chúng tôi với P > 0,05

5 Đánh giá kết quả chung sau mổ (giải phẫu,

chức năng, thẩm mỹ và biến chứng)

Đánh giá kết quả chung sau mổ ở thời điểm 3 và 6

tháng sau phẫu thuật

Nhóm I Nhóm II Thời gian

sau mổ

Kết quả

chung n % n %

So sánh kết quả tốt Tốt 30 61,2 42 85,7

Khá 10 20,4 6 12,3

3 tháng

Kém 9 18,4 1 2,0

2

= 7,54;

p=0,0063 Tốt 32 65,3 43 87,8

Khá 12 24,5 5 10,2

6 tháng

Kém 5 10,2 1 2,0

2=6,87;

p=0,0087 Kết quả tốt chung sau mổ của nhóm II cao hơn

nhóm I có ý nghĩa với P < 0,01 Tỉ lệ kết quả chung tốt

chính là tỉ lệ điều trị thành công của phương pháp đó

Đánh giá ở thời điểm sau mổ 6 tháng, tỉ lệ điều trị

thành công ở nhóm II của chúng tôi là 87,8%; so với

Jason Potter:76,12% [4]; Kay-Uwe Feller: 81,15% [5]

không có sự khác biệt với P > 0,05; nhưng so với

Rudolf Seemann: 65,26% thì cao hơn có ý nghĩa (p <

0,01) [9]

KếT LUậN

Kết hợp xương gãy góc hàm theo phương pháp

Champy phối hợp nút chỉ thép căng lực có kết quả tốt

hơn Champy thường qui

TàI LIệU THAM KHảO

1 Aleysson O Paza, Allan Abuabara, (2008),

“Analysis of 115 Mandibular Angle Fractures“, Journal of

Oral and Maxillofacial Surgery, vol 66, pp: 73 - 76

2 Champy M, Lodde JP, (1978), “Mandibular osteosynthesis by miniature screwed plates via a buccal

approach”, J Maxillofacial Surg, vol 6(1), pp:14-21

3 David M Saito, (2008), “Internal fixation of mandibular angle fractures with the Champy technique”,

Operative Techniques in Otolaryngology, vol 19, No 2, pp:

123 – 127

4 Jason Potter, (1999), “Treatment of mandibular angle fractures with a malleable noncompression

miniplate”, J Oral and Maxillofacial Surg, vol 57, pp: 288

– 292

5 Kay-Uwe Feller, (2003), “Analysis of complications

in fractures of the mandibular angle – a study with finite element computation and evaluation of data of 277

patients”, Journal of Cranio-Maxillofacial Surgery, vol 31,

pp: 290-295

6 Pushkar Mehra, (2008), “Internal Fixation of Mandibular Angle Fractures: A Comparison of 2

Techniques”, J Oral and Maxillofacial Surg, vol 66, pp:

2254 – 2260

7 Robert C Wang, (1998), “The Tension Wire Method A Simple, Effective Means of Mandibular

Fixation”, Arch Otolaryngol Head Neck Surg., vol 124,

pp: 448 – 452

8 Robert C Wang, James L.Trabia, Mohamed B,

(2007), “Bone fixation device and method“, Arch

Otolaryngol Head Neck Surg., vol 26, pp: 2 - 6

9 Rudolf Seemann, (2010), “Complication Rates in the Operative Treatment of Mandibular Angle Fractures”,

J Oral and Maxillofacial Surg, vol 68, pp: 647 – 650

Một số yếu tố tiên lượng bệnh nhân uốn ván điều trị

tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới Trung Ương

Vũ Đình Phú, Đồng Phú Khiêm, Nguyễn Thị Quỳnh Liên

Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới Trung Ương

Đặt vấn đề

Uốn ván là một bệnh phổ biến trên toàn thế giới và

có tỷ lệ tử vong cao, nhất là ở những nước đang phát

triển, nơi thiếu các phương tiện hồi sức tỷ lệ tử vong có

thể trên 43% [2],[3] Tại Mỹ, nơi có trình độ y học tiên

tiến và có các trang thiết bị hiện đại, tỷ lệ tử vong do

uốn ván giảm nhiều so với trước nhưng vẫn còn trên

13% [4] Việt Nam là nước đang phát triển có tỷ lệ mắc

bệnh uốn ván cao [5]

Các yếu tố tiên lượng có ý nghĩa quan trọng, quyết

định các biện pháp điều trị, và chăm sóc người bệnh

Nhiều yếu tố tiên lượng bệnh nhân uốn ván được

nghiên cứu và áp dụng rộng rãi từ những năm 70 của

thế kỷ trước Hiện nay nền y học thế giới cũng như

trong nước đã có rất nhiều tiến bộ Sự phát triển trong

lĩnh vực hồi sức cấp cứu đã góp phần quan trọng làm

giảm tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân uốn ván Trong điều

kiện hiện nay, giá trị của những yếu tố tiên lượng bệnh

nhân uốn ván trước đây có thể đã thay đổi Vì vậy

chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu: Tìm hiểu

một số yếu tố tiên lượng bệnh nhân uốn ván điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung Ương từ năm 2006

đến năm 2010

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ bệnh nhân

được chẩn đoán xác định uốn ván điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới Trung Ương từ tháng 06 năm 2006 đến tháng 12 năm 2010 Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không xác định được kết quả điều trị

2 Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu mô tả

Phương pháp tiến hành: Hồi cứu các đặc điểm dịch

tễ, lâm sàng, biện pháp điều trị và kết quả điều trị bệnh nhân uốn ván từ các bệnh án lưu trữ tại Phòng lưu trữ

hồ sơ – Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới Trung Ương

Ngày đăng: 23/08/2015, 21:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w