1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

THỰC TRẠNG QUẢN lý CHẤT THẢI rắn y tế và KIẾN THỨC, THỰC HÀNH của NHÂN VIÊN y tế BỆNH VIỆN đa KHOA ĐÔNG ANH, năm 2011

6 570 5

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 368,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dodson: Complications associated with the placement of dental implants; Oral Maxillofacial Surg Clin N Am 15 2003 243–249 THựC TRạNG QUảN Lý CHấT THảI RắN Y Tế Và KIếN THứC, THựC HàNH C

Trang 1

Vị trí đỉnh mào xương ổ răng sau khi lắp phục hình

2 năm:

Đến vòng

ren thứ 1

Đến vòng ren thứ 2

Quá vòng ren thứ 2

Sau 2 năm lắp phục hình thì mức độ tiêu xương ổ

răng chậm lại, chủ yếu dừng ở vòng ren thứ 2, chiếm

76% Có cá biệt 6 Implant tiêu nhiều hơn đến quá vòng

ren thứ 2

Bàn luận

Tiêu mào xương trong những năm đầu tiên sau khi

lắp Implant là do sang chấn quá mức của tổ chức

xương ổ tiếp giáp với Implant Có nhiều yếu tố giúp

giảm bớt sang chấn như là lực nhai, cánh tay đòn bẩy,

sai lệch chức năng ảnh hưởng lên sự tiêu xương ban

đầu sau khi lắp Abutment

Nhiều nghiên cứu cho thấy mức độ tiêu xương ổ

răng xung quanh Implant trong những năm đầu tiên

sau khi lắp Abutment là vào khoảng 0-0.2mm Adell

nghiên cứu thấy mức độ tiêu mào xương ổ răng trung

bình của các Implant tốt là vào khoảng 0.1mm/năm

sau năm đầu tiên

Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng thấy điều

tương tự, tức là tiêu xương ổ răng tiến triển mạnh trong

năm đầu tiên, từ ngang mức thân Implant thì xương ổ

răng bị tụt xuống ngang mức ren thứ nhất chiếm tỷ lệ

lớn đến >80%

Độ cao của mào xương ổ răng là một trong các tiêu

chí giúp đánh giá sức khỏe của Implant Sang chấn do

phẫu thuật sẽ làm tiêu một ít chiều cao xương ổ răng,

một số trường hợp cá biệt có thể tiêu rất nhiều Bác sĩ phải đánh giá lại chiều cao xương ổ răng trước khi lắp phục hình, vì tiêu mào xương ổ răng là một trong những yếu tố chỉ định ap dụng các biệp pháp điều trị

dự phòng đầu tiên Trong nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy tiêu xương tiến triển không giống nhau giữa các vị trí, điều này có thể liên quan đến nhiều yếu tố nguy cơ khác nhau như là đậm độ xương ở từng vị trí, quá tải cắn ở trên một số răng, thói quen ăn nhai của mỗi bệnh nhân

Kết luận

Qua nghiên cứu tình trạng tiêu xương ổ răng xung quanh Implant trên bệnh nhân cao tuổi chúng tôi nhận thấy:

Có thể cấy Implant thành công trên bệnh nhân cao tuổi (tỷ lệ thành công 97,7%)

Lứa tuổi cao nhất trong nghiên cứu của chúng tôi là

80 tuổi vẫn cho kết quả tốt

Tiêu xương ổ răng quanh Implant xảy ra nhanh trong năm đầu, đến gần vòng ren đầu tiên

Tiêu xương ổ răng của năm thứ 2 thì chậm hơn rất nhiều, khoảng gần 1/2 bước ren/ năm

Tài liệu tham khảo

1 Abd El Salam El Askary: RECONSTRUCTIVE AESTHETIC IMPLANT SURGERY; 2003 Blackwell Munksgaard, Published By Iowa State Press, A Blackwell Publishing Company

2 Leon Ardekian, Thomas B Dodson: Complications associated with the placement of dental implants; Oral Maxillofacial Surg Clin N Am 15 (2003) 243–249

THựC TRạNG QUảN Lý CHấT THảI RắN Y Tế Và KIếN THứC, THựC HàNH

CủA NHÂN VIÊN Y Tế BệNH VIệN ĐA KHOA ĐÔNG ANH, NĂM 2011

Hoàng Thị Thúy, Phan Văn Tường Tóm tắt

Kết quả nghiên cứu về thực trạng quản lý chất thải

rắn y tế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế

bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2011 cho thấy: hầu

hết các dụng cụ thu gom chất thải của bệnh viện còn

thiếu, chưa đồng bộ và chưa đạt đủ theo các tiêu

chuẩn của Bộ Y tế quy định Các chất thải được phân

loại ngay tại nguồn phát sinh, chủ yếu thành hai nhóm

là chất thải lây nhiễm và chất thải thông thường Công

tác thu gom, vận chuyển chất thải được đảm bảo về

tần suất và thời gian quy định, tuy nhiên cách thức tiến

hành còn chưa đúng, tỷ lệ thu gom lẫn các chất thải

còn cao (33,9%), vận chuyển chất thải bằng tay là chủ

yếu Thời gian lưu giữ chất thải ở nơi tập trung dài (trên

48 giờ) trong khi điều kiện bảo quản chưa bảo đảm

đúng quy định Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nhân

viên y tế đạt kiến thức chung về quản lý chất thải tương

đối cao (86,8%), tuy nhiên kiến thức của nhân viên y tế

về các nhóm chất thải, các chất thải lây nhiễm còn rất

thấp (27,2% và 54,4%) Tỷ lệ nhân viên y tế đạt thực

hành phân loại chất thải là 82,4%, thu gom là 52,6%,

vận chuyển là 52,6% và lưu giữ chất thải là 100% Có

mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thâm niên công

tác với kiến thức về chất thải lây nhiễm: những người

có thâm niên công tác lâu (từ 10 năm trở lên) có kiến thức về các chất thải lây nhiễm kém hơn những người ở nhóm thâm niên công tác dưới 10 năm; Kiến thức và thực hành phân loại chất thải có mối quan hệ với nhau (những người có kiến thức tốt hơn thì thực hành tốt hơn); Thiếu kinh phí được coi là một yếu tố chính ảnh hưởng đến các hoạt động phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải

SUMMARY

This study was carry out in Dong Anh District Hospital; the results are: Shortage of for waste management Equipment Concerning capacity and timely for waste collection are not properly with the required procedures (33,9%); Knowledge of staff reached 86,8%; Practice on waste clarification is 82,4%; waste collection practice is 52,6% There are significant relationship between knowledge of waste management with working year of (staff have been working more than 10 years have better knowledge) Proposal are raised: Equipped with tools, equipment and facilities meet the standards prescribed

by the Ministry of Health to serve the sorting,

Trang 2

collection, transportation and waste storage To

enhance training, training for all health workers in

knowledge, practice waste management The relevant

departments, especially the leaders of science, in a

hospital room (department head, dean of nursing) to

strengthen the inspection and supervision of all stages

of waste management processes Increase funding for

the use of medical waste management in general and

medical solid waste in particular Need to review the

form of allocation of funds to manage their waste on

self-management for each department as at present as

this will be difficult to ensure uniformity, and difficult to

control the quality required of the instruments,

packaging waste containers

ĐặT VấN Đề

Chất thải rắn y tế có chứa một lượng lớn các chất

thải lây nhiễm và độc hại, có nhiều tác động tiêu cực

đến sức khỏe con người và môi trường nếu như chúng

không được quản lý đúng cách Sau 4 năm triển khai

và áp dụng quy chế quản lý chất thải tại bệnh viện đa

khoa Đông Anh, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu

nhằm đánh giá công tác quản lý chất thải tại bệnh

viện đồng thời kiểm tra, kiến thức, thực hành của

nhân viên y tế về vấn đề này và xác định các yếu tố

liên quan đến công tác quản lý chất thải

Mục tiêu: Đánh giá thực trạng phân loại, thu gom,

vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế tại các khoa lâm

sàng bệnh viện đa khoa Đông Anh, năm 2011; Mô tả

kiến thức, thực hành của nhân viên y tế của các khoa

lâm sàng bệnh viện đa khoa Đông Anh về phân loại,

thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế

Xác định các yếu tố liên quan đến hoạt động phân

loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn tại

bệnh viện đa khoa Đông Anh

ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

1 Đối tượng

Cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý chất thải gồm:

dụng cụ phân loại, thu gom, phương tiện vận chuyển,

khu vực lưu giữ chất thải y tế

Điều dưỡng viên, hộ sinh viên, hộ lý của 8 khoa lâm

sàng của bệnh viện

Lãnh đạo của các khoa, phòng: trưởng khoa Kiểm

soát nhiễm khuẩn, trưởng phòng Điều dưỡng, điều

dưỡng trưởng của 8 khoa lâm sàng trong bệnh viện

2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 5 năm 2011

đến tháng 9 năm 2011 tại 8 khoa lâm sàng và khu vực

lưu giữ chất thải bệnh viện đa khoa Đông Anh

3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt

ngang, kết hợp định lượng và định tính

4 Chọn mẫu và cỡ mẫu

- Với nghiên cứu định lượng: Toàn bộ điều dưỡng

viên, hộ sinh viên và hộ lý viên của 8 khoa lâm sàng

trong bệnh viện có mặt tại thời điểm nghiên cứu, tổng

cỡ mẫu là 136 người gồm 117 điều dưỡng viên, hộ sinh

viên và 19 hộ lý

Thực hiện quan sát thực trạng phân loại, thu gom,

vận chuyển, lưu giữ chất thải tại 8 khoa lâm sàng, mỗi

khoa quan sát trong 7 ngày, tổng số là 56 lượt quan sát

- Với phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu được thực

hiện với 11 đối tượng được lựa chọn có chủ đích bao

gồm: trưởng phòng, trưởng khoa, điều dưỡng trưởng khoa, điều dưỡng viên, hộ sinh viên và hộ lý

5 Kỹ thuật thu thập số liệu

Nghiên cứu định lượng: số liệu được thu thập bằng

phương pháp điền vào bảng kiểm và sử dụng bộ câu hỏi tự điền Nội dung của bảng kiểm và bộ câu hỏi tự

điền được xây dựng dựa trên nội dung quyết định

43/2007/QĐ-BYT

Nghiên cứu định tính: phỏng vấn sâu dựa trên bộ

công cụ được thiết kế và thử nghiệm từ trước

6 Phương pháp phân tích số liệu

Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1, xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0

Số liệu định tính được ghi âm, gỡ băng, phân tích theo chủ đề và trích dẫn những câu có nội dung liên quan

KếT QUả Và BàN LUậN

1 Thực trạng phân loại chất thải rắn y tế

Kết quả 56 lượt quan sát cho thấy (Bảng 1): ở các thời điểm quan sát, các vị trí quan sát (các khoa lâm sàng) đều có các loại thùng, túi nilon, hộp kháng thủng

để đựng các loại chất thải Tuy nhiên, các dụng cụ đều chưa đạt chuẩn theo quy định như: không đủ màu sắc, không có vạch và chữ báo hiệu giới hạn đựng chất thải

và không có biểu tượng chỉ loại chất thải phù hợp Dụng cụ đựng chất thải sắc nhọn của bệnh viện hiện đang sử dụng là dạng thùng inox, do vậy không

đạt tiêu chí về màu (quy định là màu vàng) và nhiều trường hợp thùng bị rò rỉ do mối hàn không đảm bảo, vạch và chữ báo hiệu cũng chưa đầy đủ ở các thùng này Tình trạng thiếu phương tiện vận chuyển chất thải

là phổ biến, chỉ duy nhất 1 khoa trong bệnh viện là có

xe vận chuyển chất thải (12,5%)

Bảng 1: Dụng cụ, bao bì thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế (n=56)

Kết quả Nội dung đánh giá

Tần số (%)

Túi đựng chất thải có đủ màu sắc theo quy định 7 12,5% Thể tích tối đa của túi đựng chất thải y tế

Có dụng cụ đựng chất thải sắc nhọn riêng 56 100%

Có phương tiện vận chuyển chất chất thải

Liên quan tới tiêu chuẩn của các dụng cụ đựng chất thải, hầu hết các ý kiến đều nhất trí là các dụng cụ chưa đạt chuẩn theo quy định và nguyên nhân chính là

do thiếu kinh phí như qua ý kiến của một điều dưỡng

trưởng khoa “Kinh phí để các khoa mua dụng cụ hiện

nay rất ít, nếu mua đúng quy chuẩn thì sẽ không đủ dùng, vì vậy khoa tôi phải mua các loại mỏng hơn, số lượng nhiều hơn, cơ bản là phải chọn được những cái

có giá thành rẻ” (ĐDT-N)

Thực trạng phân loại chất thải rắn Hoạt động phân loại chất thải được thực hiện ngay tại nguồn phát sinh, các chất thải như bơm kim tiêm, chất thải sinh hoạt, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn

được phân loại và đựng trong các dụng cụ đúng quy

định Tuy nhiên tỷ lệ phân loại đúng các chất thải sắc nhọn khác như đầu sắc nhọn của dây truyền, ống thuốc tiêm còn rất thấp chỉ đạt 19,6% (Bảng 2)

Trang 3

Bảng 2: Phân loại chất thải rắn(n=56)

Kết quả

Phân loại chất thải rắn

Tần số (%)

Phân loại đúng chất thải sắc nhọn

Phân loại đúng chất thải sắc nhọn khác 11 19,6%

Phân loại đúng chất thải lây nhiễm

Phân loại đúng chất thải sinh hoạt 56 100%

Các ý kiến phỏng vấn sâu cho rằng sở dĩ một số

chất thải sắc nhọn không được phân loại đúng là do

không có thùng đựng đúng tiêu chuẩn, một điều dưỡng

tham gia phỏng vấn đã nói “các thùng inox đựng chất

thải sắc nhọn của bệnh viện bị rỉ nước ra ngoài nên khi

bỏ các đầu sắc nhọn của dây truyền vào đấy thì nước

theo các khe hở chảy ra ngoài, chưa kể đến những

thùng dùng lâu còn bị hỏng, han rỉ nữa nên mọi người

phải để các chất thải đó vào dụng cụ khác cho đảm

bảo vệ sinh, nếu bỏ cả các ống thuốc vào đấy nữa thì

nó đầy rất nhanh, phải thay liên tục, không thuận tiện”

(ĐD – N)

Phân loại đúng chất thải tái chế có tỷ lệ thấp nhất

(7,1%), hầu hết các chất thải tái chế chưa được đựng

trong túi có màu trắng theo quy định vì không được

trang bị loại túi bóng này

2 Thực trạng thu gom chất thải rắn y tế

Số liệu ở Bảng 3 cho thấy, tất cả chất thải của các

khoa đều có các thùng thu gom tương ứng, tuy nhiên

tại vị trí đặt thùng thu gom thì đều chưa có bảng hướng

dẫn phân loại theo quy định của BYT Tỷ lệ thực hiện

thu gom riêng các chất thải chỉ đạt 66,1% và thu gom

đúng số lượng (khi lượng chất thải đầy 3/4 túi) là

70,1%

Bảng 3: Thu gom chất thải rắn (n=56)

Kết quả

Thu gom chất thải rắn

Tần số (%)

Thu gom đúng số lượng chất thải trong túi 40 70,1%

3 Thực trạng vận chuyển chất thải rắn y tế

Hiện nay hầu hết các chất thải tại các khoa lâm

sàng trong bệnh viện đều được vận chuyển ít nhất 1

lần/ngày theo quy định, tuy nhiên cách thức vận

chuyển chất thải của bệnh viện hiện nay mới chỉ đạt

2/4 tiêu chuẩn quy định của BYT, những tiêu chuẩn

vận chuyển chưa đạt là không có xe vận chuyển và

không đi theo đường quy định riêng

Bảng 4: Vận chuyển chất thải rắn (n=56)

Kết quả

Vận chuyển chất thải rắn

Tần số Tỷ lệ (%)

Kết quả phỏng vấn sâu các đối tượng nghiên cứu

cũng khẳng định thông tin thu được qua quan sát thực

địa như ý kiến của một lãnh đạo phòng tham gia phỏng

vấn: “Hiện tại các khoa không có xe nên vận chuyển

chất thải bằng tay hết, hơn nữa bệnh viện đang là lúc

xây dựng, chỗ nào trong viện cũng ngổn ngang, ngày trước mình cũng có quy định là vận chuyển chất thải theo vòng ngoài đằng sau các khoa đấy, nhưng bây giờ nguyên vật liệu đổ ra đường nhiều, không có lối nên mọi người thường hay đi tắt” (TP – L)

4 Thực trạng lưu giữ chất thải rắn y tế

100% các chất thải được lưu giữ trong các phòng riêng biệt tại kho lưu giữ tập trung của bệnh viện, tuy nhiên thời gian lưu giữ chất thải chưa được đảm bảo: tại khoa, còn 29,6% chất thải lưu giữ quá 24 giờ chủ yếu tập trung vào nhóm chất thải tái chế Các hộ lý giải

thích “Thứ bảy, chủ nhật chỉ mở cửa 2 kho chất thải lây

nhiễm và thông thường thôi, chất thải tái chế mình phải bàn giao kỹ nên thứ 2 mình mới bàn giao được” (HL –

T) Hiện nay bệnh viện chưa có lò đốt chất thải nên các chất thải sau khi thu gom, vận chuyển và lưu giữ tại kho lưu giữ tập trung của bệnh viện Các chất thải này hầu hết được lưu giữ trên 48 giờ

Bảng 5: Lưu giữ chất thải rắn (n=56)

Kết quả Lưu giữ chất thải rắn

Tần số (%) Chất thải lây nhiễm và CT

Thời gian lưu giữ CT tại khoa đúng quy định 40 71,4 Thời gian lưu giữ chất thải tại nơi tập trung của

Kết quả quan sát khu vực tập trung lưu giữ chất thải của bệnh viện cho thấy khu vực này chỉ đạt 3/7 tiêu chí của Bộ Y tế ban hành 4 tiêu chí chưa đạt là khu lưu giữ chất thải hiện nay vẫn gần khu vực nhà xe lối đi của nhân viên, các loại côn trùng, gặm nhấm vẫn có thể xâm nhập vào hệ thống kho lưu giữ, chưa có phương tiện rửa tay cho nhân viên, chưa có nhà bảo quản lạnh Kết quả phỏng vấn các đối tượng nghiên

cứu cũng có chung nhận xét “Hiện nay việc lưu giữ

chất thải của bệnh viện vẫn chưa được đảm bảo, khu vực lưu giữ hiện nay chỉ là tạm thời thôi nên còn nhiều cái chưa đạt lắm” (TK – T)

5 Kiến thức về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn

Thông tin chung về đối tượng phỏng vấn

Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 35,3 tuổi, [phạm vi khoảng 22 – 55] Các đối tượng nghiên cứu có độ tuổi dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 53,7%,

độ tuổi từ 31 đến 40 chiếm tỷ lệ thấp nhất là 9,6% Trong tổng số 136 đối tượng nghiên cứu, hầu hết các đối tượng đều là nữ giới chiếm tỷ lệ 94,9% tập trung chủ yếu là nhóm Điều dưỡng (72,8%) Tỷ lệ các

đối tượng có trình độ chuyên môn là trung cấp chủ yếu (78,6%) trong đó các đối tượng có thâm niên công tác dưới 5 năm chiếm một nửa trong tổng số đối tượng

nghiên cứu

Kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế

Số liệu ở Bảng 6 cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế biết

đủ 5 nhóm chất thải rất thấp (4,4%), hiểu biết về các mã màu sắc đựng chất thải chỉ đạt 39,7%, kết quả này cũng được phản ánh qua kết quả phỏng vấn sâu, như

một điều dưỡng nói “Thực ra khi học thì mình đã được

trang bị khá đầy đủ kiến thức rồi, nhưng khi làm thực tế

Trang 4

thì kiến thức cũng bị mai một, mình chỉ nhớ những thứ

mình hay gặp thôi” (ĐD-N)

Bảng 6: Kiến thức về phân loại CTRYT của đối

tượng phỏng vấn (n=136)

Kết quả (Trả lời đúng) Nội dung đánh giá

Tần số Tỷ lệ (%)

Phân loại chất thải hóa học nguy

Đạt kiến thức phân loại CTRYT 86 63,2

Kiến thức về phân loại chất thải gồm 9 câu hỏi, mỗi

câu trả lời đúng được 1 điểm, điểm trung bình đạt 5,08

± 1,5 [phạm vi khoảng: 2-9] Có 86 đối tượng nghiên

cứu lời đúng đúng 5 câu hỏi trở lên đạt 63,2%

Kiến thức về thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải

rắn y tế

Bảng 7: Kiến thức về thu gom, vận chuyển, lưu giữ

CTRYT của ĐTPV (n=136)

Kết qủa (Trả lời đúng) Kiến thức thu gom chất thải

Số lượng chất thải trong túi cần thu gom 57 41,9

Xử lý sơ bộ chất thải trước khi thu gom 87 64,0

Đạt kiến thức thu gom 66 48,5

Kiến thức vận chuyển chất thải

Cách thức buộc túi chất thải 136 100,0

Đạt kiến thức vận chuyển 131 96,3

Kiến thức lưu giữ chất thải

Thời gian lưu giữ tại kho tập trung 59 43,4

Đạt kiến thức lưu giữ 108 79,4

Tỷ lệ nhân viên trả lời đúng vị trí đặt thùng thu gom

chất thải thấp (30,1%), kiến thức về tần suất vận

chuyển chất thải chỉ đạt 52,2%

Kết quả này cũng được phản ánh qua phỏng vấn

sâu: “Hiện nay có nhiều người còn chưa nắm hết các

kiến thức về quản lý chất thải, vì vậy mà họ vẫn hiểu

và làm theo những thói quen hàng ngày” (TP)

Kiến thức quản lý chất thải rắn y tế

Kiến thức chung về quản lý chất thải rắn y tế (bao

gồm 4 khâu: phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ)

có tất cả 22 câu hỏi, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm,

điểm trung bình của đối tượng nghiên cứu là 13,81 ±

3,1 điểm, [phạm vi khoảng 6 – 22] Số các đối tượng

nghiên cứu đạt từ 11 điểm trở lên là 118 người chiếm tỷ

lệ 86,8%, không đạt là 18 người chiếm tỷ lệ 13,2%

(Biểu đồ 1)

B iểu đồ 1: Kiến thức quản lý chất thải rắn y tế

86,8%

13,2%

Đạt Khụng đạt

6 Thực hành phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn y tế

Thực hành về phân loại chất thải

Kết quả trả lời thực hành phân loại chất thải của

136 đối tượng nghiên cứu cho thấy (Bảng 8) thực hành phân loại chất thải của đối tượng nghiên cứu đạt tỷ lệ cao 82,4% với điểm trung bình là 3,35 ± 0,9 [Phạm vi khoảng: 2-5]

Bảng 8: Phân loại CTRYT của đối tượng phỏng vấn (n=136)

Nội dung đánh giá

Đạt thực hành phân loại chất thải 112 82,4

Tỷ lệ nhân viên trả lời phân loại chất thải tái chế và hóa học nguy hại đúng là rất thấp (≤ 50%), kết quả phỏng vấn sâu đã giải thích nguyên nhân của tình trạng này là do trên thực tế bệnh viện ít có loại chất thải này, nên khi có thì nhân viên thường là bỏ chung vào các loại chất thải khác như lời phát biểu của một

trưởng phòng: “Hiện nay ở các khoa chủ yếu phân

chất thải thành 2 nhóm chính là chất thải lây nhiễm và chất thải thông thường, chất thải hóa học nguy hại rất

ít, có không đáng kể, chất thải tái chế họ cũng chỉ

đểriêng ra thôi còn dụng cụ đựng thì cũng chưa chuẩn” (TP – L)

Thực hành thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải

Kết quả trả lời của 19 nhân viên Hộ lý được trình bày ở Bảng 9 cho thấy: tỷ lệ các nhân viên trả lời đúng các tiêu chí đánh giá còn thấp, trong đó trả lời đúng về tần suất thu gom theo quy định chỉ đạt 42,1%

Bảng 9: Thu gom, vận chuyển, lưu giữ CTRYT của

đối tượng nghiên cứu (n=19)

Thu gom đúng số lượng chất thải trong túi 9 47,4

Đạt thực hành thu gom CTRYT 10 52,6 Thực hành vận chuyển CTRYT

Đạt thực hành vận chuyển CTRYT 10 52,6

Thực hành lưu giữ chất thải

Lưu giữ trong các buồng riêng biệt 18 94,7 Lưu giữ tại khoa đúng thời gian quy định 19 100,0

Đạt thực hành lưu giữ chất thải 19 100,0

Trang 5

7 Xác định các yếu tố liên quan

Liên quan giữa kiến thức quản lý chất thải với các

đặc điểm cá nhân của ĐTNC

Không thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa

kiến thức quản lý chất thải rắn y tế với các yếu tố: tuổi,

nghề nghiệp, thâm niên công tác, hình thức lao động

p>0,05

Liên quan giữa kiến thức về chất thải lây nhiễm với

các đặc điểm cá nhân của ĐTNC

Có duy nhất một mối liên quan có ý nghĩa thống kê

giữa kiến thức về các chất thải lây nhiễm với thâm niên

công tác Những người có thâm niên công tác trên 10

năm có kiến thức không đạt cao gấp 2,08 lần những

người có thâm niên công tác từ 10 năm trở xuống, 2 =

4,07, p = 0,04, OR = 2,08, CI = (1,02 – 4,27)

Liên quan giữa kiến thức phân loại chất thải và thực

hành phân loại chất thải

Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức

phân loại chất thải với thực hành phân loại chất thải với

p<0,05 2=5,83, p=0,016, OR=2,96, CI (1,2-7,3)

Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất

thải qua kết quả phỏng vấn sâu

Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy, các yếu tố: kinh

phí, sự quan tâm, ý thức của người thực hiện, công tác

đào tạo, bổ túc kiến thức và công tác kiểm tra giám sát

có ảnh hưởng đến công tác phân loại, thu gom, vận

chuyển, lưu giữ chất thải

KếT LUậN

1 Thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển,

lưu giữ chất thải rắn tại bệnh viện

Nhìn chung, công tác quản lý chất thải rắn y tế tại

bệnh viện đa khoa Đông Anh chưa đáp ứng được đầy

đủ các tiêu chí của Bộ Y tế ban hành (theo quyết định

43/2007/QĐ-BYT) cụ thể:

Hầu hết các dụng cụ thu gom chất thải như túi

nilon, thùng, hộp đựng chất thải sắc nhọn, phương tiện

vận chuyển chất thải của bệnh viện còn thiếu, chưa

đồng bộ và chưa đạt chuẩn

Các chất thải rắn y tế được phân loại ngay tại

nguồn phát sinh, chủ yếu phân thành 2 nhóm là chất

thải lây nhiễm và chất thải thông thường

Công tác thu gom, vận chuyển chất thải được đảm

bảo về tần suất và thời gian quy định, tuy nhiên cách

thức tiến hành còn chưa đúng (tỷ lệ thu gom lẫn các

chất thải còn cao, vận chuyển chất thải bằng tay là chủ

yếu)

Thời gian lưu giữ chất thải ở nơi tập trung dài (trên

48 giờ) trong khi điều kiện bảo quản không bảo đảm

đúng quy định

2 Kiến thức, thực hành của NVYT về phân loại,

thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải

Kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về các

khâu phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất

thải chưa cao, một số khâu tỷ lệ nhân viên trả lời đúng

còn thấp, cụ thể:

Tỷ lệ nhân viên y tế đạt kiến thức chung về quản lý

chất thải là 86,8% trong đó hiểu biết của nhân viên y tế

về các nhóm chất thải, các chất thải lây nhiễm còn

thấp Kiến thức về vận chuyển chất thải cao nhất đạt

96,3%, thấp nhất là kiến thức về thu gom chất thải 48,5%

Tỷ lệ nhân viên y tế đạt thực hành phân loại chất thải là 82,4%, thu gom là 52,6%, vận chuyển là 52,6%

và lưu giữ chất thải là 100%

3 Các yếu tố liên quan đến hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức phân loại chất thải với thực hành phân loại chất thải, những người có kiến thức phân loại tốt hơn thì thực hành phân loại tốt hơn, p<0,05

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức

đúng về các chất thải lây nhiễm với thâm niên công tác, p<0,05

Kết quả định tính cho thấy các yếu tố như kinh phí,

ý thức làm việc của nhân viên, sự quan tâm của lãnh

đạo cũng ảnh hưởng đến hoạt động phân loại chất thải

KHUYếN NGHị

Từ kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đề nghị bệnh viện:

Trang bị đầy đủ các dụng cụ, trang thiết bị, phương tiện đạt chuẩn theo quy định của Bộ Y tế để phục vụ công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải

Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn cho tất cả các nhân viên y tế về kiến thức, thực hành quản lý chất thải

Các phòng ban chức năng liên quan, nhất là lãnh

đạo các khoa, phòng trong bệnh viện (trưởng khoa,

điều dưỡng trưởng khoa) tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tất cả các khâu trong quy trình quản lý chất thải

Tăng nguồn kinh phí sử dụng cho công tác quản lý chất thải y tế nói chung và chất thải rắn y tế nói riêng Cần xem xét lại hình thức giao kinh phí quản lýý chất thải về cho từng khoa tự quản như hiện nay vì như vậy

sẽ khó bảo đảm tính đồng bộ, và khó kiểm soát chất lượng cần thiết của các dụng cụ, bao gói đựng chất thải

TàI LIệU THAM KHảO

1 Nguyễn Duy Bảo, Trần Quang Toàn và cs (2010), Thực trạng môi trường và hoạt động quản lý chất thải y

tế ở một số bệnh viện khu vực phía Bắc qua hoạt động

quan trắc”, Báo cáo một số chuyên đề về bảo vệ môi

trường ngành Y tế giai đoạn 2006 – 2010, Cục Quản lý

môi trường Bộ Y tế, Hà Nội, tr 57

2 Bệnh viện đa khoa Đông Anh (2011), Báo cáo

đánh giá kết quả công tác năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011, Hà Nội, tr 15

3 Bệnh viện đa khoa Đông Anh (2010), Báo cáo số

12/BC-CNK về việc Quản lý – xử lý chất thải – vệ sinh môi trường, Hà Nội

4 Bộ Y tế (2000), “Các văn bản quy phạm pháp luật

có liên quan đến quản lý chất thải y tế”, Tài liệu hướng

dẫn thực hành quản lý chất thải y tế, Nhà xuất bản Y học,

Hà Nội, tr 26

5 Bộ Y tế (2007), Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT

ngày 30 tháng 11 năm 2007 về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế, truy cập từ

Trang 6

NH%201.doc, ngày 27/9/2011

6 Đặng Tuấn Đạt và cs (2004), “Nhận xét về quản lý

chất thải tại các cơ sở y tế khu vực Tây Nguyên”, Tạp chí

Y học dự phòng, tập 14 (5), tr 69

7 Cấn Mạnh Hùng, Trần Thị Lân (2010), “Đánh giá

nhận thức, thực hành và chi phí cho công tác quản lý chất

thải y tế rắn tại bệnh viện 105”, Kỷ yếu đề tài nghiên cứu

khoa học điều dưỡng kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội

Điều Dưỡng Việt Nam, Nhà xuất bản Giao thông vận tải,

Hà Nội, tr.134-143

8 Dương Thị Hương, Đồng Trung Kiên và cs (2004),

“Thực trạng tình hình vệ sinh môi trường ngành Y tế

thành phố Hải Phòng”, Báo cáo khoa học toàn văn, Nhà

xuất bản Y học, Hà Nội, tr 714

9 Lương Ngọc Khuê (2010), “Báo cáo thực trạng

công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện”, Báo

cáo một số chuyên đề về bảo vệ môi trường ngành Y tế giai đoạn 2006 – 2010, Cục Quản lý môi trường Bộ Y tế,

Hà Nội, tr 14

NGHIÊN CứU ứNG DụNG PHẫU THUậT NộI SOI CHẩN ĐOáN

Và ĐIềU TRị LạC NộI MạC Tử CUNG TRONG ổ BụNG

Trịnh Hồng Hạnh - Bệnh viện 175 TP Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Nghiên cứu tiến cứu 215 trường hợp được chẩn

đoán trước mổ là LNMTC trong ổ bụng Các trường

hợp này được phẫu thuật nội soi (PTNS) chẩn đoán và

điều trị tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện 175 Thành

phố Hồ Chí Minh từ 6/2008 đến 3/2011 Mô bệnh học

chẩn đoán có 192 trường hợp LNMTC Nội soi có giá trị

chẩn đoán LNMTC có giá trị với độ nhạy 99,0%, độ

đặc hiệu 82,6%, tiên đoán dương 97,9%, tiên đoán âm

90,5% Sự phù hợp giữa Nội soi (NS) chẩn đoán và mô

bệnh học là 0,85 So với chẩn đoán bằng siêu âm, nội

soi chẩn đoán có độ tin cậy cao hơn là 97,2% so với

89,3% 192 trường hợp được PTNS điều trị, chuyển mổ

mở 2%,; tai biến nhẹ 1,06%; biến chứng 2,63%; thời

gian mổ 65,74 ± 23,6 phút (30 -180 phút); ngày điều trị

3,2 ± 1,3 ngày (2 - 9); sau 1 năm tỷ lệ thành công là

92,02%; tái phát 7,98%, có thai 30,8%

Kết luận: Phẫu thuật nội soi có giá trị chẩn đoán và

điều trị bệnh lý lạc nội mạc tử cung trong ổ bụng

Summary

Prospectively studied 215 cases that had been

diagnosed preoperatively as endometriosis in

abdomen These cases were treated by laparoscopy in

Tu Du Hospital and 175 Hospital, Ho Chi Minh City,

from Jule/2008 to March/2011 Histologically

diagnosised 192 cases were Endometriosis

Diagnostic laparoscopy for endometriosis is valuable

with the sensitivity was 99%, specificity was 82.6%,

positively predictive value was 97.9%, negatively

predictive value was 90.5% The compatibility between

the laparoscopic diagnosis and histological diagnosis

was 0.85 The reliability of laparoscopic diagnosis was

97,2%, which was higher than 89.3% of diagnosis by

ultrasound 192 cases were treated by laparoscopy:

turning to Laparotomy: 2%; mild accident was 1.06%;

postoperative complications was 2.63%; average

operating time was 65.74 ± 23.6 minutes (30 to 180

minutes); Average hospitalization period was 3.2 ± 1.3

days (2 to 9 days) Success rate after 1 year was

92.02%, recurrence after 1 year was 7.98%, pregnancy rate was 30.8%

Conclusion: Laparoscopy is effective in diagnosing and treating endometriosis in abdomen

ĐặT VấN Đề

Lạc nội mạc tử cung (LNMTC) là tình trạng bệnh lý

mà niêm mạc tử cung gồm tổ chức tuyến và mô đệm ở một vị trí khác ngoài buồng tử cung

LNMTC chiếm khoảng từ 7% - 10% ở phụ nữ nói chung, hay gặp ở nhóm phụ nữ vô sinh (25% - 50%) Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và bằng những

ưu thế có thể khắc phục được những bất lợi của phương pháp mổ mở, phẫu thuật nội soi (PTNS) đã góp phần không nhỏ trong vấn đề chẩn đoán và điều trị LNMTC trong ổ bụng PTNS đã phát triển mạnh mẽ vào đầu những năm 1980, được áp dụng tại Việt Nam

từ năm 1993, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ về hiệu quả của PTNS chẩn đoán và điều trị LNMTC trong ổ bụng Xuất phát

từ thực tiễn trên chúng tôi nghiên cứu đề tài nhằm mục

tiêu:

- Xác định giá trị của nội soi chẩn đoán lạc nội mạc

tử cung trong ổ bụng

- Đánh giá hiệu quả phẫu thuật nội soi điều trị lạc nội mạc tử cung trong ổ bụng

ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

1 Đối tượng nghiên cứu

Các bệnh nhân được chẩn đoán trước mổ là u LNMTC trong ổ bụng được PTNS chẩn đoán và điều trị tại khoa Phụ Sản Bệnh viện 175 và khoa Nội soi Bệnh viện Từ Dũ từ 6/2008 - 3/2011

2 Phương pháp nghiên cứu: can thiệp lâm sàng tiến cứu, mô tả

3 Phương pháp tiến hành: tất cả các bệnh nhân

được chẩn đoán qua lâm sàng và siêu âm trước mổ là

u LNMTC được tiến hành PTNS chẩn đoán và điều trị, tất cả các trường hợp đều được lấy bệnh phẩm làm mô bệnh học (MBH) Để xác định giá trị nội soi chẩn đoán,

so sánh kết quả NS ổ bụng chẩn đoán LNMTC với kết

Ngày đăng: 23/08/2015, 21:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Dụng cụ, bao bì thu gom, vận chuyển chất  thải rắn y tế (n=56) - THỰC TRẠNG QUẢN lý CHẤT THẢI rắn y tế và KIẾN THỨC, THỰC HÀNH của NHÂN VIÊN y tế BỆNH VIỆN đa KHOA ĐÔNG ANH, năm 2011
Bảng 1 Dụng cụ, bao bì thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế (n=56) (Trang 2)
Bảng 2: Phân loại chất thải rắn(n=56) - THỰC TRẠNG QUẢN lý CHẤT THẢI rắn y tế và KIẾN THỨC, THỰC HÀNH của NHÂN VIÊN y tế BỆNH VIỆN đa KHOA ĐÔNG ANH, năm 2011
Bảng 2 Phân loại chất thải rắn(n=56) (Trang 3)
Bảng 4: Vận chuyển chất thải rắn (n=56) - THỰC TRẠNG QUẢN lý CHẤT THẢI rắn y tế và KIẾN THỨC, THỰC HÀNH của NHÂN VIÊN y tế BỆNH VIỆN đa KHOA ĐÔNG ANH, năm 2011
Bảng 4 Vận chuyển chất thải rắn (n=56) (Trang 3)
Bảng 3: Thu gom chất thải rắn (n=56) - THỰC TRẠNG QUẢN lý CHẤT THẢI rắn y tế và KIẾN THỨC, THỰC HÀNH của NHÂN VIÊN y tế BỆNH VIỆN đa KHOA ĐÔNG ANH, năm 2011
Bảng 3 Thu gom chất thải rắn (n=56) (Trang 3)
Bảng 5: Lưu giữ chất thải rắn (n=56) - THỰC TRẠNG QUẢN lý CHẤT THẢI rắn y tế và KIẾN THỨC, THỰC HÀNH của NHÂN VIÊN y tế BỆNH VIỆN đa KHOA ĐÔNG ANH, năm 2011
Bảng 5 Lưu giữ chất thải rắn (n=56) (Trang 3)
Bảng 8: Phân loại CTRYT của đối tượng phỏng vấn  (n=136) - THỰC TRẠNG QUẢN lý CHẤT THẢI rắn y tế và KIẾN THỨC, THỰC HÀNH của NHÂN VIÊN y tế BỆNH VIỆN đa KHOA ĐÔNG ANH, năm 2011
Bảng 8 Phân loại CTRYT của đối tượng phỏng vấn (n=136) (Trang 4)
Bảng  6:  Kiến  thức  về  phân  loại  CTRYT  của  đối - THỰC TRẠNG QUẢN lý CHẤT THẢI rắn y tế và KIẾN THỨC, THỰC HÀNH của NHÂN VIÊN y tế BỆNH VIỆN đa KHOA ĐÔNG ANH, năm 2011
ng 6: Kiến thức về phân loại CTRYT của đối (Trang 4)
Bảng 7: Kiến thức về thu gom, vận chuyển, lưu giữ - THỰC TRẠNG QUẢN lý CHẤT THẢI rắn y tế và KIẾN THỨC, THỰC HÀNH của NHÂN VIÊN y tế BỆNH VIỆN đa KHOA ĐÔNG ANH, năm 2011
Bảng 7 Kiến thức về thu gom, vận chuyển, lưu giữ (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm