1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG xử TRÍ QUA nội SOI các bất THƯỜNG và các BIẾN THỂ GIẢI PHẪU ĐƯỜNG mật PHỐI hợp TRONG NANG ỐNG mật CHỦ TRẺ EM

4 249 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 296,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Y học thực hành 816 - số 4/2012 57 ĐáNH GIá KHả NĂNG Xử TRí QUA NộI SOI CáC BấT THƯờNG Và CáC BIếN THể GIảI PHẫU ĐƯờNG MậT PHốI HợP TRONG NANG ốNG MậT CHủ TRẻ EM Huỳnh Giới, Đào Trung

Trang 1

Y học thực hành (816) - số 4/2012 57

ĐáNH GIá KHả NĂNG Xử TRí QUA NộI SOI CáC BấT THƯờNG Và CáC BIếN THể

GIảI PHẫU ĐƯờNG MậT PHốI HợP TRONG NANG ốNG MậT CHủ TRẻ EM

Huỳnh Giới, Đào Trung Hiếu, Nguyễn Tấn Cường, Trương Nguyễn Uy Linh, Lê Tấn Sơn, Huỳnh Công Hiếu

TóM TắT

Mục tiêu: Đánh giá khả năng xử trí qua nội soi

những trường hợp nang ống mật chủ (NOMC) kèm bất

thường hoặc có biến thể giải phẫu đường mật

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu tất

cả bệnh nhi NOMC có kèm bất thường đường mật

hoặc có biến thể giải phẫu đường mật, được mổ nội soi

cắt nang, tạo hình ống gan và tái lập lưu thông

mật-ruột Roux-en-Y tại Bênh viện Nhi Đồng I từ 9/2009 –

12/2011

Kết quả: Có 37 bệnh nhi 25 trường hợp kèm bất

thường đường mật, 12 trường hợp có những biến thể

giải phẫu đường mật Tạo hình ống gan trong 33

trường hợp Kiểu nối mật-ruột gồm: ống gan

chung-hỗng tràng 8 trường hợp, các ống gan-chung-hỗng tràng 26

trường hợp và Kasai 3 trường hợp Thời gian mổ trung

bình 215,13±39,60 phút, Biến chứng sớm có 2(5,40%)

bệnh nhân tụ dịch điều trị bằng chọc hút, 3(8,11%)

trường hợp rò miệng nối tự lành Theo dõi 14,08±6,33

tháng có 1(2,70%) bệnh nhân đau bụng thoáng qua,

36(97,3%)bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng

Kết luận: Phẫu thuật nội soi cắt nang, nối mật-ruột

Roux-en-Y kèm xử trí các bất thường và các biến thể

đường mật phối hợp trong NOMC là khả thi, an toàn, ít

biến chứng và cho kết quả tốt

Từ khóa: Nang ống mật chủ, biến thể giải phẫu

đường mật

summary

Objective: The purpose of this study was to

evaluate the possibility of laparoscopic surgery

management choledochal cyst (CC) with co-existing

biliary anomalies or anatomical variations

Method: Prespective, all patients with CC with

co-existing biliary anomalies or anatomical variations

Laparoscopic cystectomy combined ductoplasty and

Roux-en-Y Bilio-jejusnostomy at No1 Children hospital

from Sept 2009 to Dec 2011

Results: There were 37 patients; 25 cases of

co-existing biliary anomalies, 12 cases of co-co-existing

biliary anatomical variations Ductoplasty in 33 cases

Bilio- enterotomy including: common hepatic duct -

jejunostomy in 8 cases, hepatic duct-jejunostomy in 26

cases and Kasai’ procedure in 3 cases Mean

operating time 215.13± 39.60 minutes Early

complications in 2 cases of abdominal fluid collection

which were treated with aspiration under ultrasound

There were 3 cases of anastomotic leakage and heal

themselves Follow-up in 14.08±6.33 months, having

1(2.70%) case of transient abdominal pain and

36(97.3%) of patients without symptoms

Conclution: Laparoscopic choledochal cystectomy

and Roux-en-Y biliojejusnostomy with management of

co-existing biiary anomalies or anatomical variants in

CC was feasibility, safety, fewer complications and for

the far better results

Keywords: Choledochal cyst, biliary anatomical

variations

ĐặT VấN Đề

Nang ống mật chủ (NOMC) là bất thường bẩm sinh của đường mật, được định nghĩa là tình trạng giãn thành nang của đường mật ngoài gan hay cả đường mật trong và ngoài gan [2] Cắt nang là phương pháp

được chọn để điều trị NOMC Mặc dù miệng nối ống gan chung – hỗng tràng kiểu Roux – en – Y dưới rốn gan đã được áp dụng rộng rãi và là miệng nối mật ruột quy ước sau cắt nang Tuy nhiên, kiểu nối này để lại những biến chứng muộn sau mổ như viêm đường mật tái phát, sỏi trong gan và ung thư đường mật nếu bị hẹp miệng nối hoặc bị hẹp ống mật trong gan nguyên phát [6] Do đó, tạo miệng nối mật ruột đủ rộng phía trên chỗ hẹp ở rốn gan và tạo hình ống mật cho hẹp

đường mật là cần thiết [3]

Ngoài ra, những bất thường trên đường mật cùng phối hợp hoặc những biến thể giải phẫu đôi khi được quan sát quanh rốn gan, đòi hỏi xử trí thêm vào để

đảm bảo dịch mật được dẫn lưu thông thương sau tái lập lưu thông mật ruột [3]

Trong những năm gần đây, phẫu thuật nội soi (PTNS) điều trị NOMC trẻ em ngày càng được áp dụng phổ biến Tuy nhiên, hầu hết những báo cáo về PTNS

điều trị NOMC rất ít đề cập đến xử trí những trường hợp hẹp ống gan nguyên phát ở rốn gan hay những biến thể giải phẫu phối hợp trong NOMC

Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá khả năng

xử trí qua nội soi những trường hợp NOMC kèm hẹp

đường mật ở rốn gan, các ống gan hoặc phối hợp với những biến thể giải phẫu đường mật

ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP

1 Đối tượng

Tất cả bệnh nhi NOMC được PTNS cắt nang và tái lập lưu thông mật – ruột kiểu Roux – en – Y tại Bệnh viện Nhi Đồng từ tháng 9/2009 đến tháng 12/2011

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tất cả bệnh nhi được chẩn đoán hoặc gợi ý chẩn

đoán là NOMC trên siêu âm, được chẩn đoán xác định

và khảo sát đường mật trước mổ bằng cộng hưởng từ mật tụy (CHTMT)

Được xác định trong mổ có hẹp hợp lưu các ống gan, hẹp các ống gan hoặc có những biến thể giải phẫu phối hợp

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhi không được khảo sát đường mật trước mổ bằng CHTMT

2 Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu hàng

loạt trường hợp

Trang 2

Y học thực hành (816) - số 4/2012 58

Kỹ thuật mổ: Bệnh nhi được đặt ở tư thế nằm

ngửa, đầu cao 300, nghiêng trái 200, mê nội khí quản

Phẫu thuật viên đứng bên trái bệnh nhi Vào bụng

bằng 4 trocar: trocar 10mm ở rốn đặt theo phương

pháp mở, dùng cho kính soi 10mm 300

, 3 trocar còn lại

có đường kính 5mm đặt ở hạ sườn phải, hạ sườn trái và

bên phải rốn trên đường trung đòn Bơm CO2 ổ bụng

áp lực 8 – 10mmHg Sau khi đặt kính soi, quan sát

đánh giá kích thước và hình dạng NOMC, màu sắc gan

và tình trạng ổ bụng

Phẫu tích và cắt nang:

Đầu tiên phẫu tích túi mật ra khỏi giường túi mật

sau khi đã cắt đốt động mạch túi mật nhưng vẫn để túi

mật dính với nang Sau đó phẫu tích mặt bên trái của

nang ra khỏi động mạch gan, mặt trước phần xa của

nang ra khỏi tá tràng và tụy ở phía xa của nang cần

lưu ý động mạch tá tụy trước trên và động mạch vị tá

tràng vì đây là 2 mạch máu dễ bị tổn thương nhất [1]

Sau khi phẫu tích đến đoạn cuối nang dùng clip kẹp,

cột hay khâu cột bằng chỉ Vicryl đầu xa của nang trong

mô tụy, cắt đầu tận ống mật chủ giữa 2 clip hoặc 2 nốt

chỉ cột Sau đó kéo ngược nang về phía rốn gan để

tiếp tục phẫu tích mặt sau nang ra khỏi tĩnh mạch cửa

lên đến vùng rốn gan, chỗ chia đôi ống gan phải và

ống gan trái ở vùng này cần lưu ý động mạch gan

phải thường chạy mặt sau ống gan chung tại rốn gan,

cần tránh làm tổn thương gây chảy máu Trường hợp

động mạch gan phải bắt chéo mặt trước nang thì phẫu

tích động mạch ra khỏi mặt trước nang và chuyển vị về

phía sau trước khi phẫu tích nang lên rốn gan [13]

Sau khi phẫu tích toàn bộ nang ra khỏi cuống gan,

chọc kim qua thành bụng vào nang lấy dịch mật để

định lượng amylase và cắt bỏ toàn bộ nang

Đánh giá tình trạng hẹp các ống gan:

Thay ống kính soi 10mm bằng ống kính soi 4mm và

đưa kính soi qua ngã trocar 5mm cạnh phải rốn Đưa

kính soi vào mõm cắt ống gan chung quan sát và đánh

giá tình trạng hẹp hợp lưu các ống gan hay hẹp lổ ống

gan phải và trái [7] Nếu có tình trạng hẹp thì tiến hành

tạo hình ống gan

Tạo hình ống gan:

Hẹp hợp lưu các ống gan hoặc lổ ống gan phải

hoặc trái: cắt phần ống gan chung bị hẹp lên đến chỗ

hợp lưu các ống gan, sau đó xẻ dọc thành bên ống gan

phải, ống gan trái hay cả 2 ống gan, tùy thuộc tình

trạng hẹp lổ các ống gan [7] để có ống gan đủ rộng

trên 10mm

Hợp lưu các ống gan thấp: cắt trọn nang, nếu 2 ống

gan rời nhau thì khâu đính lại, nếu 2 ống gan nhỏ hay

có hẹp thì cần tạo hình bằng cách xẻ thành bên

ống gan lạc chỗ đổ vào ống gan chung mà phần

này không bị giãn thành nang thì chỉ cắt vát ống gan

chung ngay dưới chỗ đổ của ống gan lạc chỗ

ống gan chung quá nhỏ (<3mm): cắt cao ống gan

chung lên đến hợp lưu 2 ống gan, xẻ dọc thành bên 2

ống gan phải và trái, sau đó khâu lộn niêm mạc ống

mật vào nhu mô gan xung quanh bằng chỉ vicryl 5.0

hoặc 6.0 [12]

ống gan phụ đổ vào ống túi mật kèm ống gan

chung quá nhỏ: cắt cao ống gan phụ và ống gan

chung, xẻ dọc thành bên các ống gan và sau đó khâu lộn niêm mạc ống mật như trong trường hợp ống gan chung rất nhỏ

Kỹ thuật nối hỗng – hỗng tràng Roux – en – Y ngoài cơ thể:

Nâng đại tràng ngang lên thành bụng trước, xác

định góc Treitz Quai hỗng tràng cách góc Treitz từ 15 – 20cm được kẹp bằng graper nội soi và đưa đến vùng rốn, mở rộng thêm lỗ trocar rốn khoảng 1 – 1,5cm, đưa quai hỗng tràng ra ngoài ổ bụng và thực hiện miệng nối tận bên hỗng – hỗng tràng kiểu Roux–en–Y, miệng nối cách góc Treitz khoảng 15 – 20cm, cành lên quai Roux dài từ 30 – 40cm, đóng đầu tận quai Roux [8] Đưa ruột vào lại ổ bụng Khâu hẹp lỗ trocar rốn và

đặt lại trocar rốn, bơm CO2 ổ bụng để tiếp tục mổ nội soi

Kỹ thuật tái lập lưu thông mật ruột:

Đưa quai Roux xuyên mạc treo đại tràng ngang

đến rốn gan Mở hỗng tràng cách đầu ruột từ 3 – 5mm

ở bờ tự do, chiều dài lỗ mở ruột tương đương với chiều rộng các ống gan Nối ống gan hỗng tràng kiểu tận - bên, khâu vắt mặt sau và mặt trước Trường hợp các ống gan đủ rộng gần bằng khẩu kính hỗng tràng thì nối ống gan – hỗng tràng kiểu tận – tận [2]

Trường hợp ống gan chung quá nhỏ hay ống gan phụ đổ vào ống túi mật kèm ống gan chung quá nhỏ, không thể thực hiện miệng nối niêm mạc giữa đường mật và ruột thì thực hiện kỹ thuật Kasai nối cửa gan- hỗng tràng [12]

Lấy bệnh phẩm qua ngã trocar rốn, hút dịch ổ bụng, rửa vùng mổ, đặt dẫn lưu dưới gan, đóng các lỗ trocar

Theo dõi sau mổ: theo dõi các biến chứng sớm

sau mổ và tái khám định kỳ sau xuất viện 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và mỗi năm một lần để đánh giá kết quả

3 Xử lý số liệu: Theo phần mềm STATA KếT QUả

Trong số 85 bệnh nhi được mổ nội soi cắt NOMC,

được khảo sát đường mật trước mổ bằng CHTMT, có

37 bệnh nhi NOMC phối hợp hẹp hợp lưu các ống gan, hẹp ống gan hay có các biến thể giải phẫu đường mật

được đưa vào nghiên cứu Bảng 1 Phân bố những bất thường đường mật và những biến thể giải phẫu trong 85 bệnh nhi NOMC

Bất thường Số bệnh nhân Hẹp ống gan nguyên phát:

Hợp lưu ống gan trái ống gan phải

Đường mật trong gan

25

16

7

1

1

ống gan chung rất nhỏ 1

Động mạch gan lạc chỗ 4

Tuổi trung bình 43,78 ± 25,37 tháng (13tháng –

118 tháng) Có 29 nữ và 8 nam, tỷ lệ nữ/nam = 3,71/1 Không có trường hợp nào chuyển mổ mở Thời gian

mổ trung bình 215,13 ± 39,60 phút (150 phút – 300

Trang 3

Y học thực hành (816) - số 4/2012 59

phút) Lượng máu mất mất trung bình 25ml Truyền

máu có 3(8,11%) trường hợp Thời gian nằm viện trung

bình 9 ngày (6 – 27 ngày)

Bảng 2 Phân bố xử lý các bất thường

Xử lý Số bệnh nhi Tỷ lệ %

Cắt vát ống gan chung 4 10,81

Cắt OGC tại hợp lưu + xẻ dọc các OG 25 67,57

Khâu lộn niêm mạc các OG 3 8,11

Chuyển vị động mạch gan lạc chỗ 4 10,81

(OG: ống gan, OGC: ống gan chung)

Hình 1: Hẹp hợp lưu ống gan trước và sau tạo hình (BN Nguyễn

Trương Mỹ T, 51th,SHSBA 324202/10)

Bảng 3 Phân bố kiểu nối mật ruột

Kiểu nối Số bệnh nhi Tỷ lệ %

ống gan chung – hỗng tràng 8 21,62

Các ống gan – hỗng tràng 26 70,27

Các biến chứng sớm gồm: tụ dich có 2(5,40%)

trường hợp; rò miệng nối 3(8,11%) trường hợp Thời

gian theo dõi trung bình 14,08±6,33 tháng Biến chứng

muộn: đau bụng thoáng qua 1(2,70%) trường hợp Kết

quả trung hạn: tốt 97,30%, khá 2,70%, không có

trường hợp trung bình và kém

BàN LUậN

Năm 1995 Farello đã mô tả cắt nang ống mật chủ

qua nội soi và nối ống gan chung hỗng tràng đầu tiên

trên thế giới ở một bé gái 6 tuổi và cho đến nay đã có

nhiều báo cáo mổ nội soi NOMC [1],[7],[10] Tuy nhiên,

phần lớn những báo cáo về PTNS điều trị NOMC ít

quan tâm đến những bất thường và những biến thể giải

phẫu đường mật phối hợp Trong mổ mở quy ước, hầu

hết các tác giả đều xử trí các bất thường và các biến

thể giải phẫu ngay trong phẫu thuật đầu tiên nhằm hạn

chế những biến chứng lâu dài sau mổ [2],[3],[4],[7]

Các bất thường và biến thể giải phẫu đường mật

phối hợp trong NOMC được nhận biết với một tỷ lệ khá

cao theo nhiều tác giả từ 25% đến 37,33% [3] Tỷ lệ

hẹp ống gan nguyên phát ở rốn gan trong NOMC loại

IVA từ 31% - 100% [3] Ngoài ra, hẹp ống gan nguyên

phát cũng gặp trong các thể loại khác nhưng với tỷ lệ

thấp hơn nhiều Những chỗ hẹp này cần được xử trí

trong cùng lần mổ cắt nang, nhưng đây là thách thức

về mặt kỹ thuật trong PTNS [7] Nếu những chỗ hẹp

này này không được xử trí thì nguy cơ biến chứng hẹp

miệng nối, viêm đường mật và sỏi đường mật trong gan

sẽ xãy ra, đặc biệt trong nang loại IVA [4],[5] Nghiên

cứu của chúng tôi cho thấy qua nội soi có thể giải

quyết được hẹp hợp lưu các ống gan, hẹp các ống gan

phải, trái bằng cách cắt nang cao đến hợp lưu hai ống gan và xẻ dọc thành bên các ống gan trái và phải Nhờ vào sự phóng đại của kính soi nên có thể thực hiện mở dọc ống gan qua chỗ hẹp chính xác Những điểm chảy máu thường được kiểm soát bằng đè ép gạc hoặc đốt

điện

Những biến thể giải phẫu của đường mật trong NOMC cũng được nhận biết qua chụp hình đường mật hoặc quan sát trực tiếp trong mổ và cần phải xử trí các bất thường này [3] Khi hợp lưu hai ống gan thấp, các ống gan đổ vào nang kiểu chữ V hoặc đổ riêng ở hai vị trí trên nang, thì cắt trọn nang sẽ làm cho hai ống gan tách xa nhau hoặc chỉ dính nhau ở vách giữa Nếu để lại chỏm nang dưới hợp lưu hai ống gan cho dễ tạo miệng nối, thì phần niêm mạc của chỏm nang còn lại

có thể thoái hóa ác tính về sau Do đó, cắt bỏ toàn bộ nang là cần thiết Sau khi cắt, hai ống gan được khâu

đính lại với nhau, mở dọc thành bên và tạo miệng nối mật ruột kiểu hai nòng rộng rãi [3] Trong ba trường hợp ống gan phân thùy sau phải đổ thấp vào ống gan chung và phần ống gan này không bị giãn, chỉ cần cắt

bỏ nang dưới hợp lưu này và cắt vát ống gan chung là

đủ để tạo miệng nối Một số tác giả cắt cao ống gan lạc chỗ và ống gan chung sát rốn gan, sau đó nối hai ống lại hoặc nối từng ống riêng vào hỗng tràng trong

mổ mở quy ước[3] Chúng tôi nhận thấy, nếu ống gan lạc chỗ có kích thước nhỏ khoảng 3mm được cắt rời và nối lại với ống gan chung hoặc nối riêng với hỗng tràng kiểu hai miệng nối qua nội soi là điều rất khó khăn và

có nguy cơ hẹp miệng nối Chỉ những trường hợp ống gan lạc chỗ đổ vào ống gan chung mà phần này giãn thành nang thì phải cắt rời ống gan lạc chỗ Tuy nhiên, trong loạt bệnh nhi chúng tôi không gặp tình huống này

ống gan phụ là bất thướng ít gặp, chiếm khoảng 2% trong dân số [9] Chúng tôi gặp 2 trường hợp ống gan phụ đổ vào ống túi mật ở NOMC loại IC và IB CHTMT trước mổ cho hình ảnh ống gan phụ tương đối rõ ràng

và trong mổ đã được xác minh Đồng thời cả hai bệnh nhi này đều có ống gan chung rất nhỏ (< 3mm) Những trường hợp này cần cắt trọn nang ra khỏi ống gan phụ

và ống gan chung Chúng tôi còn gặp một trường hợp ống gan chung rất nhỏ trong NOMC loại IC, đường kính ống gan khoảng 2mm, trong khi đó các ống gan phải và trái cũng rất nhỏ (2mm) Tất cả những trường hợp ống gan chung rất nhỏ kèm hay không kèm ống gan phụ có đường kính nhỏ, không thể thực hiện miệng nối niêm mạc giữa ống mật và ruột Để dễ thực hiện miệng nối mật ruột bằng cách để lại một phần chỏm nang là điều không hợp lý như chúng tôi đã đề cập ở trên Do đó, chúng tôi cắt các ống gan nhỏ này sát rốn gan và xẻ dọc sang hai bên, sau đó khâu lộn niêm mạc ống mật vào nhu mô gan xung quanh để đề phòng hình thành sẹo hẹp và sau đó nối cửa gan hỗng tràng kiểu Kasai qua nội soi

Trường hợp động mạch gan lạc chỗ, chạy phía trước ống mật chủ, thì được phẫu tích ra khỏi mặt trước nang và chuyển vị động mạch đến vị trí giải phẫu bình thường lúc tạo miệng nối mật ruột

Trang 4

Y học thực hành (816) - số 4/2012 60

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có thể xử trí các bất

thường phối hợp và các biến thể đường mật đi kèm

trong NOMC qua nội soi ổ bụng với thời gian mổ hợp

lý, tương đương thời gian mổ cắt NOMC của các tác

giả khác [7] Lượng máu mất tối thiểu, tỷ lệ truyền máu

thấp, thời gian nằm viện không dài hơn so với các

trường hợp khác Tuy nhiên, biến chứng sớm gặp với tỉ

lệ cao hơn các trường hợp cắt NOMC đơn thuần không

tạo hình ống gan [10], các biến chứng sớm gồm tụ dịch

dưới gan, rò miệng nối cung lượng thấp đều được điều

trị bảo tồn không mổ Biến chững muộn cũng rất thấp

và kết quả trung hạn sau mổ rất hài lòng

Trong loạt nghiên cứu này chỉ một trường hợp

NOMC kèm hẹp đường mật trong gan bên trái, chúng

tôi chỉ thực hiện cắt nang và phần đường mật trong gan

bị hẹp tuơng đối chưa xử trí Theo các tác giả, nếu hẹp

tương đối đường mật trong gan mà chưa có biến chứng

sỏi mật hoặc xơ gan ở trẻ em, có thể nong đường mật

bằng bóng và theo dõi vì nếu cắt gan trong cùng thì mổ

đầu có thể là phẫu thuật quá đáng [6] Tuy nhiên, các

trường hợp này phải được theo dõi sau mổ

KếT LUậN

PTNS cắt NOMC, nối mật ruột Roux-en-Y kèm xử

trí các bất thường và các biến thể đường mật phối hợp

trong NOMC là khả thi, an toàn, ít biến chứng và cho

kết quả tốt Tuy nhiên, phẫu thuật viên cần phải có

kinh nghiệm về kỹ năng PTNS nâng cao và kỹ năng

về phẫu thuật gan mật để giải quyết các thể loại phức

tạp này

TàI LIệU THAM KHảO

1 Nguyễn Tấn Cường (2008), "Kết quả bước đầu cắt

nang đường mật qua ngã nội soi" Y học Thành phố Hồ

Chí Minh, 4(12), tr 143-149

2 Trương Nguyễn Uy Linh (2008), "Đánh giá kết quả

phẫu thuật cắt nang triệt để và nối cao mật - ruột trong

điều trị nang ống mật chủ ở trẻ em" Y học Thành phố Hồ

Chí Minh, 4(12), tr 411-420

3 Dong, Q., Jiang, B., Zhang, H., Jiang, Z., Lu, H., Yang, C., et al (2006), "Management strategy for congenital choledochal cyst with co-existing intrahepatic dilation and aberrant bile duct as well as other

complicated biliary anomalies" Yonsei Med J, 47(6),

826-832

4 Kemmotsu, H., Mouri, T., Muraji, T (2009),

"Congenital stenosis of the hepatic duct at the porta

hepatis in children with choledochal cyst" J Pediatr Surg,

44(3), 512-516

5 Kim, J H., Choi, T Y., Han, J H., Yoo, B M., Hong, J., Kim, M W., et al (2008), "Risk factors of postoperative anastomotic stricture after excision of choledochal cysts with hepaticojejunostomy" J Gastrointest Surg, 12(5), 822-828

6 Koshinaga, T., Inoue, M., Ohashi, K., Sugito, K., Ikeda, T., Hagiwara, N., et al (2011), "Persistent biliary dilatation and stenosis in postoperative congenital

choledochal cyst" J Hepatobiliary Pancreat Sci, 18(1),

47-52

7 Li, L., Liu, S L., Hou, W Y., Cui, L., Liu, X L., Jun, Z., et al (2008), "Laparoscopic correction of biliary duct

stenosis in choledochal cyst" J Pediatr Surg, 43(4),

644-646

8 Miyano, G., Koga, H., Shimotakahara, A., Takahashi, T., Kato, Y., Lane, G J., et al (2011),

"Intralaparoscopic endoscopy: its value during

laparoscopic repair of choledochal cyst" Pediatr Surg Int,

27(5), 463-466

9 Mortele, K J., Ros, P R (2001), "Anatomic variants of the biliary tree: MR cholangiographic findings

and clinical applications" AJR Am J Roentgenol, 177(2),

389-394

10 Nguyen Thanh, L., Hien, P D., Dung le, A., Son, T

N (2010), "Laparoscopic repair for choledochal cyst:

lessons learned from 190 cases" J Pediatr Surg, 45(3),

540-544

NGHIÊN CứU THựC TRạNG CƠ CấU Và PHÂN Bố NGUồN NHÂN LựC Y Tế TRONG QUÂN ĐộI

TóM TắT

Mục tiêu: Mô tả thực trạng cơ cấu và sự phân bổ

nguồn nhân lực nhân viên quân y trong các cơ sở

Quân y từ tuyến Trung ương đến tuyến Sư đoàn

Phương pháp:Nghiên cứu mô tả cắt ngang Kết quả: ở

hệ dự phòng và hệ điều trị nhóm tuổi từ 36-46 chiếm tỷ

lệ cao nhất; nhóm tuổi từ 56-60 chiếm tỷ lệ thấp nhất;

57,1% NVYT có tuổi nghề trên 16 năm, 13,9% NVYT

dưới 5 năm tuổi nghề ở hệ dự phòng kỹ thuật viên

chiếm một tỷ lệ khá lớn so với các nghề nghiệp khác; ở

hệ điều trị, tỷ lệ bác sỹ, dược sỹ và điều dưỡng chiếm

chủ yếu (trên 80%), và tỷ lệ bác sĩ/chức danh chuyên

môn y tế khác (Điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên) tại

tuyến Trung ương là 1/2,1; tuyến Quân khu là 1/1,4;

Quân đoàn là 1/3,3; Sư đoàn là 1/8,6 Kết luận: Sự

phân bố tỷ lê nam/nữ, tuổi nghề, nghề nghiệp giữa các

hệ và các tuyến có khác nhau Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu phần nào cho thấy đang có thiếu hụt nhân lực y tế trong ngành quân y về số lượng, cơ cấu NVYT tại các tuyến

Từ khóa: nhân viên y tế, quân khu, sư đoàn, quân

đoàn

summary

Ojective: Description of configuration and distribution of health staffs among military health facilities Methods: cross-sectional study Results: In preventive sector and clinical sector, age-group 36-46 accounted for the highest rate; 56-60 years old accounted for the lowest rate 57,1% of health staffs has over 16 years-career, 13.9% under 5 years-career

In preventive sector health technicians accounted for

a high rate compared to other professional In clinical

Ngày đăng: 23/08/2015, 21:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Phân bố xử lý các bất thường - ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG xử TRÍ QUA nội SOI các bất THƯỜNG và các BIẾN THỂ GIẢI PHẪU ĐƯỜNG mật PHỐI hợp TRONG NANG ỐNG mật CHỦ TRẺ EM
Bảng 2. Phân bố xử lý các bất thường (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w