Kết luận: kiến thức của nam giới có vợ 15-49 tuổi có con dưới 2 tuổi về dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai chưa tốt.. Kiến thức của nam giới về chăm sóc trong sinh cho phụ nữ
Trang 1KếT LUậN
- Môi trường lao động:
+ Cường độ tiếng ồn theo mức áp âm chung: Xí
nghiệp thương mại mặt đất Nội Bài cường độ dao động
từ 70-108dBA, có 54/72 vị trí (chiếm 75%) vượt
TCVSCP từ 1- 23dBA Khu vực tiếng ồn cao chủ yếu là
khu vực sân đỗ và trạm sửa chữa; Tổng công ty dệt
Phong Phú: cường độ tiếng ồn từ 73.9 - 96.1dBA, số
mẫu cường độ tiếng ồn vượt TCVSCP chiếm 58.5%
100% khu vực máy dệt có tiếng ồn cao vượt TCVSCP
+ Phân tích theo 8 dải tần số thì cường độ tiếng ồn
thường cao ở các dải tần số cao từ 1000 - 8000Hz
- Tỷ lệ mới mắc (IDR) bệnh điếc nghề nghiệp:
+ IDR tính chung cả 2 cơ sở nghiên cứu là 65.10-4
năm - người
+ IDR của XN TMMĐ Nội Bài là 37.10-4
năm - người
+ IDR của Tổng Công ty Dệt Phong Phú là 165.10-4
năm - người
KHUYếN NGHị
Để thực hiện tốt kế hoạch phòng chống bệnh nghề
nghiệp thuộc chương trình Quốc gia về Bảo hộ lao
động, An toàn lao động, Vệ sinh lao động đến năm
2010 giảm tỷ lệ mới mắc bệnh điếc nghề nghiệp góp
phần bảo vệ sức khỏe, sức nghe cho công nhân tiếp
xúc với tiếng ồn chúng tôi có một số kiến nghị như sau:
- Cục Y tế dự phòng Việt Nam, Bộ Y tế cần xây
dựng chương trình hành động cụ thể về “Giám sát
tiếng ồn trong môi trường lao động và thực hiện các
biện pháp dự phòng” để công tác dự phòng bệnh điếc
nghề nghiệp tại các doanh nghiệp/cơ sở sản xuất đạt
hiệu quả cao
- Cần triển khai sâu, rộng và hiệu quả công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền về vấn đề điếc nghề nghiệp tại các cơ sở nguy cơ để nâng cao hiểu biết và
ý thức dự phòng bệnh của người lao động
TàI LIệU THAM KHảO
1 Vũ Đình Cán, Đỗ Văn Đảng, 1992, ảnh hưởng của tiếng ồn động cơ máy bay Mig- 21 đến thính lực của thợ máy, Báo cáo tóm tắt Hội nghị khoa học Y học lao động
và Vệ sinh môi trường toàn quốc lần thứ nhất, Hà Nội
1992
2 Nguyễn Quang Khanh, 2003, Thực trạng tiếng ồn
và sức nghe của công nhân sữa chữa máy bay và thiết bị chuyên dụng thuộc Tổng công ty Hàng không Việt Nam,
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường, Hà Nội 2002
3 Phạm Xuân Ninh, 1998, ảnh hưởng tiếng ồn đến thính lực bộ đội sửa chữa máy bay, Báo cáo tóm tắt Hội
nghị khoa học y học lao động và Vệ sinh môi trường toàn quốc lần thứ ba, Hà Nội 1998
4 Nguyễn Huy Thiệp, 1992, Tình hình bệnh điếc nghề nghiệp của công nhân ngành dệt, Báo cáo tổng kết
đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ công nghiệp, 1992, tr34
5 Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường, 2003,
Tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ hiện mắc, Tài liệu tập huấn Chương
trình giám sát y tế, Hà Nội, 2003
6 Nelson,D et al, The global burden of occupational noise induced hearing loss, American Journal of Industrial
Medicine, 2005, p1
7 Occupational Safety & Health (1995), Occupational noise exposure, Occupational Safety & Health Administration 200 Constitution Avenue,NW Washington,
DC 20210; pp 1910
8 Sataloff RT., 1984, Occupational hearing loss,
Texas med 1984 - v80, IV 62-64
Mô tả kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới
có vợ 15-49 tuổi có con nhỏ dưới 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ năm 2010-2011
Lê Thiện Thái - Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả kiến thức và một số thực hành về
làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15-49 tuổi có con
nhỏ dưới 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ năm 2010-2011
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu
mô tả cắt ngang trên 210 nam giới có vợ 15-49 tuổi có
con dưới 2 tuổi tại Phú Thọ năm 2010-2011, chọn mẫu
30 chùm ngẫu nhiên theo 2 bước
Kết quả: Kiến thức của nam giới có vợ 15-49 tuổi có
con dưới 2 tuổi về dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ
mang thai, chuyển dạ và sau khi sinh chưa tốt (tỷ lệ
biết từ 3 dấu hiệu trở lên lần lượt 22,3%, 33,8%,
22,4%) Phần lớn nam giới đều đưa vợ đến cơ sở y tế
sinh con (94,7%) và khi phụ nữ gặp dấu hiệu nguy
hiểm khi mang thai (90,5%), sau khi sinh (87,1%)
97,6% nam giới biết phụ nữ mang thai cần khám thai 3
lần trở lên
Kết luận: kiến thức của nam giới có vợ 15-49 tuổi có
con dưới 2 tuổi về dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ
mang thai chưa tốt Phần lớn nam giới đã đưa vợ đến
cơ sở y tế sinh con và khi phụ nữ mang thai gặp dấu hiệu nguy hiểm
Từ khóa: làm mẹ an toàn, dấu hiệu nguy hiểm, phụ
nữ mang thai
summary
Objective: to describe knowledge and some practices about safe motherhood by male had wife
15-49 year olds with young children under 2 year olds in Phu Tho province in 2010-2011
Subjects and Methods: cross-sectional descriptive study was carried out among 210 male had wife 15-49 year olds with young children under 2 year olds in Phu Tho province in 2010-2011, with randomly selected 30 tufts sample according to 2 steps
Results: a knowledge of male had wife 15-49 year olds with young children under 2 year olds about signs dangerous with regard to the pregnant women, childbearing of women and postpartum weren’t well (the prevalence knew from 3 signs upward to follow the order was 22.3%, 33.8%, 22.4%) Most, the male were
Trang 2brought his wife to the health care for childbirth
(94.7%) and when women had signs dangerous during
pregnancy (90.5%), postpartum (87.1%) 97.6% men
knew pregnant women need examination prenatal 3
times upward
Conclusion: a knowledge of male had wife 15-49
year olds with young children under 2 year olds about
signs dangerous with regard to the pregnant women
weren’t well Most, the male were brought his wife to
the health care for childbirth and when the pregnant
women had signs dangerous
Keywords: safe motherhood, signs dangerous,
pregnant women
ĐặT VấN Đề
Làm mẹ an toàn là tất cả phụ nữ đều được nhận sự
chăm sóc cần thiết để được hoàn toàn khỏe mạnh
trong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và sau đẻ Theo
Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) để đảm bảo an toàn
cho mẹ và con trong quá trình mang thai và sinh, người
phụ nữ phải được cán bộ y tế có trình độ chuyên môn
chăm sóc và theo dõi Trên Thế giới mỗi năm có
khoảng hơn 350.000 ca tử vong mẹ do thai nghén và
sinh đẻ, phần lớn trong số này xảy ra ở các nước đang
phát triển Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong mẹ là
160/100.000 theo nghiên cứu điều tra tử vong mẹ của
Bộ Y tế năm 2002, cao hơn nhiều so với mức
90/100.000 theo công bố của UNICEF và TCYTTG
Đặc biệt là tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây
Nguyên, tỷ lệ tử vong mẹ còn ở mức rất cao
178/100.000 ca sinh sống [2]
Nguyên nhân tử vong mẹ chủ yếu là do các biến
chứng và bệnh nhiễm trùng xảy ra trong quá trình
mang thai Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp tử vong
mẹ và con đều có thể tránh được bằng cách chăm sóc
sức khỏe cho bà mẹ tốt trong thời kỳ mang thai, sinh
đẻ và sau sinh [7] Trong đó có vai trò rất quan trọng
của người nam giới; kiến thức và thực hành của họ sẽ
ảnh hưởng rất lớn đến làm mẹ an toàn của người phụ
nữ Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam chưa có nhiều
nghiên cứu về vấn đề này Từ những lý do trên, nghiên
cứu đã được tiến hành với mục tiêu Mô tả kiến thức
và một số thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới
có vợ 15-49 tuổi có con nhỏ dưới 2 tuổi tại tỉnh Phú
Thọ năm 2010-2011”
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1 Đối tượng nghiên cứu: Tiêu chuẩn lựa chọn:
nam giới có vợ 15-49 tuổi có con dưới 2 tuổi, sống tại
Phú Thọ năm 2010-2011, có khả năng trả lời các câu
hỏi và tự nguyện tham gia nghiên cứu Tiêu chuẩn loại
trừ: nam giới có vợ 15-49 tuổi nhưng không có con dưới
2 tuổi, có các biểu hiện tâm thần và không tự nguyện
tham gia nghiên cứu
2 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả
cắt ngang nhằm mô tả kiến thức và một số thực hành
về làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15-49 tuổi có
con nhỏ dưới 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ năm 2010-2011
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức sau:
DE Z
2
q p
Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu
Z1-/2: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% (=1,96) p: Tỷ lệ nam giới biết về dấu hiệu chảy máu sau sinh, p=50%
q=1-p: Tỷ lệ nam giới không biết về dấu hiệu chảy máu sau sinh (=50%)
d: Độ chính xác mong muốn nghiên cứu: (=10%) DE: Hệ số chọn mẫu (=2)
Cỡ mẫu nghiên cứu tính được tối thiểu là 194, trong nghiên cứu này lấy cỡ mẫu là 210 nam giới có vợ
15-49 tuổi có con dưới 2 tuổi Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu 30 chùm ngẫu nhiên theo
2 bước: (1) Bước 1: Chọn ngẫu nhiên 30 xã trong số tất cả các xã của tỉnh; (2) Bước 2: Chọn 7 đối tượng từ mỗi xã dựa theo danh sách nam giới có vợ tuổi 15-49 có con dưới 2 tuổi do cán bộ y tế thôn bản cung cấp Chọn ngẫu nhiên nam giới đầu tiên (bằng cách sử dụng số đăng ký trên đồng tiền giấy) và chọn hộ tiếp theo để tiếp tục tìm được những nam giới khác theo kỹ thuật cổng liền cổng cho đủ 7 người nam giới
KếT QUả
1 Đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu
Nam giới tham gia nghiên cứu có độ tuổi 20-29 chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 58,6%) Tiếp đến là ở độ tuổi 30-39 (37,6%) Nam giới ở độ tuổi 40-49 chiếm tỷ
lệ rất thấp (3,3%) và không có đối tượng nghiên cứu nào <20 tuổi Trong đó, nam giới tham gia nghiên cứu chủ yếu là dân tộc kinh (86,2%) Và hầu hết họ đều không theo tôn giáo chiếm 97,1%
Tỷ lệ nam giới có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm cao nhất là 43,8%, tiếp đến trình độ học vấn trung học phổ thông (29,5%), cao đẳng (13,8%) và tiểu học (12,9%) Không có đối tượng nghiên cứu nào mù chữ Hầu hết họ đều sinh từ 1-2 con chiếm 95,7%, chỉ
có 4,3% là có con thứ 3 trở lên
2 Kiến thức của nam giới về chăm sóc trước sinh cho phụ nữ mang thai
Tỷ lệ nam giới biết 2 dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai là cao nhất (44,3%), tiếp đến là biết
1 dấu hiệu (25,7%); 3 dấu hiệu (15,7%) Chỉ có 6,6% nam giới biết từ 4 dấu hiệu trở lên và không có nam giới nào biết đồng thời cả 6 dấu hiệu nguy hiểm Bên cạnh đó vẫn còn 7,7% nam giới không biết bất kỳ 1 dấu hiệu nguy hiểm nào đối với phụ nữ mang thai Bảng 1 Tỷ lệ nam giới biết được từng dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai
Các dấu hiệu phụ nữ mang thai gặp nguy hiểm Số lượng Tỷ lệ % Sốt cao kéo dài 132 62,9
Chảy máu ở cửa mình 90 42,9
Đau bụng 108 51,4
Trong các dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai thì dấu hiệu sốt cao kéo dài được nhiều nam giới biết nhất chiếm tỷ lệ 62,9%, tiếp đó là dấu hiệu đau bụng (51,4%), chảy máu cửa mình (42,9%) Dấu hiệu
mà nam giới ít biết đến là dấu hiệu đau đầu (9,5%),
Trang 3phù (6,2%) và dấu hiệu khác như cúm, buồn nôn,
chóng mặt, chán ăn, người xanh, giảm cân (6,2%)
Khi vợ có dấu hiệu nguy hiểm trong khi mang thai thì
hầu hết nam giới đều biết phải đưa vợ tới cơ sở y tế nhà
nước (90,5%) Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số ít
nam giới cho biết họ sẽ mời thầy thuốc đến nhà hoặc
chữa trị tại phòng khám tư nhân hoặc để tự khỏi
Hầu hết nam giới đều biết cần khám thai từ ba lần trở
lên đối với phụ nữ mang thai trong một thai kỳ (97,6%)
Chỉ một số ít nam giới cho biết cần khám 1 lần (1,0%) và
khám 2 lần (1,4%) và không có nam giới nào cho rằng
không cần và không biết số lần khám thai
Về số mũi vaccin phòng uốn ván cho phụ nữ trong
lần mang thai đầu tiên, đa số nam giới cho biết là cần
tiêm 2 mũi (51,4%), tiếp đến là cần tiêm 1 mũi (35,7%),
cần tiêm 3 mũi trở lên (8,1%) Tuy nhiên vẫn còn 4,8%
nam giới không biết về số mũi tiêm phòng uốn ván cho
phụ nữ ở lần mang thai đầu tiên
3 Kiến thức và thực hành của nam giới về chăm
sóc trong sinh cho phụ nữ mang thai
3.1 Kiến thức của nam giới về chăm sóc trong sinh
cho phụ nữ mang thai
Có 33,8% nam giới biết từ 3 dấu hiệu nguy hiểm trở
lên đối với phụ nữ trong chuyển dạ Hơn một nửa nam
giới được phỏng vấn chỉ biết từ 1 đến 2 dấu hiệu nguy
hiểm Còn 10% nam giới không biết bất kỳ dấu hiệu
nguy hiểm nào đối với phụ nữ mang thai trong quá
trình chuyển dạ
Bảng 2 Tỷ lệ nam giới biết được từng dấu hiệu
nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai trong chuyển dạ
Các dấu hiệu phụ nữ chuyển dạ gặp
nguy hiểm Số lượng Tỷ lệ %
Đau bụng dữ dội 117 55,7
Chảy nhiều máu 97 46,2
Vỡ ối sớm trước khi đẻ 102 48,6
Không biết 21 10,0
Dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ chuyển dạ được
nhiều nam giới biết đến nhất là đau bụng dữ dội
(55,7%), tiếp đến là dấu hiệu vỡ ối sớm trước khi đẻ
(48,6%), dấu hiệu chảy nhiều máu (46,2%) Dấu hiệu
nguy hiểm được ít nam giới biết đến là co giật (16,2%)
Tuy nhiên vẫn còn 10,0% nam giới không biết đến dấu
hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ trong quá trình chuyển
dạ
Tất cả nam giới đều biết người đỡ đẻ tốt nhất cho
phụ nữ mang thai là nhân viên y tế
3.2 Thực hành về chăm sóc trong sinh của người
nam giới khi phụ nữ sinh nở
Khi tìm hiểu về người giúp đỡ phụ nữ chuẩn bị cho
việc sinh đẻ thì 90% nam giới được phỏng vấn cho biết
chồng là người giúp đỡ vợ chuẩn bị cho việc sinh đẻ
Ngoài ra còn có mẹ chồng, mẹ đẻ và người khác trong
gia đình (anh, chị, em) cũng giúp đỡ phụ nữ chuẩn bị
nhưng với tỷ lệ thấp hơn
Hầu hết nam giới đều đưa vợ đi đẻ trong lần sinh
con vừa rồi chiếm 94,7%, chỉ có 5,3% nam giới không
đưa vợ đi đẻ
4 Kiến thức của nam giới về chăm sóc sau sinh
đối với phụ nữ sau sinh
Đa số nam giới biết 1-2 dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ sau sinh chiếm tỷ lệ 70,9% (trong đó 34,7% biết 1 dấu hiệu, 36,2% biết 2 dấu hiệu) Chỉ có 20,5% nam giới biết được 3 dấu hiệu nguy hiểm, và có rất ít
kể được 4-5 dấu hiệu nguy hiểm Có 6,7% nam giới không biết dấu hiệu nguy hiểm nào đối với người phụ nữ sau khi sinh
Bảng 3 Tỷ lệ nam giới biết được từng dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ sau khi sinh
Dấu hiệu phụ nữ sau sinh gặp nguy hiểm Số lượng Tỷ lệ % Chảy máu kéo dài và tăng lên 179 85,2
Ra dịch âm đạo có mùi hôi 10 4,8 Sốt cao kéo dài 39 18,6
Đau bụng kéo dài và tăng lên 100 47,6
Co giật 31 14,8
Không biết 14 6,7
Dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ sau khi sinh
được nam giới biết đến nhiều nhất là chảy máu kéo dài
và tăng lên (85,2%), tiếp đến là dấu hiệu đau bụng kéo dài và tăng lên (47,6%), sốt cao kéo dài (18,6%), co giật (14,8%) Có tỷ lệ rất thấp nam giới biết dấu hiệu nguy hiểm là dấu hiệu ra dịch âm đạo có mùi hôi (4,8%) và nhiễm trùng, sót rau… (3,3%)
Phần lớn nam giới đều biết đưa phụ nữ sau sinh
đến cơ sở y tế nhà nước khi gặp dấu hiệu nguy hiểm (87,1%) Có tỷ lệ thấp nam giới mời cán bộ y tế đến nhà (5,2%) và đưa vợ đến phòng khám tư nhân (3,8%) Tuy nhiên, vẫn còn 6,1% nam giới chọn cách để vợ ở nhà chờ bệnh tự khỏi Không có nam giới nào tìm đến thầy lang, cúng để chữa bệnh cho vợ khi gặp dấu hiệu nguy hiểm
BàN LUậN
1 Kiến thức của nam giới về chăm sóc trước sinh đối với phụ nữ mang thai
Thai nghén là giai đoạn có nhiều nguy cơ tiềm ẩn,
có thể dẫn đến những vấn đề sức khỏe trầm trọng như bệnh tật, tử vong hoặc các biến chứng lâu dài sau sinh
mà bất cứ một phụ nữ nào cũng có thể mắc phải trong thời kỳ mang thai Bản thân người phụ nữ và người chồng cần biết sớm những dấu hiệu nguy hiểm đó để
có thể xử lý kịp thời Kết quả nghiên cứu thấy tỷ lệ nam giới biết từ 3 dấu hiệu nguy hiểm trở lên là 22,3%, cao hơn so với báo cáo về chăm sóc sức khỏe sinh sản tại
7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005 với tỷ lệ là 10,4% [10] Và thấp hơn một số nghiên cứu khác là khoảng 1/3 số phụ nữ biết ít nhất 3 dấu hiệu nguy hiểm trong khi người phụ nữ mang thai [4], [8] Đồng thời, tỷ lệ nam giới không biết bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào theo nghiên cứu này là 7,7%, thấp hơn so với tỷ lệ 44,7% theo nghiên cứu tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ [10]
và 31,2% phụ nữ không biết bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào theo điều tra của chương trình giảm tử vong mẹ và
tử vong trẻ sơ sinh năm 2009 [2] Điều này cho thấy, hiểu biết của nam giới về chăm sóc trước sinh cho phụ nữ mang thai là tương đối tốt đã có nhiều cải thiện tốt
so với những năm trước đây Có được điều này là do trong những năm gần đây, các chương trình chăm sóc
Trang 4sức khỏe sinh sản được triển khai rộng rãi (trong đó có
tỉnh Phú Thọ), đã có tác động tốt đến nhận thức của
người dân, đặc biệt là nam giới Tuy nhiên, kiến thức về
làm mẹ an toàn của nam giới vẫn còn một số hạn chế
nhất định; do trình độ học vấn của họ còn thấp nên vẫn
chưa nhận thức được đầy đủ; đồng thời họ sống tại
nông thôn nên chưa được tiếp cận một cách tốt nhất
với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, trong đó có làm
mẹ an toàn
Trong nghiên cứu này, dấu hiệu sốt cao kéo dài
(62,9%) và dấu hiệu đau bụng (51,4%) được nhiều
nam giới biết nhất Trong khi đó, kết quả của một số
nghiên cứu khác cho thấy các dấu hiệu nguy hiểm
được biết đến nhiều nhất là đau bụng và chảy máu âm
đạo [2], [10] Điều này cũng tương đối phù hợp với thực
tế, vì thường phụ nữ chỉ nói với chồng mình về các dấu
hiệu như sốt, đau bụng; còn dấu hiệu chảy máu âm
đạo do tâm lý nên nhiều người không cho chồng biết
do đó có sự khác biệt như trên
Khi phụ nữ mang thai có dấu hiệu nguy hiểm thì
90,5% nam giới biết phải đưa vợ tới cơ sở y tế nhà
nước, thấp hơn 97,9% đi đến cơ sở y tế nhà nước theo
báo cáo năm 2005 do UNFPA tài trợ [10] Điều này
cho thấy, tuy kiến thức về phát hiện các dấu hiệu nguy
hiểm đối với phụ nữ trước sinh của nam giới đã được
cải thiện nhưng thái độ và thực hành của họ trong xử trí
các dấu hiệu nguy hiểm trên chưa được cải thiện Do
đó, các cán bộ y tế cần tăng cường tuyên truyền, vận
động để họ có thái độ tích cực và thực hành tốt hơn,
nâng cao hiệu quả của chương trình
Uốn ván sơ sinh là một trong 5 tai biến sản khoa
mà chúng ta có thể phòng chống được nếu trong thời
gian mang thai người phụ nữ được tiêm đủ mũi vắc xin
phòng uốn ván Nghiên cứu cho thấy 51,4% nam giới
biết cần phải tiêm 2 mũi uốn ván cho phụ nữ trong lần
mang thai đầu tiên, kết quả này thấp hơn so với 61,0%
theo nghiên cứu điều tra ban đầu về thực trạng cung
cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh
do UNFPA tài trợ năm 2005 [10], 85,4% ở Hải Dương,
90,5% ở Bắc Ninh, 88,5% theo Báo cáo của Vụ Chăm
sóc SKSS năm 2006 [1] Có sự khác biệt này có thể do
công tác truyền thông giáo dục sức khỏe sinh sản của
tỉnh Phú Thọ chưa toàn diện, vấn đề tiêm phòng uốn
ván cho phụ nữ mang thai chưa được quan tâm đúng
mức Đồng thời do người dân chưa nhận thức được đầy
đủ về tầm quan trọng của tiêm phòng uốn ván Do vậy,
cần có kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe cho
phụ nữ mang thai và cả chồng của họ về vấn đề này
2 Kiến thức và thực hành của nam giới về chăm
sóc trong sinh đối với phụ nữ mang thai
Chuyển dạ là quá trình quan trọng, dễ xảy ra tai
biến cho cả mẹ và thai nhi, vì vậy cần được theo dõi
chuyển dạ tại cơ sở y tế để hạn chế tối đa các tai biến
như băng huyết, sa dây rau, vỡ ối sớm, kiệt sức khi
chuyển dạ… Hiểu biết về các dấu hiệu nguy hiểm của
người mẹ trong quá trình chuyển dạ rất quan trọng đối
với cả sản phụ và chồng của họ để kịp thời phát hiện
và xử trí dấu hiệu nguy hiểm, từ đó tránh những tai biến
cho mẹ và thai nhi Theo kết quả của nghiên cứu cho
thấy có 33,8% nam giới biết được từ 3 dấu hiệu nguy
hiểm trở lên đối với phụ nữ trong quá trình chuyển dạ, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 7,9% theo kết quả điều tra ban đầu về thực trạng cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm
2005 [10] Đồng thời, tỷ lệ nam giới không biết bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào đối với phụ nữ trong quá trình chuyển dạ là 10% thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 44,3% theo kết quả điều tra tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm
2005 [10] và thấp hơn tỷ lệ 41,9% phụ nữ không biết bất kỳ một dấu hiệu nguy hiểm nào theo báo cáo điều tra cơ bản chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ sơ sinh [2] Từ đó cho thấy, kiến thức của nam giới trong nghiên cứu này về chăm sóc sức khỏe của phụ nữ trong sinh đã có rất nhiều cải thiện so với những năm trước Có được điều này là do hiệu quả của chương trình quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản
đã được triển khai trên cả nước, trong đó có tỉnh Phú Thọ Trong đó, dấu hiệu nguy hiểm trong chuyển dạ của phụ nữ mang thai được nam giới biết đến nhiều nhất là đau bụng chiếm tỷ lệ 55,7% Tương tự với một
số nghiên cứu Đau bụng thường là dấu hiệu sớm trong chuyển dạ, khi biết được dấu hiệu này thì người chồng
sẽ đưa vợ đi khám sớm tại các cơ sở y tế, do vậy sẽ làm giảm được các tai biến cho cả mẹ va thai nhi Tất cả nam giới đều biết người đỡ đẻ tốt nhất cho
vợ mình là nhân viên y tế (100%) Kết quả này cao hơn
so với kết quả của nghiên cứu điều tra tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005 với tỷ lệ này là 82,7% Điều này là do kết quả của chương trình quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản đã được triển khai trên cả nước
Đồng thời do nhận thức và thái độ của người dân đã
được nâng lên
Do có nhận thức tốt về người đỡ đẻ tốt nhất nên hầu hết nam giới đã đưa vợ mình đến sinh con tại cơ
sở y tế nhà nước chiếm 94,7%, cao hơn nhiều so với kết quả của một số nghiên cứu tại ấn Độ là 31%, Zimbabwe là 50% [5] và Nam Phi là 55,9% [6] Tại Việt Nam hiện nay sinh con ở cơ sở y tế đang trở thành một lựa chọn phổ biến Nghiên cứu thực trạng tình hình dịch
vụ làm mẹ an toàn ở Việt Nam tháng 7/2003 cho thấy,
tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế cho cuộc đẻ khác nhau ở các tỉnh khác nhau, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất vẫn là trạm y tế xã và bệnh viện huyện [3] Báo cáo đánh giá cuối kỳ về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ CSSKSS tại 12 tỉnh tham gia Chương trình Quốc gia 6 năm 2005 thì tỷ lệ bà mẹ đẻ tại cơ sở y tế nhà nước là 81,7% (2003) và 88,2% (2005) [9] Báo cáo điều tra cơ bản Chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ sơ sinh thì hầu hết các sản phụ sinh con tại cơ sở y tế nhà nước, chiếm tỷ lệ cao là sinh con tại các bệnh viện tỉnh
và huyện (60,7%), số sinh ở trạm y tế chỉ chiếm 14,5% [2] Chứng tỏ thực hành chăm sóc trong sinh đối với phụ nữ mang thai của nam giới tại tỉnh Phú Thọ hiện nay đã được thực hiện tương đối tốt Đây là kết quả can thiệp của Chương trình quốc gia 7
3 Kiến thức và thực hành của nam giới về chăm sóc sau sinh đối với phụ nữ mang thai
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 22,4% nam giới biết từ 3 dấu hiệu nguy hiểm trở lên đối với phụ nữ sau khi sinh, cao hơn so với báo cáo điều tra ban đầu về
Trang 5thực trạng cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe
sinh sản tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005 là 7,7%
[10] Tỷ lệ nam giới không biết bất kỳ dấu hiệu nguy
hiểm nào đối với phụ nữ sau sinh trong nghiên cứu này
là 6,7%, thấp hơn so với tỷ lệ 47,0% theo báo cáo ban
đầu tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005 [10] và thấp
hơn tỷ lệ 35,8% phụ nữ không biết được bất kỳ một dấu
hiệu nguy hiểm nào đối với phụ nữ sau sinh theo báo
cáo điều tra cơ bản Chương trình giảm tử vong mẹ và
tử vong trẻ sơ sinh [2] Cũng theo kết quả nghiên cứu
này cho thấy dấu hiệu nguy hiểm được nhiều nam giới
biết đến nhiều nhất là chảy máu kéo dài và tăng lên
(85,2%); phù hợp với kết quả của một số nghiên cứu
tại Việt Nam [2], [10] Dấu hiệu chảy máu kéo dài và
tăng lên sau đẻ là một tai biến quan trọng sau khi sinh
Chảy máu nhiều, kéo dài sau sinh ở sản phụ có thể
dẫn đến shock do giảm khối lượng tuần hoàn và có thể
gây ra tử vong sớm ở phụ nữ sau sinh nếu không được
chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời Do vậy việc phát hiện
sớm dấu hiệu này là rất quan trọng trong theo dõi sản
phụ sau khi đẻ Tỷ lệ nam giới biết dấu hiệu này là
nguy hiểm theo nghiên cứu này chiếm tỷ lệ cao, cho
thấy kiến thức của nam giới là tốt Có được kết quả này
là do hiệu quả của truyền thông giáo dục sức khỏe đã
được triển khai Phần lớn nam giới đều biết đưa phụ nữ
sau sinh đến cơ sở y tế nhà nước khi gặp dấu hiệu
nguy hiểm (87,1%) Bộ Y tế khuyến cáo để tăng cường
dự phòng và cấp cứu 5 tai biến sản khoa thì cần tăng
cường chăm sóc sau đẻ bằng cách theo dõi chặt chẽ
và chăm sóc sản phụ chu đáo trong 6 giờ đầu nhằm
phát hiện sớm những bất thường của mẹ và bé và có
cán bộ y tế theo dõi chăm sóc sản phụ sau đẻ 2-3
ngày
KếT LUậN
Kiến thức của nam giới có vợ 15-49 tuổi có con nhỏ
dưới 2 tuổi về các dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ
trong quá trình mang thai, chuyển dạ và sau khi sinh
chưa tốt (tỷ lệ nam giới biết từ 3 dấu hiệu nguy hiểm trở
lên đối với phụ nữ theo thứ tự là 22,3%, 33,8% và
22,4%) Tuy nhiên, kết quả này đã được cải thiện rất
nhiều so với một số nghiên cứu trước đó
Phần lớn nam giới đều đưa vợ mình đến cơ sở y tế
để sinh con (94,7%) và khi người phụ nữ gặp dấu hiệu
nguy hiểm khi mang thai (90,5%) và sau khi sinh (87,1%)
97,6% nam giới biết phụ nữ mang thai cần khám thai 3 lần trở lên Tuy nhiên, tỷ lệ nam giới biết số mũi tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai chưa cao (51,4% biết cần tiêm phòng 2 mũi uốn ván)
TàI LIệU THAM KHảO
1 Bộ Y tế - Vụ SKSS (2007) Hội thảo triển khai
chăm sóc sức khỏe thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh Vụ
SKSS: tr 36-37
2 Bộ Y tế (2009) Báo cáo kết quả điều tra cơ bản
Chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh tại 14 tỉnh Dự án Điều tra ban đầu, tr 9-24
3 Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê (2003) Báo cáo
chuyên đề: Đánh giá hiệu quả sử dụng dịch vụ y tế Điều
tra y tế quốc gia, tr 4-5
4 Hanoi School of Public Health (2004) Safe Motherhood: Assessment of Service Provision and Client's Needs in 3 Provinces: HaTay, Quang Tri and Kien Giang, in Safe motherhood Hanoi School of Public
Health: Hatay, Quang Tri and Kien Giang
5 Mugweni E, Ehlers VJ, Roos JH (2008 Jun)
Factors contributing to low institutional deliveries in the Marondera district of Zimbabwe Curationis, 31(2): pp
5-13
6 Peltzer K, Mosala T et al (2006) Utilization of
delivery services in the context of prevention of HIV from mother-to-child (PMTCT) in a rural community, South Africa 29(1): pp 54-61
7 Nguyễn Thị Như Tú (2009) Nghiên cứu một số yếu
tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong
và sau sinh của các bà mẹ tại tỉnh Bình Định năm
2008-2009 Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Y
Hà Nội
8 Trinh L, M Dibley and J Byles (2005) Factor
Related to Antenatal Care Utilization in Three Provinces of Vietnam: Long An, Ben Tre and Quang Ngai In3rd Asia
Pacific Conference on Sexual and Reproductive Health Kuala Lumpur, Malaysia
9 UNFPA (2003) Báo cáo điều tra ban đầu Thực
trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản 2003 tại 12 tỉnh Hà Nội, tr 36 - 42
10 UNFPA (2006) Báo cáo điều tra ban đầu thực
trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ CSSKSS tại 7 tỉnh tham gia Chương trình Quốc gia 7 do UNFPA tài trợ Hà
Nội
NGHIÊN CứU BƯớC ĐầU TìNH TRạNG TIÊU XƯƠNG ổ RĂNG QUANH IMPLANT
SAU PHụC HìNH ở NGƯờI VIệT NAM CAO TUổI
Phạm Như Hải, Vũ Anh Dũng Tóm tắt
Cấy ghép răng đặc biệt là ở người cao tuổi chưa
được đánh giá kỹ càng, chưa có một nghiên cứu nào
đưa ra đáp ứng của tổ chức quanh răng đặc biệt là
xương ổ răng của người cao tuổi sau cấy ghép răng
Việc đánh giá tình trạng sức khỏe của xương, tổ chức
quanh răng của người cao tuổi sau khi được cấy
Implant nha khoa đặc biệt là đưa ra được độ tuổi giới
hạn sẽ giúp các bác sĩ thực hành có hướng chỉ định
điều trị
summary
Dental implant for elderly peoples isn't carefully valuated There is not any research shows the response of periodontal tissue especially alveolar bone
of elderly patient with dental implant Evaluation of periodontal health and alveolar bone of elderly people after dental implant placement especially limited age for dental implant will help to give dental implant indication from clinical dentist