ĐáNH GIá THựC TRạNG Và HIệU QUả Sử DụNG THUốC KHáNG SINH Dự PHòNG TRONG PHẫU THUậT VIÊM RUộT THừA CấP TạI BệNH VIệN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THáI NGUYÊN Trần Văn Tuấn - Trường Đại học Y Dược
Trang 1ở nhóm tuổi > 30 tuổi, khoa truyền nhiễm, khoa Khám
bênh- cấp cứu, buổi chiều tạo thói quen trong hoạt
động chăm sóc hàng ngày đây là việc làm có ý nghĩa
quyết định đến chất lượng chăm sóc y tế an toàn cho
người bệnh và nhân viên y tế
Summary
Hospital Infections are all interested countries,
often causes problems due to hospital environment
does not guarantee sterility, and with hand hygiene
procedures is not applied properly Hand hygiene in
health care workers is simple, effective and essential in
the prevention and control hospital Infections
According to Department of Preventive Medicine MOH,
if we apply hand washing procedure properly we can
reduce 50% of hospital Infections General Hospital of
Hoa Binh province is the province's biggest hospital,
the control hospital Infection is one of the lead content
of activities in hospital To date, no study has carry out
to reviews the current status of knowledge and practice
of hand hygiene health staff So we conducted a study
on "Assessment of knowledge and practice of hand
hygiene of healthcare workers in hospitals in Hoa Binh
province in 2010".The result of study shows that: The
knowledge of hand washing is 72% mean while
practice is 34%.Percentage of hand washing is higher
among man than women; nurses higher than Doctors;
age under 30 is higher; busy morning have washing
hand rate higher than in the afternoon Base on that
results some proposal are raised: Strengthening
education on Hand washing for health care staff and more focus on staff with age older than 30; women; doctors; and do supervision more in the afternoon
Keywords: Hospital Infections, Hand hygiene TàI LIệU THAM KHảO
1 Bệnh viện Bạch Mai - Tổ chức Y tế thế giới (2004) "
Đánh giá thực hành dự phòng toàn diện tại một số cơ sở y tế"
2 Lê kiến Ngãi, Khu Thị Khánh Dung: Tỷ lệ NKBV và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Nhi trung ương Tạp chí nghiên cứu y học Đại học y Hà Nội 11;2005
T206-210
3 Nguyễn Việt Hùng (2001), "Chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện tại bệnh viện Bạch Mai",
4 Nguyễn Bích Lưu: "Hướng dẫn cách đánh giá tuân thủ vệ sinh bàn tay ở nhân viên y tế" Tài liệu những kiến thức cơ bản về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, Hà Nội 10/2007.Tr 128-1325
5 Trần Văn Hường:"Tỷ lệ tuân thủ rửa tay thường quy
và một số yểu tố liên quan của nhân viên y tế bệnh viện Nhi Trung Ương từ 2/6-2/7/2006"
6 Tài liệu tổng kết và báo cáo khoa học chống nhiễm khuẩn bệnh viện, Bộ y tế,Vụ điều trị 29/12/2006 Tr 112
7 Semmelweeis Orvostudomanyi Egyetem, Budapest (367/1966) Hungari-an runners Studia Kinanthropologica,3: 1.51-56
8 Allen C.Steere, George F.Mallison (1975), " Handwashing practices for the privetion of nosocomial infection", Anals of Internal Medicine, Vol.83,pp.683-685
ĐáNH GIá THựC TRạNG Và HIệU QUả Sử DụNG THUốC KHáNG SINH
Dự PHòNG TRONG PHẫU THUậT VIÊM RUộT THừA CấP TạI BệNH VIệN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THáI NGUYÊN
Trần Văn Tuấn - Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
TóM TắT
Qua nghiên cứu 100 bệnh nhân được chẩn đoán là
viêm ruột thừa cấp thể điển hình, chưa có biến chứng
Được sử dụng kháng sinh dự phòng trước mổ kết quả
cho thấy: nhóm tuổi gặp viêm ruột thừa nhiều nhất từ
15-25 tuổi; 47% bệnh nhân có triệu chứng sốt từ nhẹ
đến sốt cao >38 0
C; tình trạng ổ bụng có ít dịch viêm chiếm 86% Sau mổ có 34% bệnh nhân có sốt nhẹ
(37,5-38 0
C); tỷ lệ bệnh nhân được sử dụng kháng sinh
dự phòng là 83% và nhóm kháng sinh hay được sử
dụng là C 3 G, chủ yếu là dùng đường tĩnh mạch Có 81
bệnh nhân được dùng phác đồ 1 kháng sinh và 19
bệnh nhân sau mổ được sử dụng phác đồ 2 thuốc
kháng sinh Hiệu quả của kháng sinh dự phòng trong
phẫu thuật viêm ruột thừa cấp: Không biến chứng sau
mổ: 60 (72,3%); sốt sau mổ đơn thuần: 23 (27,7%);
thời gian nằm viện trung bình là 4,3 ngày Kết quả điều
trị sau phẫu thuật: Tốt: 47%; Khá: 49%; Trung bình:
4%; Xấu: 0% Kết luận: sử dụng kháng sinh dự phòng
đem lại hiệu quả tốt sau phẫu thuật viêm ruột thừa chưa có biến chứng
Từ khóa: viêm ruột thừa, kháng sinh dự phòng
trước mổ
SUMMARY
By studying 100 patients diagnosed with acute appendicitis, there are no complications Used prophylactic antibiotics before surgery The results showed that: age group having appendicitis most from 15-25 years old; 47% of patients had mild fever to high fever> 38 0 C; abdominal condition: there services accounted for 86% less inflammation, after surgery, 34% of patients had mild fever (37.5-380C), the proportion of patients used prophylactic antibiotics were 83% and class of antibiotics commonly used as C3 G and given intravenously There are 81 patients given regimen an antibiotic and 19 patients used regimen two kind of antibiotic postoperation The effectiveness of antibiotic prophylaxis in acute
Trang 2appendicitis surgery: No complications ater operating:
60 (72.3%), postoperative fever alone: 23 (27.7%),
average time stay in hospital is 4.3 days The effect of
treatment after surgery: Good: 47%; rather: 49%
average: 4%; Bad: 0% Conclusion: The use of
prophylactic antibiotics effective well after appendicitis
surgery without complications
Keywords: acute appendicitis, antibiotics before
surgery
ĐặT VấN Đề
Sự ra đời của kháng sinh đã đánh dấu bước ngoặt
lớn trong nền y học thế giới Kháng sinh được sử dụng
với hai mục đích là điều trị với các trường hợp thực sự
bị nhiễm khuẩn và dự phòng các trường hợp có nguy
cơ nhiễm khuẩn Tuy nhiên hiện nay việc tuân thủ
đúng nguyên tắc sử dụng nhóm thuốc này chưa được
quản lý chặt chẽ dẫn đến tình trạng vi khuẩn kháng
thuốc kháng sinh ngày càng gia tăng Trên thực tế,
kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật chiếm tỷ lệ khá
cao trong thực hành bệnh viện, đó là một phương pháp
giúp đạt nồng độ tối đa trong huyết tương vào thời
điểm vi khuẩn có khả năng phát triển gây nhiễm khuẩn
vết mổ Xu hướng dùng kháng sinh dự phòng đã được
chứng minh qua rất nhiều công trình ở thế giới và Việt
Nam là làm giảm được 70 – 80% nguy cơ nhiễm khuẩn
sau mổ so với những trường hợp mổ sạch mà không
dùng kháng sinh [4] Vì vậy việc tuân thủ đúng nguyên
tắc và sử dụng nhóm thuốc này sao cho đạt hiệu quả
tốt nhất là rất quan trọng
Viêm ruột thừa cấp là một cấp cứu ngoại khoa
thường gặp mà chỉ định mổ cấp cứu là cách điều trị
duy nhất Hiện nay có phương pháp phẫu thuật hiện
đại như mổ nội soi, tuy nhiên phương pháp mổ mở
truyền thống vẫn được sử dụng nhiều hơn cả Phẫu
thuật cắt ruột thừa viêm giai đoạn chưa biến chứng là
phẫu thuật loại 2 (phẫu thuật sạch - nhiễm bẩn), tỷ lệ
nhiễm khuẩn lên tới 10 - 20% nếu không sử dụng
kháng sinh.[8] Để đánh giá thực trạng và hiệu quả của
việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật,
chúng tôi chọn đề tài này nhằm hai mục tiêu sau: Khảo
sát thực trạng việc sử dụng kháng sinh trước và sau
phẫu thuật viêm ruột thừa cấp tại khoa Ngoại - Bệnh
viên đa khoa trung ương Thái Nguyên; Đánh giá hiệu
quả dự phòng nhiễm khuẩn của thuốc kháng sinh
trong phẫu thuật cắt ruột thừa viêm chưa biến chứng
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm 100 bệnh nhân được chẩn đoán là VRT cấp
thể điển hình, chưa có biến chứng (dựa vào kết quả
thăm khám lâm sàng và chẩn đoán sau mổ)
1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Tiêu chuẩn để lựa chọn bệnh nhân dựa trên các
đặc điểm của loại phẫu thuật II (phẫu thuật sạch -
nhiễm bẩn) theo phân loại phẫu thuật của Altermeier
- Độ tuổi từ 15- 60 tuổi, phẫu thuật vùng ổ bụng lần
đầu
1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân đã có các biến chứng: Viêm phúc mạc ruột thừa, áp xe ruột thừa, đám quánh ruột thừa
- Bệnh nhân có nhiễm khuẩn phối hợp như: viêm
đường hô hấp, tiết niệu
- Bệnh nhân điều trị các bệnh mắc kèm: đái tháo
đường, tim mạch, bệnh lý tuyến giáp, suy thận, các bệnh lý về gan, béo phì, phụ nữ có thai
1.3 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8/2009 đến
tháng 5/2010
1.4 Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa
trung ương Thái Nguyên
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên
cứu mô tả tiến cứu Các thông tin được thu thập theo mẫu bệnh án thống nhất
2.2 Các bước tiến hành
- Hỏi các triệu chứng cơ năng, khám các triệu chứng thực thể: tìm điểm đau, phản ứng thành bụng, cảm ứng phúc mạc
- Cận lâm sàng: siêu âm ổ bụng, làm công thức máu, sinh hóa máu
- Kháng sinh dự phòng được chỉ định tiêm trước mổ
30 phút
3 Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Tuổi - giới
- Tình trạng ổ bụng khi phẫu thuật, đặc điểm vết mổ
- Thời gian sử dụng kháng sinh sau phẫu thuật
- Theo dõi các biến chứng sớm sau mổ: Sốt, nhiễm trùng vết mổ, áp xe thành bụng, viêm phúc mạc sau
mổ
- Số lượng bạch cầu, công thức bạch cầu
- Đánh giá mức độ nhiễm khuẩn vết mổ theo chỉ số sau:
+ Tốt: thời gian nằm viện ≤ 4 ngày, vết mổ khô + Khá: thời gian nằm viện từ 5 – 7 ngày, vết mổ khô nhưng đau nhức tại vết mổ
+ Trung bình: thời gian nằm viện 8 – 10 ngày, vết
mổ có dịch thấm băng, mùi hôi
+ Xấu: nằm viện >10 ngày, vết mổ ướt, có dịch đục, mùi thối, viêm phúc mạc
4 Xử lý số liệu: phương pháp thống kê y học, sử
dụng phần mềm thống kê SPSS 16.0
KếT QUả NGHIÊN CứU
Bảng 1 Đặc điểm về tuổi và giới
Giới tính Nhóm tuổi
15 - 25 23 23,0 20 20,0 43 43,0
26 - 35 12 12,0 12 12,0 24 24,0
36 - 45 9 9,0 6 6,0 15 15,0
46 - 60 6 6,0 12 12,0 18 18,0 Tổng 50 50,0 50 50,0 100 100,0
Nhận xét: nhóm tuổi hay gặp nhất từ 15 – 25 tuổi
(43%) Nhóm tuổi gặp ít nhất là 36 – 45 tuổi (15%) Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 31,49 Không có
sự chênh lệch giữa tỷ lệ nam và nữ trong mẫu nghiên cứu
Bảng 2 Thân nhiệt bệnh nhân trước và sau mổ 48h
Nhiệt độ Trước % Sau mổ 48h %
< 37 0
Trang 337 - 38C 41 41,0 34 34,0
> 380
Nhận xét: Các bệnh nhân trước mổ không có triệu
chứng sốt (chiếm 53%) Triệu chứng sốt nhẹ (37 –
380
C) trên 41% và sốt cao (>380
) chiếm tỷ lệ 6% Sau
mổ, đa số các bệnh nhân giảm và hết sốt, không còn
Bảng 3 Tình trạng ổ bụng và ruột thừa
Tình trạng ruột thừa
Nhận xét: số bệnh nhân có tình trạng ổ bụng chứa
ít dịch phản ứng chiếm 86% Tỷ lệ bệnh nhân viêm ruột
thừa xung huyết (12%), tỷ lệ viêm mủ cao chiếm 88%
)
STT Số lượng bạch cầu Trung bình n %
Nhận xét: bệnh nhân có tăng số lượng bạch cầu 10
>15.000/mm3 chiếm 32%
Bảng 5 Loại kháng sinh dự phòng được chỉ định
Đường dùng Tổng STT Loại KSDP
1 Cefotaxim 64 77,1 17 20,5 81 97,6
2 Ceftriaxone 2 2,4 0 0,0 2 2,4
Tổng 66 79,5 17 20,5 83 100,0
Nhận xét: loại kháng sinh được lựa chọn sử dụng
nhiều nhất trong dự phòng là cefotaxim (cephalosporin
thế hệ 3) chiếm 97,6% Đường dùng được lựa chọn ưu
tiên là tiêm tĩnh mạch chiếm 79,5% Ngoài ra còn dùng
một cephalosporin thế hệ 3 khác là ceftriaxone (2,4%)
Bảng 6 Kháng sinh dùng sau mổ với phác đồ 1
thuốc
STT Loại KS đơn độc Số lần chỉ định %
Nhận xét: nhóm kháng sinh được lựa chọn nhiều
nhất trong phác đồ sử dụng kháng sinh sau mổ chỉ
gồm 1 loại đơn độc đó là cephalosporin thế hệ 3, trong
đó cefotaxim chiếm tỷ lệ cao nhất là 98,8%; còn lại là
ceftriaxone 1,2%
Bảng 7 Kháng sinh dùng sau mổ với phác đồ phối
hợp 2 thuốc
KS phối hợp
Kháng sinh 1 Kháng sinh 2 Số lần chỉ định %
Cefotaxim
Nhận xét: phác đồ điều trị kháng sinh sau mổ phối hợp 2 loại thuốc chiếm tỷ lệ 14% bệnh nhân) Thường
sử dụng phác đồ phối hợp 1 cephalosporin thế hệ 3 và
1 kháng sinh khác
Bảng 8 Theo dõi biến chứng liên quan đến nhiễm khuẩn sau mổ ở 2 nhóm đối tượng có và không sử dụng kháng sinh dự phòng
Có dùng KSDP Không dùng
KSDP Tình trạng nhiễm khuẩn
1 Không biến chứng 60 72,3 9 52,9
2 Sốt sau mổ đơn thuần 23 27,7 3 17,6
3 Nhiễm khuẩn vết mổ
- Nhiễm khuẩn nông, tấy đỏ
- Nhiễm khuẩn sâu mưng mủ
0
0
0
0
5 29,4
4 áp xe thành bụng 0 0 0 0
Nhận xét: các trường hợp biến chứng nhiễm khuẩn vết mổ nhẹ chủ yếu trong nhóm không sử dụng kháng sinh dự phòng
Bảng 9 Thời gian điều trị tại bệnh viện
STT Thời gian Trung bình n %
4 > 10 ngày
4,3
Nhận xét: thời gian nằm viện trung bình của các bệnh nhân sau mổ là 4,38 Khoảng thời gian thường
điều trị VRT cấp là 5 – 7 ngày chiếm tỷ lệ 62% Bảng 10 Kết quả điều trị sau phẫu thuật
Nhận xét: Kết quả phẫu thuật có tỷ lệ tốt là 46% và khá là 50% chiếm chủ yếu trong mẫu nghiên cứu Có 4 trường hợp kết quả trung bình do có 3 bệnh nhân biến chứng nhiễm khuẩn sau mổ nhẹ, 1 bệnh nhân có dị ứng thuốc kháng sinh
BàN LUậN
1 Đặc điểm chung
* Đặc điểm về tuổi và giới: nhóm tuổi gặp nhiều
nhất là 15-25 tuổi chiếm tỷ lệ 42% Điều này được giải thích là khi mới sinh, lớp dưới niêm mạc ruột thừa có vài nang bạch huyết, số lượng của nang tăng lên không ngừng để tới tuổi trưởng thành Các nang bạch huyết này đáp ứng mạnh nhất với các nhiễm khuẩn
đường ruột tại chỗ hay nhiễm khuẩn toàn thân Kết quả này cũng phù hợp với độ tuổi hay gặp của VRT cấp [1], [6] Giới: không có sự chênh lệch về giới trong mẫu nghiên cứu (50/50) Theo một số tài liệu thì ở trẻ em và tuổi vị thành niên thì số nam mắc nhiều hơn số nữ nhưng sau 25 tuổi thì tỷ số này cân bằng [1]
* Thân nhiệt bệnh nhân trước và sau mổ 48h
Tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng sốt nhẹ (37,5 –
380
C) là 41%, sốt cao >380
C là 6% Kết quả này cho
Trang 4thấy sốt nhẹ 37,5 – 38C là triệu chứng khá điển hình
của viêm ruột thừa cấp Điều này phù hợp với nghiên
cứu của một số tác giả khác [9]
Sau mổ 48h, khi nguyên nhân gây sốt đã được giải
quyết, tỷ lệ bệnh nhân còn sốt nhẹ là 34% và không
còn bệnh nhân sốt cao >380
C Đa số bệnh nhân sốt nhẹ sau mổ không có triệu chứng nhiễm khuẩn Kết
quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với kết
quả của Nguyễn Thanh Long [3], với tỷ lệ bệnh nhân
sốt nhẹ (37,5 – 380C) sau mổ 48h đầu là 22% và sốt
>380
C là 7,3%
* Tình trạng ổ bụng và ruột thừa
Khi mổ có 14% số bệnh nhân có tình trạng ổ bụng
khô, 84% có ít dịch phản ứng Tình trạng ổ bụng đánh
giá được mức độ viêm của ruột thừa và ảnh hưởng trực
tiếp đến thành công của liệu pháp kháng sinh dự
phòng Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh
Long [3], tỷ lệ ổ bụng khô là 61% và tình trạng hố chậu
phải có dịch phản ứng là 39% Kết quả của chúng tôi
có sự khác biệt với tác giả này
2 Thực trạng việc sử dụng kháng sinh trước và
sau phẫu thuật
* Lựa chọn kháng sinh
Nhóm kháng sinh hay được sử dụng nhất trong
phác đồ kháng sinh dự phòng đó là cephalosporin thế
hệ 3, gồm có cefotaxim và ceftriaxone Liều dùng là
1g/lần với cả 2 loại kháng sinh trên Đây là nhóm
kháng sinh phổ rộng, ưu điểm là có phổ tác dụng lên
nhiều loại vi khuẩn đường ruột gram âm, là nhóm vi
khuẩn thường gặp và là yếu tố nguy cơ của nhiễm
khuẩn phẫu thuật cắt ruột thừa viêm Như vậy hiệu
lực tác dụng của nhóm kháng sinh này dùng cho mục
đích dự phòng là tốt, phổ rộng nên tác dụng lên hầu
hết tác nhân nguy cơ thường gặp trong phẫu thuật
VRT cấp [3]
* Kháng sinh sử dụng sau mổ: Kháng sinh được sử
dụng là loại đã dùng cho bệnh nhân để dự phòng
nhiễm khuẩn trước mổ Sau đó nếu thấy nguy cơ
nhiễm khuẩn cao thì có thể phối hợp thêm 1 loại kháng
sinh khác (metronidazol, gentamicin) để nới rộng phổ
tác dụng, dự phòng bao vây nguy cơ nhiễm khuẩn sau
mổ Thời gian dùng kháng sinh chủ yếu là đến khi
bệnh nhân ổn định ra viện
* Sử dụng phác đồ kháng sinh phối hợp sau mổ:
Các cặp phối hợp này chủ yếu là làm nới rộng phổ tác
dụng của kháng sinh Cặp phối hợp chủ yếu là 1 kháng
sinh C3G với metronidazol mở rộng phổ tác dụng trên
vi khuẩn kị khí đường tiêu hoá Có thể là do xét thấy có
nguy cơ nhiễm khuẩn cao: thể trạng bệnh nhân yếu,
thành bụng dày, ruột thừa viêm mủ doạ vỡ nên bác
sỹ chỉ định thêm kháng sinh phối hợp, tăng hiệu quả
điều trị Các phối hợp này đều không có tương tác nào
đáng kể
3 Đánh giá kết quả sử dụng kháng sinh dự
phòng trong phẫu thuật
Số bệnh nhân không biến chứng sau mổ là 69,
trong đó có 9 bệnh nhân thuộc nhóm không sử dụng
KSDP Những bệnh nhân này được tiêm kháng sinh
ngay sau mổ và sau đó được chỉ định kháng sinh đến khi ổn định với nhịp đưa thuốc là 2 lần/ngày Số bệnh nhân sốt sau mổ đơn thuần là 26, trong đó có 3 trường hợp thuộc nhóm không sử dụng kháng sinh dự phòng Những trường hợp này được dùng thuốc hạ sốt, nhiệt
độ giảm dần và không có biểu hiện nhiễm khuẩn Đây
có thể là phản ứng sốt sau mổ do ứ đọng dịch, tụ máu
Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ là 5 trường hợp chiếm 5% Trong số đó cả 5 trường hợp đều thuộc nhóm không sử dụng kháng sinh dự phòng Các trường hợp nhiễm trùng đều không nặng, chỉ là viêm tấy đỏ vết mổ, vết
mổ khi cắt chỉ không liền, có dịch thấm băng màu vàng Những trường hợp này sau khi điều trị kháng sinh vài ngày đều ổn định Các số liệu trên sơ bộ cho
ta thấy hiệu quả của liệu pháp KSDP trong việc làm giảm tỷ lệ biến chứng nhiễm khuẩn sau mổ Với những trường hợp có biến chứng nhiễm khuẩn vết mổ nói trên, tuy chỉ là nhiễm khuẩn nông, tấy đỏ nhưng cũng
đã gây không ít trở ngại cho bệnh nhân cũng như công tác chăm sóc và điều trị của cán bộ y tế
* Thời gian điều trị tại bệnh viện: Thời gian nằm
viện trung bình là 4,38 ngày, khoảng thời gian từ 5-7
ngày chiếm tỷ lệ cao nhất (62%) Trong mẫu nghiên cứu, thời gian nằm viện của bệnh nhân có sự chênh lệch so với nhau là khá lớn, thời gian ngắn nhất là 3 ngày, dài nhất là 15 ngày Vì vậy, nên có sự thống nhất hơn nữa trong phương pháp điều trị, có thể là đưa ra phác đồ điều trị chuẩn, áp dụng rộng rãi để kết quả đạt
được đồng đều hơn
* Kết quả phẫu thuật
Chúng tôi nhận thấy kết quả phẫu thuật tốt và khá lần lượt là 47 và 49%, chiếm đa số mẫu nghiên cứu Còn lại 4 trường hợp có kết quả phẫu thuật trung bình vì có thời gian điều trị kéo dài do nhiễm khuẩn vết mổ nhẹ và có 1 trường hợp dị ứng thuốc kháng sinh Từ kết quả trên cho ta thấy công tác điều trị VRT cấp tại khoa
là khá tốt So sánh với các kết quả nghiên cứu trước đó cũng tại khoa không dùng kháng sinh dự phòng và cùng các chỉ tiêu đánh giá thấy có tốt hơn [2]
* Vấn đề sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý
Trong mẫu nghiên cứu có 2 trường hợp dị ứng thuốc kháng sinh, với các triệu chứng chủ yếu là mẩn ngứa toàn thân, nôn Hai bệnh nhân này đã được cấp cứu kịp thời bằng các loại thuốc chống dị ứng nhóm kháng histamin H1 và nhóm thuốc chống nôn đồng thời cho ngừng sử dụng thuốc kháng sinh Kết quả xử trí tốt
KếT LUậN
1 Một số đặc điểm về đối tượng nghiên cứu:
- Nhóm tuổi gặp viêm ruột thừa cấp nhiều nhất là từ
15 – 25 tuổi
- Giới: không có sự chênh lệch về giới trong mẫu nghiên cứu tỷ lệ 1/1
- Nhiệt độ bệnh nhân trước mổ: 53% bệnh nhân không có triệu chứng sốt; 47% bệnh nhân có triệu chứng sốt từ nhẹ đến sốt cao >380
C Sau mổ có 34%
C
- Tình trạng ổ bụng: có ít dịch viêm chiếm 86%
Trang 52 Thực trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị
viêm ruột thừa cấp
- Tỷ lệ bệnh nhân được sử dụng KSDP là 83% và
không sử dụng KSDP là 17%
- Nhóm kháng sinh hay được sử dụng trong dự
phòng là C3G gồm 2 loại chính là cefotaxim (97,6%),
còn lại là ceftriaxon
- Liều lượng sử dụng: 1g x 1 liều duy nhất vào lúc
tiền mê
- Đường dùng chủ yếu là tiêm tĩnh mạch (79,5%),
tiêm bắp (20,5%)
- 81 bệnh nhân được dùng phác đồ 1 kháng sinh
Trong đó C3G là nhóm kháng sinh được lựa chọn với tỷ
lệ cefotaxim 98,8%; ceftriaxon 1,2%
- 19 bệnh nhân sau mổ được sử dụng phác đồ 2
thuốc kháng sinh
3 Hiệu quả của kháng sinh dự phòng trong
phẫu thuật VRT cấp
* Nhóm 1: Có sử dụng KSDP, gồm 83 bệnh nhân,
trong đó:
- Không biến chứng sau mổ: 60 (72,3%)
- Sốt sau mổ đơn thuần: 23 (27,7%)
- Biến chứng sau mổ liên quan đến nhiễm khuẩn
khác: 0 (0%)
* Nhóm 2: Không sử dụng KSDP, gồm 17 bệnh
nhân, trong đó:
- Không biến chứng: 9 (52,9%)
- Sốt sau mổ đơn thuần: 3 (17,6%)
- Nhiễm khuẩn vết mổ nông, tấy đỏ: 5 (29,4%)
* Thời gian nằm viện trung bình là 4,3 ngày
* Kết quả điều trị sau phẫu thuật: Tốt: 47%; Khá: 49%; Trung bình: 4%; Xấu: 0%
TàI LIệU THAM KHảO
1 Bộ môn Ngoại - Trường Đại học Y Hà Nội (2005),
Cấp cứu ngoại khoa tiêu hóa Nhà xuất bản Y học
2 Trịnh Ngọc Dũng (2005), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị VRT cấp ở trẻ em tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên Trường đại học Y -
Dược Thái Nguyên Luận văn thạc sỹ y học
3 Nguyễn Thanh Long (2004), Nghiên cứu phác đồ
sử dụng kháng sinh dự phòng trong mổ viêm ruột thừa chưa biến chứng Bệnh viện Việt Đức
4 Hà Văn Quyết (2005), Kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật Bệnh viên Việt Đức,
5 Nguyễn Thị Thanh Tâm (2009), Nghiên cứu đặc
điểm lâm sàng và hình ảnh siêu âm trong chẩn đoán VRT cấp tại khoa Ngoại - Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên Khoá
luận tốt nghiệp bác sỹ đa khoa
6 Lê Ngọc Trọng, Đỗ Kháng Chiến (2006), Hướng dẫn điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn thường gặp Vol 2
Nhà xuất bản y học 222 - 229
7 Phạm Ngọc Tuấn (2009), Nghiên cứu ứng dụng bảng điểm Alvarado trong chẩn đoán VRT cấp Trường
Đại học Y - Dược Thái Nguyên Khóa luận tốt nghiệp bác
sỹ đa khoa
8 Eugenie Bergogne – Bérézin, P (2004), Liệu pháp kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật - Kháng sinh trị liệu trong thực hành lâm sàng Nhà xuất bản y học 330 - 342
9 Fattorusso O Titter (2004), Sổ tay lâm sàng và
điều trị Nhà xuất bản Y học 265 - 316