Xác định sỏi sót qua chụp đường mật qua Kehr và siêu âm sau mổ tại bệnh viện Đa khoa Khu vực Mai Châu- Hoà Bình Phạm Văn Cường - Bệnh viện Đa khoa Khu Vực Mai Châu - Hòa Bình đặt vấn
Trang 1Y học thực hành (813) - số 3/2012 104
Trong khởi mê có 4 bệnh nhân ngừng thở ngắn
phải hô hấp hỗ trợ Trong duy trì mê, sau rút ống NKQ
và giai đoạn hồi tỉnh các bệnh nhân tự thở tốt, không
có bệnh nhân nào ngừng thở Bệnh nhân đã được đặt
ống NKQ trước khởi mê dưới phun tê nên việc hô hấp
hỗ trợ tương đối đơn giản Sau một vài phút bóp bóng,
bệnh nhân sẽ thở lại Chúng tôi không gặp bệnh nhân
nào ngừng thở kéo dài sang thời kỳ duy trì mê
Bảng 8: Thay đổi độ bão hòa oxy
Thời điểm SpO2(%)± SD Giá trị P
Trước gây mê 98,77 ± 1,19
Khởi mê 98,5 ± 1,24 P = 0,19
Sau gây mê 10 phút 99,03 ± 1,24 P = 0,20
Sau rút ống NKQ 99,1 ± 1,16 P = 0,09
- Khi khởi mê độ bão hòa oxy (SpO2) bệnh nhân có
giảm so với trước gây mê nhưng không có ý nghĩa với
P > 0,05
- Các thời điểm sau gây mê 10 phút và sau rút ống
NKQ, độ bão hòa oxy thay đổi không đáng kể so với
trước gây mê với P > 0,05
- Trong quá trình gây mê độ bão hoà oxy luôn luôn
> 97%
Kết luận
1 Tuần hoàn: Huyết áp động mạch giảm trong giai
đoạn khởi mê có ý nghĩa thống kê (P = 0) nhưng trong
giới hạn cho phép, xử trí đơn giản và không gây nguy
hiểm cho bệnh nhân Sau rút ống NKQ HATT và
HATTr tăng nhẹ so với trước gây mê nhưng không có ý
nghĩa thống kê với P > 0,05
- Nhịp tim: Nhịp tim sau khi khởi mê có giảm, sự
thay đổi không có ý nghĩa (P > 0,05) Sau gây mê 10
phút nhịp tim còn giảm (77,38 ± 6,98 lần/phút) so với
trước gây mê (P > 0,05)
2 Hô hấp: Tần số hô hấp sau khởi mê giảm có ý
nghĩa thống kê (P=0) với biên độ sâu Sau gây mê 10 phút tần số thở còn giảm so với trước gây mê, mức độ giảm không có ý nghĩa thống kê với P>0,05 Sau rút ống NKQ tần số thở tăng so với trước gây mê (P>0,05) Trong khởi mê có 4 bệnh nhân ngừng thở ngắn phải hô hấp hỗ trợ Trong duy trì mê, sau rút ống NKQ
và giai đoạn hồi tỉnh các bệnh nhân tự thở tốt, không
có bệnh nhân nào ngừng thở
3 Độ bão hòa oxy: Khi khởi mê độ bão hòa oxy
(SpO2) bệnh nhân có giảm so với trước gây mê (không
có ý nghĩa với P > 0,05) Các thời điểm sau gây mê 10 phút và sau rút ống NKQ, độ bão hòa oxy thay đổi không đáng kể so với trước gây mê với P>0,05 Trong quá trình gây mê độ bão hoà oxy luôn luôn > 97%
Tài liệu tham khảo
1 Phạm Ngô Kim Bách (2003), Đánh giá hiệu quả sử dụng Propofol trong gây mê cắt Amidan, Luận văn tốt
nghiệp Bác sĩ chuyên khoa II - Đại học Y Hà nội
2 Huỳnh Thị Bình (2003), Sử dụng Propofol đơn thuần trong gây mê cho phẫu thuật cắt Amidan, Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Y học - Học viện Quân y
3 Chu Mạnh Khoa (2000), “Những kinh nghiệm và những nhược điểm mới về sử dụng Propofol ”- Sinh hoạt khoa học về chuyên đề sử dụng Propofol trong gây mê tĩnh mạch, Astrazenca và hội Gây mê hồi sức
4 Barst S, Leiderman J, Markowitz A (1999),
“Ondansetron with propofol reduces the incidence of emesis in children following tonsillectomy” Anaesth/ 46;
359 - 362
5 Brown G, Wagner E (1999), “Mechanisms of broncho protection by Anesthetic induction agents: Propofol versus Ketamine” Anesthesiolegy 90: 822 -828
6 Chan M.T.V, Gin T, Poon W.S (1999), Propofol requirement is decreased in patients with large supratentorial brain tumor Anesth 90: 1571-6
Xác định sỏi sót qua chụp đường mật qua Kehr và siêu âm sau mổ
tại bệnh viện Đa khoa Khu vực Mai Châu- Hoà Bình
Phạm Văn Cường - Bệnh viện Đa khoa Khu Vực Mai Châu - Hòa Bình
đặt vấn đề
Sỏi mật là một bệnh lý thường gặp ở các nước
Châu á trong đó có Việt Nam, khó khăn lớn trong điều
trị bệnh lý sỏi mật là tỉ lệ sỏi sót còn rất cao ở trên thế
giới cũng như Việt Nam Tỉ lệ sỏi sót sau mổ còn từ
27,9% đến 35,8%, đây thực sự là nỗi trăn trở của các
thầy thuốc cũng như bệnh nhân
Việc xác định tổn thương đường mật trong mổ,
cũng như vị trí sỏi sót, sẽ giúp cho phẫu thuật viên có
thái độ xử trí thích hợp ở Việt Nam, trong những năm
gần đây nội soi đường mật sau mổ, trong mổ ngày
càng được áp dụng rộng rãi, tổn thương đường mật, vị
trí sỏi sót phát hiện trong mổ cũng đã được nghiên cứu
Tuy nhiên chụp kiểm tra đường mật qua dẫn lưu Kehr
và siêu âm sau mổ chưa được đề cập
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Xác định sỏi sót qua chụp
đường mật qua Kehr và siêu âm sau mổ tại Bệnh viện
Đa khoa Khu Vực Mai Châu” nhằm các mục tiêu sau:
1 Mô tả hình ảnh vị trí của sỏi sót qua chụp đường mật qua Kehr và siêu âm sau mổ
2 Xác định khả năng phát hiện sỏi sót qua 2
phương pháp trên
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm các BN sỏi mật không phân biệt tuổi, giới
được đặt ống dẫn lưu Kehr để chụp kiểm tra và siêu
âm sau mổ tại Bệnh viện Đa khoa Khu Vực Mai Châu- Hoà Bình từ tháng 1/2006 đến tháng 12/2011
Các bệnh nhân được chẩn đoán là sỏi mật dựa vào lâm sàng kết hợp với siêu âm, xét nghiệm máu hoặc lâm sàng kết hợp với siêu âm, xét nghiệm máu và chụp cắt lớp vi tính, dựa vào tiêu chuẩn sau:
Lâm sàng: Có triệu chứng sỏi mật
Trang 2Y học thực hành (813) - số 3/2012 105
Cận lâm sàng: xét nghiệm máu; Công thức máu,
VSS, Bilirubin máu, SGOT, SGPT, Amylase, Ure,
Creatinin, CEA, CA 19-9, HbsAg
Hình ảnh học: Siêu âm trước mổ, khi kết quả siêu
âm nghi ngờ thì chụp cắt lớp vi tính
2 Phương pháp nghiên cứu
Tiến cứu mô tả
3 Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Đặc điểm chung: Tuổi, giới, tiền sử mổ sỏi mật,
kết quả siêu âm trước mổ
- Trong mổ: Các phương pháp mổ, hình ảnh tổn
thương gan, túi mật trong mổ, kích thước OMC,
- Chụp đường mật sau mổ: Thường tiến hành vào
ngày thứ 7- 10 sau mổ Để đảm bảo độ chính xác của
kết quả, chúng tôi tiến hành chụp đường mật theo một
quy trình thống nhất:
+ Chuẩn bị: bệnh nhân ăn nhẹ từ chiều ngày
hôm trước cho tới 2-3 giờ trước chụp, không cặp
Kehr trước chụp, thuốc cản quang: dùng loại
Telebrix 35 Kỹ thuật tiến hành: Chụp ở hai tư thế
nằm ngửa và nằm nghiêng trái
+ Cách đọc phim và nhận định kết quả, dựa vào:
Hình ảnh giải phẫu của đường mật, kiến thức về chẩn
đoán hình ảnh
- Siêu âm sau mổ: Cũng thường tiến hành vào ngày
thứ 7- 10 sau mổ Bệnh nhân nhịn ăn trước làm siêu
âm tối thiểu 6 giờ, qua các mặt cắt xác định tình trạng
gan, đường mật, vị trí, số lượng sỏi sót
- Tiêu chuẩn sạch sỏi: Trên phim chụp đường mật
qua Kehr: Đường mật ngấm thuốc đều, không có hình
cắt cụt hay khuyết sáng, thuốc qua Oddi tốt Siêu âm
sau mổ hết sỏi Lâm sàng: Khi cặp Kehr BN không
đau, sốt, vàng da, không rò mật
- Tiêu chuẩn sỏi sót: Trên phim chụp đường mật
qua Kehr: Đường mật ngấm thuốc không đều, có hình
ảnh cắt cụt hoặc khuyết sáng trên cây đường mật Siêu
âm sau mổ có hình ảnh sỏi sót trong đường mật Lâm
sàng: BN đau, sốt, vàng da hay rò mật khi cặp Kehr
4 Xử lý số liệu
Chương trình SPSS 16.0
kết quả nghiên cứu
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 1 năm 2006
đến tháng 12 năm 2011 tại Bệnh viện Đa khoa Khu
Vực Mai Châu chúng tôi thu thập được có 65 bệnh
nhân được chẩn đoán sỏi mật và mổ phiên, kết quả
như sau:
Bảng 1 Tuổi, giới
Giới
< 20 0 0 1 1,54 1 1,5
21-30 4 6,15 6 9,23 10 15,4
31-40 6 9,23 9 13,85 15 23,1
41-50 7 10,77 10 15,38 17 26,2
50-60 6 9,23 8 12,31 14 21,5
>60 3 4,62 5 7,69 8 12,3
Tổng 26 40 39 60 65 100
Bệnh gặp hầu hết ở các lứa tuổi, tuổi thấp nhất 20,
tuổi cao nhất 78, tuổi trung bình: 44,91±13,64, trong đó
nhóm tuổi gặp nhiều nhất là 31 đến 60 tuổi, chiếm
70,8% Bệnh nhân là nữ chiếm 60%, với tỉ lệ nữ/ nam=1,5
Bảng 2 Tiền sử mổ sỏi mật
Số lần mổ Số BN Tỉ lệ (%)
Bệnh nhân đã mổ sỏi mật là36/65,chiếm tỉ lệ 55,4% Số lần mổ trung bình là 1,17; nhiều nhất là 3 lần và ít nhất là 1 lần
Bảng 3 Triệu chứng lâm sàng Triệu chứng Tần suất Tỉ lệ (%)
Đau dưới sườn phải 65/65 100
100% bệnh nhân có biểu hiện đau dưới sườn phải, sốt và vàng da là các triệu chứng hay gặp tiếp theo với 55,4% và 41,5%
Bảng 4 Vị trí sỏi phối hợp trên bệnh nhân xác định bằng siêu âm trước mổ
Vị trí sỏi Số BN Tỉ lệ (%) Sỏi OMC 3/65 4,6 Sỏi ngoài gan
đơn thuần Sỏi OGC 0/65 0,0
Sỏi ngoài gan + Sỏi gan P 8/65 12,3 Sỏi ngoài gan + Sỏi gan T 9/65 13,8
Sỏi ngoài gan phối hợp sỏi trong gan Sỏi ngoài gan + Sỏi 2 gan 31/65 47,7
Sỏi gan P 5/65 7,7 Sỏi gan T 4/65 6,2 Sỏi trong gan
đơn thuần
Sỏi 2 gan đơn thuần 5/65 7,7 Bệnh nhân có sỏi trong gan là 62/65, chiếm tỉ lệ 95,4%, bệnh nhân có sỏi ngoài gan phối hợp sỏi trong gan 2 bên chiếm tỉ lệ cao nhất với 47,7%
Bảng 5 Các phương pháp mổ áp dụng trên bệnh nhân
Phương pháp mổ Tần suất Tỉ lệ (%) Lấy sỏi đơn thuần 33/65 50,77 Lấy sỏi + cắt TM 26/65 40,0 Lấy sỏi + mở nhu mô gan 6/65 9,23
Số bệnh nhân được thực hiện lấy sỏi đơn thuần là 33/65, chiếm tỉ lệ 50,77%, Số bệnh nhân có kèm theo cắt TM là 26/65, chiếm tỉ lệ 40%
Bảng 6 Kích thước OMC Kích thước Số BN Tỉ lệ (%)
Đường kính OMC giãn ≥ 10mm gặp 63/65 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ 96,9%
Bảng 7 Hình ảnh đường mật qua chụp đường mật qua Kehr sau mổ
Hình ảnh đường mật Số BN Tỉ lệ (%)
Đường mật giãn 47 72,3
áp xe gan đường mật 2 3,1
Giãn đường mật gặp 49/65 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ 72,3%,hẹp đường mật gặp 4/65 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ
Trang 3Y học thực hành (813) - số 3/2012 106
6,1%, áp xe gan đường mật gặp 2/65 bệnh nhân,
chiếm tỉ lệ 3,1%, 100% vị trí hẹp gặp ở đường mật
trong gan trong đó tần suất hẹp đường mật gan trái
gặp nhiều hơn so với gan phải
Bảng 8 Kích thước đường mật qua siêu âm sau mổ
Kích thước đường mật Số BN Tỉ lệ (%)
Đường mật giãn 44 67,7
Giãn đường mật gặp 44/65 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ
67,7%, siêu âm sau mổ không phát hiện trường hợp
nào hẹp đường mật
Bảng 9 Tỉ lệ, vị trí sỏi sót sau mổ phát hiện qua
chụp đường mật qua Kehr
Trong gan ống mật chủ
Vị trí
Hết sỏi 40 61,54 65 100
Vị trí sỏi sót phát hiện qua chụp đường mật qua
Kehr chủ yếu ở đường mật trong gan với tỷ lệ 38,46 %
Không có trường hợp nào sót sỏi ở đường mật ngoài
gan
Bảng 10 Tỉ lệ, vị trí sỏi sót sau mổ phát hiện qua
siêu âm
Trong gan ống mật chủ
Vị trí
Hết sỏi 38 58,46 63 96,92
Còn sỏi 25 38,64 2 3,08
Tần suất xuất hiện sỏi sót phát hiện bằng siêu âm
sau mổ chủ yếu ở đường mật trong gan với tỉ lệ
41,54% Có 2 trường hợp nào sót sỏi ở đường mật
ngoài gan với tỷ lệ 3,08%
bàn luận
1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân ở lứa
tuổi lao động là thường gặp nhất, tỉ lệ ở lứa tuổi từ 31-
60 chiếm 75,4% Kết quả mà chúng tôi thu được, tương
tự như kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước
đã thông báo trong những năm gần đây như: Phạm
Văn Đởm [1] Số bệnh nhân nữ là 39 chiếm 60% Tỉ lệ
nữ/nam = 1,5 ở Việt Nam, theo tác giả: Trần Đình Thơ
nữ/nam = 1,35 [8]
2 Đặc điểm lâm sàng
* Tiền sử mổ mật
Có 36/65 bệnh nhân có tiền sử mổ sỏi mật - chiếm
tỉ lệ 55,4% (Bảng 2) Tỉ lệ của chúng tôi cao hơn so với
các tác giả Trần Đình Thơ (46,15%) [8], Nguyễn Tiến
Quyết (51,42%) [7 ] thấp hơn của Trần Bảo Long
(76%) [5]
* Triệu chứng lâm sàng
Kết quả ở (Bảng 3) cho thấy 100% bệnh nhân có
triệu chứng đau hạ sườn phải, sốt, vàng da là các triệu
chứng hay gặp với tỉ lệ 55,4% và 43,1% Kết quả này
tương tự với kết quả của một số tác giả khác ở trong
nước [8]
* Đặc điểm cận lâm sàng
Trong nghiên cứu của chúng tôi tất cả bệnh nhân
có sỏi đường mật được chẩn đoán bằng siêu âm trước
mổ đều phù hợp với kết qủa trong mổ (Bảng 4) Tuy nhiên, để chẩn đoán chính xác được vị trí thì còn chưa phù hợp do siêu âm không mô tả rõ sự thay đổi của
đường mật cũng như xác định quan hệ giải phẫu giữa sỏi mật và đường mật liên quan [4]
Tổn thương chít hẹp đường mật trong gan siêu âm không phát hiện được trường hợp nào, và làm hạn chế việc lấy sỏi tối đa trong mổ Nhược điểm này của siêu
âm trước mổ cũng đã được nghiên cứu và thông báo như nghiên cứu của Chen.M.F et al [9]
3 Phương pháp mổ
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 33/65 bệnh nhân được lấy sỏi đơn thuần chiếm tỉ lệ 50,77%; 26/65 bệnh nhân kèm theo cắt túi mật do sỏi hoặc tổn thương viêm chiếm tỉ lệ 40%; 6/65 bệnh nhân kèm theo mở nhu mô lấy sỏi và đặt dẫn lưu qua nhu mô gan chiếm tỉ
lệ 9,23%; (Bảng 5)
4 Giá trị của chụp đường mật qua Kehr sau mổ trong xác định tổn thương đường mật
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 63/65 bệnh nhân giãn đường mật ngoài gan, chiếm tỉ lệ 96,9%, hình ảnh tổn thương trên phim chụp đường mật qua Kehr gặp: 47/65 bệnh nhân có giãn đường mật chiếm tỉ
lệ 72,3%, 4/65 bệnh nhân có hẹp đường mật chiếm tỉ
lệ 6,1% và 2/65 bệnh nhân có áp xe gan đường mật chiếm tỉ lệ 3,1% (Bảng 6 và bảng 7)
Theo tác giả Phạm Văn Đởm [1] chụp đường mật cho phép ta thấy hình ảnh sỏi đường mật, tổn thương chít hẹp đường mật nhất là trong gan với nhiều sỏi trên chỗ chít hẹp giúp cho phẫu thuật viên chuẩn bị kế hoạch phẫu thuật
5 Giá trị của siêu âm sau mổ trong xác định tổn thương đường mật
Trong nghiên cứu của chúng tôi, ngoài hình ảnh sỏi sót tổn thương đường mật phát hiện qua siêu âm sau
mổ chủ yếu là tình trạng giãn đường mật với 44/65 bệnh nhân chiếm tỉ lệ 67,7%; siêu âm sau mổ không phát hiện được trường hợp nào hẹp đường mật (Bảng 8).đây cũng là hạn chế mà Chen.M [9]đã đề cập tới Theo Lê Tuấn Linh [4], với độ chính xác chung là 93,3% và độ nhạy là 97,6% siêu âm rất có giá trị trong
đánh giá tình trạng giãn đường mật
6 Tỉ lệ sỏi sót sau mổ phát hiện qua phim chụp
đường mật qua Kehr
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ sỏi sót trên phim chụp đường mật qua Kehr là 38,46% (Bảng 9) với 100% vị trí sỏi sót ở đường mật trong gan Theo các tác giả Phạm Hữu Lư [6],Trần Đình Thơ [8] tỉ lệ này dao động từ 24,4% đến 35,8%
7 Tỉ lệ sỏi sót sau mổ phát hiện qua siêu âm
Kết quả siêu âm sau mổ có 27/65 bệnh nhân có sỏi sót, chiếm tỉ lệ 41,5% Trong đó vị trí sỏi sót ở đường mật trong gan là 25/65 (38,46%) bệnh nhân, ngoài gan
là 2/65(3,08) bệnh nhân (Bảng 10) Giá trị của siêu âm trong chẩn đoán sỏi đường mật đã được nhiều tác giả nghiên cứu với độ nhạy từ 93% đến 95,9% [3] Tuy nhiên theo Lê Tuấn Linh [4] độ nhạy của siêu âm chỉ
đạt 91,8% ở những bệnh nhân đã có mổ cũ ở tầng trên
ổ bụng
Trang 4Y học thực hành (813) - số 3/2012 107
kết luận
Nghiên cứu trên 65 BN mổ sỏi đường mật có áp
dụng kiểm tra sau mổ bằng chụp đường mật qua Kehr
và siêu âm từ tháng 1/2006 đến tháng 12/2012, ở Bệnh
viện Đa khoa Khu Vực Mai Châu- Hoà Bình chúng tôi
có những kết luận sau:
Tổn thương phát hiện qua phim chụp đường mật
qua Kehr sau mổ: Giãn đường mật chiếm tỉ lệ 72,3%,
hẹp đường mật chiếm tỉ lệ 6,1%, áp xe gan đường mật
chiếm tỉ lệ 3,1%
Tổn thương phát hiện qua siêu âm sau mổ: Giãn
đường mật chiếm tỉ lệ 67,7%, siêu âm sau mổ không
phát hiện được trường hợp nào hẹp đường mật
Vị trí sỏi sót phát hiện qua phim chụp đường mật
qua Kehr sau mổ: Vị trí sỏi sót ở đường mật trong gan
chiếm tỉ lệ 100% Tỉ lệ sỏi sót phát hiện qua phim chụp
đường mật qua Kehr: 38,46%
Vị trí sỏi sót phát hiện qua siêu âm sau mổ:Vị trí, tỷ
lệ sỏi sót ở đường mật trong gan chiếm tỉ lệ 38,46%,
đường mật ngoài gan 3,08 %
Hy vọng sau nghiên cứu này, những bệnh viện
chưa có nội soi đường mật trong mổ, thì áp dụng
phương pháp kiểm tra bằng chụp đường mật qua Kehr
và siêu âm sau mổ để xác định sỏi sót và có những
phương án tối ưu giải quyết các trường hợp sót sỏi
đường mật sau mổ một cách hợp lý
Tài liệu tham khảo
1 Phạm Văn Đởm (2001), Nghiên cứu điều trị phẫu thuật sỏi đường mật có siêu âm chẩn đoán và nội soi trong mổ tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang, Luận án Tiến
sĩ Y học, Hà Nội
2 Nguyễn Đình Hối (2000), “Bệnh sỏi mật ở Việt Nam những vấn đề đang đặt ra”, Ngoại khoa, tập 40, số 2, tr 14-17
3 Nguyễn Duy Huề (2005), “Chẩn đoán siêu âm sỏi
mật”, Phẫu thuật gan mật, NXB Y học, Hà Nội, tr 75- 86
4 Lê Tuấn Linh (2001), Nghiên cứu giá trị của siêu
âm trong chẩn đoán sỏi đường mật chính tại Bệnh viện Việt Đức từ 1998- 1999, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Đa khoa, Đại học Y Hà Nội
5 Trần Bảo Long (2003), Nghiên cứu đặc điểm bệnh
lý và đánh giá kết qủa phẫu thuật trong sỏi mật mổ lại, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội
6 Phạm Hữu Lư (2001), Nghiên cứu giá trị của chụp
đường mật qua Kehr sau mổ sỏi mật, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Đa khoa, Đại học Y Hà Nội
7 Nguyễn Tiến Quyết (2002), Nghiên cứu phương pháp mở nhu mô gan lấy sỏi, dẫn lưu đường mật trong gan
và nối mật- ruột kiểu Roux-en-Y tận- bên để điều trị sỏi trong gan, Luận án Tiến sĩ Y học, Học viện quân Y 103
8 Trần Đình Thơ (2006), Nghiên cứu ứng dụng siêu
âm kết hợp với nội soi đường mật trong mổ để điều trị sỏi trong gan, Luận án tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội
9 Chen M F et al (1997), "Role of hepatic resection
in surgery for bilateral intrahepatic stones", British J Surg,
84, pp 1229-1232
Nghiên cứu khả năng sinh thiết kim xuyên thành ngực trong chẩn đoán hạch trung thất dưới hướng dẫn CT
Bùi Công Toàn, Nguyễn Khắc Kiểm
Bệnh viện K
Tóm tắt
Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện K từ
tháng 2/2010 đến tháng 10/2011 nhằm đánh giá khả
năng sinh thiết các hạch bệnh tại trung thất Các khu
vực hạch trung thất mà kim sinh thiết có thể đạt tới,
không xuyên qua cơ quan trọng yếu đều có thể tiến
hành sinh thiết được Hiện nay, các hạch thuộc nhóm
từ 1 đến 9 bên phải, kích thước trên 1,5cm đều đã
được sinh thiết Nói chung, hạch nhóm 5 bên trái nếu
nằm ngoài cửa sổ chủ – phổi vẫn có thể sinh thiết
được Hạch nhóm 4, 6, 8, 9 trái không có khả năng
sinh thiết Riêng hạch nhóm 8, 9 có thể sinh thiết nếu
hạch đủ lớn Hiện tại các trường hợp đã sinh thiết đều
làm được tế bào học và mô bệnh học, chưa có trường
hợp nào xảy ra tai biến
Từ khóa: sinh thiết, hạch trung
Summary
The study was conducted at Hospital K from
2/2010 to March 10/2011 to assess the ability biopsy in
patients with mediastinal lymph nodes The regional
mediastinal lymph nodes that needle biopsy may be
reached, not through the vital organs can be biopsies
Currently, the cost of heading to the right from 1 to 9,
size 1.5 cm have been biopsied In general, lymph
nodes are the group 5 on the left if its located outside
of aortopulmonary window can be Accounting group 4,
6, 8, 9 left unable to biopsy Particularly groups 8, 9 biopsy if the dimention can be large enough Currently, all cases had a biopsy done cytology and tissue pathology, there is no case complications occur
Keywords: ability biopsy, mediastinal lymph
nodes
Đặt vấn đề
1 Tình hình chung
Tại bệnh viện K chọc dò sinh thiết xuyên thành ngực được thực hiện từ những năm 1980 cho cả u phổi
và dịch màng phổi Nhưng chẩn đoán chỉ mới dừng ở mức tế bào họ
c Sinh thiết được thực hiện từ những năm 90 bằng kim Silvermann Thủ thuật này còn nhiều hạn chế, nhiều tai biến, do khả năng sinh thiết của kim kém, kim
to do đó chỉ thực hiện được ở những u to, nông Tiếp theo có nhiều cải tiến về kim nhưng cũng chỉ đạt được khoảng 5% sổ bệnh nhân trong tổn số khoảng 50% có mô bệnh học và chủ yếu là do sinh thiết nội soi
Từ 2008 tiến hành sinh thiết đột lỗ và đã có nghiên cứu tương đối đầy đủ về sinh thiết phổi Cho đến nay theo tổng kết 10 năm tại bệnh viện K tỷ lệ có chẩn
đoán mô bệnh học trong ung thư phổi lên tới 94% Số không được chẩn đoán là do hình ảnh u đã quá điển