KẾ HOẠCH THỰC HIỆNKẾ HOẠCH THỬ NGHIỆM NĂM 2008 Định hướng thử nghiệm chất giữ ẩm CH trên 7 loại cây trồng chủ lực tại huyện Định Quán, Đồng Nai: cây bắp, mía, cà phê, mít, điều, xoài,
Trang 1ỨNG DỤNG THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM ‘CH’
CHO CÂY TRỒNG CẠN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐỊNH QUÁN
• Cơ quan chủ trì: Viện Công nghệ Hóa học
• Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Cửu Khoa
• Cơ quan phối hợp: Phòng Công thương huyện Định Quán
UBND HUYỆN ĐỊNH QUÁN
Trang 2MỞ ĐẦU
Trang 3MỞ ĐẦU
• Thời tiết ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành nông nghiệp Hạn hán kéo dài gây thiếu nước nghiêm trọng Vật liệu polymer hút nước giúp giảm lượng nước tưới cho cây, giữ độ ẩm cho đất, kéo dài thời gian giữ nước cho cây, tăng năng suất cây trồng
• Đồng Nai: tài nguyên đất phong phú, sản xuất nông nghiệp chiếm ưu thế lớn, có nhiều thuận lợi để phát triển nông nghiệp
• Định Quán là một huyện chủ yếu là đồi núi thấp xen kẽ với các trảng bằng, khi hạn hán kéo dài khả năng cung cấp nước hay áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm gặp nhiều khó khăn
• Vì vậy, nghiên cứu sử dụng chất giữ ẩm cho vùng đất này là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nước, đem lại lợi ích thiết thực cho người nông dân
Trang 4MỞ ĐẦU
Mục tiêu của dự án
Ứng dụng vật liệu giữ ẩm mới trong nông nghiệp
Tiết kiệm nước tưới, tăng khả năng chịu hạn cho cây
Đưa ra quy trình sử dụng vật liệu giữ ẩm
Xác định tính kinh tế của việc sử dụng vật liệu giữ ẩm
Phạm vi nghiên cứu
Vùng nghiên cứu: Định Quán, Đồng Nai
Đối tượng nghiên cứu: một số cây trồng thuộc hai nhóm chính: cây hàng năm (bắp, mía), cây lâu năm (cây cà phê, quýt, điều, xoài, mít nghệ)
Chất giữ ẩm CH của Viện Công nghệ Hóa học
Trang 5MỞ ĐẦU
Nội dung nghiên cứu
Thử nghiệm chất giữ ẩm CH trong nông nghiệp đối với các cây trồng: mía, bắp,
cà phê, mít, xoài, điều, quýt
Đưa ra qui trình sử dụng chất giữ ẩm cho cây cà phê, mía, quýt, điều, xoài, mít nghệ và cây bắp trên địa bàn huyện Định Quán
Xác định hiệu quả kinh tế của việc sử dụng chất giữ ẩm
Trang 6MỞ ĐẦU
Phương pháp nghiên cứu
• Thu thập thông tin, xây dựng đề cương Đưa ra kế hoạch thử nghiệm, lên kế hoạch bón chế phẩm
• Bón chế phẩm thử nghiệm cho các cây trồng gồm cà phê, mía, quýt, điều, xoài, mít nghệ và cây bắp
• Lập bảng theo dõi quá trình thử nghiệm và ghi nhận kết quả qua các giai đoạn
• Phân tích một số chỉ tiêu của đất để đánh giá khả năng ảnh hưởng của chất giữ ẩm lên môi trường đất (khả năng giữ ẩm của đất, độ ẩm héo cây, độ chua của đất, hàm lượng sắt, nhôm, hàm lượng nitơ tổng, hàm lượng photpho dễ tiêu, hàm lượng kali dễ tiêu, tổng vi sinh vật trong đất, tổng các nấm trong đất)
• Theo dõi một số chỉ tiêu của cây (chiều cao cây, tốc độ ra lá, chiều dài trái, trọng lượng trái, năng suất cây, đánh giá so sánh cảm quan giữa cây đối chứng và cây thử nghiệm)
• Ghi nhận kết quả thử nghiệm để từ đó phân tích hiệu quả kinh tế khi có sử dụng chất giữ ẩm
Trang 7TỔNG QUAN
Trang 8TỔNG QUAN
CHẤT GIỮ ẨM
polymer có trọng lượng phân tử cao,
có khả năng trương nở khi gặp nước nên có thể giữ được lượng nước lớn,
không độc hại và dễ bị phân hủy sinh học
sử dụng trong nông nghiệp để giữ ẩm cho những vùng đất khô hạn, đất cát hoặc trên đồi núi, nơi nước dễ trôi đi, cung cấp dần nước cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển, giúp cây không bị thiếu nước trong điều kiện khô hạn, giảm lượng nước tưới tiêu
có khả năng hút các chất dinh dưỡng khi bón phân và nhả dần ra cho cây trồng hấp thu, hạn chế thất thoát chất dinh dưỡng khi trời mưa, giúp tiết kiệm phân bón, làm tăng năng suất, giảm được ảnh hưởng tới môi trường
Trang 9Chất giữ ẩm CH được điều chế dựa trên nền tảng ghép cellulose với acid acrylic Chất giữ ẩm CH có khả năng thay thế các chất giữ ẩm ngoại nhập do giá thành rẻ (nguyên liệu sử dụng là cellulose từ các phế thải nông nghiệp như bã mía, mùn cưa…), thời gian sử dụng dài (từ 2-3 năm), có độ hấp phụ nước cao
TỔNG QUAN
Trang 10KẾ HOẠCH THỰC HIỆN
Trang 11KẾ HOẠCH THỰC HIỆN
KẾ HOẠCH THỬ NGHIỆM NĂM 2008
Định hướng thử nghiệm chất giữ ẩm CH trên 7 loại cây trồng chủ lực tại huyện Định Quán, Đồng Nai: cây bắp, mía, cà phê, mít, điều, xoài, quýt,
Kết hợp với Phòng Kinh tế (nay là Phòng Nông nghiệp) của huyện Định Quán tiến hành khảo sát, điều tra thông tin trên các đối tượng nghiên cứu ở 32 hộ dân trên 10 xã của huyện để thử nghiệm trong năm 2008
Trang 12Lượng chất giữ ẩm bón cho cây
Trang 13KẾ HOẠCH THỬ NGHIỆM NĂM 2009
Chất giữ ẩm CH được tiếp tục thử nghiệm trên 7 loại cây trồng năm 2009 tại 7
hộ gia đình ở huyện Định Quán Chia thành 2 nghiệm thức có diện tích bằng nhau: công thức đối chứng không bón chất giữ ẩm và công thức thử nghiệm có bón chất giữ ẩm CH với lượng có hiệu quả nhất từ kết quả thử năm 2008
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN
Trang 14KẾT QUẢ
Trang 15KẾT QUẢ
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thử nghiệm:
Mùa khô năm 2007-2008, trên địa bàn huyện liên tiếp có những cơn mưa vừa và to kéo dài (từ 1-8 h), có nơi gây ngập úng các địa điểm thử nghiệm:
Việc tuân thủ chế độ tưới đề ra không thực hiện được: thời tiết, người dân,
Diện tích thực hiện dự án năm 2008 quá lớn, rải rác trên khắp địa bàn huyện nên quá trình theo dõi gặp khó khăn, sự phối hợp giữa các hộ dân, cán bộ theo dõi dự án và cán bộ
kỹ thuật chưa nhịp nhàng
khó khăn cho việc kiểm soát quá trình tưới của cây trong các ô thử nghiệm,
làm giảm lượng nước tưới cho các hộ gia đình,
tăng lượng ẩm trong đất làm cho khả năng sinh trưởng và phát triển của cây giữa các ô thử nghiệm thử nghiệm không có sự chênh lệch đáng kể,
chênh lệch về năng suất giữa các công thức thử nghiệm có bón chất giữ ẩm
và ô đối chứng không rõ ràng
Trang 16KẾT QUẢ
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT GIỮ ẨM ĐẾN MÔI TRƯỜNG ĐẤT
• Chất giữ ẩm không làm thay đổi thành phần đất, không gây hại cũng như biến đổi xấu làm tác hại đến cây trồng Chất giữ ẩm chỉ làm tăng độ ẩm cho đất, cung cấp độ ẩm cho đất Khi bón chất giữ ẩm, hàm lượng ẩm trong đất tăng từ 10 – 20%, làm kéo dài thời gian tưới cho người nông dân, tiết kiệm nước tưới và công sức tưới
Trang 17KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY XOÀI KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY XOÀI
BỐ TRÍ THỬ NGHIỆM TRÊN CÂY XOÀI
Năm 2008: thử nghiệm trên 9,1 ha tại 9 hộ gia đình
Năm 2009 chỉ tiến hành trên 1 hộ gia đình gồm 2 công thức thử nghiệm: có bón chất giữ ẩm với liều lượng 80 g/gốc và đối chứng không bón chất giữ ẩm
Trang 18KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY XOÀI KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY XOÀI
Kết quả thử nghiệm năm 2007-2008
•Kết quả trọng lượng trái: không có sự khác biệt rõ ràng giữa các công thức thử nghiệm và đối chứng
.Năng suất:
Năng suất trung bình của cây
Nguyễn Xuân Trường
60,0 Nguyễn Quang Trung
Trang 19KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY XOÀI KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY XOÀI
Kết quả thử nghiệm năm 2007-2008
Nhận xét:
•Đánh giá cảm quan: màu sắc lá cây không có sự khác biệt nhiều ở giai đoạn cây đang cho trái
do xuất hiện những cơn mưa trái mùa Giai đoạn sau thu hoạch cây ở các công thức có bón chất giữ ẩm có màu sắc lá xanh đậm hơn, nhiều lá hơn so với đối chứng, khả năng phục hồi cây nhanh hơn
•Hàm lượng sử dụng chất giữ ẩm thích hợp từ 80 – 120 g/gốc
•Kết quả thử nghiệm không biểu hiện rõ khả năng ứng dụng trên cây xoài.
Trang 20KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY XOÀI KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY XOÀI
Kết quả thử nghiệm năm 2008-2009
Kết quả cho thấy cây có bón chất giữ ẩm xanh tốt hơn, màu lá cây xanh đậm và cây có nhiều
lá hơn so với đối chứng không bón chất giữ ẩm
Không có sự khác biệt về năng suất giữa ô thử nghiệm và đối chứng.
Trang 21KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY XOÀI KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY XOÀI
Kết luận:
•Chất giữ ẩm làm tăng lượng ẩm trong đất, giúp cây xoài sinh trưởng tốt hơn khi gặp hạn, hỗ trợ cho quá trình canh tác trên cây xoài để giảm lượng nước tưới trong thời gian cây ra hoa, nuôi trái và thời kỳ cây phục hồi sau khi thu hoạch xong trái, là cây xanh hơn, khả năng phục hồi tốt hơn
•Chất giữ ẩm góp phần làm ổn định độ ẩm trong đất.
•Hiệu quả sử dụng chất giữ ẩm trên cây xoài chưa thấy rõ.
Trang 22KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY XOÀI KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY XOÀI
•Trên cơ sở các thử nghiệm đã tiến hành, quy trình bón chất giữ ẩm “CH” cho cây
xoài được đề xuất như sau:
•Tạo rãnh xung quanh gốc, cách gốc 2/3 bán kính tán lá với chiều sâu từ 30-50 cm
•Trộn chất giữ ẩm (40g/m đường kính tán cây) với đất và phân hữu cơ, phân vi sinh (tro trấu để làm tăng độ tơi xốp, tạo khoảng trống cho chất giữ ẩm hút nước)
•Bón hỗn hợp xung quanh tán lá cây theo rãnh, lấp đất kín nhằm đảm bảo chất giữ ẩm không bị trồi lên lại trên mặt đất
•Tưới cho vật liệu hút no nước nhằm đảm bảo khả năng hút và nhả nước ở những lần tiếp theo sau, thời gian giữa hai lần tưới tăng thêm 2-3 ngày so với chu kỳ tưới bình thường
•Nên bón chất giữ ẩm vào khoảng tháng 12 - tháng 1 năm sau là thời gian xoài chuẩn bị
ra hoa, kết trái cần cung cấp nước đầy đủ để giảm rụng trái và tăng kích thước trái
Trang 23Hình 1: Công thức bón chất giữ ẩm (21/04/2009) Hình 2: Đối chứng (21/04/2009)
Hình 3: Công thức bón chất giữ ẩm (21/04/2009) Hình 4: Đối chứng (21/04/2009)
KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY XOÀI KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY XOÀI
Trang 24BỐ TRÍ THỬ NGHIỆM TRÊN CÂY MÍT
KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY MÍT KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY MÍT
Năm 2008: thử nghiệm trên 1,3 ha tại 1 hộ gia đình
Năm 2009 gồm 2 công thức: 1 công thức có bón chất giữ ẩm với liều lượng
120 g/gốc và 1 công thức đối chứng không bón chất giữ ẩm
Trang 25KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY MÍT KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY MÍT
Kết quả thử nghiệm năm 2007-2008
- Cây ở công thức thử nghiệm có bón chất giữ ẩm xanh đậm hơn so với cây ở ô đối chứng không bón chất giữ ẩm
- Mít là cây trồng lâu năm nên tán lá giữa các công thức thử nghiệm không có sự chênh lệch đáng kể, trọng lượng, kích thước, chất lượng trái cũng không có sự chênh lệch đáng kể.
- Năng suất trung bình ở mỗi cây là 170 kg (20 tấn/ha) Kết quả thử nghiệm cũng cho thấy năng suất tăng so với năm trước từ 1 – 3 tấn.
Trang 26KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY MÍT KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY MÍT
Kết quả thử nghiệm năm 2008-2009
- Cây ở công thức có bón vật liệu xanh tốt hơn, ít sâu bệnh hơn, không bị chết nhánh và đỏ lá so với đối chứng không bón vật liệu
- Kết quả quá trình thử nghiệm chất giữ ẩm thu được năng suất trên cả vườn là 22,5 tấn/ha Không có sự khác biệt về năng suất công thức thử nghiệm và đối chứng
Trang 27Kết luận
Từ quá trình thử nghiệm trong năm 2007, 2008 và 2009:
•Kết quả cho thấy chất giữ ẩm có khả năng ứng dụng cho cây mít, giúp cây mít tăng khả năng chịu hạn, giảm lượng nước tưới, cây ít bị chết nhánh và sinh trưởng tốt hơn trong mùa khô, nâng cao sản lượng
•Lượng chất giữ ẩm sử dụng tốt nhất cho cây mít trong điều kiện mùa khô là từ 100 – 120g/cây sẽ góp phần làm tăng khả năng sinh trưởng của cây
KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY MÍT KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY MÍT
Trang 28•Trên cơ sở các thử nghiệm đã tiến hành, quy trình bón chất giữ ẩm “CH” cho cây mít
được đề xuất như sau:
•Tạo rãnh xung quanh gốc, cách gốc 2/3 bán kính tán lá với chiều sâu từ 25-30 cm
•Trộn chất giữ ẩm (40g/m đường kính tán cây) với đất và phân hữu cơ, phân vi sinh (tro trấu để làm tăng độ tơi xốp, tạo khoảng trống cho chất giữ ẩm hút nước)
•Bón hỗn hợp xung quanh tán lá cây theo rãnh, lấp đất kín nhằm đảm bảo chất giữ ẩm không bị trồi lên lại trên mặt đất
•Tưới cho vật liệu hút no nước nhằm đảm bảo khả năng hút, nhả nước ở những lần tiếp theo, thời gian giữa hai lần tưới tăng thêm 2-3 ngày so với chu kỳ tưới bình thường
•Nên bón chất giữ ẩm vào khoảng tháng 11-12 là thời gian mít chuẩn bị tạo trái, đây là thời gian bước vào mùa khô và mít cần cung cấp đủ nước để có nhiều trái
KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY MÍT KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY MÍT
Trang 29Hình 5: Đối chứng (18/12/2008) Hình 6: Công thức có bón chất giữ ẩm (18/12/2008)
Hình 7: Đối chứng (14/01/2009) Hình 8: Công thức có bón chất giữ ẩm(14/01/2009)
KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY MÍT KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY MÍT
Trang 30Hình 9: Đối chứng (18/02/2009) Hình 10: Công thức có bón chất giữ ẩm (18/02/2009)
Hình 11: Đối chứng (21/04/2009) Hình 12: Công thức có bón chất giữ ẩm (21/04/2009)
KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY MÍT KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY MÍT
Trang 31KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY ĐIỀU KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY ĐIỀU
BỐ TRÍ THỬ NGHIỆM TRÊN CÂY ĐIỀU
Năm 2008: thử nghiệm trên 9,7 ha tại 10 hộ gia đình
Năm 2009 tiến hành trên 1 hộ gia đình với diện tích 0,5 ha gồm 2 công thức thử nghiệm: có bón chất giữ ẩm với liều lượng 160 g/gốc và đối chứng không bón chất giữ ẩm
Trang 32Kết quả thử nghiệm năm 2007-2008
KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY ĐIỀU KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY ĐIỀU
Trọng lượng 100 hạt điều (g) tại một số hộ thử nghiệm
Công thức Hộ Võ Văn
Lâm
Hộ Đỗ Văn Quang
Hộ Nguyễn Xuân Thanh
Hộ Nguyễn Đức Tình
Trang 33KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY ĐIỀU KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY ĐIỀU
Kết quả thử nghiệm năm 2007-2008
Năng suất của một số hộ trồng điều tại Định Quán năm 2008
Trang 34Nhận xét:
•Kết quả thu được về trọng lượng 100 hạt tại một số hộ gia đình có thấy sự khác biệt về trọng lượng hạt giữa công thức thử nghiệm và đối chứng, tính trung bình trọng lượng 100 hạt ở công thức có bón chất giữ ẩm cao hơn đối chứng 1,5% Quá trình thử nghiệm tuy đang là mùa khô nhưng xuất hiện nhiều cơn mưa trái mùa, xảy ra sương muối làm cho các vườn điều đang trong thời kỳ ra hoa bị khô, rụng bông không kết trái được, ảnh hưởng đến kết quả thử nghiệm, năng suất giảm so với các năm trước.
•Màu sắc lá cây ở công thức có bón chất giữ ẩm xanh mướt hơn so với đối chứng Số cành cũng như tán lá cây giữa hai công thức không có sự khác biệt lớn.
KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY ĐIỀU KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY ĐIỀU
Kết quả thử nghiệm năm 2007-2008
Trang 35KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY ĐIỀU KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY ĐIỀU
Kết quả thử nghiệm năm 2008-2009
Diễn biến thời tiết mùa khô năm 2009 khá phức tạp, gây mất mùa điều nên ảnh hưởng đến năng suất điều và kết quả thử nghiệm chất giữ ẩm
Cây điều ở ô thử nghiệm có bón chất giữ ẩm xanh tốt hơn, hạt to hơn, quá trình ra hoa kéo dài và nhiều hơn cây ở ô đối chứng Sau khi thu hoạch cho thấy cây ở ô thử nghiệm có bón chất giữ ẩm có khả năng hồi phục cây nhanh hơn Có nhiều lộc non và nhánh so với cây ở ô đối chứng
Trang 37•Trên cơ sở các thử nghiệm đã tiến hành, quy trình bón chất giữ ẩm “CH” cho cây điều
được đề xuất như sau:
•Tạo rãnh xung quanh gốc, cách gốc 2/3 bán kính tán lá với chiều sâu từ 20-30 cm
•Trộn chất giữ ẩm (40g/m đường kính tán cây – 160g/gốc cây) với đất và phân hữu cơ, phân vi sinh (thêm tro trấu để làm tăng độ tơi xốp, tạo khoảng trống cho chất giữ ẩm hút nước)
•Bón hỗn hợp xung quanh tán lá cây theo rãnh, lấp đất kín nhằm đảm bảo chất giữ ẩm không bị trồi lên lại trên mặt đất
•Tưới cho vật liệu hút no nước nhằm đảm bảo khả năng hút và nhả nước ở những lần tiếp theo sau
•Nên bón chất giữ ẩm vào khoảng tháng 11-12 là thời gian điều chuẩn bị bước vào mùa khô, cây vào thời kỳ ra hoa, đậu quả cần cung cấp đủ nước
KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY ĐIỀU KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY ĐIỀU
Trang 38Hình 13: Chuẩn bị bón chất giữ ẩm (18/12/2008) Hình 14: Đối chứng (18/12/2008)
KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY ĐIỀU KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY ĐIỀU
Trang 40KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY QUÝT KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH – CÂY QUÝT
• Là cây chiến lược của huyện Định Quán do hiệu quả kinh tế, lợi nhuận từ trái quýt rất cao
BỐ TRÍ THỬ NGHIỆM TRÊN CÂY QUÝT
Năm 2008: Thử nghiệm trên 6,5 ha tại 5 hộ gia đình
Năm 2009 tiến hành trên diện tích 0,5 ha gồm 2 công thức: có bón chất giữ ẩm với liều lượng 30 g/m đường kính tán lá (90 g/gốc) và đối chứng không bón chất giữ ẩm