Do vậy sản phẩm thu được thường không đạt nhu cầu như mong muốn chẳng hạn: cụm nhỏ, đường kính mũ nấm nhỏ, tốc độ sinh trưởng chậm làm cho năng suất và chất lượng sản phẩm không cao… Để
Trang 1MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6.Đối tượng nghiên cứu 6
7 Phạm vi nghiên cứu 6
8 Cấu trúc của đề tài 6
NỘI DUNG 9
Chương I Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 9
1.1 Đặc điểm thực vật học 9
1.1.1 Đặc tính hình thể 9
1.1.2 Đặc tính vi cơ cấu dưới kính hiển vi 9
1.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc mộc nhĩ 9
1.2.1 Thời vụ trồng mộc nhĩ 10
1.2.2 Kỹ thuật trồng mộc nhĩ trên mùn cưa 10
1.2.2.1 Xử lý nguyên liệu 10
Trang 21.2.2.3 Cấy giống và ươm 11
1.2.2.4 Chăm sóc và thu hái 12
1.2.2.5 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản 13
1.2.2.6 Một số loại bệnh và cách phòng trừ 13
Chương II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 14
2.1 Tình hình sản xuất mộc nhĩ trên thế giới 14
2.2 Tình hình sản xuất trong nước 15
2.3 Tình hình sản xuất Mộc nhĩ ở Sơn La 20
2.5 Nội dung nghiên cứu 21
2.6 Phương pháp nghiên cứu 21
2.6.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu 21
2.6.2Nội dung nghiên cứu 21
2.6.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.6.3.1 Bố trí thí nghiệm 21
2.6.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi: 22
Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn nguyên liệu đến khả năng sinh trưởng và phát triển mộc nhĩ đen 24
3.1.1 Ảnh hưởng của giá thể đến thời gian sinh trưởng của mộc nhĩ 24
Trang 33.1.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn nguyên liệu đến tốc độ phát triển sợi mộc nhĩ
26
4.1.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn nguyên liệu đến động thái tăng trưởng chiều dài cụm Mộc nhĩ đen 27
3.1.4 Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn nguyên liệu đến động thái tăng trưởng đường kính mũ mộc nhĩ đen 29
3.1.5 Ảnh hưởng của giá thể đến các loại sâu hại chính trên mộc nhĩ 30
3.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn nguyên liệu đến năng suất của mộc nhĩ 31
3.2.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn nguyên liệu đến khối lượng của cụm mộc nhĩ 31
3.2.2 Ảnh hưởng của giá thể đến năng suất thực thu của mộc nhĩ 32
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 33
5.1 Kết luận 33
5.2 Kiến nghị 34
MỘT SỐ HÌNH ẢNH KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nấm ăn bao gồm nhiều loại như: nấm Rơm, nấm Sò, nấm Mỡ, nấm Linh Chi, nấm
Hương, Mộc Nhĩ (Auricularia auricula-judae),…Nấm ăn là món ăn quý không chỉ vì
thơm ngon mà còn có nhiều giá trị dinh dưỡng, giá trị về mặt y học, giá trị về mặt kinh tế
Việc trồng nấm trong đó có mộc nhĩ (mộc nhĩ) có thể thực hiện thuận lợi trong điều kiện Việt Nam nói chung và các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng, đặc biệt là tỉnh Sơn La Tỉnh Sơn La có diện tích trồng ngô rất lớn, sau khi thu hoạch xong ngô là bà con chặt thân cây ngô rồi đốt ngay tại nương hoặc làm chất đốt để đun nấu, sưởi ấm, còn lõi cây ngô sau khi tẽ hạt xong bà con cho vào bếp đốt Mà lõi ngô là nguyên liệu thích hợp để trồng mộc nhĩ sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao Không chỉ có lõi ngô mà còn rất nhiều các phụ phẩm nông nghiệp khác như rơm rạ, bông thải có thể làm nguyên liệu để trồng mộc nhĩ cũng không được sử dụng nhiều mà còn để hoang phí trở thành rác làm
ô nhiễm môi trường
Hiện nay việc trồng mộc nhĩ được nhiều địa phương quan tâm và phát triển Tuy nhiên ở Sơn La trồng mộc nhĩ vẫn còn ở mức độ nhỏ lẻ, manh mún chưa có sự đầu tư Việc nuôi trồng mộc nhĩ chủ yếu phát triển trên nền cơ chất tự nhiên mà không bổ sung thêm các chất dinh dưỡng hữu cơ khác Do vậy sản phẩm thu được thường không đạt nhu cầu như mong muốn chẳng hạn: cụm nhỏ, đường kính mũ nấm nhỏ, tốc độ sinh trưởng chậm làm cho năng suất và chất lượng sản phẩm không cao…
Để nghiên cứu việc nuôi trồng Mộc nhĩ trên một số phế thải nông nghiệp khác nhau, bổ sung một số chất dinh dưỡng khác nhau ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng Mộc nhĩ là một vấn đề còn bỏ ngỏ Vì vậy chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu
“Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của mộc nhĩ đen (Auricularia auricula-judae) trên một số phế thải nông nghiệp tại Mai Sơn - Sơn La năm 2014”
Trang 52 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Không chỉ Việt Nam mà ở các nước trên thế giới việc nghiên cứu nấm ăn cũng phát triển mạnh mẽ, nhiều công trình nghiên cứu và phát triển với quy mô lớn đã được hình thành Đặc biệt là Trung Quốc một nước có nghề trồng nấm phát triển rất mạnh: vào những năm 50 của thế kỷ XX, các trường ĐH sư phạm và trường ĐH Nông Nghiệp
đi đầu điều tra nghiên cứu nguyên chủng nấm và kỹ thuật trồng nấm mộc nhĩ; những năm 60 sau khi thành lập, viện nghiên cứu nấm Tam Ninh đi sâu nghiên cứu phân lập thuần chủng và kỹ thuật nuôi cấy nấm Hương, Mộc Nhĩ trắng, Phục Ninh, nấm Rơm: vào những năm 90 phát triển toàn diện và tập trung quy mô nghiên cứu về sinh vật, di truyền học phòng trừ sâu bệnh hại và chế biến dược phẩm từ nấm
Ở Việt Nam những năm trước nghề trồng nấm còn rất mới mẻ, phong trào sản xuất Mộc nhĩ trong những năm 1988 – 1992 mới được mở rộng đến các tỉnh phía Bắc.Với khí hậu Việt Nam, đặc biệt các tỉnh phía nam có thể trồng mộc nhĩ quanh năm Tuy nhiên, hiện nay, ở một số tháng, như từ tháng 2 đến tháng 6, năng suất nấm giảm và
dễ phát sinh bệnh, nên người trồng thường tránh các tháng này để khỏi bị thiệt hại Như vậy, thật sự mộc nhĩ bắt đầu vào vụ (nuôi trồng nhiều), chỉ từ khoảng tháng 8 đến tháng
2 năm sau
Vùng phát triển mộc nhĩ mạnh và tương đối ổn định là Long Khánh tỉnh Đồng Nai, với sản lượng trung bình 1000 - 200 tấn nấm khô/năm Ở TP Hồ chí Minh, có nhiều huyện trồng nấm mộc nhĩ tương đối lâu và phong trào khá mạnh, như: Hóoc Môn, Thủ Đức, Củ Chi sản lượng khoảng 100 - 150 tấn nấm khô/năm Ngoài ra, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cũng đang phát triển mạnh việc nuôi trồng mộc nhĩ, như Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang, Trà Vinh , sản lượng đạt khoảng 100 tấn nấm khô/ năm Như vậy, nếu tính cả số nấm nuôi trồng rãi rác ở các tỉnh khác của phía Nam, bao gồm một vài tỉnh miền Trung, thì tổng sản lượng mộc nhĩ nuôi trồng hiện nay khoảng 1500 tấn nấm khô/năm (so với tổng sản lượng nấm trên thế giới chiếm khoảng
Trang 63 Mục đích nghiên cứu
- Xác định được giá thể phù hợp để trồng mộc nhĩ đen đạt chất lượng cao
- Xây dựng được quy trình sản xuất mộc nhĩ đen đạt năng suất cao cung cấp cho người tiêu dùng
- Kết quả nghiên cứu đề tài nhằm bổ sung thêm những tài liệu khoa học về kỹ thuật trồng mộc nhĩ sạch trong công tác giảng dạy, nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất của địa phương và góp phần tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cho người sản xuất mộc nhĩ đen
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các giá thể khác nhau đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của mộc nhĩ đen tại Mai Sơn – Sơn La năm 2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Bố trí thí nghiệm theo kiểu ngẫu nhiên với 1 giống Mộc nhĩ đen trên 3 công thức khác nhau Bố trí thí nghiệm mỗi công thức 3 lần nhắc lại
- Công thức 1( với tỷ lệ phối trộn nguyên liệu): Mạt cưa 100kg, vôi bột 2kg
- Công thức 2( với tỷ lệ phối trộn nguyên liệu): Mạt cưa 80kg, bột lõi ngô 20kg, vôi bột 2kg
- Công thức 3( với tỷ lệ phối trộn nguyên liệu):Mạt cưa 60kg, bột lõi ngô 40 kg, vôi bột 2kg
* Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý bằng phần mềm Microsoft Exel, IRRISTAT
6.Đối tượng nghiên cứu
- Mộc nhĩ đen
- Mùn cưa và bột lõi ngô
7 Phạm vi nghiên cứu
Tại Chiềng Ban – Mai Sơn – Sơn La từ ngày 10/3/2014 – 15/3/2015
8 Cấu trúc của đề tài
Trang 7NỘI DUNG Chương I Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.2.Kỹ thuật trồng mộc nhĩ trên mùn cưa
1.2.2.2 Chuẩn bị túi nilông
1.2.2.4 Chăm sóc và thu hái
1.2.2.5 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản
1.2.2.6 Một số loại bệnh và cách phòng trừ
Chương II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất trên thế giới
2.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất trong nước
2.4 Tình hình sản xuất Mộc nhĩ ở Sơn La
2.6 Nội dung nghiên cứu
2.7 Phương pháp nghiên cứu
2.7.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.7.2 Nội dung nghiên cứu
2.7.3 Phương pháp nghiên cứu
2.7.3.1 Bố trí thí nghiệm
2.7.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi
2.7.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Trang 89 Kế hoạch thời gian (Tính từ tháng 15/8 năm trước đến 15/5 năm sau)
STT Nội dung c ng việc Kết quả đạt
được
Thời gian t đầu, kết thúc
Người, Cơ quan thực hiện
- Giống cấy
- Thiết kế ô thí nghiệm theo mục đích nghiên cứu
Tháng 3 – 10 /
2014
Vũ Thị Ngọc Ánh, Nguyễn Thị Thanh
3
- Hoàn thiện số liệu
và viết báo cáo
Tháng 10 – Tháng 12 /2014
Vũ Thị Ngọc Ánh, Nguyễn Thị Thanh
Trang 9NỘI DUNG Chương I Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 1.1 Đặc điểm thực vật học
1.1.1 Đặc tính hình thể
Thân của mộc nhĩ (Auricularia auricula-judae) có hình dạng đặc trưng, như một
cái vành tai mềm, dai, mặc dù cơ quan có dạng một cái chén Bình thường bám dính bởi một bộ phận như cuống ngắn, nhưng cũng có thể là một gốc thân thô sơ Mộc nhĩ, cứng, nhờn, có kết cấu đàn hồi khi còn tươi, nhưng khi khô trở nên giòn, cứng dễ vỡ [1]
Mặt trên của mộc nhĩ bóng sáng, màu nâu đỏ với những điểm ửng màu tím nhạt, thường có những lông nhỏ mịn, màu xám Có thể mịn ở những mẩu mộc nhĩ còn non, hoặc dợn sóng hay có những nếp nhăn Màu sắc thay đổi theo tuổi Mặt dưới màu xám nâu nhạt hơn Đôi khi còn có những nếp gấp và nếp nhăn, và những đường gân nổi lên, làm cho mộc nhĩ xuất hiện nhiều tai kết hợp thành chùm.[1]
1.1.2 Đặc tính vi cơ cấu dưới kính hiển vi
Những bào tử (spores) của mộc nhĩ (Auricularia auricula-judae) dài và có dạng
như hình bán nguyệt kích thước thay đổi khoảng 16 đến 18 µm dài, dày khoảng 6 đến 8
µm Bào tử máu trắng ngà hay màu trắng nhạt và trong suốt, những bào tử có thể đôi khi
nhỉn thấy một khối màu trắng nhạt ở mặt dưới tai mộc nhĩ Cơ quan sinh sản kéo dài hình trụ với 3 vùng ngăn vách ngang ( màng ngăn bên trong chia khuẩn ty thành đốt ) như những sợi lông trên thân trái ( tai mộc nhĩ ) khoảng 85 đến 100 mm chiều dài và 5 đến 6 um đường kính Những khuẩn ty trong suốt, không sợi ở trung tâm và những điểm tròn Những khuẩn ty không phát triển thành búi dày đặc [3]
Những bào tử được phát tán ở mặt dưới của thân mộc nhĩ với một số lượng lớn tính trăm triệu trong nhiều giờ, và tỉ lệ cao vẫn tiếp tục đáng kể khi cơ quan nấm sấy khô
Ngay khi mộc nhĩ mất đi 90% trọng lượng vì mất nước, mộc nhĩ vẫn tiếp tục phóng thích một số lượng nhỏ bào tử [1]
1.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc mộc nhĩ
Trang 10Mộc nhĩ có thể trồng trên nhiều loại giá thể khác nhau, tuy nhiên phổ biến nhất là
trên mùn cưa và trên thân cây gỗ
1.2.1 Thời vụ trồng mộc nhĩ
Mộc nhĩ ưa khí hậu nóng ẩm, vì vậy việc trồng mộc nhĩ đúng thời vụ là rất quan
trọng Đối với các tỉnh phía Nam không có mùa đông nên có thể trồng mộc nhĩ quanh năm Riêng vùng cao nguyên Nam Trung Bộ thì nên thực hiện như miền Bắc [4]
Ở miền Bắc việc trồng mộc nhĩ thường bắt đầu vào cuối tháng 4 dương lịch, tháng
5 ủ sợi Từ tháng 6 trở đi mộc nhĩ bắt đầu được thu hái kéo dài tới tận tháng 10 dương lịch, nếu mộc nhĩ còn ít có thể thu hái nốt vào đầu tháng 11 Từ giữa tháng 11 trở đi, thời tiết bắt đầu se lạnh, không thích hợp cho mộc nhĩ phát triển [4]
1.2.2 Kỹ thuật trồng mộc nhĩ trên mùn cưa
1.2.2.1 Xử lý nguyên liệu
Sử dụng các loại mùn cưa từ cây bồ đề, cao su, gòn, gáo, sung…không sử dụng
mùn cưa bị mốc hoặc mùn cưa của những cây có tinh dầu Mùn cưa thu gom xong đem phơi ngay cho khô ráo và thoáng tránh bị mốc [5]
Khi bắt đầu trồng phải làm ướt mùn cưa bằng nước nước vôi 1- 2% có pha thêm chế phẩm “Vườn Sinh Thái” và đường saccarose còn gọi là đường mía (cứ 10 lít nước hòa với 100 - 200g vôi bột cộng thêm 5ml chế phẩm Vườn Sinh Thái và 100g đường mía ngoài ra có thể bổ sung thêm 50 – 100g đạm Ure) Lưu ý chỉ nâng độ ẩm giá thể lên
65 -70% là tối đa Thông thường cứ 10 kg giá thể mùn cưa khô trộn với 6 lít dung dịch
đã pha theo tỷ lệ trên là vừa [2]
Sau khi đã trộn ẩm, vun mùn cưa lại và ủ thành đống, mỗi đống khoảng 1 tạ trở lên Duới đáy đống ủ nên lót một lớp vật liệu dễ thoát nước (dát tre, nứa, cót) Thời gian
ủ từ 30 - 45 ngày Sau khi ủ 15 - 20 ngày đảo đống ủ cho đều làm như vậy tạo điều kiện thông thoáng để các vi sinh vật hảo khí hoạt động mạnh và phân hủy nhanh Cellulose, sau đó tiếp tục vun lại và ủ cho hết thời gian mới đưa vào túi nilon [2]
1.2.2.2 Chuẩn bị túi nilon
Trang 11*Chuẩn bị túi nilon
Chọn túi nilon chịu nhiệt vì còn phải trải qua công đoạn hấp giá thể để khử trùng, kích thước túi có thể là:
- Loại 20 x 37cm chứa được 1,3 – 1,5kg giá thể
- Loại 25 x 40cm chứa được 1,5 – 1,8kg giá thể
- Loại 25 x 50cm chứa được 2,5 – 3,0kg giá thể
Mỗi túi nilon cần phải tạo cổ bịch, có thể dùng bìa cáctong cuộn tròn, ống trúc cắt ngắn hoặc ống nhựa có đường kính 3 – 5cm và cao khoảng 2 – 3cm Cho mùn cưa vào dần, vào đến đâu dồn chặt đến đấy Lưu ý phải để túi căng đều, không dồn mùn cưa vào đầy tràn mà để chừa phía trên 1 đoạn 5 – 7cm về phía miệng túi để luồn cổ bịch, sau đó túm đầu túi nilong và cho luồn qua cổ bịch, bẻ quặt xuống để cổ bịch nằm giữa 2 lớp nilong Sau đó dùng dây chun buộc chặt cổ bịch, lấy bông không thấm nước vê tròn thành nút và nút chặt vào cổ bịch, lấy giấy báo chùm lên và nút buộc lại [2]
*Khử trùng:
Các túi nilon sau khi cho giá thể được hấp cách thủy trong thời gian 4 – 5 giờ,
nâng nhiệt độ lên 120 – 125oC trong vòng 90 phút, nếu không có nồi hấp chuyên dùng
có thể hấp bằng thùng phuy dung tích 200 lít trở lên Dưới đáy thùng lót 1 lớp gỗ để đun cách thủy Sàn gỗ xếp cách đáy khoảng 20cm, dưới đó đổ 1 lớp nước cao 15cm, xếp các bịch mùn cưa vào tạo thành các lớp chồng lên nhau Có thể được 80 – 90 bịch/thùng [2]
1.2.2.3 Cấy giống và ươm
Sau khi hấp xong, để nguội và dỡ bịch ra Giữ bịch ở bên ngoài 3 – 4 ngày cho nguội hẳn rồi mới cấy giống Giống thường được nhân bằng cọng sắn (thân cây sắn được cắt khúc và chẻ nhỏ, hấp vô trùng sau đó cấy giống mộc nhĩ vào), giống được đựng trong các lọ thủy tinh hoặc túi nilon buộc kín [7]
Tháo nút ở các bịch mùn cưa và lấy một thanh cây sắn đã nhiễm giống mộc nhĩ và
ấn sâu vào giữa bịch mùn cưa Sau đó nút lại bằng nút bông và buộc giấy báo chùm ra ngoài Công việc cấy giống phải tiến hành thật nhanh và trong điều kiện vô trùng tránh
Trang 12sự xâm hại của các loại nấm gây hại Sau đó xếp các bịch đã cấy giống vào giá thể hoặc
xỏ thành xâu treo lên [7]
Chỗ để bịch phải sạch sẽ thông thoáng, nhiệt độ thích hợp 25 – 32oC Thời gian ủ sợi kéo dài 20 – 25 ngày Sau thời gian này các sợi nấm sẽ mọc loang dần ra cả bịch mùn cưa Sợi nấm mọc đến đâu thì trắng đến đấy Khi nào thấy cả bịch mùn cưa trắng như bông thì lúc đó kết thúc giai đoạn ủ sợi [2]
1.2.2.4 Chăm sóc và thu hái
Bào tử quả (cánh mộc nhĩ) ưa điều kiện hiếu khí để phát triển Vì vậy dùng dao sắc rạch xung quanh quanh bịch 4 - 5 vết, mỗi vết dài 4 – 5cm Lưu ý khi rạch chỉ rạch túi chứ không rạch sâu vào cơ chất (giá thể) của bịch nilong, nên rạch theo đường thẳng đứng hoặc theo đường xoắn ốc quanh bịch [2]
Sau khi rạch khoảng 1 tuần mộc nhĩ sẽ mọc ra chi chít tại các điểm rạch Lúc này cần tiến hành phun ẩm liên tục trong nhiều ngày [2]
Dùng 5ml chế phẩm Vườn Sinh Thái pha với 10 - 15 lít nước sạch, dùng bình bơm chuyên dùng phun duới dạng sương mù Chú ý việc phun nước có pha chế phẩm Vườn Sinh Thái chỉ phun 1 lần/ngày và 3 - 5 ngày phun đều 1 lượt vào lúc thời tiết mát
mẻ Số lần còn lại phun nước sạch, số lần phun tùy vào điều kiện thời tiết và khả năng sinh trưởng của mộc nhĩ Về nguyên tắc nếu trời nắng nóng thì mộc nhĩ mọc ra nhiều, lúc đó cần tưới thường xuyên hơn, và độ ẩm không khí ở khu vực này luôn giữ ở mức 80 – 95%, độ ẩm giá thể 60 – 65% là tốt nhất
Nhìn chung khi thấy cánh mộc nhĩ khô nước là lại tiếp tục phun ngay, không được
mở miệng túi nilon để tưới nước vào bên trong, làm như vậy sẽ gây lên hiện tượng sũng nước và thối sợi mộc nhĩ [2]
Ánh sáng khu vực để bịch mộc nhĩ phải là ánh sáng tán xạ tuy nhiên cũng không nên để tối quá, lượng ánh sáng vừa đủ nhìn thấy mộc nhĩ để hái, cường độ ánh sáng cao
sẽ làm nấm kém phát triển Độ thoáng của không khí vừa phải, tránh để gió lùa mạnh sẽ làm sợi mộc nhĩ mau héo [7]
Trang 13Nấm mọc khá nhanh, nếu làm bịch tốt quá trình thu hoạch có thể kéo dài 2 – 3 tháng Chú ý sau mỗi đợt thu hái ngừng tưới vài ngày Làm như vậy thì khi tưới ẩm trở lại mộc nhĩ sẽ mọc ra to hơn [6]
1.2.2.5 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản
Mộc nhĩ sau khi thu hoạch nên rửa sạch bằng nhiều nước rồi đem phơi khô, sau
đó nên ngâm mộc nhĩ qua đêm với một ít vỏ quýt, vỏ cam rồi vớt phơi khô, làm như vậy
sẽ thu được mộc nhĩ có màu nâu hồng hấp dẫn và không bị đen [6]
Khi thấy bịch nấm nhẹ tênh, tức là nấm đã ra hết, dỡ bịch ra, trộn bã còn lại với phân làm phân bón cho cây trồng sẽ rất tốt Sau mỗi chu kỳ trồng mọc nhĩ nên làm vệ sinh cả khu vực [6]
1.2.2.6 Một số loại bệnh và cách phòng trừ
Trong quá trình trồng mộc nhĩ trên mùn cưa thường xuất hiện một số loại bệnh như nấm mốc xanh, mốc vàng hoa cau, mốc đen Các loại mốc này phát triển đồng thời với sợi nấm Chúng có thể lấn át và làm chết hoàn toàn sợi nấm Nấm mực cũng có thể xuất hiện Chúng có nón nấm nhỏ 1 – 2cm và màu đen, cọng nấm dài, màu trắng mọc ngay trong túi nilong và cạnh tranh chất dinh dưỡng với mộc nhĩ [11]
Nguyên nhân dẫn đến các bệnh nói trên là do khâu xử lý nguyên liệu (không đủ thời gian hấp) Mùn cưa khi thu về bị nhiễm các loại nấm, mốc chúng sẽ cùng sinh sống
và cạnh tranh với mộc nhĩ được cấy vào Ngoài ra nếu độ ẩm trong túi quá cao cũng sẽ kích thích bệnh phát triển [11]
Vì vậy để phòng trống các loại bệnh trên cần hết sức coi trọng khâu xử lý nguyên liệu Khi hấp cần đảm bảo đủ thời gian và nhiệt độ đã quy định Nhà xưởng phải được
vệ sinh thường xuyên và giữ cho thoáng mát sau mỗi đợt nuôi trồng Nếu thấy bịch nào xuất hiện bệnh biện pháp tốt nhất là loại ra hoặc cách ly [11]
Trang 14Chương II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1 Tình hình sản xuất mộc nhĩ trên thế giới
Tình hình nghiên cứu nấm ăn trên thế giới cũng phát triển mạnh mẽ, nhiều công trình nghiên cứu và phát triển với quy mô lớn đã được hình thành Đặc biệt là Trung Quốc - một nước có nghề trồng nấm phát triển mạnh mẽ: vào những năm 50 của thế kỷ
XX, các trường ĐH sư phạm và trường ĐH Nông Nghiệp đi đầu điều tra nghiên cứu nguyên chủng nấm và kỹ thuật trồng nấm Rơm; vào những năm 60 sau khi thành lập, viện nghiên cứu nấm Tam Ninh đi sâu nghiên cứu phân lập thuần chủng và kỹ thuật nuôi cấy nấm Hương, Mộc Nhĩ trắng, Phục Ninh, nấm Rơm: vào những năm 90 phát triển toàn diện và tập trung quy mô nghiên cứu về sinh vật, di truyền học phòng trừ sâu bệnh hại và chế biến dược phẩm từ nấm [2]
Năm 1990 tổng sản lượng nấm ăn toàn thế giới là 3 763 000 tấn, Nhưng Mộc nhĩ chiếm số lượng rất nhỏ khoảng 93 000 tấn Năm 1994, tổng sản lượng nấm thế giới lên 4
909 000 tấn, trong đó: Mộc nhĩ đen 84 600 tấn, mộc Nhĩ trắng là 156 200 tấn Các nước sản xuất Mộc nhĩ chủ yếu năm 1994 là Trung Quốc có 85 000 tấn; Nhật Bản 10 tấn; Pháp 18 500 tấn; Inđônêxia 1880 tấn…
Khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu trồng nấm theo phương pháp công nghiệp là chính Những nhà máy sản xuất nấm có công suất từ 200 – 1000 tấn/ năm được cơ giới hoá cao
từ khâu xử lý nguyên liệu đến thu hái chế biến do máy móc thực hiện, họ không còn thực hiện sản xuất thủ công như ở nước ta Năng suất Mộc nhĩ trung bình của các nước
này đạt từ 40 – 60% so với nguyên liệu ban đầu [2]
Khu vực Châu Á (Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc…) triển khai sản xuất nấm theo mô hình vừa và nhỏ Nghề trồng nấm của khu vực này cũng phát triển mạnh mẽ; Một số loại nấm ăn được nuôi trồng khá phổ biến đó là nấm Hương, nấm Sò, Mộc Nhĩ, nấm Mỡ Đặc biệt là Trung Quốc nghề trồng nấm đã thực sự đi vào từng hộ nông dân; sản lượng Mộc nhĩ, nấm Mỡ, nấm Hương của Trung Quốc lớn nhât thế giới, Trung Quốc được coi là nước sản xuất và xuất khẩu với sản lượng lớn nhất; năm 1995
Trang 15sản lượng của Trung Quốc là 3 000 000 tấn, chiếm 60% tổng sản lượng thế giới, riêng Phúc Kiến đã có 800 000 tấn (chiếm 26,67% cả nước; 6,4% cả thế giới) [8]
Thị trường tiêu thụ nấm ăn lớn nhất hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan và các nước Châu Âu… Tổng sản lượng nấm ăn trên thị trường thế giới vào khoảng 20 triệu tấn sản phẩm/năm và đang có xu hướng tăng Mức tiêu thụ nấm bình quân tính theo đầu người của Châu Âu, Mỹ khoảng 2 – 3 kg/ năm; Nhật, Đức khoảng 4 – 5 kg/ năm Dự kiến mức tiêu thụ này trong tương lai sẽ tăng với tốc độ 3,5%/năm Trên thị trường Châu
Âu mộc Nhĩ chiếm khoảng 10% thị phần Thị trường Mỹ trong thập niên 80 của thế kỷ
XX, tiêu thụ khoảng 20% tổng sản lượng Mộc nhĩ của thị trường thế giới [1]
Nước xuất khẩu nấm nhiều nhất trên thế giới hiện nay là Trung Quốc với khoảng 1,5 triệu tấn sản phẩm/năm; các loại sản phẩm nấm như Mộc Nhĩ, nấm Hương, nấm Rơm…có giá bán dao động trong khoảng 1700-6500 USD/ tấn Mỗi năm, Phúc Kiến xuất sang Mỹ 3000 - 6000 tấn Mộc nhĩ khô và bán sang Nhật 1 000 – 3 000 tấn Mộc nhĩ khô, trị giá 15 triệu USD [1]
2.2 Tình hình sản xuất trong nước
Vấn đề nghiên cứu và sản xuất nấm ăn ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm 70 của thế kỉ XX với những mốc đáng ghi nhận như:
Năm 1984 thành lập trung tâm nghiên cứu nấm ăn tại trường đại học tổng hợp Hà Nội
Năm 1985 tổ chức FAO tài trợ UBND thành phố Hà Nội thành lập trung tâm sản xuất nấm Thương Mại – Hà Nội (sau đó đổi tên thành công ty sản xuất giống, chế biến
và xuất khẩu nấm Hà Nội)
Năm 1986 được tổ chức FAO tài trợ UBND thành phố Hồ Chí Minh thành lập xí nghiệp nấm thành phố Hồ Chí Minh Cũng trong năm này một số đơn vị sản xuất nấm khác cũng được thành lập như: Công ty nấm Thanh Bình (Thái Bình); xí nghiệp nấm (Tổng công ty rau quả Việt NAM – VEGETEXCO), các công ty liên doanh sản xuất và chế biến nấm ở Cần Thơ, Đà Lạt [10]
Trang 16Năm 1992 – 1993 công ty nấm Hà Nội nhập thiết bị chế biến nấm và “nhà trồng nấm công nghiệp” của Italia Trong đó thanh phố Hà Nội, Unimex Quảng Ninh, các tỉnh như: Hà Nam Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Bắc, Thanh Hoá, Thái Bình, Hải Phòng, Hà Tây…
Đã đầu tư nhiều tỉ đồng cho nghiên cứu và sản xuất nấm ăn Phong trào sản xuất nấm
Mỡ trong những năm 1988 – 1992 đã mở rộng đến hầu hết các tỉnh phía Bắc Vì vậy sản lượng nấm đã tăng từ khoảng 30 tấn/năm (1988) lên 250 000 tấn/ năm vào năm 1993 Tuy nhiên do sản xuất thua lỗ, nhiều cơ sở bị giải thể và nhiều lí do khác mà phong trào trồng nấm tạm lắng xuống Đến năm 1996 sản lượng nấm ăn lại quay trở về điểm xuất phát của năm 1989 là 50 000 tấn/ năm [10]
Đến nay nghề trồng nấm cũng đang dần được khôi phục và phát triển mạnh mẽ thể hiện ở các mặt sau:
- Về giống nấm: Nước ta có khả năng phát triển rất nhiều các chủng loại nấm khác nhau giống như ở Trung Quốc và các nước trong khu vực song hiện nay đang tập trung triển khai 6 loại nấm chính đó là: nấm Rơm , nấm Sò Mộc Nhĩ, nấm Mỡ, nấm Hương , nấm dược liệu Linh Chi Mặc dù các loại nấm này có thể trồng được quanh năm, ở nhiều nơi trong cả nước nhưng ở các tỉnh phiá Nam chủ yếu trồng nấm Rơm, mộc Nhĩ, nấm Linh Chi; còn các tỉnh phía Bắc sản xuất nám Mỡ, nấm Sò, nấm Hương (chịu nhiệt độ lạnh), nấm Rơm, Mộc Nhĩ (chịu nhiệt độ nóng) và nấm Linh Chi [9]
Giống nấm có vai trò đặc biệt quan trọng đối với người sản xuất nấm Nếu sử dụng các giống nấm được nghiên cứu và tuyển chọn kĩ, có chất lượng cao thì năng suất nuôi trồng cao, hiệu quả kinh tế cao; ngược lại nếu sử dụng các giống kém chất lượng, chưa được tuyển chọn kĩ thì năng suất nấm sẽ không cao Mặc dù vậy hiện nay vẫn chưa
có nhiều cơ quan chuyên môn sản xuất các giống nấm và công nghệ làm giống nấm, nếu
có cũng chỉ hoạt động đơn lẻ và tự phát; một số cá nhân lợi dụng tình hình thiếu kiểm soát này đã đưa vào thị trường các giống nấm kém chất lượng, giống chưa được tuyển chọn gây thiệt hại cho người sản xuất [9]
Trang 17Có một số trung tâm sản xuất nấm có uy tín như viện di truyền Nông Nghiệp Sở khoa học và công nghệ Hoà Bình, công ty xuất nhập khẩu nấm (Sơn La), xí nghiệp nấm Toàn Thắng (Bắc Giang), trung tâm công nghệ sinh học ứng dụng – Đại học quốc gia
Hà Nội, khoa sinh học - Đaị học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Các giống nấm đã và đang được nuôi trồng ở Việt Nam từ nhiều nguồn giống khác nhau, một số giống nấm nhập từ Hà Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Italia, Nhật Bản Một số khác thì được sưu tầm trong nước [7]
- Về sản lượng: Sau những nỗ lực, cố gắng của một số cơ quan trong nước cùng với sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài nước, cũng như sự mở rộng thị trường, nghề sản xuất nấm dần được khôi phục, tổng sản lượng nấm các loại được sản xuất ở nước ta hiện nay vào khoảng 100 000 tấn/năm Trong đó xếp theo thứ tự giảm dần giữa các loại nấm là: Nấm Rơm, Mộc Nhĩ, nấm Sò, nấm Mỡ, Linh Chi và nấm Hương
- Về năng suất: Năng suất tính theo nguyên liệu các loại nấm khác nhau thì tương đối khác nhau Nấm Sò có năng suất cao nhất đạt trung bình 700 kg nấm tươi/ 1000kg nguyên liệu khô; sau đó là Mộc Nhĩ (600 kg); nấm Hương (500kg); nấm Mỡ (200 kg); nấm Rơm (100 kg) và cuối cùng là Linh Chi (75 kg) Nhìn chung năng suất nấm của nước ta chỉ bằng 50 – 70 % so với năng suất bình quân trên thế giới [7]
- Về quy mô sản xuất: Nhìn chung hầu hết các tỉnh trong cả nước hiện nay đều đã bắt đầu phát triển nghề sản xuất nấm, song chủ yếu vẫn là sản xuất ở quy mô hộ, mang tính đơn lẻ, với năng lực dao động từ 1 – 6 tấn nguyên liệu mỗi hộ 1 vụ, các hộ này thường sử dụng công nghệ sản xuất thủ công, tận dụng các thiết bị tự sản xuất như là: Máy băm rơm, hệ thông quạt gió, hệ thống tưới nước, máy đảo ủ nguyên liệu ….không đồng bộ, nên năng suất thấp, giá thành cao và khó khăn trong chế biến, tiêu thụ sản phẩm: các thiết bị, công nghệ trông nấm nhập khẩu từ nước ngoài không phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Việt Nam: Giá thành 1kg nấm sản xuất theo công nghệ của Đài Loan và Italia cao hơn nhiều so với giá thành 1kg nấm sản xuất trong dân
Trang 18Số cơ sở sản xuất nấm tập trung chỉ chiếm 3 – 5 % tổng số đơn vị tham gia sản xuất nấm trong cả nước Đáng chú ý nhất là ở tỉnh Vĩnh Phúc trong 3 năm qua (2000 - 2002)
đã và đang triển khai mô hình trang trại nấm và mô hình làng nấm với kết quả thu được khá khả quan, nhiều hộ nông dân đã có thu nhập cao từ sản xuất [10]
Ở miền Bắc nấm được trồng nhiều ở các tỉnh như Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội Gần đây phong trào trồng Mộc nhĩ phát triển mạnh mẽ và đang thu hút nhiều địa phương tham gia Ngoài ra còn nhiều loại nấm khác như nấm Sò, Nấm mỡ, nấm Hương, nấm Rơm và nấm Linh Chi
Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và miền Nam đang phát triển nghề trồng nấm Rơm rất nhanh, sản lượng tăng theo cấp số nhân; ngoài nấm Rơm thì ở đây còn trồng mộc nhĩ (Mộc Nhĩ) được trồng rất phổ biến Nấm Mỡ, nấm Sò thì được trồng ở Đà Lạt song rất khó khăn về nguyên liệu, chiếm sản lượng thấp [2]
Các sản phẩm nấm của ta chủ yếu để tiêu dùng nội địa ở dạng tươi, với giá bán dao động 15 000 - 20 000 đồng/ kg chủ yếu ở các thành phố lớn; tuy nhiên cùng với sự phát triển của xã hội một số thị trường cao cấp như siêu thị đã bắt đầu chú ý tiêu thụ các loại sản phẩm sấy khô, sản phẩm muối hoặc đóng hộp với giá bán dao động trong khoảng 50 000 - 150 000 đồng/ kg Các loại nấm Hương, Mộc Nhĩ thường được tiêu thụ
ở dạng khô có giá bán từ 25000 – 90000 đồng/kg, nếu cải thiện được công tác chế biến
và hạ giá thành sản phẩm, dự kiến thị trường cả nước có thể tiêu thụ được vài chục tấn mỗi năm, Mộc Nhĩ khô chủ yếu được thu hái từ tự nhiên và nuôi trồng Ngoài ra nấm còn được đem chế biến để xuất khẩu ra nước ngoài, các tỉnh phía Nam đã và đang xuất khẩu nấm Rơm muối, đóng hộp với số lượng hàng ngàn tấn/ năm sang thị trường Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan
- Về vấn đề chế biến : Hiện nay ngoài khoảng 50% sản lượng được tiêu thụ dưới dạng tươi, nấm còn được chế biến thành các loại sản phẩm như sấy khô (chiếm khoảng 20% sản lương nấm các loại) nhưng chủ yếu tập trung vào nấm Hương và Mộc Nhĩ; nấm Muối ( chiếm 20% tổng sản lượng nấm ) [2]
Trang 19Trong những năm vừa qua, tổng ngân sách nhà nước và các địa phương đã đầu tư hang chục tỉ đồng cho việc nghiên cứu và triển khai trồng nấm ở các tỉnh phía Bắc song kết quả đạt được rất thấp
Mặc dù đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu nhưng hiện nay sản xuất nấm của nước
ta vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún và phải bán qua tay của người khác Một số doanh nghiệp cảnh báo, mục tiêu đạt một triệu tấn vào năm 2010 sẽ khó đạt được nếu chúng ta không biết điều tiết thị trường, hình thành vùng nguyên liệu và nhất là xây dựng thương hiệu để nâng cao giá bán [4]
Nấm ăn là loại thực vật sạch, giàu dinh dưỡng được nhiều người ưa chuộng Thị trường nấm ăn trên thế giới rất lớn, trung bình tiêu thụ khoảng 15 triệu tấn nấm rơm/ năm Giá các loại nấm ăn đạt ở mức cao: Mộc Nhĩ, nấm Hương, nấm Rơm 1700 – 6500 USD/ tấn Trong khi đó, giá nấm sản xuất trong nước ở thời điểm đắt nhất cũng chỉ 28
000 – 30 000 đồng/ kg, nấm Rơm 10 000 – 15 000 đồng/ kg Điều đáng nói là giá nấm xuất khẩu của Việt Nam chỉ bằng 60% so với sản phẩm cùng loại được sản xuất tại Thái Lan, Trung Quốc Nguyên nhân là do nguồn nguyên liệu không đảm bảo về chất lượng, sản phẩm không đồng đều về kích thước, mẫu mã,…Việt Nam có rất nhiều tiềm năng để phát triển về trồng nấm, riêng rơm rạ 20 - 30 triệu tấn/năm đủ để cho “ra đời” 2 triệu tấn nấm tươi, trị giá 1tỷ USD, thậm chí nếu chế biến thành đồ hộp giá trị còn cao hơn Năm
2002, cả nước mới sản xuất được 100 000 tấn nấm thương phẩm thì đến nay đã đạt được
150 000 tấn/ năm Điều đó chứng tỏ nghề trồng nấm đã mang lại hiệu quả kinh tế cao Ông Bạch Quốc Khang, chánh văn phòng BNN & PTNT nhận xét: “Nếu sản xuất được
1 triệu tấn nấm ăn như mục tiêu đề ra, chúng ta sẽ thu được khoảng 7 000 tỷ đồng Trong đó, xuất khẩu ước đạt 200 triệu USD, tương đương 3200 tỷ đồng Tuy nhiên, chỉ
có một số ít địa phương đang dần hình thành quy mô sản xuất hàng hoá, còn đa phần bà con vẫn xem nấm là cây trồng lúc nông nhàn, dẫn đến lượng cung luôn thấp hơn nhu cầu Bên cạnh đó do thiếu sự liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp nên dẫn tới tình trạng nấm làm ra không biết bán cho ai, khi kinh doanh thì khan hàng GSTS Nguyễn