Trong điều kiện các nguồn tài nguyên để sản xuất có hạn, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục
Trang 11
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đặc điểm nổi bật của vấn đề nông thôn và nông dân trong hơn mười năm qua là sự đối diện với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa song hành với toàn cầu hóa và thị trường hóa Theo dự tính đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp Những gì các nước Âu Mỹ vượt qua trong hàng trăm năm, các nền kinh tế Đông Á đi qua hàng chục năm, thì nay Việt Nam đang nếm trải gần như cùng một lúc
Đô thị hóa là một đòi hỏi của phát triển Đô thị hóa không chỉ là sự thay đổi của cảnh quan bên ngoài, mà là sự thay đổi lối sống, tác động mạnh đến tâm trạng con người Vì vậy, vấn đề đô thị hóa xảy ra tự phát theo một quy luật tất yếu không cưỡng lại được hay là tự giác và chủ động để thuận theo quy luật ấy một cách thông minh, có tính toán, có “quy hoạch” là điều đang rất được quan tâm
Những năm qua ở nước ta, việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để chuyển sang công nghiệp và đô thị đã diễn ra rất nhanh, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, và có nguy cơ tiếp tục giảm mạnh Theo phương án quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2010, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người của cả nước sẽ giảm từ 0,113 ha (năm 2000) xuống còn 0,108 ha (năm 2010) và trong vòng 10 năm, bình quân đất nông nghiệp trên đầu người đã giảm 50m²
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên
cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp phát triển các ngành khác Vì vậy, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm sinh thái bền vững đang trở thành vấn đề toàn cầu Mục tiêu hiện nay của loài người là phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện về kinh tế xã hội, môi trường một cách bền vững Để thực hiện mục tiêu trên cần bắt đầu từ việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp toàn diện, như Bùi Huy Đáp đã viết "phải bảo vệ một cách khôn ngoan tài nguyên đất còn lại cho một nền sản xuất nông nghiệp bền vững"
Tuy nhiên, xét trên tổng thể, nền nông nghiệp nước ta vẫn phải đang
Trang 22
đang đối mặt với hàng loạt các vấn đề như: sản xuất nhỏ, manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất chất lượng hàng hóa thấp, khả năng hợp tác liên kết cạnh tranh yếu, sự chuyển dịch cơ cấu chậm Trong điều kiện các nguồn tài nguyên để sản xuất có hạn, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết
Xã Chiềng Sại là một xã nông nghiệp nằm ở phía Nam của huyện Bắc Yên, cách trung tâm Huyện Bắc Yên 50 km, với tổng diện tích tự nhiên là 7.729,20 ha và tổng số nhân khẩu là 3.671 người Tổng diện tích đất nông nghiệp của xã chiếm 42% tổng diện tích tự nhiên của xã, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp vẫn chưa được khai thác và sử dụng hiệu quả
Nghiên cứu đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại, đánh giá đúng mức độ của các loại hình sử dụng đất để tổ chức sử dụng đất hợp lý có hiệu quả cao theo quan điểm bền vững làm cơ sở cho việc đề xuất quy hoạch sử dụng đất và định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp của xã Chiềng Sại là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết
Trước tình hình đó xã Chiềng Sại cần đánh giá quỹ đất nông nghiệp hiện có và định hướng sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất nông nghiệp nhằm hướng tới sự phát triển bền vững và đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
đô thị hóa Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự phân công của Bộ môn Quản
lý đất đai - Khoa Nông Lâm - Trường Cao Đẳng Sơn La cùng với sự hướng
dẫn của cô giáo ThS Trần Thị Oanh, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp xã Chiềng Sại huyện Bắc Yên tỉnh Sơn”
1.2 Ý nghĩa của đề tài
- Góp phần hoàn thiện lý luận về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Chiềng Sại Đồng thời là cơ sở định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp trong tương lai
- Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp nâng cao mức thu nhập của người dân trong
xã
- Góp phần nâng cao hoạt động của công tác quản lý đất đai của xã
Trang 44
PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất
2.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp
Theo Luật đất đai năm 2003, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác Sự phân chia cụ thể này sẽ giúp cho việc khai thác tiềm năng và nâng cao hiệu quả sử dụng của từng loại đất
Cùng với việc phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, công nghệ, khoa học
và kỹ thuật, công năng của đất được mở rộng và có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong tình hình hiện nay nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội về nông sản đang trở thành một trong các mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất
2.1.2 Nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới
Nông nghiệp nhiệt đới được tiến hành ở các vùng trong vành đai nhiệt đới Điều kiện khí hậu - đất đai đặc biệt với hoàn cảnh kinh tế xã hội tạo cho nông nghiệp nhiệt đới có những nét riêng biểu hiện trên các hệ thống cây trồng, vật nuôi Khí hậu là yếu tố hạn chế quyết định đến sự phát triển của hệ thống cây trồng Vùng nhiệt đới ẩm, mưa nhiều, tập trung gây dòng chảy và xói mòn nghiêm trọng Đất đai phần lớn là màu mỡ nhưng so với vùng ôn đới thì không tốt bằng vì ít chất mùn, các xác vi sinh vật mau bị khoáng hoá Khí hậu và đất nhiệt đới phần lớn thích hợp cho việc trồng cây lâu năm, cà phê, chè, ca cao và các lọai cây ăn quả nhiệt đới Đối với những vùng đất trũng, đất phù sa, đất giàu chất hữu cơ… rất thích hợp cho việc gieo trồng các giống cây ngắn ngày, cây lương thực
2.1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
* Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Ngày nay nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng tăng trong khi quỹ đất chỉ có hạn Đất đai đang là nguồn tài nguyên được con người khai thác với nhiều mục đích khác nhau Chính vì vậy một phần lớn diện tích đất nông nghiệp đang được chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác
Trang 55
Do đó, cũng như các nước trên thế giới thì mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta cũng là nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu
* Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Nông nghiệp bền vững được phát triển vào những năm 70 của thế kỷ này nhằm khắc phục nạn ô nhiễm đất, nước không khí bởi hệ thống nông nghiệp và công nghiệp cùng với sự mất mát của các loài động thực vật, suy giảm các tài nguyên thiên nhiên không tái sinh Vấn đề nông nghiệp bền vững là vấn đề thời sự được nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm Đi cùng với vấn đề phát triển nông nghiệp là sử dụng đất bền vững Thuật ngữ sử dụng đất bền vững được dựa trên năm quan điểm sau:
- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất;
- Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất;
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn sự thoái hoá đất và nước;
- Có hiệu quả lâu bền và được xã hội chấp nhận
Năm nguyên tắc trên là cốt lõi của việc sử dụng đất đai bền vững Nếu
sử dụng đất đai đảm bảo các nguyên tắc trên thì đất được bảo vệ cho phát triển nông nghiệp bền vững
2.2 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn
vị thời gian [12]
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong quá trình hoạt động kinh tế để khai thác sử dụng đất
Trang 66
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới
2.2.1.1 Hiệu quả kinh tế
Theo Các - Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo nhà kinh tế Samuel – Nordhuas thì
“Hiệu quả là không lãng phí” Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho
xã hội.[13]
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau
Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh
tế sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội"
Trang 77
2.2.1.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt
xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập của nhân dân Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn
2.2.1.3 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo
vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng phát triển tốt khi phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, phương thức quản lý của con người, hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp Đó là việc
sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
Trang 88
2.2.2 Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.2.2.1 Đặc điểm đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, có thể xem xét ở các mặt
- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào kinh tế Vì thế, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể (thường là 1 ha), tính trên 1 đồng chi phí, trên 1 công lao động
- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh, do đó cần phải đánh giá hiệu quả từng loại cây trồng, từng công thức luân canh
- Thâm canh là biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế, cần phải nghiên cứu hậu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất
- Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết làm cho môi trường cùng phát triển Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường xung quanh
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội khác như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí nông thôn…
2.2.2.2 Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải dựa trên những nguyên tắc cụ thể:
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính
so sánh có thang bậc
+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn
Trang 99
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn, tính khoa học và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
2.2.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Mối quan
hệ này là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số, nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:
H = K - C
H = K/C
H = (K - C)/C
H = (K1 - K0)/(C1 - C0) Trong đó:
+ H: Hiệu quả + K: Kết quả + C: Chi phí + 1, 0 là chỉ số thời gian (năm)
* Hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch
vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm)
- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
- Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian, là giá trị sản phẩm xã hội tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
GTGT = GTSX - CPTG
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ
+ Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, gồm có (GTSX/LĐ, GTGT/LĐ) Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống
Trang 1010
cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí
cơ hội của người lao động
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau :
+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân; + Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển của vùng;
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân; + Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường
Chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:
+ Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;
+ Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;
+ Đánh giá quản lý đất đai;
+ Đánh giá hệ thống cây trồng;
+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất
và bảo vệ cây trồng;
+ Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên;
+ Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.3.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Cây trồng là tài nguyên sinh vật, là tài nguyên sống nên sự sống của nó gắn liền với điều kiện môi trường, bởi vì môi trường cung cấp cho cây trồng các yếu tố sinh trưởng cấn thiết cho quá trình sinh trưởng phát triển, mỗi loại cây trồng chỉ có thể sống và cho năng suất trong điều kiện khí hậu và đất trồng nhất định, các vùng có điều kiện khí hậu, đất đai khác nhau sẽ cho năng suất và sản lượng cây trồng khác nhau
- Khí hậu (ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa, ): Việc đầu tư lựa chọn cơ cấu cây trồng đòi hỏi người nông dân phải am hiểu sâu sắc về tình hình đất đai, khí hậu, thời tiết của vùng mình, địa phương mình để bố trí cây trồng hợp
lý nhằm tận dụng những điều kiện thuận lợi của tự nhiên đồng thời tránh được những thiệt hại mà thiên tai gây ra
Cây trồng sống trong điều kiện nhiệt độ khác nhau đã thích nghi với
Trang 1111
nhiệt độ khác nhau
Nước là yếu tố sinh trưởng quan trọng của cây trồng, nước vừa tham gia cấu trúc nên cơ thể thực vật vừa quyết định các biến đổi sinh hoá và các hoạt động sinh lý trong cây cũng như quá trình sinh trưởng, phát triển của cây cho nên nước được xem là yếu tố sinh thái quan trọng nhất quyết định năng suất cây trồng
- Đất (loại đất, địa hình, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì, chua - mặn, ): Có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, các yếu tố của đất đai là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối, do vậy cần đánh giá đúng điều kiện đất đai để trên cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp, tuỳ theo
vị trí địa hình, chất đất mà lựa chọn, bố trí cây trồng của từng vụ thích hợp trên từng loại đất mới cho năng suất, chất lượng sản phẩm cao, bố trí sản xuất
hợp lý, thực hiện đa dạng hoá sản xuất và định hướng đầu tư thâm canh đúng
2.3.2 Nhóm các yếu tố kinh tế - tổ chức
- Cơ sở vật chất kỹ thuật là nhân tố có vị trí quan trọng ảnh hưởng lớn đến cây trồng, bởi muốn phát triển hệ thống cây trồng phải có những điều kiện chủ yếu như các công trình thuỷ lợi, các công trình phúc lợi,
- Vốn cũng là một nhân tố quyết định đến cây trồng, hộ nông dân muốn
có các loại giống mới có giá trị kinh tế cao đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn
Vì vậy vốn có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất
2.3.3.Nhóm yếu tố xã hội
- Lao động và thị trường đều có ảnh hưởng lớn đến cơ cấu cây trồng, việc phát triển sản xuất nông nghiệp vừa giải quyết công ăn việc làm cho người lao động vừa phải đảm bảo được nhu cầu thị trường
- Sự ổn định về chính trị - xã hội, sự phù hợp của chủ trương chính sách
sẽ khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp tạo điều kiện cho các chủ thể sử dụng ruộng đất phát huy năng lực, lựa chọn các hướng đầu tư có hiệu quả, đồng thời hạn chế được rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp
Ngoài ra, những kinh nghiệm tập quán sản xuất nông nghiệp và trình
độ dân trí của nhân dân cũng có tác động đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp
- Nhà nước đưa ra các chính sách để khuyến khích nông nghiệp phát triển như: Luật đất đai, chính sách trợ giá nông nghiệp để giúp nông dân khi
Trang 1212
nông phẩm biến động, chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá đa canh kết hợp với việc phát triển dịch vụ và công nghiệp nông thôn nhằm tạo việc làm cho người dân
2.4.Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong tương lai
phương thức công nghiệp hoá và đang từng bước giảm bớt tính tự cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và hướng tới xuất khẩu
Trên cơ sở thành tựu kỹ thuật nông nghiệp của hơn 20 năm đổi mới, dựa trên những dự báo về khoa học kỹ thuật, căn cứ vào điều kiện cụ thể, phương hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới sẽ là:
+ Tập trung sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành, nhóm sản phẩm, dựa trên cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước, thế giới và khai thác tốt lợi thế so sánh của các vùng [7]
+ Xác định cơ cấu sản phẩm trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế,
xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thước đo để xác định
cơ cấu, tỷ lệ sản phẩm hợp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản hàng hoá.[1]
+ Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, nhóm cây công nghiệp, rau quả so với cây lương thực Giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống còn 50%, tăng quỹ đất nông nghiệp bình quân trên một lao động nông nghiệp.[7]
+ Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu cao hơn của công nghiệp hoá
+ Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp Cần ứng dụng đồng bộ các yếu tố khoa học công nghệ vào sản xuất nông sản hàng hoá, nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến, lưu thông tiếp thị nông sản hàng hoá [14]
Sản phẩm làm ra chứa đựng một lượng tri thức khoa học - kỹ thuật và
tổ chức quản lý cao để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và tiếp cận tích cực nhất với kinh tế tri thức đang diễn ra trên toàn cầu
Trang 1313
2.4.1 Xây dựng nông nghiệp bền vững
2.4.1.1 Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp bền vững
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan
hệ giữa người và đất đai Mục tiêu của con người là sử dụng đất khoa học và hợp lý Tuy nhiên thực tế cho thấy sử dụng đất đai là vấn đề phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố quan trọng khác nhau, thực chất đây là vấn đề có liên quan đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vì Vậy Mục tiêu đặt ra là sử dụng tối đa và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất của quốc gia, nhằm phục vụ phát triển nền kinh tế quốc dân và phát triển xã hội
Ngoài những tác động của các yếu tố điều kiện tự nhiên như: khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật và quy luật sinh thái tự nhiên, đất đai còn chịu ảnh hưởng của yếu tố con người, các quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố quyết định chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai, còn phương hướng sử dụng đất đai được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định
Trong thực tế do quá trình sử dụng lâu dài, nhận thức về sử dụng đất của người dân còn hạn chế đã dẫn tới nhiều diện tích đất đai đang bị thoái hoá, ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người, do đó con người phải mở mang thêm diện tích đất canh tác trên các vùng không thích hợp và hậu quả đã gây ra quá trình thoái hoá, rửa trôi và phá hoại đất một cách nghiêm trọng
Sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho
sự tồn tại và tương lai phát triển của loài người Chính vì vậy việc nghiên cứu
và đưa ra các giải pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà khoa học đất và các tổ chức quốc tế quan tâm Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” (Sustainable Land Use) đã trở thành thông dụng trên thế giới hiện nay
Thực chất của nông nghiệp bền vững là phải thực hiện được khâu cơ bản là duy trì độ phì nhiêu của đất được lâu bền Độ phì nhiêu đất là tổng hoà của nhiều yếu tố vật lý, hoá học và sinh vật học để tạo ra môi trường sống thuận lợi nhất cho cây trồng tồn tại và phát triển
Trang 1414
2.4.1.2 Định hướng phát triển nền nông nghiệp bền vững
Với phương châm tạo sự phát triển hài hoà cả trên ba khía cạnh kinh tế,
xã hội và môi trường, các chuyên gia đã đề xuất những biện pháp đồng bộ trong Bản dự thảo Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam trong những năm tới như sau:
Để nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững, cần có 4 ưu tiên: Tăng trưởng kinh tế nhanh; thay đổi mô hình tiêu dùng; "công nghiệp hoá sạch" và phát triển nông nghiệp bền vững Đối với tăng trưởng kinh tế nhanh, theo phân tích của các chuyên gia, hiện có không ít thách thức là suất đầu tư cao đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn; mức độ chế biến thấp dẫn đến tiêu tốn tài nguyên; sự biến động giá cả trên thị trường thế giới; nguồn nợ nước ngoài ngày càng lớn [6]
Với phương châm thúc đẩy công nghiệp hoá "sạch", các chuyên gia đề xuất những giải pháp gắn việc thúc đẩy phát triển công nghiệp với việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển của các ngành, có sự lồng ghép yếu tố sử dụng tài nguyên môi trường, cơ cấu lại công nghiệp, hạn chế các ngành tiêu tốn nguyên, vật liệu và gây ô nhiễm Bên cạnh đó, cần không ngừng giảm thiểu và phòng ngừa ô nhiễm công nghiệp bằng các công cụ luật pháp, kinh tế
và công nghệ
Đối với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững, cần đặc biệt trú trọng những giải pháp liên quan đến hoàn thiện luật pháp và chính sách phát triển bền vững, quy hoạch phát triển nông thôn, cơ cấu lại kinh tế nông thôn theo hướng đẩy mạnh các ngành phi nông nghiệp, hỗ trợ ứng dụng công nghệ mới, công nghệ sinh học, thúc đẩy công nghệ chế biến nông sản
Theo phân tích của các chuyên gia, để có được sự phát triển xã hội bền vững, vẫn tiếp tục phải ưu tiên giải quyết 5 vấn đề là xoá đói giảm nghèo; hạn chế tăng dân số; định hướng đô thị hoá và di dân; nâng cao chất lượng giáo dục; cải thiện y tế và vệ sinh môi trường
Để tăng cường độ bền vững của "chân kiềng" thứ ba là môi trường, nhiều chuyên gia đề cập đến vấn đề chống thoái hoá đất, sử dụng và quản lý tài nguyên nước; bảo vệ tài nguyên biển, ven biển; bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng; giảm thiểu ô nhiễm không khí ở đô thị và khu công nghiệp; quản lý chất thải rắn; bảo tồn đa dạng sinh học
Trang 1515
Bên cạnh những giải pháp trên ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường, các chuyên gia còn khẳng định rằng để có sự phát triển bền vững, không thể chỉ cần sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các đơn vị, doanh nghiệp thuộc ba lĩnh vực này, mà còn cần có sự tham gia của toàn dân và đặc biệt là việc nâng cao vai trò lãnh đạo của Nhà nước trong thực hiện phát triển bền vững thông qua hoạt động xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá và giám sát, các công cụ tài chính
Một đòi hỏi khác là cần mở rộng hợp tác quốc tế vì sự phát triển bền vững thông qua việc tham gia và thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế về phát triển bền vững; tham gia tích cực các hoạt động hợp tác nhằm bảo vệ môi trường toàn cầu và khu vực cũng như nỗ lực thu hút sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính quốc tế nhằm mục đích phát triển bền vững và tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm về phát triển bền vững
2.4.1.3 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Sử dụng đất gắn với các mục đích kinh tế, xã hội và môi trường là vấn
đề hiện đang được nhiều nước và người sử dụng đất quan tâm Trong thời kỳ cuộc sống xã hội phát triển ở mức cao, việc sử dụng đất luân hướng tới mục tiêu kinh tế, nhằm đạt được lợi nhuận tối đa trên mọi đơn vị diện tích đất nhất định (xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, chuồng trại chăn nuôi quy
mô lớn ) Bên cạnh đó, một phần diện tích đất không nhỏ được sử dụng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, ăn ở cũng như thỏa mãn đời sống tinh thần của con người (xây dựng nhà cửa, hệ thống giao thông, các công trình dịch vụ thể thao, văn hóa xã hội, mở mang phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn )
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất, các mục đích sử dụng đất nêu trên luôn nảy sinh mâu thuẫn làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng Những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất (sai lầm có ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến huỷ hoại môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng (các thảm hoạ sinh thái như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, trượt lở đất liên tục xẩy ra với quy mô ngày càng lớn và mức độ ngày càng nghiêm trọng), làm cho một số chức năng của đất bị yếu đi
Những xung đột giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường rất đa dạng:
- Đất sản xuất nông nghiệp đối lập với quá trình đô thị hoá
- Phát triển thủy lợi đối lập với việc phân chia các nguồn tài nguyên
Trang 1616
nước cho đô thị và phát triển công nghiệp
- Phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển đối lập với việc bảo vệ hệ sinh thái ven biển
- Sản xuất thuốc phiện đối lập với sản xuất lương thực thực phẩm ở một
số địa phương
- Quyền lợi của người bản địa và những người di cư
- Bảo vệ các giá trị sinh thái đối lập với nhu cầu về thực phẩm hoặc nông sản khác
- Các chủ sử dụng đất nhỏ mâu thuẫn với việc canh tác quy mô lớn
Trang 1717
PHẦN 3 ĐỐI TƢỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và
thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Chiềng Sại - huyện Bắc Yên - Tỉnh Sơn La
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Phạm vi nghiên cứu là xã Chiềng Sại - huyện
Bắc Yên - Tỉnh Sơn La
+ Giới hạn về thời gian: Các số liệu thống kê được lấy từ năm 2009 -
2013 Số liệu giá cả vật tư và nông sản phẩm hàng hoá điều tra vào thời điểm năm 2013
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Điều tra, đánh giá về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội có liên quan đến đất đai
- Đánh giá về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, thời tiết, thuỷ văn, …
- Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội: dân số và lao động, trình độ dân trí,
cơ sở hạ tầng, cơ cấu kinh tế, thực trạng sản xuất nông nghiệp của huyện, thị trường tiêu thụ nông sản phẩm, Từ đó rút ra những thuận lợi và hạn chế trong sản xuất nông nghiệp
- Đánh giá chung
3.2.2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã Chiềng Sạ i
- Nghiên cứu hiện trạng các kiểu sử dụng đất
- Diện tích và sự phân bố diện tích đất nông nghiệp
- Mức độ biến động diện tíchcác kiểu sử dụng đất trong xã
3.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Đánh giá hiệu quả kinh tế thông qua một số chỉ tiêu: GTSX, CPTG, GTGT, hiệu quả đồng vốn (HQĐV) của các kiểu sử dụng đất
- Đánh giá hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất thông qua các chỉ tiêu như: số lao động được sử dụng trong các loại hình sử dụng đất; giá trị ngày công lao động trong các loại hình sử dụng đất
Trang 1818
- Đánh giá hiệu quả môi trường thông qua các chỉ tiêu về mức đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng và ảnh hưởng của nó đến môi trường
- Đánh giá tổng hợp dựa trên các đánh giá về hiệu quả kinh tế, hiệu quả
xã hội, hiệu quả môi trường từ đó đưa ra cái nhìn tổng quát về vấn đề phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
3.2.4 Định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Chiềng Sại
- Xác định các loại hình sử dụng đất có triển vọng
- Định hướng nâng cao sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả
- Dự kiến một số giải pháp sau định hướng
- Đề xuất sử dụng đất nông nghiệp và giải pháp thực hiện
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Chọn điểm nghiên cứu đại diện cho các vùng sinh thái và đại diện cho các vùng kinh tế nông nghiệp của xã Những bản được chọn là những bản có đặc điểm về đấtt đai, địa hình, tập quán canh tác, hệ thống cây trồng có lợi thế
về sản xuất nông nghiệp hàng hoá khác nhau, đại diện cho các vùng sinh thái của bản Trên cơ sở bản đồ hiện trạng sử dụng đất, để đảm bảo tính khách quan của đề tài tôi tiến hành chia các bản thành 02 tiểu vùng:
Tiểu vùng 1: gồm các có Bản Nà Dòn, Bản Cò Muồng, Bản Suối Ngang, Bản Mõm Bò, Bản Lái Ngài, Bản Tăng là vùng tương đối bằng phẳng, nằm dọc theo chân đồi núi, có độ cao trung bình từ 9 – 12m Cây nông nghiệp tương đối phát triển, năng suất cao, như cây ngô, rau màu, lúa Tiểu vùng 2: là vùng nằm ở các sườn đồi núi, gồm Bản Suối Pứng, Bản Nặm Lin, có độ cao trung bình 12 - 15m, là vùng đất khó khai thác, do độ dốc tương đối lớn nên hàng năm vào mùa mưa đất bị rửa trôi mạnh, bạc màu nhanh, sản xuất nông nghiệp mất nhiều công, năng suất thấp Nhưng nhờ có những chính sách về khuyến nông xã như cải tạo đất bằng cách cày quốc, bón phân nên tiểu vùng này cũng đạt được nhiều hiệu quả, như cây ngô, lúa nước, cây khoai lang
Trang 193.3.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
Do điều kiện cơ sở vật chất của xã chưa đầy đủ nên phương pháp này chưa dược áp dụng
3.3.4 Các phương pháp khác
Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo, tham khảo ý kiến của các
chuyên gia, cán bộ lãnh đạo phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các nông dân sản xuất giỏi để đề suất hướng sử dụng đất và đưa ra các giải pháp thực hiện
Phương pháp dự báo: Các đề xuất được dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài và những dự báo về nhu cầu của xã hội và sự tiến bộ của khoa học
kỹ thuật nông nghiệp
Trang 2020
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Chiềng Sại
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Chiềng Sại có tổng diện tích tự nhiên là 7.729,20ha, nằm ở phía Nam của huyện Bắc Yên với vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp xã Song Pe - huyện Bắc Yên
- Phía Nam giáp xã Tân Hợp - huyện Mộc Châu
- Phía Đông giáp xã Đã Đỏ - huyện Phù Yên
- Phía Tây giáp xã Mường Lựm - huyện Yên Châu
4.1.1.3 Khí hậu
Xã Chiềng Sại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm một năm có hai mùa rõ rệt là mùa nắng và mùa mưa Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Nhìn chung khí hậu xã Chiềng Sại tương đối thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên hàng năm do mưa bão tập trung với lưu lượng lớn nên gây xói mòn đất đã ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông nghiệp của người dân
4.1.1.4 Thủy văn
Hệ thống sông, hồ, trên địa bàn xã khá phong phú bao gồm hệ thống sông Đà, nhờ có thuỷ điện Hoà Bình tạo thành một lòng hồ Chúng có tác động rất lớn về mặt thủy lợi, nguồn nước tưới tiêu cho vùng, chế độ thuỷ văn
cả xã phụ thuộc chủ yếu vào chế độ thuỷ văn của hệ thống sông Đà
Trang 2121
4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên đất
Năm 2013 tổng diện tích đất tự nhiên của xã Chiềng Sại là 7.729,20ha, căn
cứ bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Sơn La cho thấy địa bàn xã gồm các loại đất chính sau:
Đất Feralit màu nâu dortreen đá Mác ma trung tính và Ba zíc 1082,3 ha Đất Feralit đỏ vàng trên đá biến chất 753,4 ha
Đất Feralit màu vàng phát triển trên đá cát phân bố ở khu vực giáp sông
Đà 5536,8 ha
Đất Feralit màu vàng trên đá cát, đất mùn vàng nhạt trên đá cát 356,7 ha Ngoài ra ven sông suối còn có đất phù sa, dưới chân núi và các thung lũng có đất dốc tụ
* Tài nguyên nước
Nước mặt chủ yếu là từ nguồn nước của các nguồn nước tự nhiên, sông, hồ trên địa bàn xã Đặc biệt sông Đà là nguồn nước cung cấp nước chính cho nhân dân trong xã Ngoài ra còn các khe suối nhỏ, các suối này có lưu lượng rất nhỏ, về mùa khô hầu như bị cạn kiệt
- nguồn nước ngầm
Xã Chiềng Sại có trữ lượng nước ngầm tương đối phong phú, nhưng vì địa hình dốc nên nguồn nước ngầm ít được đưa vào sử dụng trong người dân
* Tài nguyên khoáng sản
Trữ lượng khoáng sản trên địa bàn xã Chiềng Sại ít và phân tán, không đáp ứng được yêu cầu sản xuất công nghiệp Loại khoáng sản có trữ lượng lớn là:
Trên địa bàn xã có mỏ Nieken - đồng ở Bản Tăng và bản Nà Dòn
Trang 2222
4.1.2 Hiện trạng sử dụng đất
Theo số liệu thống kê cuối năm 2012, tổng diện tích nông nghiệp xã Chiềng Sại có 5.560,26 ha, chiếm 71,9% tổng diện tích tự nhiên Diện tích đất
chưa sử dụng chiếm 18,6% cần được đưa vào sử dụng trong thời gian tới
Bảng 4.1 Bảng số liệu thể hiện cơ cấu đất nông nghiệp xã Chiềng Sại năm 2012
Mục đí ch sử dụng đất Mã Diện tích
(ha)
Cơ cấu (%)
1.2 Đất lâm nghiệp LNP 1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản NTS
Hình 4.1 Cơ cấu đất nông nghiệp xã Chiềng Sại năm 2012
Theo số liệu thống đầu năm 2012, tổng diện tích đất nông nghiệp của
xã có 5.560,26 ha chiếm 71,9% % diện tích đất đưa vào sử dụng của xã (7.729,20ha ) Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp toàn xã Chiềng Sại được thống kê và tổng hợp theo Bảng 4.2
Diện tích đất nông nghiệp của toàn xã được thống kê và tổng hợp theo Bảng 4.2
Trang 23- Diện tích đất nông nghệp là 5.560,26 ha chiếm 71,9% tổng diện tích
tự nhiên, trong đó đất lâm nghiệp chiếm diện tích lớn nhất với 4.295,79 ha,
so với đầu năm 2012 là 4.296,194ha thì diện tích đất nông nghiệp này đến giữa năm 2012 xã phân bổ thên diện tích đất nông nghiệp là 1.254,066ha Diện tích đất này tăng là do nhu cầu sử dụng đát của nhân dân tăng như kết hôn chuyển hộ khẩu tới thêm từ năm 2009 tới nay và quá trình sinh đẻ , nên
xã phải phân bổ thêm diện tích đất này
- Diện tích đất phi nông nghiệp là 733,58ha chiếm 9,5% tổng diện tích đất tự nhiên
Diện tích đất phi nông nghiệp của xã Chiềng Sại đang có xu hướng tăng do nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng và cơ cấu kinh tế đang có xu hướng chuyển từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp và dịch vụ
- Diện tích đất chưa sử dụng là 1435,36ha chiếm 18,6% tổng diện tích
tự nhiên
Diện tích đất chưa sử dụng có xu hướng giảm dần do quá trình khai hoang và đốt rừng bừa bái của người dân và do sức ép về gia tăng dân số, nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp của người dân rất lớn
Trang 24- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,6%
- Đời sống nhân dân trong vùng còn thấp, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.2000 đồng/người/năm Lương thực có hạt bình quân có hạt 570 kg/người/ năm
10 km, chất lượng tương đối đảm bảo việc đi lại của người dân Các tuyến đường nội đồng có chất lượng công trình bình thường tuy vẫn chưa được cứng hoá, toàn bộ là đường đất
Hệ thống giao thông cần phải đầu tư, nâng cấp để tăng khả năng lưu thông cho các phương tiện phục vụ cho các khu công nghiệp, hàng nông sản lưu thông thuận tiện
Trên địa bàn xã có một loại hình giao thông chính là hệ thống giao thông đường bộ UBND xã cũng nhận thức rất rõ tầm quan trọng của giao thông đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, nên trong những năm qua xã đã đôn đốc chỉ đạo các bản sửa chữa nâng cấp kịp thời các tuyến giao thông liên bản
* Thủy lợi
Hiện tại xã có 2 km mương xây, 8 km mương đất phục vụ cho việc tưới tiêu sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên khả năng đáp ứng nhu cầu tưới tiêu còn hạn chế nhất là về mùa khô chưa đảm bảo đủ nước để sản xuất thâm canh
Trang 25* Hệ thống cơ quan phục vụ nông nghiệp
Xã có 01 cán bộ khuyến nông, thú y Tuy nhiên, cơ sở vật chất còn rất thiêu thốn, nên chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, song xã có 1 lực lượng cán
bộ kỹ thuật giàu kinh nghiệm về chuyên môn và nhiệt tình nên cũng đáp ứng được phần nào yêu cầu của các hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp
Với điều kiện kinh tế - xã hội như vậy sẽ là động lực quan trọng tạo ra những thuận lợi để đẩy mạnh nông nghiệp góp phần thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển
4.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội
+ Thuận lợi: Xã có vị trí thuận lợi về mặt giao thông đường bộ lẫn
đường thủy, thuận lợi cho việc đi lại vận chuyển lưu thông hàng hóa giữa các vùng
Diện tích mặt hồ sông Đà lớn thể hiện rõ tiềm năng trong việc khai thác nuôi trồng đánh bắt thủy sản
Diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều, đất đai, khí hậu phù hợp với
Trang 2626
nhiều loại cây trồng
Các tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất đã được người dân tiếp cận
Khó khăn: Phần lớn các diện tích đất canh tác nằm trên độ dốc cao
gây gặp nhiều khó khăn cho việc áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất
và xây dựng địa bàn sản xuất tập trung
Đường xã đi lại còn gặp rất nhiều khó khăn vào mùa mưa các đoạn đường bị xói mòn và sạt lở gây kho khăn cho việc đi lại và lưu thông hàng hóa
Nền sản xuất của xã chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp
Lực lượng lao động chủ yếu là lao động phổ thông thuần túy
4.2 Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp xã Chiềng Sại
4.2.1 Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp
Hiện nay, nông nghiệp của xã tập trung chủ yếu vào phát triển sản xuất cây hàng năm như cây ngô, khoai sắn, cây lương thực, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản
Tính từ ngày 31/12/2012 diện tích đất nông ngiệp toàn xã là 4667,13 ha chiếm 35.23% tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã Nhưng diện tích đất nông nghiệp đến ngày 01 tháng 01 năm 2013 là 5.560,26 ha tăng 893,13ha số diện tích đất này vừa được xã phân bổ và chia cho các bản, nông nghiệp của xã tập trung chủ yếu vào phát triển sản xuất cây lúa nước, ngô, khoa ,sắn, cây lương thực, chăn nuôi
+ Về ngành trồng trọt: Cây trồng chính của xã Chiêng Sại là cây lúa,
ngô, khoai sắn, ngoài ra còn có các loại cây khác, tổng GTSX của ngành trồng trọt của xã trong thời gian qua có xu hướng tăng , Trong đó tăng mạnh nhất
là GTSX cây lương thực, thực phẩm
Hình 4.3 Cảnh quan nông dân đang chăm sóc cây ngô, săn
Trang 2727
Tổng diện tích gieo trồng cây có hạt là 335ha tổng sản lượng thu đạt 1.162 tấn năm 2013 Tổng GTSX ngành trồng trọt tăng mạnh là do diện tích đất sản xuất nông nghiệp được xã phân bổ và chia thêm cho các bản và đầu tư phân bón và đưa vào áp dụng các loại giống cây trồng mới như ngô lai 10 và các loại giống lúa mới…., ngành dịch vụ cũng có xu hướng tăng năm 2013, nhằm mục đích chuyển đổi, đầu tư sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng xã hội
Hình 4.4 Cảnh quan thu hoạch nông sản
+ Về chăn nuôi: Ngành chăm nuôi của Chiềng Sại chủ yếu tập chung vào
các con vật nuôi như: Trâu bò, lợn, gà, dê, vịt với quy mô gia đình, tổng GTSX ngành chăn nuôi trong những năm qua có xu hướng tăng cao, trong đó phát triển mạnh là chăn nuôi gia súc với tốc độ gia tăng nhanh Năm 2013 tổng đàn : Trâu 760 con, Bò 1700 con, Dê 650 con, Gia cầm 10.000 con, người dân trong xã có xu hướng tăng cường đầu tư, phát triển đàn gia súc, gia cầm, chăn nuôi theo hướng trang trại nhỏ lẻ và chăn dắt Về chăn nuôi có thể nói là thế mạnh nhất trong phát triển kinh tế xã chiềng sại
+ Về nuôi trồng thuỷ sản:
Để hỗ trợ nông nghiệp phát triển, Chiềng sại đã và đang có nhiều chính sách khuyến khích nông dân đẩy mạnh sản xuất: Hỗ trợ xây dựng vùng chuyên canh, vùng chuyển đổi, liên kết khoa học kỹ thuật đưa các giống mới vào sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản …
Những năm gần đây thủy điện sơn la đi vào hoạt động đồng thờicũng tạo cho dòng sông Đà thành môt lòng hồ có mực nước giữ ổn định cho các nên nuôi trồng thủy sản tại xã Chiềng Sại đang được hình thành và phát triển chăn nuôi cá lồng